Tại sao người
miền Bắc ngày xưa ăn con gà cũng phải giấu?
Tàu Tốc Hành
13/08/2026
https://baotiengdan.com/2026/08/13/tai-sao-nguoi-mien-bac-ngay-xua-an-con-ga-cung-phai-giau/
Trong
mấy năm đầu, Việt Minh phong toả những vùng Pháp chiếm đóng, để ngăn cản không
cho quân đội Pháp mua lương thực và mua vật liệu để sửa chữa lại những nơi bị
chiến tranh tàn phá. Vì vậy nên việc buôn lậu giữa hậu phương và vùng tề bị cấm
ngặt, hàng lậu bắt được bị tịch thu và đem đốt trước công chúng, trừ thuốc lá
thơm và một vài xa xỉ phẩm thì đem biếu cán bộ cao cấp.
Vì
bị Việt Minh phong toả nên Pháp thực sự thiếu lương thực. Lúa gạo phải mang bằng
đường thuỷ từ trong Nam ra, còn thịt phải tải từ Cam-bốt đến Hà Nội bằng máy
bay. Giá sinh hoạt trong vùng tề cao hơn giá sinh hoạt trong vùng Việt Minh kiểm
soát rất nhiều.
Nhưng
chính sách phong toả còn gây một ảnh hưởng khác. Vì hàng hoá công nghệ không lọt
được vào vùng Việt Minh, nên hàng nội bán rất chạy. Nhiều nhà công nghệ nghĩ
cách chế được nhiều mặt hàng tương đối giản dị như vỏ xe đạp, các đồ phụ tùng
xe đạp, một số máy móc đơn sơ, như máy in tay, chẳng hạn. Một số chuyên viên chế
được những hoá phẩm căn bản như acide sulfurique, carbonate de soude, cồn 90 độ,
và nhờ những thứ này mà có thể chế thêm được nhiều thứ khác. Kết quả là dù bị cắt
đứt với thế giới bên ngoài, dân chúng trong vùng Việt Minh vẫn tự lực cánh
sinh, sống tương đối đầy đủ. Họ có, nào là thuốc đánh răng, diêm, giấy các-bon,
ống tiêm chích thuốc (nhưng không làm được kim), éther, pénicilline, vân vân.
Tóm
lại, công nghệ hậu phương chỉ còn thiếu hai thứ: Kim khí và động cơ. Nhưng nhờ ở
sáng kiến cá nhân vấn đề này cũng giải quyết được một phần. Máy xe hơi và máy
xe lăn đường, vì không còn đường nữa, dùng để kéo máy điện, máy cưa v.v. Thác
nước thuộc hệ thống nông giang biến thành máy thuỷ điện và một nhóm kỹ sư thành
công trong việc xây một “lò cao” sản xuất mỗi ngày ba tấn gang. Đặc điểm của lò
cao này là chỉ cao có 9 mét, trong khi theo nguyên tắc, lò cao thấp nhất cũng
phải cao 13 mét. Một phái đoàn Đông Đức tới thăm, vào năm 1954 tỏ ý hết sức
thán phục kỹ thuật của các chuyên viên phụ trách. Đường rầy xe lửa cùng “tà vẹt”
trở thành một nguồn thép vô tận, vỏ bom na-pan và xác máy bay bắn rơi biến
thành nồi niêu xoong chảo bằng nhôm.
Mặc
dầu so với mức sống tân tiến, tình hình địa phương không có gì là “khả quan”,
nhưng ngoại trừ công chức bị túng thiếu vì mỗi tháng chỉ được mấy chục cân gạo
còn dân chúng sống tương đối dễ dàng, không một ai thất nghiệp. Nhưng chẳng bao
lâu Việt Minh đình chỉ chính sách khuyến khích công nghệ nội, vì sau khi cố vấn
Trung cộng sang, họ giảng giải cho Việt Minh hay là nếu có khuyến khích công
nghệ tư nhân thì tức là gây mầm cho chế độ tư bản. Từ đấy Việt Minh đổi ngược lại
chính sách, làm khó dễ những người sản xuất hàng nội và đồng thời nới rộng kiểm
soát cho hàng Pháp tràn vào. Nhiều cơ sở thủ công nghiệp bắt buộc phải đóng cửa
vì không thể nào cạnh tranh lại hàng hoá của Pháp, và trong nhiều trường hợp, cả
chủ lẫn thợ kéo vào các thị trấn do Pháp kiểm soát để kiếm kế sinh nhai, vì từ
ngày Việt Minh đình chỉ việc phong toả, kinh tế đời sống trong vùng Pháp chiếm
đóng bỗng phồn thịnh hẳn lên.
Để
tiến tới xã hội chủ nghĩa, chính phủ Hồ Chí Minh áp dụng hai chính sách mới:
Đánh thuế “công thương nghiệp” và thành lập “mậu dịch quốc doanh”. Dĩ nhiên mậu
dịch quốc doanh chỉ có nghĩa là chính quyền nắm độc quyền thương mại trong toàn
quốc.
Về
đại cương thì thuế công thương nghiệp cũng giống thuế nông nghiệp, nhưng cũng
có hơi khác về thuế biểu và về cách thức tính thuế. Thuế công thương nghiệp phải
nộp hàng tháng, không phải một năm hai vụ như thuế nông nghiệp.Thuế công thương
nghiệp đánh vào lợi tức, không đánh vào thu hoạch, mà mức tối đa chỉ có 28%,
trong khi mức tối đa của thuế nông nghiệp lên tới 64,68%. Trên nguyên tắc thuế
công thương nghiệp có phần hợp lý và nhẹ hơn thuế nông nghiệp. Cách tính thuế
công thương nghiệp như sau:
1.
Ước tính số “thu” của mỗi người công thương.
2.
Tính số lời, bằng cách nhân số thu với một con số lợi nhuận do bộ tài chính ấn
định cho từng nghề nghiệp (thí dụ lợi nhuận của nghề bán tạp hoá định là 30%,
hàng ăn định là 50% – Việt Minh cho rằng làm những nghề ấy thì phải lãi bằng ấy).
3.
Sau khi tính được lợi tức của một công thương, thương gia rồi thì mang bảng thuế
biểu do Bộ Tài chính ấn định xem với số lợi tức ấy, họ đứng vào loại nào và phải
đóng bao nhiêu phần trăm, đại khái cũng như thuế nông nghiệp, thuế công thương
nghiệp cũng luỹ tiến xê dịch từ tối thiểu 15% đến 28%.
Như
vậy là muốn tính thuế cho một công, thương gia chỉ cần biết số doanh thu của họ,
vì một khi đã có con số này thì chỉ việc đối chiếu với bảng lợi nhuận và bảng
thuế biểu của chính phủ mà nhân lên là tính được ngay. Số phận của mỗi công,
thương gia đều do con số doanh thu chi phối.
Dưới
chế độ Việt Minh, mỗi công, thương gia phải giữ một cuốn sổ thu chi, ghi chép đầy
đủ mọi việc buôn bán. Mỗi lần bán ra một món gì, dù là bán nước, bán trâu, đều
phải làm ba bản hoá đơn, giữ một bản và nộp cho sở thuế một bản. Tuy nhiên những
sổ sách và hoá đơn này cốt để tiện cho chính phủ kiểm tra, nếu cần, không phải
để tính thuế, vì tính thuế là công việc của nhân dân, không phải là trách nhiệm
của chính quyền. Dưới chế độ dân chủ nhân dân, chính phủ chỉ việc giơ tay thu
tiền, còn tính thuế và thu thuế là việc của nhân dân, vì Đảng cho rằng nhân dân
lúc nào cũng “sáng suốt”, không cần đến sổ sách giấy tờ. Khẩu hiệu lúc bấy giờ
là: “Phải hoàn toàn tin ở quần chúng”.
Đảng
giao việc thu thuế cho nhân dân và Đảng coi việc nộp thuế là một “hân hạnh”
không phải là “nghĩa vụ” như ở các nước tư bản. Mỗi công dân phải vui vẻ đóng
thuế để góp phần xây dựng xã hội chủ nghĩa. Vì đóng thuế là yêu nước nên mọi
người đều nói “được đóng thuế” và không ai nói “phải đóng thuế”. Từ nguyên tắc
“đóng thuế là một hân hạnh, một đặc ân”, nảy ra hai nguyên tắc phụ. Thứ nhất,
là không phải bất cứ ai cũng được “hân hạnh” đóng thuế, và thứ hai là nhân dân
sẽ sẵn sàng giúp đỡ những người không xứng đáng với “đặc ân” đó hoặc chạy không
đủ tiền để “hân hạnh”. Chúng ta hãy đi sâu vào chi tiết của hai điểm này.
Tại
sao được nộp thuế lại là một đặc ân? Dưới chính thể dân chủ nhân dân, người
công dân không có quyền tự do kinh doanh, và đây là đặc điểm quan trọng nhất
làm cho chế độ dân chủ nhân dân khác hẳn dân chủ tư sản. Muốn mở một công nghệ
hoặc một hiệu buôn thì trước hết phải nộp đơn xin phép mậu dịch, vì mậu dịch kiểm
soát tất cả công thương trong vùng. Khi mậu dịch cho phép rồi, lại phải làm đơn
xin phép Ủy ban hành chính địa phương, vì một số nghề và một số người không được
làm. Địa chủ, chẳng hạn, không được phép bán hàng cơm và làm nghề cắt tóc.
Đơn
nộp cho Uỷ ban hành chính, nhưng chi bộ cho hay không, là quyền bí thư chi bộ Đảng,
vì chỉ có Đảng mới biết rõ thái độ chính trị của đương sự. Nếu đương sự được
phép mở cửa hàng rồi, sau này chi bộ mới tình nghi là “phản động” thì công an
ăn mặc thường phục túc trực trước cửa, hỏi giấy thông hành của tất cả mọi người
ra vào.
Vì
vậy nên ai được “hân hạnh” nộp thuế tức là còn được tự do kinh doanh, một thứ tự
do quý báu gấp bội tự do chính trị mà nhà báo tư sản vẫn thường ca tụng, vì mất
thứ tự do này thì toàn gia đình phải chết đói. Chính vì mọi người sợ mất hân hạnh
nộp thuế mà hoàn toàn không cưỡng lại chính quyền cộng sản.
Nhân
dân giúp đỡ như thế nào? Mặc dầu Đảng đã giảng dạy rất kỹ lưỡng và nhắc đi nhắc
lại là nộp thuế là một “hân hạnh”, lác đác vẫn có những người không hiểu rõ tầm
quan trọng của cái “hân hạnh” ấy, không tích cực nộp thuế như đảng đã dặn,
không chịu khai đúng con số doanh thu, hoặc là đúng với sự ước lượng của cán bộ.
Trong những trường hợp như vậy thì nhân dân trong phố, hoặc trong làng sẽ giúp
những người “đãng trí” nhớ lại con số doanh thu của mình.
Việc
giúp đỡ này thể hiện bằng hai hình thức, hai cuộc “bình”.
Bắt
đầu là một cuộc họp của những người cùng hành một nghề trong địa phương, cùng một
xã hoặc cùng một khu phố. Họ mổ xẻ công việc buôn bán của mỗi người rồi lập một
danh sách kể từ người có doanh thu nhiều nhất xuống dần đến người có doanh thu
thấp nhất. Công việc sắp xếp theo doanh thu nhiều ít này được gọi là “bình dọc”vì
mục đích chỉ là lập một danh sách “dọc” từ trên xuống dưới, từ người có doanh
thu nhiều nhất đến người có doanh thu ít nhất.
Đảng
nói rằng “bình dọc” như vậy rất đúng vì chỉ có những người cùng hành một nghề mới
rõ ai hơn ai kém. Nhưng chủ tâm của đảng là bắt những người cùng hành một nghề
“bình” lẫn nhau thì họ sẽ vì ghen tị mà tố cáo lẫn nhau không cần phải tra khảo,
tự nhiên mọi gian lận sẽ lòi ra.
Sau
đấy là cuộc họp thứ hai, nhưng lần này tất cả công, thương gia trong một phố,
hoặc một xóm đều dự, bất luận là hành nghề gì. Họ thảo luận và “bình” xem mỗi
người trong bọn họ có doanh thu bao nhiêu, rồi cùng giơ tay “biểu quyết” con số.
Cuộc bình này gọi là: “bình ngang”.
Mỗi
công, thương gia trong phố, hoặc trong xóm đã biết trước là phố mình, hoặc xóm
mình sẽ phải đóng bao nhiêu thuế, nên mọi người đều cố tình “tố” người khác, để
người khác phải nộp nhiều hơn mình thì bản thân mình có hy vọng nộp ít hơn. Việc
“bình ngang” này mang tới hai kết quả:
Thứ
nhất là những người cùng phố hoặc cùng xóm thường hay có chuyện xích mích hoặc
thù hằn lẫn nhau, và thường lợi dụng cuộc “bình thuế” để trả thù. Thí dụ vợ anh
A ngoại tình với anh B, buôn bán cùng phố. Muốn trả thù anh B đã cho mình mọc sừng
anh A tố là anh B có doanh thu rất nhiều. Để làm chứng, anh A nói thường thấy
chị B đi chợ mua gà, vịt.
Đến
khi hội nghị bàn thuế của anh A, thì em anh B muốn trả thù cho anh mình, đứng
lên tố, ngày nào cũng thấy anh A ngồi nhậu cà phê sữa (cà phê và sữa được coi
là xa xỉ phẩm ở Bắc Việt) ở tiệm cà phê gần nhà mình. Rốt cuộc là doanh thu của
mọi người đều bị “kích” lên, và nhiều khi sở thuế thu được nhiều hơn con số dự
trù.
Kết
quả thứ hai là những người cùng phố, cùng xóm không biết hàng xóm láng giềng
làm ăn ra làm sao mà chỉ biết đại khái về lối sống sinh hoạt. Người nào mà mỗi
tuần ăn một con gà, mỗi sáng uống cà phê sữa không tránh khỏi những người xung
quanh coi là “đại phú”. Rốt cuộc không ai dám ăn gà và uống cà phê sữa công
khai.
Nếu
chị B muốn mua một con gà thì chị phải nhét xuống đáy rổ, đậy rau muống lên
trên, còn anh A, nếu thèm cà phê thì đạp xe đạp tới một nơi thật xa để uống, hoặc
pha giấu trong phòng ngủ, không cho hàng xóm láng giềng ngửi thấy mùi.
Vì
“bình thuế” cả ngang lẫn dọc nên chẳng bao lâu mọi người đều làm ra vẻ xác xơ.
Họ mang những quần áo cũ nhất và rách nhất ra mặc, để râu tóc mọc dài, hoặc nhờ
vợ hớt bằng kéo. Tiệm cà phê, thợ may và thợ cạo đều lần lượt đóng cửa. Đầu
tiên vì sợ bình nên mọi người đều “giấu giàu” nhưng cuối cùng, mọi người đều
phá sản thực sự.
Sau
khi đóng cửa tiệm, cả chủ lẫn người làm công kéo nhau vào vùng Pháp kiểm soát,
để lại hậu phương cho mậu dịch mặc sức xây dựng thương mại và công nghệ xã hội
chủ nghĩa. Lúc bấy giờ toàn thể nhân dân đã trở thành bần cố.
No comments:
Post a Comment