Liệu Israel có thể chấm
dứt cuộc chiến không hồi kết?
Amos Harel
- Foreign Affairs
Viên
Đăng Huy, biên dịch - Nghiên Cứu Quốc Tế
https://nghiencuuquocte.org/2026/09/12/lieu-israel-co-the-cham-dut-cuoc-chien-khong-hoi-ket/
Khi
chuẩn bị đối mặt với cử tri Israel vào tháng tới, sau ba năm chiến tranh gần
như không ngừng nghỉ, Thủ tướng Benjamin Netanyahu đã vạch ra một chiến lược
hoàn toàn mới. Bất chấp những tổn thất khổng lồ về người và của, chưa kể sự suy
giảm mạnh trong mức độ ủng hộ dành cho Israel tại Mỹ và nhiều nơi khác, ông giờ
đây công khai ủng hộ việc duy trì một trạng thái chiến tranh gần như thường trực.
Rút ra bài học từ cuộc thảm sát do Hamas gây ra ngày 7/10/2023, Netanyahu lập
luận rằng Israel phải chủ động sử dụng vũ lực phủ đầu trước mọi mối đe dọa an
ninh tiềm tàng, bất kể hậu quả. Điều đó đặt ra câu hỏi: cách tiếp cận cứng rắn
này sẽ thay đổi đến mức nào nếu Gadi Eisenkot, cựu tổng tham mưu trưởng quân đội
hiện đang dẫn trước Netanyahu trong các cuộc thăm dò, đánh bại ông trong cuộc bầu
cử sắp tới?
Cho
đến nay, Eisenkot, một nhân vật trung dung điển hình, vẫn chỉ trích Netanyahu một
cách thẳng thắn và đôi lúc cay nghiệt. Tuy nhiên, ngoài những tuyên bố chung
chung về việc chấm dứt cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Israel, ông phần lớn
tránh trình bày chi tiết chiến lược an ninh quốc gia của riêng mình. Ở một số vấn
đề, chẳng hạn cách đối phó với Hamas tại Dải Gaza, ông thậm chí còn có lúc tỏ
ra cứng rắn hơn Netanyahu. Và khi được hỏi về tương lai của xung đột Israel –
Palestine, vấn đề dễ gây chia rẽ chính trị nhất tại Israel, ông đặc biệt thận
trọng để tránh đưa ra những cam kết ràng buộc. Trong một tuyên bố hiếm hoi hồi
tháng 8, Eisenkot cho biết ông phản đối việc thành lập một nhà nước Palestine,
qua đó đứng về phía quan điểm hiện đã trở thành đồng thuận rộng rãi trong chính
trường trung tâm Israel, từ trung tả đến cánh hữu.
Từ
những phát biểu như vậy, người ta có thể dễ dàng kết luận rằng một chính phủ do
Eisenkot lãnh đạo sẽ không khác nhiều so với chính phủ cánh hữu hiện nay. Thực
tế, một số nhà phân tích cho rằng sẽ gần như không có khác biệt đáng kể trong
những vấn đề an ninh trọng yếu. Nhưng cách nhìn đó bỏ qua một số lĩnh vực quan
trọng, từ cuộc khủng hoảng ở Bờ Tây đến cách Israel xử lý Syria và Gaza, nơi một
đường lối mới có thể tạo ra kết quả thực chất, cho dù thay đổi nhiều khả năng sẽ
mang tính tiệm tiến hơn là đột phá. Mức độ xuất hiện của một cơ hội như vậy sẽ
phụ thuộc rất lớn vào Tổng thống Mỹ Donald Trump và bản chất quan hệ của ông với
một chính phủ hậu Netanyahu, nếu cử tri Israel thực sự tạo ra một chính phủ như
vậy. Câu hỏi then chốt vì thế không phải là liệu thay đổi có thể xảy ra hay
không, mà là thay đổi đến đâu và với mức độ can dự nào của Washington.
DỊCH
CHUYỂN SANG CÁNH HỮU
Theo
các cuộc thăm dò tại Israel, Netanyahu, lãnh đạo đảng Likud cánh hữu, sẽ rất
khó thành lập chính phủ sau cuộc bầu cử ngày 27/10. Hiện ông dường như đang tập
trung phần lớn nỗ lực vào việc tạo ra thế bế tắc nhằm ngăn đối thủ thành lập
liên minh kế nhiệm, đồng thời tiếp tục quảng bá chiến lược chiến tranh không hồi
kết của mình.
Netanyahu
gần đây ngày càng nhấn mạnh tư tưởng không nhượng bộ và không thỏa hiệp. Trước
công chúng trong nước, ông cũng quảng bá một điều mà ông coi là thành tựu: việc
Israel kiểm soát lãnh thổ dọc gần như mọi biên giới — tại miền nam Lebanon,
Syria và Dải Gaza — dưới dạng các “vùng an ninh” do chính Israel xác lập. Bộ
trưởng Quốc phòng Israel Katz còn đẩy cách tiếp cận này đi xa hơn khi tuyên bố
Israel sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện tại những khu vực đó trong nhiều năm
như một phần của cái giá mà nước này buộc kẻ thù phải trả. Katz và các bộ trưởng
khác cũng không ngừng xác định thêm những đối thủ tiềm tàng. Họ từng mô tả Tổng
thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan, người có thái độ cực kỳ thù địch với
Israel nhưng khó có thể xem là đối thủ quân sự trực tiếp, như một mối đe dọa lớn
ngang Hezbollah và Hamas, quan điểm sau đó được Netanyahu tán thành. Một số
thành viên nội các thậm chí tiếp tục tuyên bố, mà không đưa ra bằng chứng, rằng
Tổng thống Syria Ahmed al-Shara đang chuẩn bị tấn công Israel.
Lập
trường hiếu chiến này gần như phớt lờ cái giá ngày càng lớn của chiến lược
Netanyahu. Việc duy trì số lượng lớn binh sĩ ở các mặt trận tiền phương trong
nhiều tháng liên tục khiến Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) gần như không còn đủ
thời gian huấn luyện, trong khi lực lượng dự bị phải gánh một khối lượng phục vụ
khổng lồ, trung bình hơn 100 ngày mỗi năm kể từ cuộc tấn công năm 2023. Nền
kinh tế Israel cũng chịu tổn thất nặng nề. Theo các ước tính mới nhất, Israel
đã chi khoảng 142 tỷ USD cho chiến tranh kể từ tháng 10/2023, tương đương hơn một
nửa tổng ngân sách thường niên của quốc gia. Đó còn chưa tính tới thiệt hại
nghiêm trọng đối với uy tín quốc tế của Israel.
Trong
bối cảnh những vấn đề này ngày càng trầm trọng và sự bất mãn với liên minh cánh
hữu hiện tại gia tăng, Eisenkot đã tạo được khoảng cách đáng kể trong các cuộc
thăm dò. Là cựu tổng tham mưu trưởng IDF với nền tảng sâu rộng trong bộ máy an
ninh, ông tạo ra sự tương phản rõ với Netanyahu và các bộ trưởng cánh hữu của
ông. Eisenkot chỉ mới tham gia chính trị khoảng bốn năm. Ông gia nhập chính phủ
Netanyahu với tư cách thành viên nội các chiến tranh bốn ngày sau vụ thảm sát
7/10, nhưng nhanh chóng bất đồng với thủ tướng về cách tiến hành chiến tranh, đặc
biệt là việc Netanyahu kéo dài đàm phán với Hamas liên quan đến việc giải cứu
con tin, và rời nội các vào tháng 6 năm sau.
Tháng
12/2023, con trai út của Eisenkot, Gal, một quân nhân dự bị thuộc đơn vị tinh
nhuệ, tử trận trong một chiến dịch tìm kiếm thi thể con tin Israel tại miền bắc
Gaza. Trong bài điếu văn đầy xúc động tại tang lễ, Eisenkot cam kết sẽ góp phần
khắc phục những điểm yếu đã bộc lộ trong xã hội Israel: đáp ứng đòi hỏi của
công chúng về trách nhiệm giải trình đối với những thất bại an ninh dẫn đến
ngày 7/10 và thúc đẩy thay đổi chính trị. Những lời đó nhanh chóng được diễn giải
như một sứ mệnh chính trị và đạo đức được thúc đẩy bởi cái chết của con trai
ông.
Khi
Eisenkot phát tín hiệu vào năm ngoái rằng ông quyết định thách thức Netanyahu,
mức độ ủng hộ dành cho ông dần tăng lên, trong đó có một bộ phận nhỏ cử tri
truyền thống của Likud chuyển sang đảng mới Yashar! của ông, tên gọi trong tiếng
Hebrew mang nghĩa “trung thực” hay “ngay thẳng”. Trong những cuộc thăm dò gần
đây, Yashar đã vượt Likud, còn Eisenkot bỏ xa Netanyahu trong một chỉ số then
chốt: ai phù hợp hơn với cương vị thủ tướng. Tuy nhiên, Eisenkot và các cố vấn
dường như tin rằng cách tốt nhất để mở rộng lợi thế là tiếp tục hành động thận
trọng.
Một
mặt, liên minh đối lập đa dạng mà ông lãnh đạo, thường được gọi không chính thức
là khối “Ai cũng được, miễn không phải Bibi”, bao gồm bốn đảng trải dài từ
trung hữu đến cánh tả. Ngoài ra còn có một đảng cánh hữu chống Netanyahu có khả
năng vượt ngưỡng bầu cử để giành ghế trong Quốc hội, cùng ba đảng đại diện cho
công dân Ả Rập có thể ủng hộ một liên minh chống Netanyahu từ bên ngoài chính
phủ. Thậm chí có kịch bản trong đó một đảng Ả Rập tham gia trực tiếp vào liên
minh, tương tự điều từng xảy ra khi Naftali Bennett và Yair Lapid thành lập
chính phủ năm 2021.
Truyền
thông Israel thường xuyên than phiền về tổn thất mà bạo lực của người định cư
gây ra đối với hoạt động ngoại giao công chúng của Israel ở nước ngoài. Nhưng
đó chưa phải trọng tâm của vấn đề. Bạo lực của người định cư ở Bờ Tây trước hết
là một bất công đạo đức, làm trầm trọng thêm những đau khổ do việc sử dụng vũ lực
cực đoan tại Gaza để đáp trả vụ thảm sát ngày 7/10. Nếu quỹ đạo này tiếp tục,
Israel còn có nguy cơ mất dần quyền kiểm soát quân sự tập trung thực sự của IDF
tại Bờ Tây, khi khu vực này ngày càng rơi vào ảnh hưởng của các nhóm dân quân
ngoài vòng pháp luật.
Một
chính phủ trung dung mới ít nhất có thể bắt đầu kiềm chế các phần tử cực đoan.
Ngăn việc mở rộng khu định cư sẽ là một bước quan trọng và khả thi, nhưng tự
thân vẫn chưa đủ để giải quyết cuộc khủng hoảng. Smotrich và các đồng minh đã bố
trí những khu định cư mới tại các vị trí có giá trị chiến thuật, cố ý chia cắt
các khu vực do người Palestine kiểm soát nhằm phá vỡ tính liên tục lãnh thổ có
thể một ngày trở thành nền tảng cho một nhà nước Palestine. Hiện chưa rõ mức độ
đảo ngược quá trình này dễ hay khó. Dù các chính phủ Netanyahu thỉnh thoảng,
trong những trường hợp rất hiếm, từng chấp thuận tháo dỡ một số tiền đồn dưới
áp lực quốc tế hoặc theo phán quyết của tòa án, đã hơn 20 năm kể từ lần sơ tán
quy mô lớn gần nhất đối với người định cư Israel, khi khoảng 9.000 người bị đưa
khỏi Gaza năm 2005 dưới thời Ariel Sharon. Hơn nữa, với việc ngày càng nhiều sĩ
quan và binh sĩ IDF chia sẻ quan điểm với người định cư và các đảng tôn giáo
cánh hữu, bất kỳ mệnh lệnh nào yêu cầu sơ tán dù chỉ một số khu định cư cũng có
nguy cơ dẫn tới bất tuân lệnh trên diện rộng.
Nhưng
vấn đề cấp bách hơn là quản lý đời sống hằng ngày tại Bờ Tây. Trong nhiều năm,
và đặc biệt mạnh mẽ dưới thời Smotrich với sự hậu thuẫn của Netanyahu, giới định
cư đã ngày càng siết chặt quyền kiểm soát đối với bộ máy hành chính quân sự tại
các vùng lãnh thổ. Các nhân vật cấp cao trong phong trào định cư trên thực tế
đã góp phần định hình chính sách, ảnh hưởng tới quyết định của các chỉ huy IDF
tại Bờ Tây, và gây sức ép hậu trường để các phần tử cực đoan tham gia khủng bố
hoặc quấy rối người Palestine vẫn có thể hoạt động mà ít bị can thiệp.
Cũng
phải tính đến tâm lý cử tri hiện nay. Dư luận Israel đã dịch chuyển đáng kể
sang cánh hữu trong ba năm qua. Đại đa số người Do Thái ở Israel không còn tin
tưởng người Palestine hay, rộng hơn, các láng giềng Ả Rập; họ lo sợ viễn cảnh
thành lập một nhà nước Palestine và đồng thuận rằng Israel cần theo đuổi lập
trường tấn công cứng rắn hơn để triệt tiêu các mối đe dọa. Phần lớn công dân Ả
Rập của Israel, chiếm khoảng 20% dân số, không chia sẻ quan điểm này. Vấn đề đối
với Netanyahu là một bộ phận đáng kể cử tri Israel không còn tin rằng ông là
người phù hợp để thực hiện tầm nhìn đó.
Đôi
lúc Eisenkot còn tìm cách vượt Netanyahu từ phía cánh hữu, cáo buộc thủ tướng
đã chấp nhận những lập trường quá mềm yếu. Hai nhân vật đối lập chính đứng bên
phải Eisenkot — Bennett, người gần đây gia nhập liên minh “Sát cánh” với thủ
lĩnh trung dung Yair Lapid, và Avigdor Lieberman — thậm chí còn công khai những
quan điểm cứng rắn hơn. Nhân vật đối lập duy nhất sẵn sàng ủng hộ tiến trình
hòa bình với người Palestine là Yair Golan, lãnh đạo đảng Dân chủ, lực lượng nằm
ở cánh tả nhất trong khối các đảng trung tả theo chủ nghĩa Phục quốc Do Thái.
Nhưng ngay cả Golan cũng cho rằng việc hiện thực hóa giải pháp hai nhà nước sẽ
vô cùng khó khăn trong ngắn hạn, sau những vết thương sâu sắc mà ngày 7/10 và
cuộc chiến sau đó để lại.
Vì
vậy, rất khó kỳ vọng Eisenkot và các đồng minh sẽ thay đổi căn bản chính sách đối
ngoại và an ninh của Israel nếu họ đánh bại Netanyahu. Sẽ là ảo tưởng nếu cho rằng
chính phủ Israel kế tiếp sẽ tự nguyện hợp tác với các tòa án quốc tế ở The
Hague hay mở một cuộc điều tra toàn diện về các cáo buộc tội ác chiến tranh của
IDF tại Gaza. Nhưng điều đó không có nghĩa Eisenkot hoàn toàn không có cơ hội
thay đổi hướng đi của đất nước, đặc biệt nếu Trump sẵn sàng can dự.
KIỂM
SOÁT NHỮNG NGƯỜI ĐỊNH CƯ
Một
trong những lĩnh vực chính sách ngày càng trở nên thảm họa mà Eisenkot sẽ phải
đối mặt là Bờ Tây. Trong bốn năm qua, vùng lãnh thổ này gần như trở thành lãnh
địa của Bezalel Smotrich, lãnh đạo đảng Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái Tôn giáo, đồng
thời giữ chức Bộ trưởng Tài chính và bộ trưởng phụ trách các vấn đề dân sự ở Bờ
Tây. Dù thẩm quyền chính thức của ông chỉ bao trùm các vấn đề dân sự chứ không
phải chính sách quân sự, Netanyahu đã trao cho ông mức độ tự do hành động rất lớn,
và Smotrich đã tận dụng triệt để. Với sự chấp thuận hoặc làm ngơ của chính phủ,
ông đã làm thay đổi căn bản thực tế trên thực địa tại Bờ Tây. Kể từ năm 2023,
hơn 200 khu định cư và tiền đồn mới đã được xây dựng hoặc đang trong quá trình
thi công. Trong một số trường hợp, chúng đã đẩy các chủ đất Palestine khỏi nơi
sinh sống của họ.
Chiến
dịch của phong trào định cư nhằm chiếm thêm lãnh thổ hiện kết hợp một cánh
chính trị với một cánh bạo lực ngày càng mạnh. Cánh chính trị gồm các bộ trưởng,
nghị sĩ và chủ tịch hội đồng vùng, trong khi cánh bạo lực là một nhóm gần 1.000
người định cư, phần lớn còn trẻ, dù Netanyahu từng mô tả họ chỉ là “khoảng 70
thanh niên bối rối”. Nhóm này ngày càng được trang bị tốt hơn, nhất là sau khi
Bộ trưởng An ninh Quốc gia cực hữu Itamar Ben-Gvir mở rộng quyền tiếp cận súng
đạn và vũ khí cho người định cư kể từ năm 2023. Các đồng minh chính trị của
phong trào định cư đôi khi tìm cách giữ khoảng cách với các hành vi bạo lực và
trong những trường hợp hiếm hoi còn lên án chúng. Nhưng trên thực tế, các nhóm
này cùng theo đuổi một mục tiêu chung: chiếm đất và đẩy người Palestine khỏi
đó, điều ở hình thức cực đoan nhất có thể trở thành những hành vi thanh lọc sắc
tộc mang tính cục bộ.
Trong
những tháng gần đây, Bờ Tây ngày càng rơi vào hỗn loạn, khi quân đội và cảnh
sát tỏ ra miễn cưỡng đối đầu với những người định cư bạo lực đang hành động gần
như không bị kiềm chế. Càng nhiều lần tình trạng này dẫn đến việc nhà cửa, xe cộ,
nhà thờ Hồi giáo của người Palestine bị phá hủy và người Palestine bị giết hại,
làn sóng chỉ trích từ các chính phủ nước ngoài càng gia tăng. Theo Haaretz,
các cuộc tấn công nhằm vào người Palestine ở Bờ Tây đã tăng mạnh kể từ năm
2023, khiến hàng chục cộng đồng bị xóa sổ và hàng trăm người bị thương. Ngay cả
Đại sứ Mỹ tại Israel Mike Huckabee, người công khai coi mình là đồng minh của
phong trào định cư, cũng lên án bạo lực và kêu gọi chính phủ kiềm chế các phần
tử cực đoan. Nhưng Smotrich và những người bạo loạn dường như vẫn xem những lời
lên án đó chỉ là hiện tượng nhất thời, bởi họ chưa có lý do thực sự để tin rằng
sức ép này sẽ đe dọa vị thế của mình.
Kể
từ khi kỷ nguyên Netanyahu bắt đầu — ông nắm quyền gần như liên tục từ năm
2009, ngoại trừ khoảng một năm rưỡi — cấu trúc nhân sự của chính IDF cũng dần
thay đổi. Trong những năm gần đây, xuất hiện xu hướng rõ rệt trong việc đề bạt
các sĩ quan có quan hệ gần gũi với Netanyahu, phong trào định cư hoặc cả hai.
Đáng chú ý là việc thủ tướng bổ nhiệm Thiếu tướng Roman Gofman, thư ký quân sự
của mình và người mà ông mô tả là “kín đáo và trung thành”, làm lãnh đạo
Mossad, cơ quan tình báo đối ngoại; đồng thời bổ nhiệm Thiếu tướng David Zini,
một sĩ quan mang quan điểm tôn giáo và ý thức hệ cứng rắn, đứng đầu Shin Bet,
cơ quan an ninh nội địa.
Cùng
với nhiều nhân vật kỳ cựu khác trong bộ máy an ninh, Eisenkot gần như chắc chắn
coi tình hình tại Bờ Tây là một mối đe dọa cấp bách đối với tương lai Israel,
dù ông vẫn tỏ ra kín tiếng trước công chúng và chưa rõ sẵn sàng đi xa đến đâu để
xử lý nó. Chẳng hạn, ông có thể sử dụng biện pháp giam giữ hành chính đối với
những phần tử định cư bạo lực nhất và bắt đầu thực thi trách nhiệm giải trình
thông qua các cuộc điều tra của cảnh sát và Shin Bet đối với những vụ tấn công
nghiêm trọng. Tuy nhiên, hiện có vẻ khó xảy ra khả năng Eisenkot và các đồng
minh tiến hành một cuộc thanh lọc rộng rãi hàng ngũ sĩ quan cấp cao hay cách chức
những người từng hợp tác quá mức với các phần tử định cư bạo lực. Không giống Mỹ,
Israel không có truyền thống thay thế hàng loạt quan chức công quyền cấp cao khi
quyền lực chính trị đổi chủ. Và bởi Eisenkot từng chỉ huy nhiều sĩ quan trong số
này khi còn là tổng tham mưu trưởng, ông có lẽ sẽ tin rằng mình có thể tái lập
quyền kiểm soát đối với họ thay vì thay thế họ hoàn toàn.
YẾU
TỐ TRUMP
Một
chính phủ mới của Israel cũng sẽ có thêm dư địa ở những mặt trận khác. Tại
Gaza, một chính phủ do Eisenkot lãnh đạo sẽ ít bị ràng buộc hơn bởi những cân
nhắc về thể diện và lòng tự tôn chính trị. Eisenkot chưa bao giờ hứa hẹn một
“chiến thắng toàn diện” trước Hamas như Netanyahu, và từng công khai chỉ trích
thủ tướng vì gieo cho công chúng những ảo tưởng về những gì Israel có thể đạt
được. Không phải gánh trách nhiệm trực tiếp đối với thảm họa ngày 7/10 và chưa
bao giờ tuyên bố một cuộc chiến toàn diện chống lại Chính quyền Palestine, ông
có lẽ sẽ có nhiều dư địa hơn để thảo luận các thỏa thuận mà Trump và Hội đồng
Hòa bình quốc tế đang tìm kiếm cho Gaza.
Có
cơ sở để cho rằng Eisenkot sẽ không phủ quyết một vai trò tích cực hơn của
Chính quyền Palestine tại Gaza. Điều đó có thể từng bước, dù rất chậm và thận
trọng, mở đường cho sự xuất hiện của một ban lãnh đạo Palestine thay thế. Tuy
nhiên, giống Netanyahu, ông khó có thể chấp nhận sự hiện diện quân sự của Hamas
tại Gaza và có lẽ chỉ có thể dung nạp một vai trò chính trị rất hạn chế của tổ
chức này, ngay cả khi Hamas giải giáp hoàn toàn — bản thân điều đó đã là một
thách thức rất lớn. Và giống bất kỳ lãnh đạo Israel nào khác, Eisenkot sẽ gặp
khó khăn cực lớn trong việc biện minh về mặt chính trị cho một cuộc rút quân
hoàn toàn khỏi Gaza, bởi điều đó sẽ khiến các cộng đồng Israel dọc biên giới trở
nên dễ bị tổn thương hơn trước nguy cơ một cuộc xâm nhập mới. Do đó, kịch bản
khả dĩ nhất có lẽ là Israel thu hẹp nhưng vẫn duy trì một vùng kiểm soát đáng kể
tại Gaza, đồng thời từng bước cho phép một hình thức tham gia nào đó của Chính
quyền Palestine dưới sự giám sát quốc tế tại phần lãnh thổ còn lại.
Tại
Lebanon và Syria, một chính phủ Israel mới cũng có thể linh hoạt hơn nhiều so với
những gì Netanyahu từng cho phép. Eisenkot gần như chắc chắn sẽ đặt ra những điều
kiện rất nghiêm ngặt đối với việc giải giáp Hezbollah. Nhưng khác Netanyahu,
ông hiểu giá trị của việc chấm dứt các cuộc đối đầu quân sự thay vì để các mặt
trận kéo dài vô thời hạn. Ở phương diện này, có thể sẽ xuất hiện một số không
gian cho ngoại giao nếu Trump muốn thúc đẩy.
Syria
đã và đang tạo ra một cơ hội thực sự. Theo những thông tin gần đây, Tổng thống
Ahmed al-Shara quan tâm tới một thỏa thuận an ninh theo đó Israel rút khỏi các
vùng lãnh thổ Syria mà họ chiếm giữ từ năm 2024 để đổi lấy một mức độ bình thường
hóa quan hệ nhất định. Eisenkot có thể coi đây là một thỏa thuận tạm thời hợp
lý với mức rủi ro tương đối hạn chế. Cũng có khả năng Thái tử Saudi Arabia
Mohammed bin Salman sẽ coi một chính phủ Eisenkot là dấu hiệu Israel mở sang một
chương mới, rời xa bộ máy lãnh đạo cánh hữu hiện nay, qua đó trở nên cởi mở hơn
với việc khởi động các cuộc đàm phán hướng tới bình thường hóa.
Tuy
nhiên, trong tất cả những trường hợp đó, những gì thực sự có thể đạt được vẫn
phụ thuộc rất lớn vào quan hệ cá nhân giữa thủ tướng Israel tiếp theo và tổng
thống Mỹ. Trong nhiệm kỳ đầu và giai đoạn đầu nhiệm kỳ hai, Trump từng có quan
hệ rất gần gũi với Netanyahu, nhưng kể từ đó mối quan hệ đã xấu đi. Dưới sự
thúc đẩy của Netanyahu, Mỹ hiện bị kéo vào một cuộc chiến ở Iran đã kéo dài gần
sáu tháng, trái ngược với gần như mọi điều Trump từng tuyên bố trong nhiều năm.
Tổng thống Mỹ và nhóm thân cận đã nhiều lần bác bỏ lời kêu gọi của Netanyahu về
việc quay trở lại một cuộc chiến toàn diện với Tehran, dù khả năng đó vẫn chưa
hoàn toàn biến mất, đồng thời thỉnh thoảng công khai quy trách nhiệm cho nhà
lãnh đạo Israel về những thất bại của cuộc chiến.
Trong
bối cảnh đó, Trump đang tìm kiếm một chiến thắng ngoại giao tại một trong những
mặt trận khác ở Trung Đông, có thể là Lebanon hoặc Gaza. Ở cả hai nơi, ông đã sử
dụng một mức độ ảnh hưởng hạn chế để kiềm chế các chiến dịch quân sự của
Netanyahu nhằm vào Hezbollah và Hamas. Không thể loại trừ những bước đi mạnh mẽ
hơn vào một thời điểm nào đó, kể cả việc Washington yêu cầu IDF rút khỏi một phần
lãnh thổ đang kiểm soát ở miền nam Lebanon và Gaza mà không nhất thiết đòi các
cam kết giải giáp Hezbollah và Hamas phải được thực hiện ngay lập tức. Hiện tại,
những kịch bản đó vẫn có vẻ khó xảy ra. Nhưng nếu Trump thực sự gây sức ép như
vậy, đó sẽ là một thảm họa chính trị đối với Netanyahu, bởi nó sẽ phơi bày rõ
hơn sự hão huyền trong những lời hứa về “chiến thắng toàn diện”.
Đối
với một chính phủ Eisenkot, ngược lại, đúng loại sức ép từ Mỹ có thể tạo ra cơ
hội hạ nhiệt một số mặt trận, đặc biệt nếu xuất hiện một vấn đề đủ hẹp để Trump
có thể tự nhận công trạng mà vẫn phục vụ lợi ích của Israel. Tham vọng hơn nữa,
có thể sẽ xuất hiện cơ hội đảo ngược chiến lược chiến tranh không hồi kết của
Netanyahu. Nhưng phần lớn vẫn phụ thuộc vào khả năng vị thủ tướng mới phối hợp
với tổng thống Mỹ đến đâu. So với Netanyahu, Eisenkot có rất ít kinh nghiệm ngoại
giao và ngoài các tổng tham mưu trưởng quân đội, gần như chưa từng tiếp xúc nhiều
với các quan chức cấp cao nước ngoài. Ông cũng thiếu sức hút cá nhân công khai
mà Netanyahu từng sử dụng hiệu quả trong quan hệ với Trump. Và nếu tổng thống Mỹ
rút sự chú ý khỏi khu vực, luôn tồn tại nguy cơ mọi thay đổi đáng kể trong
chính sách Israel sẽ bị đình trệ.
Cuộc
gặp đầu tiên tại Nhà Trắng giữa Trump và một thủ tướng Israel mới vì thế có thể
khá gượng gạo. Trump có thể sẽ nhớ thứ tiếng Anh Mỹ trau chuốt của Netanyahu và
sự can dự không ngần ngại của ông vào chính trị Mỹ — Netanyahu từng được giới
chức Washington gọi đùa là “thượng nghị sĩ Cộng hòa đến từ Jerusalem”. Tuy
nhiên, nếu cần, Trump hoàn toàn có thể thích nghi với một Eisenkot kiềm chế hơn
và khả năng tiếng Anh hạn chế hơn. Sau cùng, tổng thống Mỹ luôn có thiện cảm với
những người chiến thắng về chính trị. Eisenkot có thể giành được sự tôn trọng của
ông — miễn là trước hết ông thắng được cuộc bầu cử.
-----------------------
Amos
Harel là chuyên gia phân tích quốc phòng của Haaretz và là tác giả cuốn
Anatomy of a Failure: The Road to October 7, dự kiến xuất bản năm 2027.
Nguồn:
Amos
Harel, “Can Israel End Its
Forever Wars?”,
Foreign Affairs, 02/09/2026
No comments:
Post a Comment