Wednesday, April 30, 2025

VÙNG ÔNG TẠ NHỮNG NGÀY TRƯỚC 30-4-1975 (Cù Mai Công / Saigon Nhỏ News)

 



Vùng Ông Tạ những ngày trước 30-4-1975

Cù Mai Công  -  Saigon Nhỏ News

29 tháng 4, 2025

https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/vung-ong-ta-nhung-ngay-truoc-30-4-1975/

 

HÌNH : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/04/CMC-Saigon-30-4.2-1-1024x676.jpg

Vùng Ông Tạ vốn nằm giữa ba trong năm trọng điểm phải đánh chiếm của Quân Giải phóng khi “tiến về Sài Gòn”: Bộ Tổng tham mưu (nay là Bộ Tư lệnh Quân khu 7), Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô (trại Lê Văn Duyệt, nay là Bộ Tư lệnh TP.HCM) và Phi cảng Tân Sơn Nhứt (hai trọng điểm còn lại là Dinh Độc Lập và Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia). (Đồ họa: CMC)

 

Cuối tháng 4-1975, như cả Sài Gòn – Gia Định, Ông Tạ – “thủ phủ” Bắc di cư 54 của Sài Gòn, thậm chí cả miền Nam – căng thẳng theo tin chiến sự dồn dập.

 

Ngay mấy đứa nhóc cũng phải chú ý khi cha mẹ, anh em, hàng xóm… ai cũng chỉ nói chuyện này. Đi học, bạn bè cũng toàn chuyện thời sự, dù mới lớp Sáu, lớp Bảy…

 

Có một điều gì đó “long trời lở đất” sắp xảy ra!

 

Ngày 16-4-1975, Phan Rang thất thủ. Đại Tá Nguyễn Thu Lương, chỉ huy trưởng Lữ đoàn 2 Nhảy dù bị bắt ở đây. Nhà cũ của ông Lương sát bên chung cư góc Thánh Mẫu (nay là Bành Văn Trân) – Vân Côi, vùng Ông Tạ (giờ là một phần của Bún bò Hạnh. Phần kia, cạnh bên xưa là nhà Trưởng ty Hiến binh Phước Lễ Trần Ruy Dương).

 

Báo chí Sài Gòn liên tục đưa tin về trận chiến ở “cánh cửa thép Xuân Lộc” vốn cũng nhiều người Bắc 54. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ binh kiêm tư lệnh Biệt khu 31 Chiến thuật “thề tử thủ.” Nhà ông Đảo lúc đó trong khu cư xá Sĩ quan Chí Hòa (nay là cư xá Bắc Hải) vùng Ông Tạ.

 

Vùng Ông Tạ vốn nằm giữa ba trong năm trọng điểm phải đánh chiếm của Quân Giải phóng khi “tiến về Sài Gòn”: Bộ Tổng tham mưu (nay là Bộ Tư lệnh Quân khu 7), Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô (trại Lê Văn Duyệt, nay là Bộ Tư lệnh TP.HCM) và Phi cảng Tân Sơn Nhứt (hai trọng điểm còn lại là Dinh Độc Lập và Bộ Tư lệnh Cảnh sát Quốc gia).

 

Ngoài ra còn là Căn cứ Hoàng Hoa Thám (nay là đường và chợ Hoàng Hoa Thám), nơi đặt Bộ chỉ huy Sư đoàn Nhảy dù và trại Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Nguyễn Trung Hiếu (nay là siêu thị điện máy Chợ Lớn trên đường Cách Mạng Tháng Tám, đối diện công viên Lê Thị Riêng),

-Trại Biệt động quân Đào Bá Phước, nơi đặt bộ chỉ huy Biệt động quân trên đường Tô Hiến Thành, cách vòng ngoài vùng Ông Tạ non cây số. Nhà đại tá mở tiệm thuốc tây Bình Dân ngay giữa chợ Ông Tạ, đầu hẻm Bình Dân, nay là hẻm Phở Ngọc – 207/9 Phạm Văn Hai).

Ngày 21-4, cả nhà tôi ngồi coi tivi một cuộc họp nội các của Chính phủ VNCH; truyền hình, truyền thanh trực tiếp. Tại đây, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn từ chức khá dài. Tôi chỉ còn nhớ mấy câu ông Thiệu chửi Mỹ, thách Mỹ rồi tuyên bố “Dù mất một Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, quân đội vẫn còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kề bên anh em chiến sĩ…”

 

Nhưng bốn ngày sau, tối 25 rạng 26-4-1975, ông Thiệu lên máy bay đi Đài Loan phúng điếu cố Tổng Thống Tưởng Giới Thạch (đã qua đời trước đó ba tuần) rồi định cư ở nước ngoài luôn.

 

Cùng đi với ông Thiệu là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, trước đó 20 ngày còn là thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa. Hai ông này có vẻ thân nhau, có lẽ một phần do cùng ở khu cư xá sĩ quan (cao cấp nhất của Quân lực VNCH) Trần Hưng Đạo xéo đầu đường Thoại Ngọc Hầu hồi đầu thập niên 1960, khi cả hai cùng cấp bậc đại tá. Khi ở đây, hai phu nhân của hai ông thường ngồi chung xích lô theo đường Trương Quốc Dung – Nguyễn Minh Chiếu (nay là Nguyễn Trọng Tuyển) – Thoại Ngọc Hầu đi chợ Ông Tạ, ngang qua nhà tôi.

 

Nhà trong khu cư xá sĩ quan Trần Hưng Đạo là nhà công vụ, nhà riêng của ông Khiêm và gia đình phía sau khu cư xá Tự Do – xéo hồ tắm Cộng hòa. Còn trước đó, ba tôi kể: vợ chồng ông Thiệu dò ý muốn mua một khu đất trên đường Thoại Ngọc Hầu. Cuộc đảo chính 1-11-1963 nổ ra, sát hại hai anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Thiệu bỏ ý định đó vì “dân Ông Tạ ủng hộ ông Diệm, khó ở đây.” Trung Tá Huệ mua, xây building Đại Lợi cho Mỹ thuê (nay vẫn còn, trước chợ Phạm Văn Hai).

 

Thay vào quyết tâm của ông Thiệu là ông tướng “râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ sau mấy năm im hơi lặng tiếng bỗng dưng ngày 25-4 xuất hiện ở sân đền thánh Phêrô Thi của giáo xứ Lộc Hưng, Ông Tạ. Ông Kỳ không xa lạ với nơi này vì đây là khu vực nhiều bà con Bắc 54 Sơn Tây quê ông và ông có nhiều người thân quen ở đây. Cánh đồng trồng rau trước nhà thờ hồi đó gọi là “Cánh đồng Sơn Tây” (giờ gọi là “Vườn rau Lộc Hưng”). Thậm chí hồi năm 1965, khi làm chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương (một hình thức của thủ tướng), ông ngay lập tức bổ nhiệm một người thân hay cùng quê gì đó của ông là ông giáo Cảnh, hiệu trưởng Trường tiểu học tư thục Fatima trong giáo xứ Sao Mai – Ông Tạ làm hiệu trưởng trường Quốc Gia Nghĩa Tử.

 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/04/CMC-Saigon-30-4.jpg

Ông tướng “râu kẽm” Nguyễn Cao Kỳ sau mấy năm im hơi lặng tiếng bỗng dưng xuất hiện trong ngày 25-4-1975 ở sân đền thánh Phêrô Thi của giáo xứ Lộc Hưng, Ông Tạ. (Hình: tư liệu)

 

Bà con Ông Tạ, người lớn lẫn con nít kéo đi nghe ông Kỳ nói chuyện tử thủ gì đó với đồng bào. Tôi chỉ còn nhớ loáng thoáng ông Kỳ nói (đại ý): “Sang Mỹ làm gì, ăn bơ sữa ba ngày ỉa chảy té re té tỏng.” Ông bảo: Phụ nữ và trẻ con sẽ được đưa ra đảo Phú Quốc, dân Sài Gòn sẽ ở lại chiến đấu. Ông còn tuyên bố Sài Gòn sẽ trở thành một Leningrad thứ hai, nơi quân dân Nga đã cầm cự 900 ngày trong vòng vây hãm của Đức. Việc phân phối vũ khí sẽ làm ngay, mọi người nên ở lại Sài Gòn.

 

6,000 bà con Ông Tạ, đa số dân Lộc Hưng nghe, vỗ tay rầm rầm. Dè đâu, cũng như ông Thiệu, bốn ngày sau, 29-4-1975, ông Kỳ cũng lên máy bay bay đi. Sau này, tại một buổi đối thoại, truyền hình trực tiếp bên Mỹ, một giáo sư Đại học Cộng đồng, nhà báo tự do vốn dân Nghĩa Hòa – Ông Tạ, là Bùi Văn Phú Bùi Văn Phú đặt câu hỏi với ông Kỳ về chuyện thất hứa này, ông Kỳ trả lời: “Anh muốn tôi chết à?”

 

Chiều tối 29-4, có một cơn mưa nhỏ vùng Ông Tạ. Các toán quân Nhảy dù từ trại Sư đoàn Dù Hoàng Hoa Thám xếp hàng một lặng lẽ đi trong mưa, tái phối trí lực lượng phòng thủ khu vực một trong năm cửa ô Sài Gòn, ngăn chặn lực lượng quân giải phóng cánh Tây Bắc từ Củ Chi, Hóc Môn tiến xuống. Hai bên ngã tư Bảy Hiền là hai chốt chặn ở bệnh viện Vì Dân (nay là bệnh viện Thống Nhất) và Chi cảnh sát Lê Văn Duyệt (một góc Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền tôi học từ 1973). Đại Tá Lưu Kim Cương, tư lệnh Không đoàn 33 Chiến thuật kiêm chỉ huy trưởng Yếu khu Tân Sơn Nhứt tử trận ở khu vực này hồi đợt 2 Mậu Thân 1968; là nhân vật trong nhạc phẩm “Cho một người nằm xuống” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

 

1,000 quân của Bộ chỉ huy số 3 chiến thuật Liên đoàn 81 Biệt cách Nhảy dù (Biệt cách dù) bố trí lực lượng từ Lăng Cha Cả đến bên ngoài Bộ Tổng tham mưu. Cư xá số 2 Thoại Ngọc Hầu đầu vùng Ông Tạ, xéo cổng Bộ Tổng Tham mưu được cắm một bộ phận mạnh (cư xá này vừa bị phá bỏ xây cao ốc, đầu đường Phạm Văn Hai) canh giữ cổng Bộ Tổng Tham mưu.

(Sau 1975, “ở ké” tiêu chuẩn của vợ, đại tá Bùi Văn Tùng, người thảo và tiếp nhận đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh ở đây, trong căn hộ nhìn ra cổng Bộ Tổng tham mưu cũ. Con gái đầu của ông là Bùi Quỳnh Hoa Hoa Quynh Bui, học trường Ngô Sĩ Liên cách đó 100m với tôi, sau tôi mấy lớp, coi tôi như anh)

 

 

Phòng tuyến kháng cự trước giờ G ở một cửa ô Sài Gòn

 

Nhiều gia đình vùng Ông Tạ theo đạo Công giáo. Tiếng cầu kinh vang đều đều theo tiếng đạn pháo mỗi lúc mỗi tăng dần.

 

Trước đó, chiều 28-4, phi công VNCH nhưng là dân “nằm vùng” Nguyễn Thành Trung dẫn đầu một phi đội A-37 từ sân bay Thành Sơn (Phan Rang) tới Sài Gòn, ném bom phi trường Tân Sơn Nhứt – tính đường chim bay chỉ cách vùng Ông Tạ non cây số.

 

Tiếng bom vang ầm ầm cả vùng Ông Tạ. Xóm Đại Lợi của tôi nhiều nhà ba, bốn tầng. Sân thượng nhà nào cũng đầy người tụ tập nhìn về hướng phi trường, khói bốc cao. Y như hồi Mậu Thân 1968, dân xóm tôi, trong đó có đám con nít bọn tôi tụ tập ở vỉa hè trước rạp hát Đại Lợi nhìn xa xa về hướng Bà Quẹo coi máy bay VNCH ném bom san bằng khu Hãng dệt Vinatexco (nay là Dệt Thắng Lợi) – do nhiều lính “Việt cộng” sau khi tấn công Tân Sơn Nhứt bất thành đã rút về đây. Nhà máy Dệt Vinatexco nằm ở đầu khu vực phi trường Tân Sơn Nhứt, rất rộng, bao quanh là các căn cứ của Mỹ và Không lực VNCH.

 

Trời Sài Gòn những ngày cuối tháng 4-1975 rất oi hầm. Một, hai cơn mưa nhỏ không đủ ướt đất. Đạn pháo lúc nào cũng vang rền quanh vùng Ông Tạ. Tôi lấy chiếc xe đạp đi học thường ngày của mình chạy len theo con hẻm ấp Hòa Bình trên đường Thoại Ngọc Hầu ra ngõ Con Mắt trên đường Phạm Hồng Thái (nay là hẻm 766 Cách Mạng Tháng Tám) coi sao (!).

 

Dọc đường Phạm Hồng Thái, từ ngã tư Bảy Hiền đến trước nghĩa địa đô thành Chí Hòa (nay là công viên Lê Thị Riêng) từ tối 29 có các chốt của lính rằn ri mũ đỏ của các tiểu đoàn Nhảy dù do đây là khu vực đóng quân, huấn luyện của Sư đoàn Nhảy dù ở trại Hoàng Hoa Thám (nay là chợ và đường Hoàng Hoa Thám) và tiểu đoàn Nhảy dù ở trại Nguyễn Trung Hiếu (nay là siêu thị điện máy Chợ Lớn, đối diện đối diện nghĩa địa đô thành Chí Hòa, nay là công viên Lê Thị Riêng).

 

Trước trại Nguyễn Trung Hiếu, tôi thấy có một chốt chặn ở ngay cửa ngõ vào nội ô Sài Gòn trên đường Phạm Hồng Thái (nay là Cách Mạng Tháng Tám), chỉ huy là một sĩ quan Nhảy dù nào đó, gào lên với lực lượng chốt chặn là lính, nhân dân tự vệ và một số người dân trong khu vực. Giọng ông, tôi nghe là giọng Bắc 54 Ông Tạ.

 

Lính Nhảy dù hối hả dựng chiến lũy bằng bao cát, gỗ… này nọ lấy từ trong trại Nguyễn Trung Hiếu. Súng ống để ngổn ngang xung quanh. Hình như có một số lính Biệt động quân ở trại Biệt động quân Đào Bá Phước trên đường Tô Hiến Thành cách đó không xa tới tăng viện cho phòng tuyến này. Lúc ấy tôi còn nhỏ, lại đứng xa xa vì bị quát đuổi đi: “Con nít ra đây làm gì, về nhà đi!” nên không phân biệt được vì sắc phục lính hai binh chủng này tôi thấy có vẻ na ná nhau.

 

Bị đuổi, từ đây, tôi rấn bàn đạp đạp xe đến trường Nguyễn Thượng Hiền của tôi, cách đó gần một cây số rưỡi. Đường khá vắng, toàn lính Nhảy dù mặc đồ rằn ri, đứng ngồi rải rác. Tôi ngó vô trường mình, thấy lính đi lại trong sân trường. Ghé nhà thằng bạn gần trường, nó nói nho nhỏ: “Ba tao nói lính Biệt cách dù 81 đó!”

 

Liên đoàn 81 Biệt cách dù vốn là đơn vị “thứ dữ” của Quân lực VNCH với nhiệm vụ chính là thả các toán (gọi là “nhảy toán”) thám sát vào hoạt động những nơi mà những đơn vị khác ít khi hành quân vào khi lực lượng đối phương quá đông, quá mạnh, địa thế hiểm trở, ngoài tầm hoạt động của pháo binh… Mỗi toán sáu người, hoạt động độc lập; thu lượm tin tức hoạt động đối phương; đột kích, phục kích bắt tù binh khai thác tin. Khi cần, Liên đoàn 81 còn có thể tập trung lại để hành quân phối hợp với các đơn vị khác như ở An Lộc, Quảng Trị 1972 và Phước Long 1975.

 

Liên đoàn 81 gồm ba Bộ chỉ huy chiến thuật 1, 2, 3 với tổng cộng 3,000 quân; đa số gốc Bắc 54, nhiều người gốc Bắc 54 Tày, Nùng nổi tiếng lì lợm… Từ 26-4, Bộ chỉ huy 3 được điều về phòng thủ Bộ Tổng tham mưu và phi trường Tân Sơn Nhứt. Lực lượng này rải quân từ ngã tư Bảy Hiền dài dài tới Lăng Cha Cả – cửa ra vào cổng Phi Long của Không quân, tới sát cổng chính Bộ Tổng tham mưu.

 

https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/04/CMC-Saigon-30-4.1-1536x1152.jpg

Khu vực Bộ Tổng tham mưu Quân lực VNCH hiện nay (Quân khu 7). (Hình: CMC)

 

Cách ngã tư Bảy Hiền chưa tới nửa cây số, về phía Bà Quẹo, là nhà thờ và dòng tu Đắc Lộ, nơi hai anh tôi học. Noel tôi hay đi lễ ở đây. Lên chút nữa là trại Sư đoàn dù Hoàng Hoa Thám. Đối diện cổng chính trại Hoàng Hoa Thám là giáo xứ Tân Việt. Cộng đồng giáo dân Bắc 54 xứ này hồi 1954 ở ngay ngã ba Ông Tạ, ít lâu sau dời lên đây.

 

Thực tế trong ngày 30-4, các đơn vị Nhảy dù này (nhiều người là dân Bắc 54 Ông Tạ do Sư đoàn Nhảy dù đóng gần khu vực Bắc 54 Ông Tạ) đã trở thành tuyến kháng cự có tổ chức, có lực lượng mạnh cuối cùng của Quân lực VNCH trước đà tiến công dữ dội của Quân Giải phóng.

 

Nhà văn, nhà báo Hoài Hương Hoài Hương, bạn thân và học đại học với tôi viết từ tư liệu chiến dịch Hồ Chí Minh và từ chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, đại tướng Dương Văn Minh:

“Trưa 29-4, Tổng Thống, Đại Tướng Dương Văn Minh được nghe báo cáo khẩn của chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh về quân tình các chi khu:

 

“Quân đoàn 4, Quân khu 4, Sư đoàn 4 Không quân còn nguyên vẹn ở Cần Thơ. Hải quân còn nguyên. Quân đoàn 3 tại Biên Hòa cho biết Sư đoàn 25 tại Củ Chi thất thủ. Sư đoàn 5 tại Thủ Dầu Một, Sư đoàn 22 tại Long An, Sư đoàn 18, Lữ đoàn 3 Thiết giáp tại Long Thành, Bà Rịa, Biên Hòa bị khống chế hoàn toàn. Long Bình bị pháo kích. Biệt khu Thủ đô còn Sư đoàn Biệt động quân, Lữ đoàn Dù, 20 xe tăng, 2 tiểu đoàn Lôi Hổ, ít hỏa tiễn chống tăng Town.”

 

“Sư đoàn Biệt động quân, Lữ đoàn Dù, 20 xe tăng, 2 tiểu đoàn Lôi Hổ, ít hỏa tiễn chống tăng Town” của Biệt khu Thủ đô trong báo cáo này đa số đóng quanh vùng Ông Tạ. Dân Ông Tạ những ngày cuối tháng 4-1975, đi đâu cũng thấy sắc phục rằn ri.

 

Phòng tuyến, trận địa kháng cự quyết liệt này đã khiến cánh quân của Quân Giải phóng khu vực này hội quân ở Dinh Độc Lập trễ nhất so với các cánh khác, sau khi xe tăng của cánh quân đầu tiên húc đổ cánh cổng dinh lúc 11g30 trưa 30-4-1975.

 

 

 



KẾ SÁCH ‘RÚT CỦI ĐÁY NỒI’ và NGÀY 30 THÁNG TƯ 1975 (Lê Bá Vận – Saigon Nhỏ News)

 



Kế sách ‘rút củi đáy nồi’ và ngày 30 Tháng Tư 1975

Lê Bá Vận – Saigon Nhỏ News

30 tháng 4, 2025

https://saigonnhonews.com/nhin-lai-lich-su/ke-sach-rut-cui-day-noi-va-ngay-30-thang-tu-1975/

 

HÌNH : https://saigonnhonews.com/wp-content/uploads/2025/04/30-Thang-Tu-1-1.jpg

Sài Gòn xưa. (Hình: Facebook)

 

Ngày 30 Tháng Tư 1975, Sài Gòn, thủ đô miền Nam thất thủ, cuộc chiến ở Việt Nam kết thúc. Từ đó đến nay, nửa thế kỷ trôi qua. Lễ kỷ niệm 50 năm ngày 30 Tháng Tư được tổ chức trọng thể hơn bao giờ hết ở trong và ngoài nước, nhưng mang những ý nghĩa đối nghịch, do trên thực tế ngày 30 Tháng Tư có các tên gọi khác nhau. Và có nhiều đặc điểm.

Bắc Việt thắng cuộc thì ca ngợi, gọi là ngày 30 Tháng Tư 1975 là ngày đại thắng chống Mỹ, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước… vĩ đại nhất trong lịch sử… tự sướng. Miền Nam thua cuộc thì nói đến Tháng Tư đen chết chóc và 30 Tháng Tư 1975 là ngày Quốc hận, “ngày miền Nam khiếp sợ giải phóng,” tán gia bại sản, trắng tay mất sạch vào túi kẻ xâm lăng đội lốt giải phóng.

 

Người ngoại cuộc gọi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975 là một cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn giữa Bắc và Nam. Mỗi bên đều có chính phủ được dân bầu, có Hiến Pháp được quốc tế công nhận. Có vẻ là một cuộc chiến giữa hai lý tưởng Mác Lê và tự do, dân chủ phi Mác Lê.

 

Cao siêu hơn thì vạch ra đây là một cuộc chiến tranh “ủy nhiệm” (proxy war). Bắc Việt được Xô – Tàu cung cấp toàn bộ quân viện để đánh thuê cho chủ nghĩa cộng sản. Miền Nam được Mỹ và đồng minh giúp đỡ, chiến đấu tự vệ cho thế giới tự do.

 

Nhìn một cách thực tế thì chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975 là để giúp kẻ thắng thoát nghèo.

 

Người dân miền Nam nói đến ngày 30 Tháng Tư 1975 thì gợi lại hình ảnh xe tăng Bắc Việt húc cổng sắt tiến vào Dinh Độc Lập xen lẫn hình ảnh kẻ thắng thu hoạch lợi phẩm, thuyền nhân chết trên biển cả, những trại tù cải tạo rùng rợn, những vùng kinh tế mới cằn cỗi. (1) Đã 50 năm trôi qua.

 

Cuộc chiến ở Việt Nam có nhiều sắc thái, đặc điểm, hơn bất cứ một cuộc chiến tranh nào.

 

1- Đó là một cuộc chiến phát khởi chậm chạp, tăng cường độ dữ dội vào phút chót. Điều này khác với thông thường, chiến tranh ác liệt ngay từ đầu, điển hình giữa Nga và Ukraina hiện tại.

 

2- Kết thúc dứt khoát, có kẻ thắng người thua, không hòa. Ví dụ Thế Chiến II (1939-1945), chiến tranh Triều Tiên (1950-1953) thì hòa, cắt đôi đất nước thành lập Nam Hàn và Bắc Hàn.

 

3- Nhiều huyền thoại chiến tranh. Lái phi cơ núp trong mây, chờ địch bay ngang, nổ máy xông ra bắn hạ 7 máy bay địch gồm cả B-52, vừa lấy tay bít các lỗ đạn trên thân máy bay mình (Nguyễn Văn Bảy). Lấy thân lấp ổ châu mai (Phan Đình Giót); lấy thân chèn vào càng pháo, ghìm giữ không cho khẩu pháo cao xạ 37 mm bị lăn xuống vực (Tô Vĩnh Diện). Nhỏ người nhưng tay không từ dưới nhảy vọt lên níu càng máy bay trực thăng địch, ghìm không cho bay lên (Bùi Minh Kiểm)…

 

4- Điều nghịch lý bên thắng là bên nghèo. Ăn mặc thiếu thốn, có được chiếc đồng hồ Liên Xô đeo tay, chiếc xe đạp, đã là một tài sản lớn, ước mơ cả cuộc đời. Bên thua thì xe hơi, xe gắn máy chạy rợp đường, trong nhà thì tivi, tủ lạnh, bếp điện, máy giặt. Ấy thế mà thua đau, mất sạch. Thì ra miền Bắc nghèo thật nhưng không thiếu súng đạn, tăng pháo Xô-Tàu cung cấp, lại đánh thí mạng cùi. Và trong Nam thì cực khổ lắm, bị Mỹ ngụy kìm kẹp, mất tự do, miền Bắc phải vào giải cứu!

 

Kẻ nghèo mạt đi giải phóng một anh nhà giàu, nghe lạ tai, chưa hề có. Tất phải có nguyên do. Thực tế thấy rõ giải phóng hoàn tất là của cải miền Nam đổ tràn ra Bắc như nước vỡ đê. Nhà cửa, phố xá không biết đi thì được chia chác, phân phối cho đảng viên, cán bộ làm chủ.

 

Để giữ thể diện, lãnh đạo miền Bắc biện minh bằng cách “làm tới,” buộc tội “chống phá, phản bội, nợ máu, tay sai”… tăng cường khủng bố, cải tạo công thương tịch thu tài sản, ba lần đột ngột đổi tiền, vơ vét, cắt hộ khẩu buộc đi kinh tế mới ở đồi núi cằn cỗi.

 

Lập trại tù học tập cải tạo để thể hiện sự khoan hồng của chế độ song ở các nơi sơn lam chướng khí, hành hạ man rợ thân xác, hạ nhục nhân phẩm…. Trại học tập hay để trả thù?

Nhiều trại viên trí thức miền Nam lao động tốt, được dạy Mác-Lê 10 đến 20 năm ròng vẫn chưa tiếp thu đạt mức tối thiểu tốt nghiệp vớt, cho ra trại. Phước lớn là trại viên chỉ được dạy Mác-Lê, tư tưởng, đạo đức HCM chưa kịp ra lò, tai biến tẩu hỏa nhập ma khó xẩy.

 

5- Hai sự kiện độc đáo, “Dấu ấn” của ngày 30.4/1975, không đâu có, là:

 

1.    a) Di tản vượt biển. Tiếng Anh gọi là “Vietnamese boat people” (Thuyền nhân Việt Nam). Gần một triệu người đã liều minh ra đi trên những chiếc thuyền nhỏ chở đấy ắp người, nam nữ già trẻ. Tất nhiên hơn một nửa gởi thân xác trên biển cả (năm 1954 di cư trật tự, an toàn), số còn lại đến được bờ bến tự do. Một số đông bị công an đuổi bắt trở lại, tịch thu tiền của, giam tù vì tội vượt biên trái phép.Trong lịch sử di tản do chiến tranh là nhiều song theo đường bộ và tử vong rất thấp.

 

2.    b) Áp đặt chế độ cai trị thuộc địa lên miền được giải phóng với mỹ từ ‘Thống nhất đất nước’. Còn nhớ thời Đế quốc Pháp thống trị nước ta (1884-1945), chúng gởi đến một số quan chức Pháp cầm đầu nền hành chánh song vẫn duy trì triều Nguyễn với quyền hành tiếp xúc với dân.

 

Pháp tôn trọng văn hóa, phong tục tập quán bản địa. Cộng sản thì từ rất sớm đã lên kế hoạch cai trị miền Nam triệt để, toàn diện. Bị tiêu hủy tận gốc văn hóa miền Nam, đốt sạch toàn bộ văn, nhạc phẩm, sách báo… Cả một cỗ máy cai trị hoàn chỉnh được bê vào Nam để thay thế, từ A đến Z, trường kỳ.

 

Như thế chúng gọi là “Giải phóng miền Nam (!?).

 

Minh họa điển hình là vụ bạo loạn vũ trang của người Thượng ở Đắk Lắk, Tây Nguyên ngày 11 Tháng Sáu, 2023, đang đêm tấn công vào trụ sở UBND và đồn công an ở 2 xã Ea Tiêu và Ea Ktur, huyện Cư Kuin. Bốn công an bị giết, hai bị thương nặng gồm thượng úy, đại úy, thiếu tá. Hai bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND đều hy sinh. Các cán bộ được gởi đến công tác ở chốn xa xôi này và chịu thương vong là người miền Bắc từ Nghệ An, Thanh Hóa đến Bắc Giang, Hưng Yên.

 

Hiện tại ở Bộ Ngoại Giao, mọi cấp tùng sự trong và ngoài nước hầu như toàn người Bắc độc chiếm. Có thể thấy qua vụ tham nhũng ”Các chuyến bay giải cứu” năm 2021-22 thời dịch Covid-19. Xướng ngôn viên, MC truyền thanh, truyền hình trên khắp nước hầu như đều phát âm giọng Bắc. Các đại tướng QĐND và CAND tại chức đều là người miền Bắc, lãnh đạo Đảng, Nhà Nước. Tổng bí thư hiện nay phải không được là người miền Nam… Nói chung, trong Nam ở đâu thì người ngoài Bắc cũng được đưa vào chiếm đa số áp đảo về chức vụ và số lượng.

 

6- Một đặc điểm quan trọng của miền Bắc về chiến lược dẫn đến ngày 30 Tháng Tư 1975 là sử dụng kế sách thứ 19 “Rút củi đáy nồi” (Phủ để trừu tân (釜底抽薪) trong “Tam thập lục kế,” đánh tiêu hao hậu cần. Thi hành Hiệp Định Hòa Bình Paris kêu gọi ngừng bắn (và cấm Bắc Việt đưa thêm quân vào Nam Việt Nam), Hoa Kỳ bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam vào năm 1970, và những người lính cuối cùng trở về vào Tháng 1 năm 1973, xem như Mỹ tác chiến bị CS Bắc Việt vô hiệu hóa.

 

Ngay sau Hiệp Định Hòa Bình Paris, Quốc Hội Hoa Kỳ cắt giảm ngân sách lớn cho viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam. Cộng với mất sự cộng tác trực tiếp của binh lính Mỹ về nước, bị “rút củi đáy nồi,” QLVNCH nhanh chóng rơi vào tình trạng hỗn loạn. Mặc dù vẫn là lực lượng chiến đấu hiệu quả trong suốt năm 1973 và 1974, nhưng đến năm 1975, lực lượng này tan rã.

 

Sài Gòn, thủ đô của Nam Việt Nam, bị QĐNDVN vũ trang hùng hậu với đại pháo, xe tăng Xô-Tàu chiếm vào ngày 30 Tháng Tư 1975, và chiến tranh Việt Nam kết thúc.

 

Kế 20 – Hỗn thủy mạc ngư (混水摸魚) Đục nước bắt cá. Bắc Việt lợi dụng tình thế hỗn loạn để bắt trọn địch quân, và thi hành các mục tiêu kinh tế, chính trị của mình.

____

 

Thông thường với một chiến thắng lớn, bên thắng tổ chức kỷ niệm, lâu dần nhắc nhở cho có lệ. Năm nay 2025 lễ kỷ niệm đánh dấu 50 năm ngày 30 Tháng Tư 1975 rất lớn song có ý nghĩa vô cùng tiêu cực. Với thời gian chia rẽ và thù hận càng sâu sắc. Lỗi tại bên nào?

 

Hàng triệu người Việt Nam sống ở nước ngoài, khắp năm châu từ Úc qua Âu châu sang Canada, Mỹ tưởng niệm ngày 30/4 năm nay với chủ đề “Hành Trình 50 Năm Tìm Tự Do.” Lễ lạc gồm thượng kỳ, hội thảo, văn nghệ trình diễn, công chiếu các bộ phim thuyền nhân vượt biển; radio và Đặc san 50 năm rời quê hương, lột trần mặt trái giải phóng, tri ân nước đón nhận. Một bảo tàng trưng bày chứng tích tội ác của “Giải phóng trấn lột miền Nam” được lên kế hoạch.

 

Tại quốc nội năm nay, ngày 30 Tháng Tư được gọi là ngày Đại thắng giải phóng miền Nam. Ngày lễ kỷ niệm 50 năm thì được gọi là ngày Đại lễ Kỷ niệm 50 năm. Thêm chữ ‘Đại’. Cộng sản cho triển khai một chương trình đại lễ đồ sộ, tráng lệ, gây tiếng vang quốc tế, làm nên lịch sử. Khối quần chúng mọi tầng lớp và kiều bào diễu hành; diễu binh thì với 3,000 binh sĩ và công an đáp xe lửa từ Bắc vào nhập cuộc cùng quân đội ba nước lân cận tham gia, rất độc đáo. Có hơn 13,000 người đồng diễu. Khối vũ trang mặc quân phục mới toanh, màu sắc tùy theo binh chủng, động tác nhịp nhàng, oai vệ, đẹp mắt; chia thành nhiều toán, mỗi toán hàng ngang 10, dọc 10, thêm 1+3 người đi trước mang cờ. Đoàn người đi dài có đến vài cây số. Điều bất lợi là quân phục cùng mẫu mã, diễu binh cùng bộ điệu, kéo dài có thể làm nhàm chán khán giả? Hơn nữa vắng mặt trình diễu cơ giới, pháo lớn, tên lửa… song có đợt bắn pháo bông tại 30 địa điểm, bắn 21 loạt đại bác, trình diễn thiết bị bay không người lái (drone) trên sông Sài Gòn. Đoàn trực thăng bay lượn giăng cờ sao vàng búa liềm trông ngoạn mục, phi đội tiêm kích nhào lộn, xé gió gầm rú trên bầu trời, xếp hình xe tăng tiến vào Dinh Độc Lập…

 

Làm linh đình cho lắm cũng không rửa sạch được các tội ác tày trời đi kèm giải phóng. Đại lễ còn gồm thực hiện các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, thi đua, khen thưởng, hội thảo, tọa đàm, triển lãm văn hóa, văn nghệ, hòa nhạc, thể thao ở mỗi cơ quan, mỗi địa phương. Có gần 7,000 bài dự thi tìm hiểu 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Giá dự thi có bài nói đến nỗi thống khổ của đồng bào miền Nam bị giải phóng lột sạch, song cũng vui thầm đã giúp ích đồng bào miền Bắc thoát cảnh nghèo, và tiếp cận lối sống phóng khoáng tự do dân chủ, công bằng bác ái, văn minh đa chiều!

 

Thói thường “Giấu (ẩn) ác khai thiện.” Cộng sản làm thế để duy trì ủng hộ cho thể chế độc đảng, mỗi năm đến ngày 30 Tháng Tư, CSVN lại thừa cơ khơi dậy hận thù và lòng yêu nước, lôi Mỹ ra sỉ nhục, gán ghép các tội ác trong chiến tranh Việt Nam, và kể công đã oai hùng đánh tên đầu sỏ Đế quốc cút về nước! Mỹ thì chỉ thị các quan chức ngoại giao không đến dự Đại lễ 30 Tháng Tư.

 

                                                        ***

 

(1) Cố Tổng Bí Thư Đỗ Mười (nhiệm kỳ 1991-1997) lúc ông đang là ủy viên ban bí thư Trung Ương Đảng phụ trách đánh tư sản, kiểm kê và tịch thu tài sản nhân dân miền Nam, ngày 20 Tháng Hai, 1976 vào lúc 10 giờ 15 phút, trước sân tòa Đại Sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, được kể lại là đã từng tuyên bố: “Giải phóng miền Nam chúng ta có quyền tịch thu tài sản trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất chúng nó [ám chỉ người dân miền Nam], xe chúng nó ta đi, vợ chúng ta lấy, con chúng nó ta bắt làm nô lệ, còn chúng nó thì ta đày đi kinh tế mới và nơi rừng sâu nước độc, chúng nó sẽ chết lần mòn.” (nguồn: Thầy giáo trong trại tù cải tạo https://conganhuynh.com › ThayGi… ).







VIỆT NAM THẬT SỰ KỶ NIỆM GÌ VÀO NGÀY 30 THÁNG 4? (Bill Hayton / RSAA)

 



Việt Nam thật sự kỷ niệm gì vào ngày 30 tháng 4?

Bill Hayton  -  RSAA

Song Phan chuyển ngữ

30/04/2025

https://baotiengdan.com/2025/04/30/viet-nam-that-su-ky-niem-gi-vao-ngay-30-thang-4/

 

Vào ngày 30 tháng 4, Việt Nam kỷ niệm ngày chính thức kết thúc một cuộc chiến. Nhưng cuộc chiến đó kéo dài bao lâu? Nó bắt đầu từ năm 1965 khi lính chiến Mỹ đến Việt Nam, năm 1960 khi giao tranh nổ ra ở miền Nam Việt Nam, năm 1945 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập với Pháp – hay thậm chí sớm hơn?

 

Trong thông điệp chính thức xung quanh cuộc diễu binh ngày 30 tháng 4, Việt Nam đang kỷ niệm ngày giải phóng “miền Nam” và thống nhất đất nước. Nhưng khi xe tăng đâm vào cổng Dinh Tổng thống ở Sài Gòn vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng không chỉ kết thúc một cuộc đấu tranh quân sự mà còn là một cuộc đấu tranh chính trị, một cuộc đấu tranh đã bắt đầu từ đầu thế kỷ 20. Ngày nay, ở Việt Nam không thể thảo luận công khai cuộc đấu tranh chính trị đó, đơn giản là các cách diễn giải khác về lịch sử hiện đại của đất nước không được dung thứ.

 

Bi kịch của Việt Nam là cuộc đấu tranh chính trị này đã trở thành một cuộc nội chiến, và cuộc nội chiến này đã trở thành một phần của một cuộc chiến toàn cầu, lôi kéo các cường quốc – Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc – những nước mà ban lãnh đạo sẵn sàng trợ giúp và vũ trang cho các đối tác tại chỗ để phục vụ các mục tiêu rộng lớn hơn của họ. Cả hai bên trong cuộc nội chiến của Việt Nam đều từ các phong trào yêu nước. Sự chia rẽ của họ nằm ở ý thức hệ, vai trò của nhà nước trong xã hội, văn hóa, tôn giáo và nhiều vấn đề khác.

 

Điều này chưa được hiểu thật rõ. Ngay cả ngày nay, “Chiến tranh Việt Nam” thường được mô tả như một cuộc chiến giữa một quốc gia gọi là Bắc Việt và một quốc gia khác gọi là Nam Việt. Không phải vậy. Đó là cuộc chiến giữa hai nhóm chủ chốt chính trị, cả hai đều tuyên bố chủ quyền trên toàn bộ đất nước, nhưng có tầm nhìn khác nhau về tương lai của nó. Hai tầm nhìn đó ban đầu được thể hiện qua hai người: Nhà cải cách tự do Phan Châu Trinh và nhà hoạt động cấp tiến Phan Bội Châu.

 

Trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 20, cả hai ông đều vận động để chấm dứt ách thống trị của Pháp trên vùng đất mà lúc đó được gọi là “Đông Dương”. Sau Thế chiến Thứ nhất, Phan Châu Trinh và một học trò của Phan Bội Châu là Hồ Chí Minh đã đưa đơn thỉnh nguyện tới các nhà lãnh đạo tại Hội nghị Hòa bình Versailles để đòi hỏi “tự do, bình đẳng và bác ái” cho Việt Nam. Yêu cầu của họ bị từ chối thẳng thừng. Việc Pháp từ chối trao cho các dân tộc Đông Dương những quyền mà họ hứa hẹn cho chính dân chúng của mình đã phá hủy cơ hội chấm dứt chế độ thực dân một cách hòa bình. Con đường tự do dẫn đến độc lập bị đóng lại và Hồ Chí Minh bắt đầu một hành trình chính trị hướng về chủ nghĩa cộng sản.

 

Trước năm 1919, một dòng tư tưởng dân tộc chủ nghĩa tự do của Việt Nam có thể đã trở thành chủ đạo. Sau đó nó bị mất uy tín, và khoảng trống chính trị được chủ nghĩa cộng sản lấp đầy. Đến thập niên 1920, có hai luồng ý kiến chính trị không thể hòa giải ở Việt Nam, đều bắt nguồn từ các ý thức hệ châu Âu: Những người yêu nước tự do và những người cộng sản, hai nhóm có sự thù hận sâu sắc với nhau. Một tương lai không có xung đột huynh đệ tương tàn giờ đây là bất khả.

 

Trong thập niên 1930 và 1940, với sự hậu thuẫn và che chở từ các đối tác ý thức hệ ở Trung Quốc, các nhà yêu nước thuần túy và cộng sản đã xây dựng mạng lưới và lực lượng quân sự của họ. Chính quyền thực dân Pháp vẫn từ chối nhượng bộ bất kỳ điều gì có ý nghĩa. Với việc ngăn chặn con đường cải cách, tự do dẫn đến độc lập, họ buộc ngày càng nhiều nhà yêu nước phải theo con đường cách mạng. Khi Thế chiến Thứ hai xảy ra và quân Nhật chiếm đóng Đông Dương, cả hai bên chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh giải phóng lâu dài. Nhưng chiến tranh kết thúc nhanh chóng, sau vụ Mỹ ném bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Tình cờ, những người cộng sản đã chuẩn bị lập một Quốc hội trong tuần tiếp theo và do đó cán bộ của họ đã sẵn sàng chiếm Hà Nội. Vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh chính thức tuyên bố độc lập cho nước “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, tức VNDCCH.

 

Đến lúc này, giao tranh giữa các phe phái Việt Nam đã bắt đầu. Vào giữa năm 1945, cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương bắt đầu ám sát các đối thủ của họ thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) tự do – yêu nước và các đảng Trotskyite cánh tả. Đây là lúc “Chiến tranh Việt Nam” thực sự bắt đầu. Cuối năm đó, quân Pháp đến giành lại quyền kiểm soát và lập ra chính quyền đối thủ. Sân khấu cho cái mà chúng ta gọi là “Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất” đã được dựng lên.

 

Tuy nhiên, sẽ sai lầm nếu coi cuộc chiến này chỉ đơn thuần là giữa “người Pháp” với “người Việt”. Có rất nhiều người Việt không muốn thấy cộng sản chiến thắng. Điều này vẫn đúng ngay cả sau khi VNDCCH đánh bại lực lượng Pháp tại Điện Biên Phủ vào năm 1954. Trận chiến đó được theo sau bởi một loạt các thỏa thuận quốc tế, gọi là Hiệp định Genève. Hiệp định này quy định rằng, các lực lượng quân sự của hai bên tranh chấp chủ quyền Việt Nam phải rút về phía bắc và phía nam của một ranh giới “tạm thời” tại vĩ tuyến 17 cho đến khi diễn ra một cuộc bỏ phiếu, dự kiến trong vòng hai năm, để quyết định ai sẽ lãnh đạo đất nước thống nhất.

 

Việt Nam chưa bao giờ bị “chia cắt” theo cách, chẳng hạn như Anh chia cắt Ấn Độ. Khu vực phía bắc vĩ tuyến 17 được đặt dưới sự kiểm soát tạm thời của VNDCCH, và khu vực phía nam dưới sự kiểm soát của Quốc gia Việt Nam – được Pháp thành lập vào năm 1949 với sự hợp tác của một số nhà yêu nước. Không bên nào coi sự phân chia này là hết chuyện. Cả hai đều tuyên bố quyền cai trị trên toàn bộ đất nước. Nhưng hệ quả là, gần một triệu người Việt Nam bình thường đã rời bỏ nhà cửa ở miền Bắc, vì lo sợ cuộc sống dưới chế độ cộng sản.

 

Sau khi người Pháp rời đi vào năm 1955-1956, một ban lãnh đạo Việt Nam mới nắm quyền kiểm soát miền Nam, do Ngô Đình Diệm đứng đầu, tuyên bố thành lập nước “Việt Nam Cộng hòa” (VNCH). Với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, ông hủy bỏ cuộc bầu cử theo quy định của Hiệp định Genève và bắt tay đè bẹp mạng lưới cộng sản ở miền Nam. Chính sự thành công của ông trong việc này đã thúc đẩy lãnh đạo cộng sản đồng ý khởi động lại cuộc đấu tranh vũ trang vào năm 1960. “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai” bắt đầu.

 

Khi giao tranh leo thang, các nhà bảo trợ của hai bên đổ thêm nhiều nguồn lực vào cuộc xung đột. Nga và Trung Quốc (khi thì đồng lòng, khi thì xung khắc) ủng hộ VNDCCH, trong khi Hoa Kỳ và một số đồng minh hậu thuẫn VNCH. Dân chúng Việt Nam bị kẹt ở giữa. Không ai biết chính xác bao nhiêu người đã bị giết chết. Ước tính dao động từ hai đến ba triệu người.

 

Nhiều thêu dệt chính trị phải được duy trì bởi các bên trong cuộc chiến này. Người Mỹ tự cho rằng mình đang ủng hộ một quốc gia gọi là “Nam Việt” chống lại một quốc gia khác gọi là “Bắc Việt”. Trong khi đó, lãnh đạo cộng sản ở miền Bắc vờ rằng lực lượng kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam, “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” (MTGP), và “Quân Giải phóng miền Nam” (thường được gọi là Giải phóng quân hoặc GPQ), là tự lập. Thực tế, MTGP và GPQ đều do VNDCCH kiểm soát.

 

Khi giao tranh tiếp diễn, “bàn tay dẫn dắt” của VNDCCH ngày càng lộ rõ. Đến năm 1965, lực lượng của họ, “Quân đội Nhân dân Việt Nam” (QĐND), đã tham chiến tại VNCH nhưng dưới vỏ bọc hỗ trợ GPQ. Đến năm 1975, QĐND công khai dẫn đầu cuộc tiến quân cộng sản vào Sài Gòn. Tuy nhiên, khi hai xe tăng của QĐND húc sập cổng dinh Tổng thống vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, các chỉ huy của họ cẩn thận chắc chắn rằng chúng treo cờ của MTGP, chứ không phải cờ VNDCCH. Việc tô vẽ rằng đây là một cuộc kháng chiến do miền Nam lãnh đạo cần được tiếp tục.

 

Chính thức, MTGP đã phát triển thành “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, sau đó nắm quyền ở Sài Gòn. Cũng như MTGP, đây là một chế độ cộng sản do VNDCCH kiểm soát. Chính phủ cách mạng lâm thời sau đó đổi tên thành “Cộng hòa miền Nam Việt Nam”. Mãi đến ngày 2 tháng 7 năm 1976, nhà nước bình phong này mới chính thức đồng ý tự giải thể và sáp nhập với VNDCCH để thành lập “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

 

Vì vậy, khi đám đông tụ tập ở Sài Gòn mỗi dịp 30 tháng 4, ngày kỷ niệm họ đang đánh dấu không thật sự là ngày “thống nhất” chính thức của Việt Nam mà là ngày cuối cùng VNCH ở miền Nam bị thua về quân sự. Hiểu điều này là quan trọng bởi vì điều mà lãnh đạo hiện nay của đất nước quan tâm là quyền cai trị không bị thách thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN).

 

ĐCSVN không thể chấp nhận ý niệm rằng VNCH trước đây có bất kỳ tính hợp pháp chính trị nào. Trong cách nhìn của họ, Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai là cuộc đấu tranh giữa “nhân dân Việt Nam” và Hoa Kỳ; không có chuyện “nội chiến”. Các cựu lãnh đạo của VNCH chỉ là “con rối của ngoại bang” và không thể có “hòa giải” với các cựu thù. Điều mà lãnh đạo Việt Nam hiện nay đòi hỏi là sự thừa nhận rằng VNCH đã sai và phía cộng sản luôn đúng.

 

 

 



MONG CHO TÌNH YÊU NƯỚC KHÔNG CÒN LÀ SẢN PHẨM ĐỘC QUYỀN (Nhật Phan - Luật Khoa tạp chí)

 



Mong cho tình yêu nước không còn là sản phẩm độc quyền

Nhật Phan  -  Luật Khoa tạp chí

30/04/2025

https://luatkhoa.com/2025/04/mong-cho-tinh-yeu-nuoc-khong-con-la-san-pham-doc-quyen/

 

HÌNH : https://luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/thap-rua-ho-guom-11.jpg

Tháp Rùa nằm giữa lòng Hồ Gươm ở Hà Nội. Nguồn ảnh: Vietnam Tourism.

 

Khi ở nước ngoài, tôi thường hay nhớ về những điều nhỏ bé ở Việt Nam — những quán ăn ven đường, ly trà đá vỉa hè, những nụ cười vô tư, những lời cảm ơn bằng tiếng Việt, theo cách rất Việt Nam. Ký ức tuổi thơ tôi gắn liền với những điều nhỏ nhặt ấy. Đó là cách tôi yêu đất nước này.

 

Thế nhưng, không ít lần tôi bị mắng là “không yêu nước” chỉ vì có cái nhìn khác về Việt Nam. Người ta bảo: yêu nước gì mà cứ soi mói, chê bai. Nhưng tình yêu thật sự, với tôi, không phải là bịt mắt trước những điều chưa ổn. Tình yêu ấy là khi ta thấy đất nước còn thiếu sót mà vẫn yêu — và mong nó tốt lên từng ngày.

 

Nếu tôi không có tình cảm với đất nước này, không quan tâm đến nơi tôi sinh ra và lớn lên, không dành tình yêu cho những con người tôi từng gắn bó — và sau cùng, nếu tôi không muốn sống ở đây — thì tôi bận tâm hay mong đất nước này tốt lên để làm gì?

 

Trớ trêu thay, với những người mang tình yêu đất nước theo một cách khác, chúng tôi không biết phải sống thế nào cho đúng. Bày tỏ nỗi lòng thì sợ bị tấn công, bị trừng phạt, không ai bảo vệ. Nhẹ thì bị bắt nạt trên mạng: “Không thích thì cút ra nước ngoài mà sống.” Nặng thì bị khủng bố tinh thần, cô lập, bị mất việc làm, bị sách nhiễu. Hay tệ hơn thì bị “mời lên phường làm việc.”

 

Một nghịch lý ở Việt Nam: luật pháp luôn treo lơ lửng đó, nhưng lại được diễn giải tùy theo mục đích của nhà chức trách — và có thể giáng xuống bất kỳ ai dám nói điều trái ý số đông. Cùng là mạt sát, xúc phạm nhân phẩm trên mạng, nhưng nếu hành vi đó phục vụ tuyên truyền hay có lợi cho chính quyền, thì luật pháp im lặng. Ngược lại, nếu bạn lên tiếng phê phán sai trái, dù có bằng chứng trong tay, dù không công kích cá nhân, thì vẫn có nguy cơ bị Điều 331 giáng vào đầu.

 

Thật lòng mà nói, có ai trong chúng ta không từng cảm thấy nơm nớp lo sợ khi phát biểu một điều “nhạy cảm”, dù chỉ là vì yêu nước và muốn điều tốt hơn cho đất nước này?

 

Tôi mong rằng, 50 năm nữa, chúng ta sẽ không còn cái gọi là “độc quyền yêu nước”. Bất kể bạn là ai, coi trọng điều gì trong cuộc sống, khuynh hướng chính trị của bạn thế nào hay cách bạn mong đất nước này phát triển theo tư tưởng nào — bạn đều xứng đáng được lắng nghe, được chấp nhận, và được tạo điều kiện để góp phần làm cho dải đất hình chữ S này đi lên.

 

Mong rằng mọi khác biệt đều có thể chung sống với nhau.

 




HÒA GIẢI DÂN TỘC THẾ NÀO VỚI MỘT THẾ HỆ TRẺ HUNG HĂNG? (An Bình / Luật Khoa tạp chí)

 



Hòa giải dân tộc thế nào với một thế hệ trẻ hung hăng?

An Bình  -  Luật Khoa tạp chí

30/04/2025

https://luatkhoa.com/2025/04/hoa-giai-dan-toc-the-nao-voi-mot-the-he-tre-hung-hang/

 

HÌNH : https://luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/hung-hang-1536x864.jpg

           Đồ họa: Thanh Tường, Tùng Anh, Thiên Tân / Luật Khoa.

 

Trước thềm kỉ niệm 50 năm ngày cuộc chiến Bắc – Nam chấm dứt, Tổng bí thư Tô Lâm đã có một bài viết với tựa đề “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Bài viết được đánh giá cao khi ở phần nói về hoà giải, hoà hợp dân tộc, ông Tô Lâm viết “dù ở phía nào của lịch sử, đều cùng mang một cội nguồn, một ngôn ngữ, một tình yêu dành cho quê hương, đất nước.”  

          

Việc người lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản dùng cụm từ “dù ở phía nào của lịch sử”, “phía bên kia” để thay thế cho những cụm từ thường thấy trong tuyên truyền như “Mỹ – Nguỵ”, “Nguỵ quân – Nguỵ quyền” cho thấy đã có một sự đổi mới trong nhận thức về lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

Với cương vị của mình, ông Tô Lâm có thể đã gặp được nhiều người, nhiều thành phần của cả phía bên này và cả bên kia của lịch sử. Những người đã gác lại hận thù, nỗ lực hàn gắn vết thương Việt Nam để đóng góp, xây dựng đất nước cho dù có khác biệt về quan điểm chính trị và trải nghiệm lịch sử.

 

Thế nhưng cũng với cương vị của ông, tôi không biết ông Tô Lâm có từng chứng kiến những cuộc khẩu chiến, mạt sát, đấu tố nhau trên một chiến trường mới là mạng xã hội hay chưa? Liệu ông có chứng kiến những cuộc khẩu chiến đó, để thấy rằng 50 năm trôi qua, lửa hận thù vẫn còn bùng lên mỗi ngày. Không phải đến từ những người từng trực tiếp trải qua chiến tranh, mà đau đớn thay, nó đến từ thế hệ trẻ – những người chưa từng nghe tiếng bom rơi đạn nổ, chưa từng sống trong sự chia cắt Bắc – Nam. 

 

Ông Tô Lâm viết: “Vậy thì không có lý do gì để những người Việt Nam – cùng chung huyết thống, cùng một mẹ Âu Cơ, luôn đau đáu về một đất nước thống nhất, phồn vinh – lại còn mang mãi trong lòng nỗi hận thù, chia rẽ và ngăn cách.” 

 

Trong bài viết của ông, đó là một thông điệp gửi đến tất cả người dân Việt Nam. Nó không nên là một câu khẳng định, mà nên là một câu hỏi mà chính ông và những người trong bộ máy cai trị, bộ máy tuyên truyền của ông phải trả lời. 

 

Câu hỏi đó tôi xin viết lại như sau: Vậy thì lý do gì để những người Việt Nam – cùng chung huyết thống, cùng một mẹ Âu Cơ, luôn đau đáu về một đất nước thống nhất, phồn vinh – lại còn mang mãi trong lòng nỗi hận thù, chia rẽ và ngăn cách?

 

Tại sao khi những người từng chĩa súng vào nhau, từng ở hai bên chiến tuyến, những người từng ôm nỗi hận thù đã sẵn sàng tha thứ và chia sẻ cho nhau để cùng hướng đến tương lai, còn lớp trẻ hôm nay lại cứ ôm mãi sự hận thù ấy để chia rẽ, xúc xiểm nhau bằng những ngôn từ độc hại bén ngót, sẵn sàng cứa đứt những nỗ lực hòa giải đến từ những người trực tiếp tham gia cuộc chiến?

 

Điều nghịch lý ấy bắt nguồn từ một nền giáo dục lịch sử thiên lệch – một thứ lịch sử được viết nên bởi “bên thắng cuộc”. Cái lịch sử thiếu khách quan ấy không chỉ được bộ máy tuyên truyền nhà nước ra rả trong suốt 50 năm mà nó còn được giảng dạy trong nhà trường một cách rập khuôn. Chính cái cách đóng khung tư duy, dập tắt những tiếng nói phản biện ngay từ trong tư tưởng đã tạo nên một lớp thanh niên Việt Nam chỉ nhìn thấy một màu sắc hận thù của lịch sử.

 

Trong tiến trình giáo dục dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, yêu nước được đánh đồng với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Trong khi những người lãnh đạo cấp cao của đảng đôi khi vẫn chừa một tai để nghe một số nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước đối thoại, thì một thế hệ trẻ lại sẵn sàng vùi dập, “đánh đến chết” những tiếng nói đi ngược với đường lối, chính sách của đảng, mặc cho những tiếng nói đó là sự góp ý chân thành để xây dựng hay đơn thuần chỉ là một cảm xúc cá nhân. 

 

Đơn cử như vụ một cô MC đăng tải trên mạng về việc cô “không vui, không háo hức, không tự hào” về sự kiện 30/4 đang diễn ra tại Sài Gòn và sau đó bị cộng đồng mạng vùi dập một cách không thương tiếc. Dù chỉ là một dòng chia sẻ về cảm xúc cá nhân sau khi bị kẹt xe để phục vụ sự kiện kỷ niệm 30/4, cô MC sau đó phải đóng toàn bộ mạng xã hội trước làn sóng gạch đá của cộng đồng mạng, cơ quan nơi cô đang làm việc tuyên bố cắt sóng, ngưng hợp tác sau phát ngôn đi ngược số đông đó. 

 

Hay rộng hơn là khái niệm “giải phóng miền Nam” trong suốt 50 năm tuyên truyền và giáo dục ở mái trường xã hội chủ nghĩa đã trở thành chân lý tuyệt đối của một thế hệ. Nhưng khi những người từng sống ở miền Nam cũ hoặc con cháu của họ đặt câu hỏi “giải phóng ai, giải phóng điều gì?” thì họ lập tức bị gán cho những nhãn mác là kẻ không yêu nước, là phản động, thù địch hay là những kẻ quay lưng với đất nước.

 

Tất nhiên, Đảng Cộng sản có những lí lẽ của họ để gọi cuộc chiến tranh Nam – Bắc suốt 20 năm là một cuộc giải phóng. Tuy nhiên những người miền Nam họ cũng có quyền được thắc mắc những người cộng sản đã “giải phóng ai khỏi điều gì” khi chứng kiến hàng triệu người Việt phải bỏ đất nước ra đi, hàng chục ngàn người phải đi “học tập cải tạo” không biết ngày về hay phải trải qua chục năm sống nghèo khổ trong nền kinh tế bao cấp xã hội chủ nghĩa.

Ông Võ Văn Kiệt đã từng nói về sự kiện 30/4 rằng “có triệu người vui và cũng có triệu người buồn”. Triệu người vui có quyền tự hào đã chiến thắng, đã giải phóng triệu người buồn, thì triệu người buồn ấy cũng có quyền thắc mắc các ông giải phóng chúng tôi khỏi điều gì và mang lại điều gì cho chúng tôi. 

 

“Giải phóng ai, giải phóng điều gì?” – câu hỏi đó thực ra không đáng để sợ hãi hay lên án. Nó cần được lắng nghe như một phần quan trọng trong hành trình đi đến hòa giải dân tộc. Sự hòa giải không thể được thiết lập chỉ bằng các nghi lễ tưởng niệm, các khẩu hiệu sáo rỗng hay kể cả ý chí của những người lãnh đạo cao nhất. Nó chỉ có thể bắt đầu khi người dân được quyền đối thoại, được quyền đặt câu hỏi và được quyền nghi ngờ những gì từng được coi là chân lý.

 

Thế hệ trẻ ngày nay, thay vì kế thừa tinh thần bao dung và hòa hợp, lại bị nuôi dưỡng trong một dòng lịch sử chỉ có một màu và mang nặng tính thù hằn bởi một bộ máy tuyên truyền say men chiến thắng suốt hàng nửa thế kỷ. Trong thế giới phẳng và kết nối của mạng xã hội, họ dễ dàng tiếp cận những thông tin trái chiều, nhưng lại thiếu khả năng phân tích và đối thoại, dẫn đến sự cực đoan và cãi vã không hồi kết. Tệ hơn nữa, thay vì tranh luận để đi tìm lời giải, họ sẵn sàng ném vào nhau những ngôn từ thù hằn, độc địa và sẵn sàng chụp mũ bất kỳ ý kiến trái chiều nào là phản động.  

 

Để đi đến hòa giải, điều cấp thiết là phải khơi thông dòng chảy sự thật lịch sử, chấp nhận nó như một tổng thể phức tạp, đa chiều, khách quan, thay vì tiếp tục tô hồng hay tô đen. Khi những thuật ngữ như “giải phóng” hay “nội chiến” còn gây tranh cãi, thì chính sự tranh cãi ấy cần được tồn tại như một phần của tiến trình hàn gắn. Không thể có hòa giải thật sự nếu một bên được nói còn bên kia bị buộc phải im lặng.

 

Một đất nước không còn tiếng nói phản biện, không còn không gian để người dân cất lên những câu hỏi trái chiều, đất nước đó đang tự giới hạn chính mình không chỉ về tư tưởng mà còn về cơ hội mở ra tương lai. Trong sự câm lặng ấy, người trẻ dễ bị dẫn dắt bởi cảm xúc thay vì lý trí, dễ bị cuốn vào những vòng lặp thù hằn bởi không có ai dạy họ cách tha thứ, cách tôn trọng khác biệt và cách học hỏi từ lịch sử khách quan.

 

Hoà giải dân tộc không phải là sự tha thứ từ một phía, cũng không phải là việc xóa bỏ quá khứ, mà là cùng nhau đối diện với nó, không che giấu, không bóp méo, không độc quyền. Khi sự thật được đối thoại một cách công khai và bình đẳng, khi tiếng nói phản biện được tôn trọng như một biểu hiện lành mạnh của dân chủ, thì đó mới là lúc hành trình hòa giải bắt đầu thật sự.

 






30/4 - KHI GIỚI TRẺ ĐƯỢC DẠY HẬN THÙ (Hạo Nam / Luật Khoa tạp chí)

 



30/4 – khi giới trẻ được dạy hận thù

Hạo Nam   -   Luật Khoa tạp chí

30/04/2025

https://luatkhoa.com/2025/04/30-4-khi-gioi-tre-duoc-day-han-thu/

 

https://luatkhoa.com/wp-content/uploads/2025/04/HKHK-1536x864.jpg

Nguồn ảnh: Fanpage Thiếu nhi TP. Hồ Chí Minh.

 

“Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, thanh niên – thế hệ trẻ luôn giữ vị trí quan trọng, được ví như rường cột quyết định sự hưng thịnh của dân tộc”. 

 

Đó là đầu đề bài viết của Báo Tuổi Trẻ dẫn lại lời phát biểu của Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Tô Lâm như một lời dặn dò cho thế hệ thanh niên Việt Nam trong “kỷ nguyên vươn mình” – một giai đoạn bắt đầu từ Đại hội đảng lần thứ 14, đánh dấu 100 năm sự lãnh đạo của Đảng, 50 năm kết thúc nội chiến Bắc – Nam, thống nhất đất nước. 

 

Nhưng, thời đại bây giờ đã khác, không còn giai đoạn của “cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới” nữa. Đây là thời đại mà nhân loại tập trung cho sự dân chủ, tinh thần bác ái và sự tự do của loài người. Mọi người đều có quyền được tự do, đặc biệt là sự tự do trong tư tưởng và quyền biểu đạt chính kiến cá nhân. 

 

Thế hệ thanh niên Việt Nam hiện nay, phải chăng nên được dạy về những điều cơ bản đó trong nhà trường. Vậy nhưng, chính niềm kiêu hãnh của bên thắng cuộc đã gieo rắc vào tâm tưởng “thế hệ trẻ” những hận thù, sự miệt thị và tất cả những gì tệ hại nhất dành cho bên thua cuộc. 

 

Điều đó giờ đây lại diễn ra theo chu kỳ mỗi năm một lần trong suốt 50 năm qua. Đây là thời điểm mà nhiều báo đài trong nước dành ngôn từ “vĩ đại, sáng suốt, hào hùng, v.v.” cho bên nhận vinh quang, và từ “ngụy” cho bên còn lại. Điều đó cũng diễn ra hằng ngày dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. 

 

Đến cuối cùng, thanh niên chỉ biết nghe theo, không phản biện và không dám phản biện. Đó là “truyền thống” của một xã hội có 80 năm dưới sự cầm quyền của Đảng Cộng sản, trong đó có 50 năm, thế hệ thanh niên miền Nam buộc phải tiếp thu cái “truyền thống” ấy. Không có một liệu pháp nào để hàn gắn “vết thương rỉ máu” của dân tộc đã một nửa thế kỷ – “quá nửa một kiếp người”. Làm sao để một quốc gia hướng đến xây dựng tương lai, nhưng lại phủ nhận quá khứ của mình?

 

Tác giả bài viết này cũng thuộc độ tuổi “thanh niên – thế hệ trẻ rường cột của đất nước”, như lời Tổng Bí thư Tô Lâm. Tuy vậy, tác giả có cách nhìn nhận riêng của mình. Những lời bộc bạch dưới đây không chỉ của riêng tác giả, mà còn thay lời của cả triệu thanh niên Việt Nam đang im lặng, vì sợ tiếng nói của mình sẽ bị chính quyền cáo buộc, trong bối cảnh “kỷ nguyên vươn mình”.

 

 

Người trẻ được dạy về lòng hận thù

 

Đã mấy chục năm trôi qua, nhưng khi đọc lại tác phẩm “Nói với tuổi 20” của thầy Thích Nhất Hạnh, tôi nghẹn ngào và dấy lên sự đồng cảm sâu sắc. Tác phẩm được viết năm 1965, sau khi thầy nghe bài hát “Để lại cho em” (Tâm ca số 5) do Phạm Duy sáng tác. Trong tác phẩm này, thầy đã đối thoại với “người em tuổi hai mươi” từ góc nhìn của “người anh bốn mươi”. Người anh đó nhận lỗi vì đã “để lại cho em”: “một đất nước chia cắt, bị bom đạn xới tung”, “một di sản của lòng hận thù và nghèo đói”.

 

Đến ngày hôm nay, dù đất nước đã thống nhất nhưng vết thương chiến tranh vẫn còn âm ỉ trong lòng người. Hận thù từ quá khứ được tiếp tục truyền lại cho thế hệ trẻ qua những lời tuyên truyền và sự kiện được gọi là ngày “chiến thắng”.

 

Mỗi năm, vào dịp 30/4, bên thắng cuộc luôn tạo dựng lại một kịch bản tua ngược dòng lịch sử. Điều đáng nói là, kịch bản này đã không nhắc nhớ thế hệ trẻ xót thương về sự mất mát của cả hai phía do cuộc chiến phi nghĩa 20 năm mang lại. Bên thắng cuộc đã biến sự kiện này thành dịp phô trương cho sự “chiến thắng” của mình.

 

Hơn một vạn quân nhân, bộ đội – thế hệ thanh niên, từ các tỉnh phía Bắc đến Đà Nẵng – đã đồng loạt hàng hàng, lớp lớp “tiến về Sài Gòn” (TP. Hồ Chí Minh) như để tái hiện lại thời khắc ngày 30/4 lịch sử. Màn tái dựng đã được chuẩn bị rất công phu, từ trang phục của quân đội, dân quân miền Bắc, hợp diễu binh trên Đại lộ Lê Duẩn, đến cờ đỏ sao vàng phủ khắp các tuyến đường ở TP. HCM và loa phát thanh lời kêu gọi “toàn thắng” năm xưa v.v.

 

Cùng với đó, theo kế hoạch, Đài Truyền hình Quốc gia (VTV) phát sóng trực tiếp, có lồng ghép các thước phim trắng đen về sự kiện 30/4/1975 cùng những lời diễn đọc: “Thắng lợi vĩ đại, kết thúc 30 năm chiến tranh v.v.” VTV cùng nhiều đài truyền hình khác còn phát sóng chương trình “Rạng rỡ non sông”, trực tiếp thời khắc bắn pháo hoa mừng chiến thắng tại 30 điểm ở TP. HCM. Các nghi thức như pháo hoa, thả bồ câu v.v. còn được đài VOV mô tả là “bản hùng ca toàn thắng”. 

 

Một sự kiện đau thương của dân tộc, nhưng giờ đây, trở thành sự kiện đáng vui mừng của cả nước.

 

Một giai đoạn mà có “vạn người vui, cũng có vạn người buồn”, theo lời cố thủ tướng Võ Văn Kiệt. Giai đoạn mà hàng triệu thanh niên Việt Nam, từ Bắc đến Nam, suốt 20 năm phải hận thù, tương tàn nhau chỉ vì khác nhau về ý thức hệ, mà quên đi nghĩa tình dân tộc. Hàng triệu gia đình Việt Nam tan hoang vì cha, anh họ phải bỏ thây nơi lao tù. Hàng nghìn thân xác đồng bào còn nằm tận dưới lòng sâu đại dương trên hành trình rời xa đất mẹ, vô vọng trôi dạt đi tìm bến bờ tự do. Và cho đến nay, mấy chục triệu đồng bào trong nước phải khổ sở sống trong cảnh sợ sệt như tù đày trên chính quê hương mình. 

 

Trong ngày hôm nay, trước mắt tôi, hàng nghìn thanh thiếu niên độ tuổi 15 – 25 tuổi, tập trung trước cổng Dinh Độc Lập như đang đi xem một buổi ca nhạc “Anh Trai Say Hi” vừa được tổ chức cách đó một tháng. 

 

 

Truyền thông đã nhắm vào giới trẻ

 

Có thể thấy, ở sự kiện lần này, Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam đã tạo dựng được hình ảnh truyền thông kỷ niệm ngày 30/4 rất hiệu quả trong việc thu hút sự quan tâm của giới trẻ. 

 

Ngay từ đầu tháng Ba, Đoàn Thanh niên đã phát động chiến dịch “Phủ đỏ mạng xã hội” với chủ đề “Tự hào 50 năm”, khuyến khích thanh thiếu niên chia sẻ nội dung kỷ niệm 30/4 trên các nền tảng Tiktok, Facebook, Zalo; đồng thời kèm theo Hashtag “#Proud50, #TuHao50nam, v.v.” Chiến dịch đã tạo được các trào lưu trên mạng, như trends “Giải phóng Miền Nam” đạt 24 triệu video trên Tiktok, hay “thử thách Capcut đú trend 30/4 hướng dẫn ghép ảnh pháp hoa – cờ đỏ sao vàng vào ảnh cá nhân” v.v.

 

Nhiều tỉnh thành trên cả nước triển khai các chương trình giáo dục cho học sinh, sinh viên có lồng ghép chủ đề “Tự hào Việt Nam – Tiến lên từ đại thắng”. Đơn cử, tỉnh đoàn Hậu Giang tổ chức 10 đội thi ca ngợi “Đảng, Bác Hồ, truyền thống anh hùng”; đoàn viên Cần Thơ huy động thanh niên đi treo 2.000 lá cờ trước ngày lễ; tỉnh đoàn Hòa Bình chiếu phim “30/4 – khoảnh khắc lịch sử” cho sinh viên xem v.v.

 

Bên cạnh đó, mạng xã hội tràn ngập bài đăng của những người nổi tiếng (KOLS, ca sĩ, YouTuber v.v.) – những người được giới trẻ mến mộ – bày tỏ tình yêu với “chiến thắng 50 năm” qua các hình thức như rap, clip thử thách cắm cờ tổ quốc v.v. Một số người nổi tiếng được mời tham gia chiến dịch truyền thông “Hòa bình đẹp lắm”, hoặc “đắt show” nhờ hưởng ứng ngày lễ 30/4. 

 

Tròn 50 năm kỷ niệm ngày 30/4 lần này, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát đi thông điệp “Việt Nam là một” và cho rằng “không có lý do gì để người Việt Nam mãi hận thù”. Tuy nhiên, những khẩu hiệu “đại thắng”, “hào hùng” trong ngày lễ kỷ niệm 30/4 đang diễn ra trên quy mô lớn, lại trái ngược với thông điệp này.

 

Việc tổ chức kỷ niệm ngày 30/4 hoành tráng không phải là một điều mới. Nó đã trở thành tiền lệ mỗi 10 năm, dưới thời các tổng bí thư Đỗ Mười (1995), Nông Đức Mạnh (2005), và Nguyễn Phú Trọng (2015). 

 

 

Chúng tôi đã được dạy những gì dưới mái trường xã hội chủ nghĩa? 

 

Trong những ngày này, có những điều đáng nhớ và đáng quên, nhưng thanh niên chúng tôi lại được dạy nhớ nhiều hơn những điều đáng quên. Những điều ấy còn được biến tấu, sửa đổi theo chủ đích chính trị của bên thắng cuộc.

 

Đến nay, dù cuộc nội chiến đã lùi xa 50 năm, nhưng dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, các thế hệ học sinh, sinh viên vẫn còn được dạy về lòng thù hận, thay vì sự bao dung, xót thương cho nhiều thế hệ ông, cha của mình là nạn nhân của chiến tranh. Thanh thiếu niên đã được dạy nhiều hơn lòng tôn thờ lãnh tụ vĩ đại, thay vì các bài học sự thật lịch sử. 

 

Nhiều thanh niên Việt Nam, cùng tuổi tôi, đã quen thuộc với hình ảnh Lê Văn Tám – cậu bé tự tẩm xăng để đốt kho xăng của Pháp – xuất hiện trong bộ sách Tiếng Việt tiểu học. Trong khi giới sử học nhiều lần khẳng định Lê Văn Tám chỉ là nhân vật hư cấu.

 

Ngay còn ở độ tuổi “mầm non”, chúng tôi đã được bồi dưỡng ý thức chính trị về lập trường giai cấp, qua các nghi thức sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh như: đeo khăn quàng đỏ, hát quốc ca, đội ca, diễu hành v.v. Các nghi thức này được lồng ghép chủ đề “Yêu tổ quốc – Căm thù giặc” với khẩu hiệu “Vì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lý tưởng của Bác Hồ vĩ đại – Sẵn sàng!”. 

 

Trong những buổi sáng sinh hoạt đầu tuần, chúng tôi thường được kể về những câu chuyện của trẻ nhỏ, nhưng được lồng ghép màu sắc chính trị. Chẳng hạn, câu chuyện anh hùng “diệt Mỹ” Nguyễn Văn Trỗi – người đã cố ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ – hô to khẩu hiệu trước pháp trường: “Đả đảo bọn quân xâm lược Mỹ và tay sai! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm! v.v. 

 

Những khẩu hiệu chiến tranh và lòng hận thù dân tộc đã hằn sâu tâm trí thiếu niên, trong khi đáng lẽ chúng tôi nên được dạy nhiều hơn về lòng bao dung, tinh thần tương thân tương ái. 

 

Ở bậc học trung học cơ sở và trung học phổ thông, các thuật ngữ “đế quốc Mỹ xâm lược”, “chính quyền tay sai Sài Gòn”, “ngụy quân” v.v. đã xuất hiện và lặp lại hàng chục lần trong các sách giáo khoa lịch sử, ngữ văn. Đơn cử như tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của tác giả Lê Minh Khuê trong sách ngữ văn lớp 9; tác phẩm “Rừng xà nu” của tác giả Nguyên Ngọc trong sách ngữ văn lớp 12 v.v. Các tác phẩm vừa kể đều dùng thuật ngữ “ngụy” cho chính thể chính danh Việt Nam Cộng hòa. Mà thực chất, ngày ấy, chúng tôi không hề biết Việt Nam Cộng hòa là một thực thể độc lập đã từng tồn tại.

 

Trong ba năm học phổ thông, chúng tôi đã được cho làm quen với thuật ngữ “thế lực thù địch”, “diễn biến hòa bình” v.v. qua 35 tiết học Giáo dục quốc phòng – một môn học bắt buộc đối với mọi học sinh.

 

Vào những năm cuối cấp, khi ôn thi lên đại học, chúng tôi bị buộc học thuộc lòng những nội dung lịch sử đảng, “Chiến tranh bảo vệ tổ quốc”, với đầy rẫy những câu từ “ta – địch”, “quyết tâm đánh Mỹ”, “đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào” v.v. Những thuật ngữ ấy dường như đã trở thành khẩu hiệu đối chúng tôi. Chúng tôi đã không còn phân biệt được ranh giới giữa khẩu hiệu và những lời lẽ gây chia rẽ dân tộc. 

 

Khi bước vào lứa tuổi 18, 20, chúng tôi tiếp tục bị bắt buộc hoàn thành 11 tín chỉ cho năm môn học: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa Mác – Lênin, Lịch sử Đảng, Chủ nghĩa xã hội khoa học trong suốt bốn năm đại học. Các môn học này thường bị đánh giá là khô cứng và mang tính giáo dục một chiều. 

 

Chúng tôi tiếp tục được giáo dục lý tưởng “thanh niên cách mạng”, khuyến khích tích cực tham gia hoạt động của đoàn, đảng. Mọi phát biểu phản biện, trái ngược với lý tưởng giáo dục ấy, chúng tôi có thể bị cô lập, thậm chí là bị kỷ luật và buộc thôi học. Chúng tôi đã bắt đầu hình thành tư duy sợ hãi, sợ bị đấu tố trong chính nhà trường đại học. 

 

Nếu tính sơ qua, suốt quãng thời gian 16 năm trời ngồi trên ghế nhà trường, chúng tôi chỉ được dạy đi dạy lại những điều giống nhau như thế. Trong khi, thuật ngữ Việt Nam Cộng hòa hay chính thể miền Nam đã trở nên quá xa lạ với chúng tôi. Vì các thuật ngữ ấy đã được bên thắng cuộc tự biến tấu thành từ “ngụy”, “tay sai”, v.v.

 

Và trong ngày hôm nay, khi mạng xã hội phát triển, chúng tôi tiếp nhận thêm những thuật ngữ mới (mà cũ) như “phản động”, “đu càng”, “ba que”, v.v. ở hàng nghìn bình luận khác nhau trên mạng xã hội, của những tài khoản trống rỗng về nội dung nhân ái, mà nặng về ngôn từ thù hận.

 

Chúng tôi đã không có một cơ hội nào để thể hiện sự khác biệt, một chút phản tư cá nhân của mình trước những vấn đề của đất nước, từ khi ngồi trên ghế nhà trường đến khi ra ngoài xã hội. 

 

Chúng tôi đã bị “lập trình” về lòng yêu nước. Lòng yêu nước đã trở thành một công thức sẵn có với chúng tôi – Không phản biện, không tư duy ngược, mà phải theo khuôn khổ công thức này. Vì chúng tôi sợ hãi khi nói lên chính kiến, những suy nghĩ riêng của cá nhân mình. Những tiếng nói ấy vô tình có thể sẽ trở thành lời buộc tội đối với chúng tôi. 

 

 

Một xã hội sống trong sợ hãi

 

Thế hệ thanh niên chúng tôi lớn lên trong thời đại số, nơi mọi thông tin đều được chia sẻ rộng rãi và đa chiều. Điều này mang lại cho chúng tôi cơ hội tiếp cận thông tin từ thế giới nhiều hơn so với thế hệ cha anh. Chúng tôi đã có thể tự tìm tòi, nghiên cứu nhiều hơn về những bài học lịch sử chưa từng được dạy trong nhà trường.

 

Dù vậy, hệ thống báo chí trong nước – cơ quan ngôn luận của đảng –  tiếp tục định hướng tư tưởng chúng tôi. Báo chí trong nước đã mất đi bản chất cốt lõi nhất của một cơ quan báo chí là đấu tranh vì sự thật. Tính sự thật của báo chí đã bị chính quyền uốn nắn lại cho phù hợp mục đích chính trị. 

 

Đó là thực tế môi trường trong lĩnh vực truyền thông và báo chí tại Việt Nam. Nó cũng phản ánh mức độ nhận thức thông tin của người dân trong nước suốt một thời gian dài. Điều đó cũng đồng nghĩa bất kỳ ý kiến, quan điểm nào đi ngược với đám đông sẽ bị trù dập dữ dội.

 

Theo một báo cáo, Việt Nam hiện nay có 76 triệu người dùng mạng xã hội (chiến gần 75% dân số). Trong đó, tỷ lệ ở nhóm tuổi Gen Z (16 – 24 tuổi) là hoạt động thường xuyên nhất. 

Tuy nhiên, mạng xã hội thường thiếu vắng đi những diễn đàn trao đổi cởi mở về các vấn đề của đất nước, về chủ trương, chính sách của đảng, nhà nước. Thay vào đó, thế hệ thanh thiếu niên lựa chọn hình thức “tự kiểm duyệt”. Người trẻ đã dần trở nên thờ ơ với việc bày tỏ chính kiến của mình vì sợ bị cáo buộc trên mạng xã hội, bị đuổi học, bị mất việc, hay thậm chí bị chính quyền xử lý.

 

Gần đây, vụ việc nữ MC Bích Hồng – cộng tác viên của đài SCTV – là một điển hình. Chỉ vì bày tỏ sự khó chịu vì kẹt xe do buổi diễu binh, cô đã bị cộng đồng mạng chỉ trích gay gắt như “vô ơn”, “không yêu nước”, bị gắn mác cho những cái tên miệt thị “phản động”, “cali”. Nhiều bình luận còn đòi “xét ba đời của cô”, thậm chí là “phong sát”. Một tài khoản có tên Nguyễn Sin còn đăng công khai những hình ảnh nhạy cảm đời tư của MC Bích Hồng, mặc dù, cô đã đăng lời xin lỗi công khai.

 

Chưa dừng lại ở đó, báo chí nhà nước còn lan truyền rộng rãi “bài học nhận thức sai trái” của MC Bích Hồng để tạo hiệu ứng răn đe. Vụ việc đã khơi mào “phong trào” cho mạng xã hội săn lùng những phát ngôn mà họ cho là “lệch chuẩn”, “không yêu nước” nhân kỷ niệm 50 năm ngày kết thúc chiến tranh.

 

Từ tháng 2 đến 4/2025 đã có ít nhất bốn tài khoản bị phạt 5 – 7,5 triệu đồng với cáo buộc “bình luận xuyên tạc, sai sự thật trên Facebook”.  

 

Mạng xã hội vốn là một công nghệ hiện đại giúp con người mở rộng quyền tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin, nhưng ở Việt Nam hiện nay, nó đã trở thành không gian để người Việt “đấu tố” nhau và là nơi để an ninh dễ dàng phát hiện những người dân có ý kiến trái chiều với chính quyền.

 

                                                    ***

Nửa thế kỷ sau ngày 30/4, thanh niên chúng tôi lại đứng trước một lời hứa “kỷ nguyên vươn mình”. Nhưng liệu lời hứa hẹn ấy có trở thành hiện thực, khi nền tảng của nó được xây dựng trên sự hận thù, dối trá và sợ hãi?

 

Thanh niên chúng tôi không có bất kỳ một thiên kiến nào dành riêng cho bên thắng cuộc hoặc bên thua cuộc. Chúng tôi chỉ mong những gì tốt đẹp nhất cho quốc gia mình. 

 

Một kỷ nguyên mới cần có những con người mới cùng với nhận thức mới, một sự nhận thức tường tận về quá khứ trên cơ sở một nền giáo dục dạy nhiều hơn về tinh thần bác ái, sự bao dung – một nền giáo dục dân chủ, tôn trọng quyền tự do của mỗi cá nhân.

 

Hạo Nam

 

============================

Bài viết liên quan

 

Một trăm năm sau chiến tranh

 30/04/2025

.

Hòa giải dân tộc thế nào với một thế hệ trẻ hung hăng?

 30/04/2025

.

Mong cho tình yêu nước không còn là sản phẩm độc quyền

 30/04/2025

.

Biết mấy lần 50 năm nữa?

 30/04/2025

.

Khi thế hệ trà sữa làm cách mạng

 22/12/2019