Thursday, April 30, 2020

QUYỀN GIÁM ĐỐC TÌNH BÁO MỸ : VIRUS COVID-19 KHÔNG CÓ NGUỒN GỐC NHÂN TẠO (Người Việt Online)




NỘI DUNG :
Thanh Hà  -  RFI
.
Người Việt Online
.
Người Việt Online
.
================================================
.
Thanh Hà  -  RFI
Đăng ngày: 30/04/2020 - 13:53

Thêm 2.502 bệnh nhân Covid-19 tử vong trong ngày 29/04/2020 theo tổng kết của đại học Mỹ Johns Hopkins, nâng tổng số người thiệt mạng tại Hoa Kỳ lên thành 60.853. Vào lúc thiệt hại nhân mạng không ngừng gia tăng, virus corona bóp ngẹt kinh tế đất nước, Washington kỳ vọng nhiều vào thuốc điều trị Ebola Remdesivir.

Ngày 29/04/2020 Viện Y Tế Quốc Gia (NIH) thông báo kết quả thử nghiệm cho thấy thuốc trị Ebola, Remdesivir, của tập đoàn dược phẩm, Gilead đã mang lại « một số kết quả khả quan » qua các cuộc thử nghiệm lâm sàng khống chế virus corona. Thời gian điều trị được rút ngắn đến 31 %. Lập tức tổng thống Trump yêu cầu Cơ Quan Quản Lý Thực Phẩm và Dược Phẩm (FDA) « nhanh chóng cho phép các bệnh viện sử dụng Remdesivir » để điều trị cho các bệnh nhân Covid-19.

Thông tín viên Anne Corpet từ thủ đô Washington giải thích thêm :

« Remdesivir được bào chế để chống dịch Ebola, nhưng việc sử dụng loại thuốc này chưa bao giờ được thông qua. Theo các kết quả thử nghiệm lâm sàng ban đầu, được thực hiện trên hơn 1.000 bệnh nhân ở khắp nơi trên thế giới, những người được dùng thuốc này đã bình phục trong vòng 11 ngày, nhanh hơn 4 ngày so với những người được điều trị bằng giả dược ( placebo ). Theo bác sĩ Anthony Fauci, cố vấn y tế cho Nhà Trắng, người thông báo nghiên cứu này với giới truyền thông, đây là một kết quả đáng khích lệ.

Ông nói : "Các dữ liệu cho thấy thuốc Remdesivir có một hiệu quả rõ ràng, đáng kể và tích cực trong việc rút ngắn thời gian hồi phục. Điều này khá quan trọng, bởi vì nghiên cứu chứng minh được rằng một loại thuốc có thể chận được con virus này".

Tuy nhiên, theo thói quen vốn có, giám đốc Viện Các Bệnh Dị Ứng và Truyền Nhiễm Quốc Gia luôn tỏ ra thận trọng. Bác sĩ Fauci nhắc nhở rằng Remdesivir không có khả năng cứu mạng người. Tỷ lệ tử vong nơi những nhóm bệnh nhân được điều trị bằng loại thuốc này là 8 % so với mức 12 % ở những nhóm bệnh nhân khác ».

Với tin vui nói trên, giá dầu hỏa và chứng khoán tại Mỹ hôm qua đã tăng trở lại. Riêng tổng thống Donald Trump tuyên bố kể từ tuần sau ông sẽ lại lên đường vận động tranh cử. Arizona sẽ là chặng đầu tiên.


-----------------------------------------
.
Người Việt Online
April 30, 2020

WASHINGTON, DC (NV) – Lãnh đạo tình báo Mỹ đồng ý với quan điểm chung của các nhà khoa học rằng virus COVID-19 không có nguồn gốc nhân tạo, đài Fox News dẫn thông cáo của Cơ Quan Tình Báo Quốc Gia đưa ra ngày Thứ Năm, 30 Tháng Tư.

Quyền Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia Richard Grenell. (Hình: AP Photo/Darko Vojinovic, file)

Trong thông cáo, ông Richard Grenell, người vừa được Tổng Thống Donald Trump bổ nhiệm quyền giám đốc tình báo quốc gia hồi  Tháng Hai, tuyên bố: “Cộng đồng tình báo đồng tình với quan điểm được chấp thuận rộng rãi của giới khoa học rằng virus COVID-19 không phải do con người tạo ra hoặc qua phương pháp biến đổi di truyền.”

Khi xác nhận nguồn gốc virus là tự nhiên, tình báo Mỹ điều tra theo định hướng truy tìm nguồn gốc lây lan, từ tự nhiên hay rủi ro nghề nghiệp.

Thông báo khẳng định: “Ngành tình báo sẽ tiếp tục kiểm tra nghiêm ngặt tin tức và thông tin tình báo để xác định xem liệu bệnh dịch khởi thủy từ việc tiếp xúc với động vật bị nhiễm bệnh hay đó là kết quả của một tai nạn sơ suất từ phòng thí nghiệm vi trùng học ở Vũ Hán.”

Ngoại Trưởng Mike Pompeo trong cuộc họp báo ngày 29 Tháng Tư. (Hình: AP Photo/Andrew Harnik)

Ngoại Trưởng Mike Pompeo gợi ý virus COVID-19 có nguồn gốc từ phòng thí nghiệm Vũ Hán dù không đưa bằng chứng.

“Chúng tôi không biết chính xác con virus này từ đâu ra,” vị ngoại trưởng thừa nhận trong cuộc họp báo ngày Thứ Tư, 29 Tháng Tư, tại Bộ Ngoại Giao, đồng thời, chỉ trích Trung Quốc không cho phép các khoa học gia Mỹ được vào phòng thí nghiệm trên.

Ngày 17 Tháng Ba, trên tạp chí khoa học Nature Medicine, năm nhà bác học Hoa Kỳ, Anh, và Úc thông báo các bằng chứng sinh học cho thấy không có dấu vết can thiệp của con người trên di truyền của COVID-19 và hầu như là có nguồn gốc từ thú lây qua người.

“Chúng tôi không tin có bất kỳ dấu vết nào cho thấy virus xuất phát từ phòng thí nghiệm,” bài báo viết như vậy, nhưng cũng nhắc lại rằng: “Hiện nay không có cách nào chứng minh hay phản bác các giả thuyết khác.”

Tổng Thống Donald Trump gửi tin nhắn khen ngợi Chủ Tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc ngày 26 Tháng Ba. (Hình trang Twitter của Tổng Thống Trump)

Trong những ngày vừa qua, Tổng Thống Trump liên tục lên án Trung Quốc chậm trễ, hoặc che giấu thông tin và phải chịu trách nhiệm để bệnh dịch lan tràn cả thế giới, trong đó Hoa Kỳ là quốc gia bị thiệt hại nặng nề nhất, cả người lẫn kinh tế.

Những người chỉ trích cho rằng những hành động tấn công Trung Quốc hiện nay của tổng thống trái ngược hẳn quan điểm của chính ông trong những tin nhắn và tuyên bố công khai, trong thời gian từ Tháng Giêng đến Tháng Ba, liên tục ca ngợi Chủ Tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc và cho rằng Bắc Kinh thông tin minh bạch và đối đầu hiệu quả với bệnh dịch.

Trong tin nhắn ngày 26 Tháng Ba, Tổng Thống Trump viết: “Vừa mới kết thúc một buổi nói chuyện rất tốt đẹp với Chủ Tịch Tập của Trung Quốc. Bàn luận rất kỹ lưỡng về dịch virus corona đang hoành hành nhiều phần rộng lớn trên hành tinh chúng ta. Trung Quốc đã trải qua và phát triển sự hiểu biết mạnh mẽ về virus. Chúng tôi đang sát cánh làm việc cùng nhau. Rất kính trọng.”

Ông Ned Price, cựu chuyên gia phân tích Cơ Quan Tình Báo Trung Ương (CIA), nhận định, “toàn bộ câu chuyện là thao túng thông tin tình báo cho mục đích chính trị, bởi vì, dù virus có xuất hiện từ phòng thí nghiệm đó hay ở ngoài chợ thú rừng, cũng không thể nào biện minh được phản ứng chậm trễ của tổng thống khi nhận những cảnh báo liên tục của cộng đồng tình báo về bệnh dịch từ trước đó.” (MPL) (đ.d.)

-----------------------------------------------------
.
Người Việt Online
April 30, 2020

WASHINGTON, DC (NV) – Tổng Thống Hoa Kỳ Donald Trump nói ông rất tin rằng đại dịch COVID-19 xuất phát từ phòng thí nghiệm ở Trung Quốc, nhưng ông không đưa ra bằng chứng, theo CNBC.

Viện Nghiên Cứu Virus Vũ Hán, nơi bị nghi ngờ làm rò rỉ virus corona gây bệnh COVID-19. (Hình: Hector RETAMAL / AFP) (Photo by HECTOR RETAMAL/AFP via Getty Images)

Trong buổi họp báo ở Tòa Bạch Ốc hôm Thứ Năm, 30 Tháng Tư, Tổng Thống Trump cho hay ông có bằng chứng khiến ông tin rằng virus xuất phát từ Viện Nghiên Cứu Virus Vũ Hán ở Trung Quốc.

Phòng thí nghiệm này nằm ở thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, nơi COVID-19 bắt đầu bùng phát.

Khi phóng viên hỏi ông bằng chứng đó là gì, ông nói: “Tôi không thể cho quý vị biết. Tôi không được phép cho quý vị biết.”

Trước đó, văn phòng giám đốc tình báo quốc gia Mỹ, cho hay họ đang điều tra nguồn gốc của dịch bệnh. Tuy nhiên, họ khẳng định họ đã xác nhận rằng COVID-19 “không phải do con người tạo ra hoặc do biến đổi gene.”

Họ nói thêm rằng tình báo Mỹ “sẽ tiếp tục điều tra kỹ lưỡng tin tình báo mới để xác định liệu dịch bệnh bắt đầu qua tiếp xúc với động vật nhiễm bệnh, hay đây là hậu quả của tai nạn tại phòng thí nghiệm ở Vũ Hán.”

Trước buổi họp báo hôm Thứ Năm, tờ New York Times đưa tin các giới chức cao cấp chính quyền ông Trump “đã thúc ép các cơ quan tình báo Mỹ truy tìm bằng chứng để củng cố giả thuyết chưa được chứng minh” rằng Viện Nghiên Cứu Virus Vũ Hán là nơi xuất phạt dịch COVID-19.

“Việc này xảy ra giữa lúc Tổng Thống Trump gia tăng chiến dịch đổ lỗi cho Trung Quốc gây ra đại dịch này,” NY Times nhận xét.

Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) cho rằng có lẽ COVID-19 xuất phát từ ngôi chợ hải sản ở Vũ Hán chuyên bán lậu động vật sống.

Còn các giới chức quốc tế thì nói có lẽ virus xuất phát từ dơi và nhảy sang “vật trung gian” rồi lây nhiễm cho người.

Đến nay, thế giới có hơn 3,200,000 người nhiễm COVID-19 và trên 230,000 người chết, theo Johns Hopkins University.

Riêng Mỹ có hơn một triệu ca nhiễm và trên 63,000 ca tử vong. (Th.Long)






CÔNG MINH LỊCH SỬ (Hiền Minh - Luật Khoa)




NỘI DUNG :

Hiền Minh  -  Luật Khoa
.
Nguyễn Hạnh  -  Luật Khoa
.
=============================================
.
Hiền Minh  -  Luật Khoa
30/04/2020

Những ngày này có lẽ là khó chịu đựng nhất ở miền Nam Việt Nam. Không hẳn là vì nắng nóng kéo dài, vì nắng qua đến năm giờ chiều cũng dịu lại. Thứ nhất định không dịu lại, là những giai điệu tự hào vang lên khắp các ngõ ngách; những lời ca tụng chiến công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước xuất hiện không khoan nhượng trên mọi chương trình thời sự, bất kể khung giờ.

Mà không chỉ có thời sự. Tôi vừa xem một chương trình thể thao trên VTV1, trong đó có một cựu cầu thủ kể về trận đấu giao hữu đầu tiên giữa hai miền sau khi thống nhất đất nước. Trận đấu giữa đội Tổng cục Đường sắt (miền Bắc) và đội Cảng Sài Gòn (miền Nam) diễn ra vào tháng 11 năm 1976 tại sân vận động Cộng Hoà ở Chợ Lớn, lúc đó vừa được đổi tên thành sân Thống Nhất. Vị cựu cầu thủ đội Tổng cục Đường sắt kể, đại ý là ông và đồng đội rất xúc động vì được người dân miền Nam yêu mến. “Nói xin lỗi, người dân còn ra sờ tay sờ chân” và khen là “cầu thủ miền Bắc sao mà cao to, rắn rỏi thế”. Ông kết lại phần chia sẻ một cách bài bản, rằng được vậy là nhờ Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện cho anh em cầu thủ tập luyện ngay cả trong tình hình khó khăn.

Những chương trình như vậy được phát đi từ miền Bắc, bởi những người gọi chung là trung thành với lý tưởng cộng sản. Kỉ niệm 45 năm ngày “giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước” là một dịp không thể bỏ lỡ để họ, bên thắng cuộc, tiếp tục ca ngợi chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh năm xưa.

Nhưng không phải nơi nào trên đất nước Việt Nam cũng coi đó là một chiến công. Ở nơi tôi sống, một vùng ngoại ô của thành phố Biên Hoà, ngày 30/4/1975 chưa bao giờ là một ngày vui. Chưa bao giờ người dân ở đây cho rằng miền Nam được “giải phóng” từ sự kiện ấy. Bác hàng xóm những ngày này không mở VTV, mà sẽ mở đài Á Châu Tự Do (RFA) bằng âm lượng đủ lớn để cả xóm cùng nghe được. Rất thường xuyên, đài này sẽ phát những bản tin chỉ trích chính quyền cộng sản từ góc nhìn của những người từ phía bên kia, bên thua cuộc, những người không bao giờ được phép xuất hiện trên đài truyền hình chính thống quốc gia.

Ngày 30/4 trong kí ức của người dân ở đây là ngày “Việt Cộng tràn về”. Kí ức vẫn còn mồn một trong trí nhớ của cậu tôi, một người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, về cảnh tượng những người bị kết tội theo “ngụy quân” phải đứng xếp hàng trước sân nhà thờ để bị bắn thẳng vào đầu. Đối với nhân chứng của những sự kiện khốc liệt như vậy, bốn mươi lăm năm là không đủ để họ quên. Một người bạn thời cấp hai của tôi từng bị một trận đòn oan chỉ vì đọc lịch sử hào hùng của ngày giải phóng trong sách giáo khoa thành tiếng để học thuộc, và chẳng may bà nội nghe thấy. Bạn ấy đã không biết là gia đình nội bị cướp hết tài sản sau biến cố “hào hùng” kia.

Nói như Giáo sư Chu Hảo trong cuốn Bên thắng cuộc của Huy Đức thì không thể có hoà giải dân tộc thực sự nếu như không có “công minh lịch sử”. “Công minh” không phải là tìm ra một lịch sử duy nhất đúng (tôi e là thứ ấy không tồn tại), mà có nghĩa là tiếp cận lịch sử bằng con mắt công bình và sáng suốt. 

Tức là để cho con người từ cả hai chiến tuyến cùng được hiện diện. Là kể lại lịch sử qua lăng kính trung dung nhất, không bị bôi đen, mà cũng chẳng được tô hồng. Là không dùng bộ máy tuyên truyền áp đặt cảm thức dân tộc bằng cách ra rả rằng mọi người dân đều rất đỗi vui mừng và tự hào trước chiến công. Sự áp đặt bất chấp ấy sẽ chỉ gây hại thôi, vì lờ đi những cảm xúc khác nhau trong nhân dân sẽ chỉ càng làm sự bất mãn tiếp tục lớn lên theo năm tháng.

Tôi vẫn không thấy lịch sử công minh ở đâu trong những ngày này. Mà thiếu đi thứ ấy, hoà giải dân tộc sau bốn mươi lăm năm vẫn chỉ là ảo vọng xa xôi.

--------.-----------------------------------------------
.
Nguyễn Hạnh  -  Luật Khoa
30/04/2020

Có người cho rằng nhắc lại lịch sử, bới móc quá khứ là điều không cần thiết. Tôi cũng đã từng nghĩ như vậy, cho đến một ngày.

Đó là vào năm tôi 14, 15 tuổi, trong một bữa cơm tối, mẹ tôi đã kể lại tất cả những gì mà bà còn nhớ về cái thời thơ bé của mình. Những câu chuyện của bà đã làm tôi bối rối nhiều năm sau đó.

Vào cuối những năm 1960, khi mẹ tôi còn là một cô bé 15 tuổi sống ở miền Nam, chiều nào bà cũng bới cơm vào cà mèn rồi mang ra chợ cho bà ngoại tôi. Đoạn đường tuy không xa, nhưng nỗi sợ hãi thì nhiều bởi những chiếc xe quân cảnh dập dìu trên đường phố. Mỗi lần nghe thấy tiếng động cơ rầm rầm từ xa thì bà lại run lên vì sợ rồi chạy thật nhanh tìm một góc nào đó để trốn. Những buổi tối đi mua nước đá cũng thế, có khi về đến nhà thì bịch đá đã thành một bịch nước.

Mẹ tôi kể, ngày bộ đội tiến vào thành phố, họ đã vào từng nhà trong xóm, tịch thu sách vở, băng đĩa ca nhạc, cả những tờ lịch treo tường có hình các cô gái mặc áo tắm – vốn là một thứ hết sức bình thường ở chế độ cũ. Mẹ tôi còn nhớ hình ảnh những người bộ đội đứng bán hột vịt cho mọi người vì gia đình của hãng hột vịt này đã bỏ đi nước ngoài.

Khi tôi lên trung học phổ thông, một lần tôi vào phòng truyền thống của trường, nơi lưu danh những giáo viên cũ, trên một bức tường trong căn phòng này, tôi thấy tên ông bác của mình, anh của ông ngoại tôi, người mà mẹ tôi đã kể rằng ông đã chết trong một rạp hát vì những quả lựu đạn của du kích.

Mẹ tôi có ước mơ trở thành một dược sĩ hay một nhà thơ, nhưng điều đó là quá xa vời đối với bà cũng bởi vì ông ngoại tôi.

Mẹ tôi nói ông ngoại cũng là một thầy giáo trung học. Vì ghét chế độ mới nên ông đã bỏ nghề dạy học và không một đứa con nào của ông được đến trường.

Mẹ tôi còn nhớ rất rõ rằng một lần ông ngoại trở về nhà trong một bộ quần áo rách tả tơi, thân thể gầy nhom như một thây ma sau khi ông bị bắt đi đào kênh hàng năm trời. Bà không nhớ rõ ông đã phạm phải tội gì mà phải bị đày ải như vậy, có lẽ một tội liên quan đến chính trị. Không bao lâu sau khi về nhà thì ông ngoại tôi qua đời vì lao phổi. Học trò cũ của ông đến đưa tang rất đông.

Nhưng ở trường học, chúng tôi được học những thứ hoàn toàn đối lập với những câu chuyện mà mẹ tôi đã kể. Chúng tôi được dạy về sự tàn ác của Mỹ-Ngụy, rằng nhân dân miền Nam đã chịu cảnh đọa đày như thế nào trước khi cách mạng đến, rằng có những người ở miền Nam như ông ngoại tôi xứng đáng đi cải tạo vì họ là những người rất xấu xa.

Vào lúc đó, sau những bài học như vậy, tôi không biết nên xem ông ngoại mình là một người như thế nào, một thầy giáo đàng hoàng hay một kẻ làm phản. Liệu tôi có phải là con cháu của một người làm phản? Vào lúc đó, không ai giúp tôi trả lời những câu hỏi này. Mẹ tôi rất hiếm khi nhắc lại những câu chuyện cũ, nhắc lại một quãng đời nhiều cực nhọc và đầy sợ hãi của bà.

Nhiều năm sau đó, tôi gặp một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa ở Na Uy. Tôi còn nhớ ông kể rằng mọi người trong trại cải tạo phải lao động từ sáng đến tối, như trồng bắp, xay bột, làm mì sợi… Nhưng những thứ họ sản xuất thì được mang đi đến một nơi khác và những thứ họ ăn chỉ là những đồ đã mốc meo, hư hỏng. Họ đã ăn như thế để sống trong suốt nhiều năm trời. Ông vẫn còn nhớ một lần cán bộ đã chỉ thẳng vào mặt ông và nói: “Các ông đòi hỏi gì, các ông còn không xứng đáng làm phân cho cây cỏ!”.

Sau lần trò chuyện với người cựu binh đó, tôi biết rằng thứ lịch sử mà tôi được học ở trường không hoàn toàn đúng, rằng có một lịch sử rất khác đã tồn tại, có những cuộc đời đã bị sách giáo khoa bỏ qua.

Hiểu lịch sử để làm gì?

Lúc còn đi học, tôi không tha thiết gì với môn lịch sử. Vì sao tôi lại phải học về những chuyện xảy ra hàng chục năm về trước để làm gì? Tôi cũng không để ý đến những thứ mình được học có đúng đắn hay không.

Cuối cùng, tôi cũng biết rằng chỉ có tìm hiểu lịch sử mới giúp tôi hiểu được tại sao những câu chuyện của mẹ tôi và sách giáo khoa lại khác nhau đến thế.

Tôi sẽ không thể giải đáp nổi những thắc mắc của mình, liệu tôi có phải là con cháu của một người làm phản, nếu không hiểu lịch sử như những gì đã xảy ra.

Tôi cũng sẽ khó tha thứ cho ông ngoại của mình vì đã tước đi ước mơ của mẹ tôi. Tôi cũng sẽ không hiểu rằng vì sao ông ngoại tôi trở về nhà trong một thân thể gầy còm như thế.

Nếu không hiểu lịch sử như những gì đã xảy ra, tôi sẽ không biết cách ứng xử với người cựu binh đó như thế nào cho phù hợp. Tôi cũng sẽ không biết vì sao người Việt Nam lại vượt biên ra nước ngoài nhiều đến thế.

Nếu lịch sử không được diễn giải như những gì đã xảy ra thì lịch sử chỉ là một căn phòng đóng kín, cách ly nhân dân với quá khứ của mình. Thứ lịch sử như vậy rất có thể sẽ nuôi dưỡng lòng thù hận hơn là sự cảm thông.

Ở Amsterdam, thủ đô của đất nước Hà Lan, có một ngôi nhà bí mật nổi tiếng của gia đình Anne Frank. Nơi này, cô bé Anne đã ghi lại nhật ký của mình về hai năm sống tách biệt với thế giới bên ngoài vì người Đức đã chiếm Hà Lan và không ngừng tiêu diệt người Do Thái. Khi cuộc chiến kết thúc, Anne đã chết đâu đó trong một trại tập trung. Người duy nhất còn sống trong gia đình là cha của cô.

Cuốn nhật ký của Anne được xuất bản và trở thành một trong những cuốn nhật ký được nhiều người đọc nhất trên thế giới. Còn ngôi nhà bí mật đó đã trở thành một bảo tàng tư nhân có tên là Anne Frank House.

Bảo tàng này ngoài việc đón hàng triệu du khách mỗi năm còn tổ chức những chương trình cho học sinh ở Hà Lan, trong đó có một chương trình tìm hiểu về những người cảnh sát trong thời kỳ mà Anne đã sống. Levien Rouw, nhân viên của Anne Frank House, nói với tôi rằng vì có quá nhiều thông tin về việc cảnh sát Hà Lan đã hợp tác với người Đức nhằm truy bắt người Do Thái nên học sinh cần hiểu rõ để không ác cảm với những người cảnh sát.

Trong chương trình này, các em học sinh được giới thiệu về những người cảnh sát đã từng hợp tác với người Đức, hiểu vì sao họ lại hợp tác, họ có thể là những người đã bị uy hiếp hoặc những người sẵn sàng hợp tác vì tiền. Học sinh còn được dẫn đến các văn phòng cảnh sát để hiểu hơn về công việc đảm bảo an ninh cho mọi người.

Căn phòng nơi Anne Frank ở cùng với một nha sĩ già suốt một thời gian dài. Ngày nay, nội thất của căn phòng đã được dọn đi hết chỉ còn lại một căn phòng trống nhằm phục vụ số lượng lớn khách tham quan mỗi ngày. Ảnh: Tác giả chụp.

Những cách thú vị để tìm hiểu lịch sử

Khi mới bắt đầu tìm hiểu lịch sử, tôi đã không ngồi một chỗ rồi lật từng trang sách nghiên cứu. Tôi đã bắt đầu với những bộ phim.

Phim ảnh là thứ có lẽ là cách tái hiện lại lịch sử rõ ràng và hấp dẫn nhất. Khi xem phim, bạn thường xem những câu chuyện rất cụ thể, về cuộc đời của nhiều người trong cùng một bộ phim, họ là ai và đã sống như thế nào trong bối cảnh của bộ phim đó.

Đến nay, tôi vẫn còn xem đi xem lại bộ phim “Trời và Đất” (Heaven and Earth), dựa trên câu chuyện có thật của một người con gái tên là Phùng Thị Lệ Lý trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Lệ Lý lớn lên trong một làng quê nghèo gần Đà Nẵng, khi người Mỹ bắt đầu tham gia vào chiến tranh Việt Nam. Một ngày nọ, Lệ Lý bị lính quốc gia Việt Nam Cộng hòa bắt, rồi bị tra tấn vì nghi cô có liên quan đến Việt Cộng. Trở về nhà sau nhiều ngày bị tra tấn, Lệ Lý bị Việt Cộng đến bắt đi vào một đêm tối. Đêm đó, cô bị đánh đập và bị một người lính Việt Cộng cưỡng hiếp.

Không lâu sau đó, Lệ Lý mang thai với ông chủ của một gia đình quyền quý, nơi mẹ và cô đang ở đợ. Chuyện mang thai đến tai vợ ông chủ và thế là họ bị đuổi ra khỏi nhà. Cô lang thang đi bán hàng rong cho những người lính Mỹ, còn em gái cô trở thành gái mại dâm. Lúc này, Lệ Lý làm quen với một sĩ quan Mỹ, người sau này cô lấy làm chồng. Sau chiến tranh, Lệ Lý sống cùng chồng ở Mỹ nhưng không hạnh phúc vì anh chồng bị cuộc chiến ở Việt Nam ám ảnh. Cuối cùng, người chồng của Lệ Lý đã phải tự tử trong một chiếc xe hơi.

Xem phim cũng giúp bạn dễ dàng giao tiếp với bạn bè là người nước ngoài. Khi tôi gặp Bruna da Silva, một công tố viên người Brazil, cô ấy nói về những ngôi làng hẻo lánh không người biết đến ở vùng Amazon thì ngay lập tức tôi hiểu được những gì cô ấy đang mô tả. Tất cả vì trước đó tôi đã xem một bộ phim có tên “The Motorcycle Diary”, mô tả lại cuộc phiêu lưu trong nhật ký của Che Guevara và người bạn của ông khi cả hai còn trẻ. Họ đã lái xe máy đi một vòng Nam Mỹ để đến những nơi hẻo lánh và xa xôi nhất.

Nếu không hiểu một phần nào đó về lịch sử của thế giới thì bạn sẽ rất khó khăn khi giao tiếp với những người đến từ các nền văn hóa khác mình. Ngay cả những đất nước gần Việt Nam như Myanmar hay Indonesia cũng đã có văn hóa rất khác biệt. Khoảng cách này sẽ thu hẹp đi nếu bạn hiểu biết một phần nào đó về lịch sử ở đất nước của họ.

Một thể loại phim lịch sử khác cũng không kém phần thú vị so với phim điện ảnh là phim tài liệu. Đấy có thể là những bộ phim được quay trực tiếp vào một thời kỳ nào đó, hoặc được dựng lại trên những thước phim cũ cùng với những cuộc phỏng vấn các nhân chứng.

Nếu bạn quan tâm đến miền Nam trước năm 1975 thì bạn có thể xem phim “Sad Song of Yellow Skin”, một bộ phim ngắn quay vào năm 1970, dễ xem và chân thật về cuộc sống trong thời chiến tranh Việt Nam.

Bạn cũng có thể tìm hiểu lịch sử bằng cách đến các viện bảo tàng, đặc biệt là các bảo tàng ở nước ngoài. Các bảo tàng ở Việt Nam theo cá nhân tôi không khác gì so với sách giáo khoa lịch sử, đều cùng mục đích tuyên truyền cho khách tham quan, kể cả những bảo tàng về nghệ thuật.

Bạn cũng có thể đọc sách. Những cuốn sách viết về những nhân vật cụ thể hay một sự kiện cụ thể nào đó sẽ thú vị hơn là đọc một cuốn lịch sử tổng quát. Đọc tiểu thuyết hay truyện ngắn dù là hư cấu nhưng cũng có thể giúp bạn hiểu thêm về lịch sử vì các câu chuyện này thường được viết dựa trên một bối cảnh lịch sử cụ thể.

Một điều quan trọng hơn hết khi tìm hiểu lịch sử là luôn đặt những câu hỏi tại sao về những thứ mà bạn xem hay đọc được. Nó không chỉ giúp bạn hiểu sâu sắc hơn mà còn để bạn không bị dẫn dắt (nếu có) theo ý muốn của chính quyền, người viết sách hay các nhà làm phim.





VIỆT NAM : TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC QUYẾT LIỆT SAU KHI CHIẾN THẮNG VIRUS (Thụy My - RFI)




Thụy My  -  RFI
Đăng ngày: 30/04/2020 - 15:18

Kinh tế và Trung Quốc là hai vấn đề hàng đầu đối với đảng Cộng Sản Việt Nam trong khi chuẩn bị chọn ra « Tứ trụ », đó là nhận xét của báo Nhật Nikkei Asian Reviews trong bài viết mang tựa đề « Tranh giành quyền lực ở Việt Nam bước vào giai đoạn quyết liệt sau khi chiến thắng con virus », đăng trên mạng ngày 28/04/2020.

Tờ báo mô tả, trong chiếc áo sơ mi trắng, không đeo cà-vạt và không mang khẩu trang, thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc có vẻ tự tin và nhẹ nhõm khi phát biểu trong cuộc họp chính phủ thứ Tư tuần trước. Ông có lý để tỏ ra thoải mái: đã nhiều ngày qua Việt Nam không ghi nhận thêm một ca nhiễm virus corona nào.

Ông Phúc thông báo, giờ đây « đã đến lúc giảm dần lệnh phong tỏa » được đưa ra để ngăn chận nạn dịch. Dù nhấn mạnh « tối nay không phải là thời điểm để đổ ra đường ăn mừng », đây gần như là một tuyên bố về chiến thắng mà ông có thể hy vọng, đúng vào dịp 30 tháng Tư - ngày thống nhất đất nước, chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Và tháng Giêng tới, Đại hội Đảng Cộng Sản sẽ đề cử một lớp lãnh đạo mới.

Các chuyến bay nội địa đã được phép nối lại từ thứ Năm, trong khi các biện pháp giãn cách xã hội đã được dỡ bỏ tại hầu hết các nơi, trừ vài quận ở Hà Nội. Cho dù Việt Nam đã kiểm soát được con virus với chỉ 270 trường hợp dương tính và không có ca tử vong nào tính đến đầu tuần này, đại dịch đã làm đảo lộn kế hoạch kinh tế và ngoại giao của chính phủ trong năm 2020.

Đất nước đang phải đối mặt với một số vấn đề lớn, trong đó có việc làm thế nào để vực dậy tăng trưởng, và những ai sẽ chiếm giữ bốn vị trí quyền lực nhất từ năm 2021 đến 2026. Các câu trả lời có thể tác động sâu sắc đến chiến lược kinh tế của Việt Nam, chưa kể mối quan hệ với Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Cuộc đua vào « Tứ trụ »

Sau khi nhà sáng lập Hồ Chí Minh qua đời, đảng Cộng Sản đã tránh việc tập trung quyền lực bằng cách chia quyền lãnh đạo cho « Tứ trụ ». Trên thực tế, vị trí quyền lực nhất là tổng bí thư, tiếp theo là thủ tướng, chủ tịch nước và chủ tịch Quốc Hội. Nhưng vấn đề sức khỏe đã làm đảo lộn sự cân bằng này trong những năm gần đây.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, 76 tuổi, đã kiêm thêm chức chủ tịch nước vào tháng 10/2018 sau khi ông Trần Đại Quang đột ngột qua đời ở tuổi 61. Ban đầu được coi là giải pháp tạm thời, nhưng như vậy đã tạo ra tình huống tương tự như ở Trung Quốc, nơi ông Tập Cận Bình giữ một lúc hai chức chủ tịch nước và tổng bí thư đảng.


Ông Trọng có vấn đề về sức khỏe, các nguồn tin ngoại giao cho biết ông đã bị đột quỵ nhẹ vào tháng 4/2019. Ông không còn tham dự các sự kiện, trong lúc thủ tướng Phúc nổi bật như gương mặt đại diện của Việt Nam trên thế giới, gặp gỡ các nhà lãnh đạo từ Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ.

Bây giờ cuộc đua đã bắt đầu để xác định ai sẽ ở lại và ai sẽ ra đi, ai sẽ nổi lên và ai sẽ rơi đài. Một số chuyên gia cho rằng thời của ông Trọng còn lâu mới kết thúc, dù tuổi cao và bệnh tật. Ông có thể duy trì cả hai chức vụ.

Hồi tháng Giêng, ông Nguyễn Phú Trọng đặt ra các quy định mới về việc thay đổi lãnh đạo, bảo đảm mở cửa cho các vị trí trong Tứ trụ vượt ra ngoài giới hạn tuổi truyền thống là 65. « Quy định mới về lãnh đạo của ông Trọng là mơ hồ, có thể hiểu là cố tình, đặc biệt về hai chức vụ quan trọng nhất là tổng bí thư và thủ tướng » - Dương Quốc Chính, một nhà bình luận chính trị ở Hà Nội nói với Nikkei Asian Review.

Những thông tin cho biết ông Nguyễn Phú Trọng đã tham dự một cuộc họp của Bộ Chính trị và các quan chức cao cấp khác để xem xét tình hình dịch Covid-19, chỉ làm tăng thêm các đồn đoán. Ông Trọng chỉ đưa ra một thông điệp công khai về đại dịch, viết ngày 30/03, rằng Việt Nam cần phải « hợp tác với các nước trên khắp thế giới và giành chiến thắng trong cuộc chiến với con virus corona ».

Một số nói rằng sự hiện diện của ông Trọng đóng góp vào sự ổn định chính trị. Nhưng điều này cũng có nghĩa là khiến Tứ trụ trở thành Tam trụ.

Những ứng cử viên tiềm năng

Nếu ông Nguyễn Phú Trọng về hưu, chỉ có một vài ứng cử viên có thể thay thế ông làm tổng bí thư. Đó là các ông Nguyễn Xuân Phúc, 65 tuổi, và Trần Quốc Vượng, 67 tuổi, thường trực Ban Bí thư, được cho là cánh tay mặt của ông Trọng. Rồi đến bà Nguyễn Thị Kim Ngân, 66 tuổi, chủ tịch đương nhiệm Quốc Hội và là người phụ nữ đầu tiên lãnh đạo cơ quan này.

Theo chuyên gia Lê Hồng Hiệp, thuộc ISEAS-Yusof Ishak Institute ở Singapore, thì « Việt Nam chưa sẵn sàng có một tổng bí thư là phụ nữ ». Thế nên các ứng viên « nhiều tiềm năng nhất » là ông Vượng và ông Phúc.

Một chuyên gia giấu tên nói rằng ông Vượng là chọn lựa khả dĩ nhất. « Hồ sơ của ông Vượng rất sạch sẽ, và ông đã là phụ tá cho ông Trọng » kể từ sau tin đồn đột quỵ. Một người khác không đồng tình, cho rằng « Ông Phúc là ứng cử viên mạnh nhất, vì ông đã đóng vai trò người lãnh đạo đất nước, xử lý các vấn đề đối nội và đối ngoại kể từ tháng Tư năm ngoái ».


Cũng không thể bỏ qua tầm quan trọng của địa lý. Sự kình địch như trong thời chiến giữa thủ đô Hà Nội và trung tâm thương mại miền Nam, thành phố Hồ Chí Minh, luôn dai dẳng. Vị trí cao nhất là tổng bí thư luôn thuộc về một nhân vật miền Bắc hoặc miền Trung.

Trong kỳ đại hội năm 2016, thủ tướng lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng, người miền Nam, được cho là ứng viên nặng ký cho chức tổng bí thư, nhưng ông Dũng buộc phải rút lui sau cuộc đấu đá với ông Trọng. Ông Phúc là người miền Trung, còn bà Ngân miền Nam.

Công chúng chỉ chú ý đến quan điểm về Trung Quốc

Bất kể nguồn gốc từ đâu, công chúng tìm kiếm những dấu hiệu từ quan điểm của tất cả ứng cử viên đối với Trung Quốc. Dù có chung ý thức hệ cộng sản, tâm lý chống Trung Quốc bắt rễ sâu sắc tại Việt Nam, được nuôi dưỡng qua lịch sử đầy những cuộc xung đột qua 1.200 km đường biên giới, và những vụ đụng chạm diễn ra dai dẳng trên Biển Đông.
Nếu mục tiêu của Hà Nội là giữ khoảng cách với Bắc Kinh và xích lại gần Washington, thì theo một số người, phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng Phạm Bình Minh thích hợp cho chức thủ tướng, hoặc là chủ tịch nước. Ông Minh là người miền Bắc, dường như là thiên về Trung Quốc nhưng thông thạo tiếng Anh, có bằng thạc sĩ luật và ngoại giao của trường đại học Tufts, Hoa Kỳ.

Ông Vương Đình Huệ, bí thư thành ủy Hà Nội và ông Nguyễn Văn Bình, cựu thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng được nêu ra cho chức thủ tướng. Còn chức chủ tịch nước, có khả năng ông Phúc có thể chuyển sang giữ chức này ; hoặc bí thư thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Thiện Nhân có thể nổi lên như ứng cử viên của miền Nam. Các chuyên gia nói rằng một phụ nữ khác có thể thay chân ông Phúc hoặc bà Ngân ở Quốc Hội.

Cho dù ai được đưa lên ở các vị trí cao nhất vào năm tới, cũng sẽ có rất nhiều việc phải làm để sửa chữa các thiệt hại của năm 2020 do con virus xuất phát từ Vũ Hán gây ra.

Chiến thắng con virus, nhưng cũng chịu nhiều thiệt hại

Về mặt y tế, đất nước 96 triệu dân này gần như vô sự trước dịch bệnh virus corona, nếu những con số có thể tin được. Chính quyền đã nhanh chóng hành động, dừng tất cả những chuyến bay đi và đến Hoa lục kể từ ngày 01/02, và đóng cửa các trường học từ ngày 03/02.

Trong khi các nước láng giềng như Indonesia và Singapore có số người bị lây nhiễm trên dưới 10.000, thì Việt Nam dường như đã ngăn chận được con virus nhờ theo dõi bằng các biện pháp nghiêm ngặt, mà chỉ có một nhà nước độc đảng cộng sản mới có thể áp đặt được. Chính quyền siết chặt việc đi lại trong nước, ra lệnh tự cách ly tại nhà, đóng cửa các doanh nghiệp và tăng cường tầm soát các tiếp xúc với người bị dương tính.

Tất cả đã mang lại kết quả, giúp Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á đầu tiên bắt đầu dỡ bỏ các hạn chế, cũng như Việt Nam từng là nước đầu tiên tuyên bố ngăn chận được dịch SARS vào năm 2003.

Tuy nhiên Việt Nam cũng không tránh khỏi sự tàn phá của dịch Covid-19.

Tổng sản phẩm nội địa chỉ tăng 3,82% trong quý đầu, thấp hẳn so với tỉ lệ 6,97% trong ba tháng cuối năm ngoái. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) trong báo cáo mới nhất công bố ngày 14/04 dự đoán kinh tế Việt Nam chỉ tăng 2,7% trong năm nay, sau hai năm liên tiếp đạt tỉ lệ 7%. Tăng trưởng âm cũng không thể loại trừ.

Chính phủ cũng có thể bỏ lỡ nhiều cơ hội về ngoại giao. Với tư cách chủ tịch ASEAN năm nay, lẽ ra Việt Nam đón tiếp một hội nghị thượng đỉnh ở Đà Nẵng trong tháng này, nhưng đã dời lại ít nhất là đến cuối tháng Sáu. Hà Nội nóng lòng muốn tăng cường hợp tác trong ASEAN, như một lớp đệm chống lại Trung Quốc và thúc đẩy nền kinh tế đầy triển vọng trên trường quốc tế, nhưng những mục tiêu này còn phải chờ thời gian.

Nikkei Asian Review kết luận, chắc chắn rằng thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc không chờ đợi lâu trong việc thúc đẩy quan điểm về phục hồi kinh tế, và củng cố vị thế chính trị của mình.




RICHARD NIXON, HENRY KISSINGER & SỰ SỤP ĐỔ CỦA MIỀN NAM (Đỗ Kim Thêm)




Đỗ Kim Thêm*
Posted by adminbasam trên 26/04/2016

“Không ai biết rõ còn bao lâu nữa và phải làm gì cụ thể để thay đổi. Có còn chăng là sự tỉnh thức trong chúng ta. Đó là một khả năng tự soi sáng và tự quyết định về vận mệnh của đất nước mà toàn dân Đông Âu là một thí dụ. Tỉnh thức thân phận là vấn đề kiến thức; xác định ý muốn để thay đổi là vấn đề quyết tâm… Không ai có phép lạ để chuyển hoá đất nước thay cho chúng ta. Vấn đề là sự chọn lựa. Chúng ta cùng giúp nhau tỉnh thức trong tình tự dân tộc là một hy vọng khởi đầu: Đất nước đang nguy cơ hơn bao giờ hết, sức mạnh của toàn dân sẽ đem lại giải pháp và quyền dân tộc tự quyết là phương tiện. May ra một phép lạ nào đó cho đất nước sẽ đến sau”.

                                                       ***


Vấn đề

“Mỹ không thể bỏ Việt Nam” đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, VNCH với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng.

Lý do thật dễ hiểu: Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó.

Henry Kissinger và Richard Nixon. Nguồn: internet

Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách  trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục.

Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn.

Nhậm chức Tổng Thống và bổ nhiệm Cố Vấn

Sau bao năm thăng trầm trong chính trường, Nixon thắng cử và trở thành  Tổng Thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Ông là một luật sư có tài hùng biện, văn tài diễn đạt trong sáng, mà tác phẩm “No More Vietnam” là một thí dụ điển hình, nhưng thái độ kiên quyết chống Cộng làm ông nổi danh.

Trước đây, trong trận Điện Biên Phủ, ông đã từng kêu gọi Hoa Kỳ phải oanh tạc Bắc Việt, rồi đến việc xây dựng miền Nam, ông ủng hộ Tổng Thống Diệm không điều kiện và sau này ông còn cáo giác Johnson là không có đủ biện pháp mạnh để giải quyết vấn đề.

Sau khi nhậm chức, ông nhận ra rằng cần phải có một chính sách ngoại giao mới, mà khó khăn nhân sự là hàng đầu. Ngoại Trưởng William Rogers vốn là một người bạn vong niên mà ông tín cẩn, lại thiếu nhạy bén trong các vấn đề ngoại giao, trong khi William Laird, Bộ Trưởng Quốc phòng, luôn tỏ ra là người thừa lịnh hơn là đề xuất sáng kiến.

Để làm việc hiệu năng hơn, ông quyết định bổ nhiệm Henry Kissinger, Giáo sư Đại học Harvard, vào chức vụ Cố Vấn An ninh Quốc gia, mà ý kiến sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định liên quan với chiến cuộc Việt Nam đang leo thang.

Chiến cuộc leo thang

Nixon đồng quan điểm với các bậc tiền nhiệm về học thuyết Domino: Việt Nam lọt vào tay Cộng sản là một tai hoạ chung cho các nước Đông Nam Á. Tham chiến là một trò chơi quá nguy hiểm cho uy tín quốc tế của Hoa Kỳ và chiến thắng bằng giải pháp quân sự là khó; vì có nhiều lý do: quân đội cần hiện đại hoá các trang bị để gia tăng hiệu năng tác chiến mà ngân sách đang thâm thủng; kinh phí quốc phòng hằng năm đã lên đến gần 30 tỷ Đô la, chiếm dụng 40% ngân sách. Nếu rút quân để tránh tiếp tục sa lầy, tình hình sẽ nghiêm trọng. Áp lực chính trị quốc nội ngày càng nặng nề. Phe Bồ câu kêu gọi thương thuyết, trong khi phe Diều Hâu chủ trương không kích, nhưng cả hai cùng có một đòi hỏi chung là 543.000 quân nhân Hoa Kỳ phải hồi hương, nhất là khi số lượng tử vong của binh lính lên tới 14.600. 

Nixon và Kissinger tin là phải chấm dứt chiến tranh bằng cách thông qua Moscow và Bắc Kinh; nhưng không phải các vấn đề dị biệt ý thức hệ là chính, mà là quyền lợi cụ thể sẽ thuyết phục Moscow và Bắc Kinh quan tâm giải quyết. Nhưng tìm cách nối kết các quyền lợi dị biệt này thành quan điểm chung về ngoại giao đó là mục tiêu, một giải pháp lý tưởng mà Hoa Kỳ chấp nhận được là Moscow và Bắc Kinh phải ngưng viện trợ vũ khí cho Bắc Việt. Dù bang giao với Moscow đã có nhiều cải thiện sau thời kỳ giảm căng thẳng, nhưng Hoa Kỳ vẫn còn trở ngại với Bắc Kinh. Hai giải pháp tương lai của chiến trường và đàm phán đều còn mờ mịt.

Để thực hiện, ông dựa theo học thuyết Nixon 1969 là tiếp tục ủng hộ VNCH và Đồng Minh, nhưng chính phủ VNCH phải chịu trách nhiệm chính trong công cuộc chiến đấu. Hoa Kỳ sẽ trang bị tối đa vũ khí cho QLVNCH cùng lúc với việc rút quân theo lịch trình dự định và can thiệp quân sự chỉ là trường hợp ngoại lệ.

Khác với các luận điểm trong chiến dịch tranh cử, Nixon đề ra một kế hoạch tuyệt mật và hy vọng là sẽ kết thúc chiến tranh trong vòng một năm. Ông theo đuổi ba mục tiêu chính: Một là gây ý thức trong công luận về triển vọng kết thúc chiến cuộc, nhưng không nhất thiết phải là chiến thắng quân sự thuần túy. Hai là Hoa Kỳ không bỏ rơi VNCH và từ bỏ mục tiêu cao cả đã cam kết. Ba là kết thúc chiến cuộc là một giải pháp khả thi, nhưng đầy danh dự cho Hoa Kỳ.   

Ông đề ra các giải pháp cụ thể: Để phá vỡ hậu cần tại miền Bắc, cần tiếp tục oanh tạc các đường tiếp vận và phong toả hải cảng nơi nhận các quân dụng viện trợ. Để làm suy yếu tiềm lực chiến đấu tại miền Nam, cần tăng cường chiến dịch Bình Định Nông Thôn mà Johnson đã thành công.

Để gây chuyển biến nhanh hơn, Nixon muốn quyết định táo bạo mà ông gọi là lý thuyết của người điên (Madman Theory). Dù không có trên văn bản, nhưng qua các cuộc hội luận với H. R. Haldeman, một công sự viên thân tín, ông nêu các lập luận qua trích thuật “Tôi sẽ chứng tỏ cho Hà Nội biết rằng khi nổi điên lên đến cực điểm, tôi sẽ làm tất cả những gì để kết thúc chiến cuộc. Chúng ta sẽ cho Hà Nội thấy là khi Nixon căm ghét Hà Nội biết chừng nào, khi Nixon nổi điên, thì không ai kiềm chế được“.

Việc Hoàng thân Norodom Shihanouk thuận cho CSBV sử dụng lãnh thổ Campuchia làm cơ sở hậu cần để cho QĐNDVN xâm nhập miền Nam là vấn đề mà Nixon thấy cần phải giải quyết trước. Từ tháng 2 năm 1969, qua cuộc hành quân Operation Menu, Nixon ra lịnh cho Không Quân Hoa Kỳ ném bom xuống các căn cứ của CSBV trên lãnh thổ Campuchia. Công luận và các giới chức cao cấp không được thông báo về diễn tiến này. Trong 14 tháng liên tục Hoa Kỳ đã ném 100.000 tấn bom làm cho Hà Nội bị tổn thất nặng nề, nhưng không hề công bố về con số thương vong và tiềm lực suy giảm.

Vào tháng sáu 1969, Nixon đề nghị Hoa Kỳ và CSBV rút quân khỏi Nam Việt Nam và mọi hình thức hoà đàm sẽ do hai phiá Bắc và Nam quyết định. So với Johnson, Nixon và Kissinger mềm dẻo hơn. Ông đề nghị là đến tháng 11 năm 1969, nếu Hà Nội không chấp thuận thì ông sẽ tăng cường các giải pháp quân sự. Nhưng Hà Nội bác bỏ, nên hoà đàm không khả thi.

Thoạt đầu, áp lực của giới phản chiến xuống thấp, khi Nixon tuyên bố rút 25.000 quân vào tháng 6 năm 1969 và tiếp tục rút thêm 60.000 vào tháng 9. Lịnh nhập ngủ được thay thế bằng hình thức rút thăm và giới trẻ cũng như sinh viên ít khi gặp phải. Đến tháng 10 phong trào phản chiến gây sôi động khi Quốc Hội thông qua đạo luật cấm đóng quân Hoa Kỳ tại Thái và Lào vào tháng 9. Chống đối lên đến cao điểm khi có 4 triệu người  biểu tình trên 200 thành phố. Bài hát của John Lenon “Give Peace a Chance“ và việc trưng bài danh sách các binh sĩ nằm xuống tại bậc thềm Quốc Hội là hai biểu tượng chính. 

Trước áp lực của công luận, Nixon không có phản ứng thích hợp và ra lịnh cho 300 quân nhân phong toả Toà Bạch Ốc. Trong diễn văn truyền hình ngày 3 tháng mười một, ông cảnh báo giới phản chiến là một hiện tượng tắm máu sẽ xảy ra khi miền Nam thất thủ và phong trào phản chiến gây khó khăn cho thiện chí đem lại hoà bình của Hoa Kỳ. Chính Hoa Kỳ có thể làm suy yếu CSBV, và không có trường hợp ngược lại. Tài hùng biện trong diễn văn này đem lại thành công đáng kể cho Nixon khi gần 70% dân chúng đồng thuận với chính sách. Phong trào phản chiến suy giảm khi tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh bắt đầu.

Việt Nam Hoá Chiến Tranh

Khi công luận Hoa Kỳ hoan nghênh việc Việt Nam Hoá chiến tranh và hồi hương các binh sĩ, thì các giới chức tại Ngũ Giác Đài và Bộ Quốc Phòng VNCH bi quan cho rằng sách lược này chỉ là để miền Nam đầu hàng CSBV theo thời gian. Chính quyền VNCH, mặc dù triệt để chống kế hoạch, nhưng không còn cách nào khác hơn là tỏ ra ủng hộ giải pháp này.

Giữa tháng 6 năm 1970 QLVNCH gia tăng quân số từ 850.000 lên đến một triệu, do lịnh Tổng Động Viên ban hành, thanh niên trong tuổi từ 18 đến 35 phải nhập ngủ. Hoa Kỳ trang bị cho QLVNCH vũ khí, quân xa va trực thăng hiện đại. Chiến dịch Bình Định Nông Thôn thành công đem lại an ninh cho các vùng xôi đậu trước đây. Cuối năm 1971, chính phủ đã kiểm soát nông thôn nhiều hơn; không khí bình yên trở lại xóm làng và các cuộc bầu của Hội Đồng Xã là có tự do thật sự. Luật Người Cày Có Ruộng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đem lại ưu thế chính trị hơn cho ông, khi số lượng đất cấp phát từ 29% lên đến 56% trong năm 1972, cụ thể là 800.000 nông dân vô sản có được đất để canh tác. Thành phố sung túc hơn với các mặt hàng tiêu dùng do viện trợ Hoa Kỳ bán ra. Tất cả biểu hiện cho một sự thành công đáng kể của miền Nam trong việc xây dựng một quốc gia dân chủ trong bước khởi đầu.

Dù an ninh vãn hồi, nhưng chiến tranh thay đổi bộ mặt nông thôn, dân chúng bỏ làng ra thành phố mưu sinh, người ở lại cũng không thể sống bằng canh nông, chương trình cấp đất không tạo thu hút dân chúng hồi cư vì không hứa hẹn sẽ đem lại một cuộc sống sung túc. Binh lính VNCH vẫn chưa quen sử dụng vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ nên hiệu năng tác chiến vẫn chưa đạt được, trong khi tỷ lệ đào ngủ còn cao. Sự tàn bạo của chiến dịch Phượng Hoàng tạo thuận lợi cho MTGPMN chiêu phục thêm được nhiều du kích quân.

Tháng Ba năm 1970, Nixon công bố đã có nhiều diễn tiến tốt đẹp trong chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh và rút thêm 15.000 quân nhân để tìm hậu thuẩn nơi phe phản chiến. Thực ra, hoà đàm không chuyển biến làm Nixon lo âu nhiều hơn. Trong khi phong trào phản chiến ngày càng mạnh, nên tháng 4 Thượng Viện ra cảnh báo về tình hình nghiêm trọng và yêu cầu Tổng Thống kết thúc chiến tranh. Một cơ hội vãn hồi hoà bình cho Việt Nam đến, không phải xảy ra tại Việt Nam mà tại Campuchia.

Tấn công Campuchia.

Thủ tướng Lon Nol đảo chính Hoàng thân Norodom Sihanouk vào ngày 18 tháng 3 năm 1970. Đến nay vẫn chưa xác định được là có CIA nhúng tay trong vụ này không. Hoa Kỳ thấy có thuận lợi để tấn công các cơ sở hậu cần của CSBV nằm trong lãnh thổ Campuchia. Không theo quan điểm của Bộ Quốc Phòng và Ngoại Giao, Nixon quyết định dùng bộ binh hành quân vào các khu vực biên giới Tây Nam Campuchia, không phải chỉ cách Sài gòn 70 cây số mà là toàn bộ các khu vực của MTGPMN chưa hề được phát hiện trước đây. Mục tiêu của đợt tấn công này là giúp cho VNCH đủ thời gian tập trung lực lượng cho chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh.

Ngày 1 tháng năm Hoa Kỳ mang 31.000 quân và VNCH mang 43.000 quân tấn công Campuchia. Do có mật tin tình báo mà các bản doanh của MTGPMN di chuyển trước, nên QLVNCH không thể nào tìm ra. Thành công của đợt hành quân này quá giới hạn; mức tử vong của Cộng quân là 2.000 và một số kho vũ khí căn cứ bị huỷ diệt. Phản ứng đầu tiên của CSBV là phải rút sâu hơn trong nội địa của Campuchia. Với vũ khí của CSBV và Trung Quốc cung cấp, lực lượng Khmer Đỏ có thêm phương tiện gia tăng kiểm soát nhiều các khu vực khác. Dĩ nhiên, các cuộc hành quân hỗn hợp này làm cho xung đột vốn dĩ lâu đời của Khmer Đỏ và chính quyền Campuchia  trầm trọng hơn.

Thoạt đầu, dân chúng Hoa Kỳ tỏ ra đồng ý dè dặt về việc tấn công Campuchia. Trong một cuộc biểu tình của giới phản chiến tại khuôn viên Đại học Kent State, Ohio, Vệ Binh Quốc Gia đã nổ súng làm chết 4 và bị thương 15 sinh viên vào ngày 4 tháng năm 1970. Tình hình căng thẳng hơn khi 100.000 sinh viên liên tục biểu tình trước Toà Bạch Ốc. Trước áp lực nặng nề, Nixon  tuyên bố sẽ chấm dứt tấn công Campuchia vào tháng 6. Nixon khó xử hơn bao giờ hết vì thấy rằng Hoa Kỳ không thể thắng, nhưng lại không muốn kết thúc và cũng không dám công khai thú nhận là thua.

Sau cuộc xâm lăng Campuchia, tinh thần dân chúng mệt mỏi và cho là một sai lầm đạo đức, nhất là khi các cơ quan truyền thông đồng loạt khai thác vụ tàn sát Mỹ Lai và Bí Mật Ngũ Giác Đài.

Pentagon Papers

Muà hè 1971, The New York Times phổ biến tài liệu gọi là Bí Mật Ngũ Giác Đài, Pentagon Papers, làm hoang mang dư luận. Tài liệu này do Daniel Ellsberg tổng hợp theo yêu cầu của Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara. Ông cáo giác chánh sách tham chiến dựa trên quan điểm là do bị đe doạ nhiều hơn trên các nhận định quyền lợi thực tế. Các chính quyền Kennedy và Johnson thông báo tin tức sai lạc cho dân chúng và lý tưởng hoá về tầm vóc tham chiến tại Việt Nam.

Để đối phó với mặt trận truyền thông ngày càng gay gắt, Nixon phải xin lịnh Toà án ngưng công bố các tài liệu này, nhưng gặp thất bại. Nixon yêu cầu các giới chức an ninh hỗ trợ để chận đứng tình hình. Một mặt, ông cáo buộc Daniel Ellsberg bị bịnh tâm thần; mặt khác, ông dùng các thủ thuật bất hợp pháp như tổ chức đánh cắp tài liệu mật, nghe lén, theo dõi thư tín và đời tư các người liên quan.

Quốc Hội ý thức hơn về tầm vóc vấn đề và theo dõi các hoạt động của Tổng Thống. Tháng tư và năm có hàng trăm ngàn dân phản chiến tham gia biểu tình và có vài thành quả nhất định. Dù các đài truyền hình ít đưa tin về các hoạt động phản chiến hơn, nhưng các bất ổn tâm lý lan tràn.

Bất ổn tâm lý

Từ khi phát động chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh, từ Tướng Tư lệnh Abhrams cho đến binh sĩ có cảm tưởng chung là mục tiêu cao cả của cuộc chiến đấu vì tự do đã mất đi. Vì chỉ còn chờ ngày hồi hương, nên họ mang tâm trạng phòng thủ và bất ổn tinh thần.

Tinh thần xuống cực thấp qua việc sử dụng ma túy. Theo một ước lượng, có khoảng 40.000 binh sĩ Hoa Kỳ lâm cảnh nghiện ngập. Các vấn đề phân biệt màu da và bất tuân thượng lịnh trở nên nghiêm trọng hơn. Hậu quả chính trị của vấn đề càng nghiêm trọng, khi có tin một số tướng lãnh VNCH cũng tham gia việc mua bán ma túy.

Ngay khi còn ở Việt Nam, binh sĩ Hoa Kỳ không thể suy đoán hết về các diễn biến của các phong trào phản chiến. Lúc hồi hương, họ càng gặp khó khăn trong việc tái hội nhập xã hội và nhận ngay ra các bất ổn tâm lý cá nhân, “họ không thể tập trung, lo sợ trước bóng tối như trẻ con, thường bị mệt mỏi nhanh, ác mộng thường xuyên, phản ứng quá mức trước tiếng động không bình thường, đột qụy trước trong cơn giận dữ hay xung động.” Các chứng bịnh tâm thần kéo dài không thể trị hết làm cho nhiều người thất nghiệp, phạm pháp và vào tù. Trong chiến tranh, họ được ca ngợi là anh hùng, khi hồi hương họ mới nhận ra mình là một phương tiện cho một chính sách thất bại. Chính quyền không quan tâm giải quyết các vấn đề tâm lý cá nhân cũng như gia đình. Họ mang tâm trạng làm điều vô ích cho kẻ vô ơn. 

Tinh thần binh sĩ VNCH cũng sa sút vì mặc cảm bị Hoa Kỳ bỏ rơi và phải tự chiến đấu trong trong hoàn cảnh thiếu yểm trợ. Khi Quốc Hội cấm binh sĩ Hoa Kỳ hành quân trên lãnh thổ Lào, QLVNCH gặp vấn đề trầm trọng hơn, mà thảm bại của Hành quân Lam Sơn 719 là thí dụ chính.

Mục tiêu Hành quân Lam Sơn 719 nhằm phả huỷ các đường hậu cần, buộc CSBV trở lại hoà đàm khi nhận ra được khả năng thiện chiến của QLVNCH. Do mật tin của các cơ quan tình báo mà mọi kế hoạch đều bị CSBV phát hiện và kết quả là QĐNDVN đã gây thảm bại nặng nề cho QLVNCH. Nếu không có các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ yểm trợ vào giờ chót, thì tầm vóc thiệt hại càng thảm khốc hơn. Con số thương vong của QLVNCH lên tới 8.483 chết, 12.420 bị thương, 691 mất tích. Quân đội Mỹ có 215 chết, 1.149 bị thương, 38 mất tích, 168 trực thăng bị bắn rơi và 618 chiếc khác bị bắn; QĐNDVN bị thương vong là 2.163 chết, 6.176 bị thương; các số liệu đều là ước đoán.

CSBV và MTGPMN trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh.

Tổng công kích Tết Mậu Thân mang lại thành công về ngoại vận cho CSBV và MTGPMN, nhưng là một thất bại quân sự nặng nề và hiệu năng tác chiến trở nên cực kỳ suy yếu. Chiến dịch tấn công sang Campuchia và Chương trình Phượng Hoàng của QLVNCH làm cho CSBV chỉ duy trì thế thủ; MTGPMN cần có thời gian để phục hồi và không còn đánh phá mạnh ở mức độ địa phương.

Nhưng tiến trình Việt Nam Hoá làm thay đổi tình hình; Quân lực Hoa Kỳ không thể phát triển được nửa khi quân số đã lên đỉnh điểm và QLVNCH khó khăn hơn khi phải tự đảm nhận các cuộc hành quân. MTGPMN và CSBV nhận ra rằng đã đến lúc phải phản ứng trước tình hình thuận lợi, nghĩa là phải công kích đối phương nhiều hơn, kể cả ngoại vận, cho dù thực lực đang suy giảm.

Thực ra, nỗ lưc kiện toàn cơ sở và tăng cường tiềm lực không gặp trở ngại vì CSBV nhận nhiều viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước thuộc khối Đông Âu trong các lĩnh vực phòng không, xây dựng, kỹ thuật và huấn luyện. Theo một ước lượng, CSBV nhận viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc khoảng 7 tỷ Đô la, và riêng Trung Quốc mỗi năm khoảng 200 triệu Đô la về trang bị vũ khí nhẹ.

Sau khi Hồ Chí Minh chết vào năm 1969, đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống Mỹ xâm lược và thống nhất đất nước là mục tiêu cao cả của CSBV. Để đạt mục tiêu này, Lãnh đạo Đảng Lao Động ý thức được các tác động chuyển biến của Việt Nam Hoá chiến tranh. Vào tháng giêng 1970, họ thay đổi chiến lược bằng cách sử dụng Hoà đàm Paris là một trận tuyến mới, mà trước đây họ xem là một công cụ tuyên truyền.

Vùng châu thổ sông Cửu Long, một khu vực đông dân và nhiều luá gạo, có  ý nghĩa chiến lược, nên MTGPMN đã tăng cường mọi biện pháp để bám khu vực. Hành quân tấn công sang Campuchia của QLVNCH đã làm phân tán sức bảo vệ, nhưng sau đó đành phải rút về để bám đất và giữ dân.

Điểm ngạc nhiên nhất là đến giữa năm 1971, tiềm năng chiến đấu của hai bên đều suy yếu, một tình trạng bất phân thắng bại, không bên nào chứng tỏ có ưu thế quân sự để có thể chiến thắng. Thuận lợi nhất cho CSBV là Hoa Kỳ bắt đầu rút quân theo lịch trình, cứ sáu tháng là có 50.000 binh sĩ hồi hương.

Nga-Hoa đang nỗ lực cải thiện bang giao với Hoa Kỳ để có nhiều thoả ước thương mại và giải giới vũ khí. Để đánh đổi mặc cả này, cả hai sẳn sàng gây áp lực Hà Nội trong việc mưu tìm một giải pháp hoà bình. Dù xung đột có vũ trang tại biên giới Nga – Hoa vào mùa hè 1969 tại vùng Ussuri cũng không làm cho tình hình bang giao của Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô xấu hơn.

Chuyến đi bí mật của Kissinger vào ngày 9 tháng 6 năm 1971 tại Bắc Kinh là để mở đường cho chuyến thăm viếng chính thức của Nixon vào ngày 21 đến 28 tháng 2 năm 1972. Triển vọng tái lập bang giao Hoa – Mỹ tạo bất lợi cho Hà Nội, vì một trong những điều kiện tiên quyết mà Kissinger đặt ra cho Bắc Kinh là tạo áp lực cho Hà Nội phải đàm phán. Lo sợ trước chuyển biến này, Phạm Văn Đồng sang Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông tìm cách ngăn trở.

Mao phản bác yêu cầu của Phạm Văn Đồng bằng một hình ảnh bóng bẩy: “Chổi của Trung Quốc quá ngắn không thể nào quét sạch lính Mỹ tại Đài Loan,  chổi của các Đồng chí ở miền Bắc còn ngắn hơn, thì làm sao quét sạch miền Nam.“ Bắc Kinh chống đề nghị này là một thất bại cho Hà Nội. Nhiều tư liệu giải mật về sau cho thấy, dù viện trợ cho Bắc Việt tối đa, nhưng Trung Quốc không hề tin CSBV sẽ chiến thắng.

Bảng Tuyên bố chung Thượng Hải vào ngày 28 tháng 2 mở đầu giai đoạn bang giao mới giữa hai nuớc, mà mục tiêu chung là xây dựng một cấu trúc về hoà bình và công lý cho thế giới (the goal of building a world structure of peace and justice). Nội dung không đề cập đến các dị biệt ý thức hệ hay giải quyết các vấn đề Đài Loan, Việt Nam và Bắc Hàn, nhưng là một thay đổi quan trọng về thế giới quan về hợp tác.

Từ quan điểm của một vị Tổng Thống chống Cộng cực đoan, Nixon chuyển sang lợi dụng các xung đột Nga-Hoa hầu tìm một cấu trúc mới cho chính trị thế giới, mà cũng không quên quyền lợi chính của Hoa Kỳ. Giải pháp cho vấn đề Việt Nam tất nhiên bị ảnh hưởng trong sự thay đổi này.    

Đợt tấn công muà hè 1972

Bất chấp thành công của Nixon trong chuyến Hoa du và đợt vận động tranh cử tại Hoa Kỳ vừa kết thúc, CSBV mở một đợt tấn công miền Nam vào mùa hẻ năm 1972 với 120.000 quân qua ba ngả phi quân sự, vùng cao nguyên và  biên giới Campuchia, lần này có trang bị nhiều chiến xa tối tân của Liên Xô. Vào thời điểm này, Hoa Kỳ chỉ còn 6.000 binh sĩ chiến đấu trong tổng số 95.000 quân. CSBV tấn công năm tỉnh phiá Bắc, khởi đầu là Quảng Trị, rồi đến Komtum thuộc cao nguyên, với hy vọng là cắt đôi miền này, và điểm cuối cùng là biên giới Tây Nam, cách thủ đô Sài gòn 70 cây số. Tổng Thống Thiệu phải ra lịnh cứu nguy các thành phố và tạo vòng đai an toàn cho dân chúng.

Để làm cơ sở bao vây Sài Gòn, MTGPMN đã bắt đầu kiểm soát vùng châu thổ sông Cửu Long; tấn công này làm cho tinh thần chiến đấu của QLVNCH lung lay vì thiếu yểm trợ.
Nixon kiên quyết không bỏ rơi miền Nam và không thể chịu thất bại trong năm tranh cử khi ông đưa ra cuộc hành quân Linebacker I vào ngày 8 tháng năm. Ông quyết định phong toả hải cảng Hải Phòng và mở các đợt không kích tàn bạo nhất, cho dù các chuyên gia có cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của quyết định “điên khùng” này.

Lập luận chung là ai cũng sợ Hoa Kỳ bị trả đuả; để tỏ tình đoàn kết với CSBV, Trung Quốc sẽ trực tiếp can thiệp và Liên Xô sẽ cắt đứt ngoại giao với Hoa kỳ. Nixon bất chấp cảnh báo này và cho ném 112.000 tấn bom xuống miền Bắc.

Điểm ngạc nhiên là Liên Xô phản ứng yếu kém khi một chiếc hạm của Liên Xô bị phá hủy ở hải cảng Hải Phòng. Sau đó, Leonid Breschnew tiếp Nixon vào tháng năm với nghi lể trang trọng dành cho một quốc khách. Trung Quốc cũng tỏ ra không gay gắt trước những thiệt hại nặng nề của miền Bắc. Dù Thượng Viện nổi giận, nhưng công luận Hoa Kỳ tỏ ra đồng thuận với việc ném bom miền Bắc, vì dẫu sao cũng ít gây hậu quả tệ haị hơn là hành quân bằng bộ binh. Nixon nhận nhiều ủng hộ chính trị hơn trong thời gian này.

Cuộc hành quân muà hè 1972 là một thất bại cho Hà Nội; vì mọi hoạt động hậu cần bị tê liệt và với trên 100.000 quân của QĐNDVN bị thiệt mạng cùng 700 xe tăng Liên Xô bị tiêu hủy, trong khi quân của VNCH tử vong khoảng 25.000. Chua chát nhất là Liên Xô đã cắt giảm viện trợ, còn Trung Quốc gây sức ép để buộc ngừng chiến đấu. Hà Nội đang trong tình trạng hoàn toàn kiệt quệ mọi mặt và nhận ra rằng không thể kéo dài chiến lược vưà đánh vừa đàm, vì thiệt hại nhiều hơn trong khi Hoa Kỳ còn tiếp tục oanh tạc; dù Đảng Dân Chủ của McGovern có thắng cử, thì tình hình cũng không thể thuận lợi hơn.

Ngược lại, vì đang được dân chúng ủng hộ, nên Nixon và Kissinger nhận ra một lối thoát trong danh dự cho Hoa Kỳ đã đến. Dù Hoa Kỳ vẫn tiếp tục hỗ trợ cho miền Nam, nhưng Nixon thấy không thể kéo dài mưa bom và áp lực phản chiến trong nước lên đến đỉnh điểm. Theo công luận thì những thuận lợi về việc xây dựng nền tảng dân chủ của VNCH cũng như triển vọng thành công trong chương trình Việt Nam Hoá không còn nửa.

Cả Hoa Kỳ và CSBV cùng nhận định là phải trở lại hoà hội Paris trong một thái độ nghiêm chỉnh hơn.

Hiệp Định Paris

Các cuộc hoà đàm chính thức tại Paris khởi đầu từ 10.5.1968 trong thời Johnson, nhưng vì có quá nhiều dị biệt nên không đạt kết quả. Từ 4.8.1969 Kissinger đã có nhiều mật đàm với Lê Đức Thọ và cũng không có tiến triển. Thực ra, vị thế đàm phán của Kissinger kém hơn CSBV, khi ông đòi hỏi hai bên cùng rút quân. Lúc này, Hoa Kỳ chỉ còn 27.000 binh sĩ và phương tiện duy nhất là tiếp tục đe doạ không kích.

Cuối cùng, qua hai cuộc thương thảo 26 tháng 9 và 10 tháng 10 năm 1973, cả hai bên đạt đến một thoả hiệp chung: CSBV đồng ý cho chế độ VNCH tồn taị và thành lập một Uỷ Ban Quốc Gia Hoà Giải và Hoà hợp Dân tộc gồm có đại diện VNCH, MTGPMN và các thành phần thứ ba cùng làm việc chung. Mục tiêu của UB là chuẩn bị cho cuộc phổ thông đầu phiếu toàn quốc. Cùng với nỗ lực này là một thoả ước đình chiến và trao trả tù binh cho các bên liên quan. Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến sẽ hỗ trợ cho hai miền trong tiến trình này.

Một bất ngờ trong lúc thương thảo cho Kissinger là gặp phản ứng cực kỳ mãnh liệt của Tổng Thống Thiệu. Ông thấy nguy cơ sống còn cho chế độ nên không thể ký hoà ước. Kissinger nhận ra rằng vấn đề không còn phải là chuyện soạn thảo các điều kiện rút quân hay hoà giải mà sự dị biệt nền tảng trong quan điểm đấu tranh. Miền Nam không muốn mất vào tay Cộng Sản và cần có một phương cách để bảo đảm cho chiến thắng. Qua hinh thức ký kết này Hoa Kỳ cũng sẽ không hỗ trợ gì đặc biệt hơn cho VNCH.

Kissinger nổi giận vì các mật đàm giữa Hà Nội và Washington đều không đạt kết quả, nhất là không làm cho Tồng Thống Thiệu tin tưởng thiện chí của Hoa Kỳ. Dù Kissinger giấu nhẹm mọi tin tức về tiến trình đàm phán, tình báo của Tổng Thống Thiệu cũng tìm ra được nội dung các điều kiện, nhất là Kissinger cũng sẽ không thương thảo với Tổng Thống Thiệu, mà chỉ với MTGPMN; chỉ với lý do này cũng đủ làm cho Tổng Thống Thiệu từ chối ký kết hoà ước.

Tình thế khó khăn hơn, nhưng Kissinger vẫn hy vọng tìm ra một thoả hiệp. Ngày 19 tháng 7 năm 1972 ông gặp lại Lê Đức Thọ để thương thuyết. Đến ngày ngày 31 tháng 10 là ngày trước ngày bầu cử Tổng Thông một tuần, ông tuyên bố: “Hoà bình đang ở trong tầm tay“ (“Peace is at hand”). Đây là một kết luận vội vàng gây nhiều hậu quả tai hại, trong khi ông không tham khảo ý kiến của Tổng Thống Thiệu cũng như Nixon. Nixon thú nhận là những lo âu của Tổng Thống Thiệu là hợp lý và nếu ông thắng cử thì cơ hội cho một hoà ước thuận lợi hơn. Kissinger cũng không thể lưòng được là 61% dân chúng ủng hộ Nixon thằng cử, MacGovern thua đậm là một thành tích hiếm thấy cho Nixon.

Sau khi thắng cử vào ngày 7 tháng 11 năm 1972, Nixon bày tỏ thiện chí ủng hộ miền Nam. Ngay sau cuộc hành quân Enhence Plus, ông quyết định trao cho miền Nam một số lượng vũ khí quan trọng. Đáng kể nhất trong đợt viện trợ này là 600 máy bay, trong đó hơn 200 phản lực chiến đấu và oanh tạc cơ, hơn 300 trực thăng, máy bay vận tải, thám thính. Tổng số máy bay VNCH lên đến 2.075 chiếc và không lực đứng thứ 4 trên thế giới về số lượng. 

Ngoài ra, trong các mật thư với Tổng Thống Thiệu, Nixon còn cam kết là dù có ngưng bắn, ông sẽ tiếp tục ném bom miền Bắc khi CSBV vi phạm thoả ước. Cả Nixon và Kissinger về sau cũng không hề nhắc đến mật ước này, chỉ có Tổng Thống Thiệu gián tiếp công bố khi lưu vong.

Muốn chứng tỏ không bỏ rơi miền Nam, một lần nửa, Nixon kiên quyết tiếp tục ném bom Hà Nội và Hải Phòng qua cuộc hành quân Linebacker II. Cuộc không kích kéo dài từ 18 cho đến 29 tháng 12 năm 1972, ngoại trừ đêm Giáng Sinh. Mưa bom này làm kinh động công luận thế giới, cả Đức Giáo Hoàng Paul VI cũng lên tiếng phản đối Nixon. Khoảng 2000 thường dân chết và 1500 bị thương, nhưng thiệt hại các khu dân cư quá nặng nề.

Tại Paris, Kissinger buộc Hà Nội trở lại đàm phán. Hà Nội hoảng sợ phải trở lại bàn hội nghi; VNCH lên tinh thần hơn, tin tưởng là mật ước của Nixon sẽ tiếp tục không kích miền Bắc là khả thi và cũng đồng ý thương thuyết. Cuối cùng, Hiệp Định Chấm dứt Chiến tranh và Vãn hồi Hoà bình được ký vào ngày 27 tháng giêng năm 1973 với bốn bên là CSBV, VNCH, MTGPMN và Hoa Kỳ.

Các điểm chính trong Hiệp Định Paris là ngưng mọi cuộc giao tranh, Hoa Kỳ rút quân trong vòng 60 ngày ra khỏi Việt Nam; QĐNDVN được ở lại miền Nam; bù lại Hà Nội trao trả các tù binh Hoa Kỳ. UBQGHGHHDT sẽ làm việc trong khi VNCH và MTGPMN cùng hoạt động trên lãnh thổ của mình. Khu phi quân sự là một lằn ranh tạm thời và không được quốc tế công nhận theo luật quốc tế. Trong một mật ước với Hà Nội, Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho CSBV và sẽ không hành quân trên lãnh thổ Lào và Campuchia.

Hiêp Định Paris không phải là một thoả hiệp giữa hai phe thắng và thua,  nhưng CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi thuộc loại bất chiến tư nhiên thành: một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam; hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân chính quy QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN; ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm.

Dù VNCH kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, nhưng là một thất bại nặng nề khi ký kết, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu chính của VNCH là duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và phải trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả.

Thắng lợi cho Hoa kỳ là mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát danh dự, một thành quả của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Nixon còn buộc Hà Nội phải công nhận chính phủ VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, làm cho CSBV phải từ bỏ yêu sách là một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia. Nixon ý thức về khó khăn của việc thực hiện Hiệp Định Paris vì QĐNDVN còn đóng tại miền Nam và việc tiếp tục ném bom miền Bắc trong tương lai là khó khả thi.

Khi cải thiện bang giao với hai nước Nga-Hoa, Nixon và Kissinger đem lại ưu thế cho Hoa kỳ; vì mở rộng vị thế siêu cường, nên các áp lực quốc tế và quốc nội trong cách giải quyết vấn đề Việt Nam giảm đi.

Nixon vẫn còn lo âu về mật ước với Tổng Thống Thiệu. Kissinger, vốn dĩ không dành thiện cảm cho VNCH, nên cảm thấy nhẹ nhàng hơn và không quan tâm đến vận mệnh tương lai của miền Nam. Ông tiên đoán sẽ có một khoảng cách thích hợp cho việc đình chiến và sự sụp đổ của miền Nam. Khi đuợc hỏi miền Nam sẽ còn sống được bao lâu sau ngày ngưng bắn, ông trả lời: ”Nếu có may mắn chế độ Sài Gòn chỉ sống sót được trong vòng một năm rưởi.”  

Quốc Hội và Watergate

Sau khi người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam và Hà Nội trao trả 580 tù binh thì chính giới Hoa Kỳ không còn lý do để ủng hộ cho VNCH. Dù có nhiều tin tức về vi phạm Hiệp Định Paris nhưng công luận không còn quan tâm. Hai khái niệm chính yếu cho Hoa Kỳ trong gia đoạn này là Hoà Bình và Danh dự.

Cuối tháng 7 năm 1973 Quốc Hội tìm cách hủy bỏ các quân viện cho  chiến trường Đông Dương. Nixon phủ quyết quyết định của Quốc Hội, tình hình căng thẳng và không một thoả hiệp nào đạt được. Ngày 15 tháng 8 năm 1973 các cuộc ném bom trong phạm vi biên giới Campuchia dọc theo Nam Việt Nam kết thúc. Hoa Kỳ đã ném tổng cộng hơn 250.000 tấn bom xuống khu vực này, nhiều hơn số lượng bom trong Thế chiến thứ Hai, làm cho khoảng 7 triệu dân Campuchia phải chạy tỵ nạn. 

Quốc Hội tìm mọi cách gây ảnh hưởng ngăn chận trong mọi tiến trình quyết định của Tổng Thống. Tháng 11 năm 1973 Quốc Hội biểu quyết luật War Power Act, quy định trường hợp can thiệp quân sự trong các xung đột quốc tế; Tổng Thống có quyền điều quân ra nước ngoài trong thời hạn 60 ngày; nếu Quốc hội không cho phép can thiệp, thì trong vỏng 30 ngày sau đó Tổng Thống phải rút quân. Do đó, thẩm quyền can thiệp quân sự của Tổng Thống trong tương lai bị hạn chế.

Biến động Watergate làm cho Nixon hoàn toàn bất lực. Thông tin sai lạc và lạm quyền Tổng Thống quá mức lần lượt bị báo chí phơi bày, nên không còn được tín nhiệm Nixon; Tối Cao Pháp Viện đồng thanh quyết định Nixon phải trao các băng ghi âm các buổi nói chuyện tại văn phòng Bầu dục cho Uỷ viên Điều tra là Jaworski; Uỷ Ban Tư pháp của Hạ Viện truy tố Nixon vi phạm ba tội hình sự; toàn thể Hạ Viện và Thượng Viện đồng thanh chấp thuận tiến hành thủ tục huyền chức (Impeachment) Tổng Thống, một vụ việc chưa có tiền lệ.

Để tránh khỏi thủ tục này, ngày 2 tháng 8 Nixon tuyên bố từ chức và không nhận tội. Người kế nhiệm là Gerald Ford. Ông tuyên bố kế tục chính sách ngoại giao của Nixon và Kissinger vẫn nắm chức vụ Cố vấn An ninh Quốc gia đến cuối tháng 11 năm 1975. Trong thời gian này, các mật ước của Nixon hỗ trợ Tổng Thống Thiệu không ai biết tới, nhưng bất ổn xã hội tại miền Nam càng thể hiện trầm trọng hơn.

Bất ổn xã hội 

Sau khi Hiệp Định Paris ký kết, cả hai phe Nam Bắc liên tục cáo giác nhau về các vi phạm ngưng bắn, cùng ngăn trở hoạt động của UBHG và gia tăng phương tiện kiểm soát lãnh thổ và dân chúng. Trong chiến dịch này QLVNCH chiếm lại được hơn 1000 làng xã. Thành quả này cũng là một thách thức mới vì QLVNCH còn phải đảm nhiệm thêm các công tác hành chánh địa phương và bình định nông thôn, vượt quá khả năng bảo vệ.
Quân số QLVNCH lên đến tên 1,1 triệu trong khi quân số của CSBV và MTGPMN có khoảng 300.000. Ưu thế quân số không tạo thắng lợi hơn cho VNCH vì 2/3 Quân lực phải lo cho việc kiểm soát lãnh thổ, trong khi đối phương chỉ cần có 10% lo chuyện phòng thủ.
Hà Nội kiên quyết kết thúc chiến tranh bằng chiến thắng quân sự. Để chuẩn bị cho đột tấn công mới, CSBV tập trung kiện toàn đường mòn Hồ Chí Minh; nhờ việc tiếp vận từ biên giới Hoa-Việt đến biên giới Miên-Việt hoàn chỉnh, nên chuyển chở vũ khí, nguyên liệu và quân dụng nhanh hơn. Trong năm 1974 CSBV tăng cường hoạt động trong các tỉnh thuộc khu phi quân sự và các tỉnh cao nguyên trong khi MTGPMN chiếm gần phân nửa vùng châu thổ sông Cửu Long.  

Tình hình kinh tế của Miền Nam suy sụp trầm trọng. Viện trợ cắt giảm, khu vực cung ứng dịch vụ cho Quân đội Đồng minh không còn, làm mất đi gần 300.000 công việc và tỷ lệ thất nghiệp lên đến 40%. Đời sống công chức và binh sĩ gặp khó khăn khi giá lương thực tăng. Thực phẩm khan hiếm khi chánh phủ VNCH kiểm soát thị trường luá gạo và MTGPMN tìm cách bóp nghẹt các trục vận chuyển.

Quốc Hội chấp thuận viện trợ 700 triệu cho VNCH trong tài khoá năm 1975, sau khi trừ chi phí vận chuyển chỉ còn lại 300; hậu quả là QLVNCH không thể trang trải mọi quân phí. Chiến lược của QLVNCH là theo kiểu Mỹ, nên cực kỳ tốn kém, sử dụng số lượng vũ khi 17 lần hơn đối phương trong năm 1973, và 12 lần hơn trong năm 1974. Giảm quân viện làm tiêu hao tiềm năng chiến đấu và nhất là khi lương quân nhân không đủ sống. Ảnh hưởng này làm cho tỷ lệ đào ngũ lên cao, 240.000 người trong năm 1974, một kỷ lục chưa từng có.  

Tình hình kinh tế càng khó khăn khiến cho dân thành phố, thành phần trí thức, kể giới làm giàu nhờ chiến tranh tỏ ra chống đối Tổng Thống Thiệu qua chương trình chống tham nhũng. Giới hữu sản bắt đầu chuyển tiền của và tìm cách định cư nước ngoài. Một niềm tin còn lại dành cho tất cả mọi người là: “Mỹ không thể bỏ Việt Nam“, nhưng càng ngày càng mơ hồ hơn vì thiếu cơ sở luận chứng.

Tất cả mọi người dân đều mong muốn có sự thay đổi phù hợp cho miền Nam, nhưng không ai có khả năng để thích nghi khi CSBV khởi động chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975

Hoa Kỳ rút quân và Nixon từ chức sau vụ Watergate là hai món quà vô giá dành cho CSBV. Gerald Ford không đủ tư thế và cũng không chống Cộng cuồng nhiệt như Nixon. Không còn cần Hiệp Định Paris, Hà Nội quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh vào ngày 18 tháng 12 năm 1974 để tiến chiếm miền Nam.

Tháng 12 năm 1974, CS tấn công Đồng Xoài, Phước Long, tháng 3 năm 1975 tấn công Ban Mê Thuột. Tổng thống Thiệu quyết định bỏ ngỏ cao nguyên để cũng cố lực lượng cho vùng duyên hải và miền Tây. Quân đội triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum gây hỗn loạn và nhiều người chết. Vì  không còn ai lãnh đạo nên dân chúng và binh sĩ chạy thoát thân trên các “đại lộ kinh hoàng“ để lánh nạn nơi vùng duyên hải. Các trạm giao thông tắc nghẻn, quân nhu và vũ khí đều bỏ lại trên đường tháo chạy. 25 tháng 3 CSBV chiếm Huế và sau đó 30 tháng 3 Đà Nẳng thất thủ. 

Ngày 4 tháng 4 Tướng Frederick Weygand, Tham mưu Trưởng Liên quân, còn đề nghị Gerald Ford nên tăng viện cho Việt Nam 722 triệu. Gerald Ford bác bỏ vì không thể tìm sự đồng thuận của Quốc Hội. Ngày 23 tháng 4 năm 1975 trước các sinh viên Đại học Tulane, New Orleans, đang hân hoan về tình hình thay đổi tại Việt Nam, Gerald Ford tuyên bố là: “Chiến tranh Việt Nam đã qua đi trong mối quan hệ với Hoa Kỳ” (The war is over as far as American is concerned). Hoa Kỳ đã học hỏi những sai lầm của mình; nhưng loại sai lầm nào thì ông không kể tới. 

Thắng thế, Hà Nội quyết định tấn công Sài gòn và các tỉnh miền Tây. Ngày 21 tháng 4 Tổng Thống Thiệu trao quyền cho tướng Dương Văn Minh và lưu vong sang Đài Loan. Hy vọng cuối cùng cho người dân miền Nam là Tướng Minh sẽ có một cơ hội đối thoại với MTGPMN. Vì tương quan lực lượng không còn nửa nên Hà Nội quyết định không đối thoại và ngày 30 tháng 4 tiến chiếm Sài gòn. Ngày 1 tháng 5 tướng Minh tuyên bố đầu hàng.                  

Tình hình chuyển biến quá nhanh ngoài sự dự liệu của Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Ông bối rối trong việc tổ chức di tản cho 9000 nhân viên người Mỹ và khoảng 150.000 người Việt. Khi chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi Toà Đại Sứ, trang sử mới cho Việt Nam bắt đầu. 
              
Ai thắng? Ai thua? Tại sao?

Tại sao Hoa Kỳ thua?
Hoa Kỳ thua vì phải trả 167 tỷ Đô la, kinh phí tổng cộng cho chiến cuộc và 58.000 binh sĩ hy sinh. Về đối ngoại, uy tín của Hoa Kỳ như một siêu cường không còn. Hậu quả là phong trào chống Mỹ tại châu Âu, vổn dĩ đã có sẳn, nay lên cực điểm; các nước chậm tiến không còn tin tưởng việc kết ước liên minh quân sự với Mỹ, mà ngược lại, xem là một tai hoạ. Về đối nội, chiến tranh đã đem lại một vết thương tinh thần, không phải chỉ riêng với các cựu chiến binh mà toàn dân tộc. Các giá trị cao cả mà người Hoa Kỳ đề cao và theo đuổi trước đây, nay được đặt lại nghiêm túc hơn để tìm một hướng đi mới làm hồi sinh dân tộc.

Các cuộc thảo luận tại Hoa Kỳ về cuộc chiến hầu hết tập trung vào khiá cạnh quân sự. Họ nêu lên ba luận điểm chính trong ba thời kỳ khác nhau và đi đến kết luận là Hoa Kỳ đã có nhiều cơ hội để thắng CSBV mà Hoa Kỳ không nhận ra hoặc không theo đến cùng.

Một là khái niệm Counterinsurgency của Kennedy là một sách lược chống Cộng đúng đắn cho Việt Nam mà kinh nghiệm tại Mã Lai đã chứng minh thành công. Lý do hỗ trợ cho quan điểm này là thoạt đầu chính phủ Ngô Đinh Diệm được hai thành phần nông dân miền Nam và người Bắc di cư ủng hộ. Chính quyền có hiệu năng trong việc xây dựng đất nước, kết hợp các giáo phái và giải quyết xung đột điạ phương là thí dụ điển hình. Kinh tế trên đà phát triển trong một xã hội đang chuyển mình khi MTGPMN chưa có lý do để tuyên truyền là Mỹ xâm lược hay bom Mỹ phá hoại xóm làng. Chính sách gia đình trị cũng như kỳ thị tôn giáo của Tổng Thống Diệm chưa thành hình.

Kennedy không quan tâm kết hợp các thành quả xây dựng của VNCH trong công cuộc đấu tranh toàn diện, kể cả bằng quân sự để tiêu diệt CS còn trong thời kỳ phôi thai, mà chỉ gởi các cố vần quân sự là không đủ mạnh. Trở ngại chính một phần là do phản ứng đầy tự ái dân tộc của Tổng Thống Diệm, một phần do thiếu kiên quyết của Kennedy gây áp lực. Tổng Thống Diệm thực thi Quốc sách Ấp Chiến Lược có nhiều sai lầm, gây bất mãn cho nông dân và MTGPMN bắt đầu có cơ hội phát triển cơ sở.

Hai là Johnson quyết định leo thang chiến tranh, nhưng ông lại áp dụng trong phạm vi giới hạn. Dị biệt quan điểm giữa các cố vấn dân sự và quân sự về sách lược đấu tranh làm cho Johnson thiếu kiên quyết. Ông chủ trương không gài mìn hải cảng Hải Phòng sợ làm chìm tầu Nga, luôn lo sợ là Hoa Kỳ có thể bị Trung Quốc và Nga trả đuả; sai lầm nhất của ông là không theo đánh đuổi VC qua bên kia biên giới cuả Campuchia và Lào, vì sẽ mở rộng cuộc chiến. Các biện pháp này Nixon thấy là đúng đắn và thực hiện về sau.

Giới chức quân sự tin là nếu Johnson oanh tạc các trục tiếp vận và phong toả các hải cảng miền Bắc mạnh hơn và tiến hành Việt Nam Hoá chiến tranh ở miền Nam vào cuối 1966, đó là cơ hội thích hợp nhất để thắng CSBV. Ngược lại, Johnson-McNamara cho là chiến thắng quân sự không là một giải pháp tối ưu như quan niệm cổ điển, mà nghĩ là xây dựng dân chủ miền Nam và không phá hủy miền Bắc là chính. Mục đích oanh tạc và đánh phá các căn cứ hậu cần để giảm mức độ xâm nhập của CSBV.

Năm 1967, mặc dù thực hiện chiến dịch Rolling Thunder và tăng quân lên 425.000 nhưng CSBV không chịu đàm phán, nên không có triển vọng kết thúc chiến tranh.
Sự hiện diện binh sĩ Hoa Kỳ tại miền Nam và các đợt không kích tại miền Bắc giúp cho CSBV có lập luận mạnh hơn để thu phục nhân tâm tại nông thôn cũng như các trí thức cảnh tả phương Tây về việc Hoa Kỳ xâm lăng VN, làm cho đấu tranh ngoại vận của Hoa Kỳ và VNCH thêm khó khăn.

Ba là thành quả cuộc không kích Linebacker II của Nixon, đến nay vẫn còn là một bí ẩn. Tại sao Nixon không kéo dài oanh tạc trước sự nguy cơ sụp đổ của CSBV? Chiến thắng gần kề mà Nixon lại tạo cho CSBV cơ hội đàm phán và mua thời gian là sai lầm. Có quá nhiều cách giải thích về chuyện ngưng không tập này.

Dư luận thế giới kết án Hoa Kỳ nặng nề về mặt đạo đức và kêu gọi ngưng oanh tạc. Đó không phải là lý do chính mà Hoa Kỳ không tiếp tục không kích, mà là vì đã đạt được các mục tiêu. Oanh tac và phong toả hải cảng thành công làm cho các lực lưọng phòng không BV phải thôi hoạt động.

Một lập luận khác cho rằng CSBV thắng lớn; làm Không Quân Hoa Kỳ thiệt hại nặng nề, nên không thể tiếp tục. Thực ra, chỉ có 15 B-52 và 12 phi cơ chiến đấu bị bắn hạ. Một lập luận khó thuyết phục.

Một nguồn tin khác cho là CSBV đầu hàng sau cuộc oanh tạc này. Ten Gunderson, một nhân viên FBI tiết lộ tin này và xác quyết là CIA giấu nhẹm tin và đổi các nhân viên phụ trách sang các nhiệm sở khác. Theo ông, lý do của CIA là Hoa Kỳ đang trong tiến trình thương thuyết với Bắc kinh, kết quả ngoại giao với Bắc Kinh quan trong hơn là chiến thắng quân sự với Hà Nội. Nguồn tin này khó kiểm chứng và vẫn còn nghi ngờ.

Dù theo lối giải thích nào, thì Nixon cũng tỏ ra kiên quyết chống Cộng và có nỗ lực cuối cùng tạo chiến thắng cho Hoa Kỳ và VNCH.

Ba lập luận này khó thuyết phục vì mang giá trị cảnh báo hoặc giải thích một sự kiện đã rồi. Tại sao Kennedy không tiến hành chiến dịch Bình Đinh Nông Thôn và hành quân bộ binh ngay lừ lúc đầu mà Johnson đã phải làm về sau? Tại sao Johnson không tấn công sang Campuchia và Lào như Nixon? Tại sao Johnson và Nixon luôn lo sợ Trung Quốc và Nga Xô trực tiếp can thiệp? Một kịch bản đã không xảy ra. Tìm các bằng chứng cho các lập luận này là bất khả.

Vấn đề có thể sáng tỏ hơn nếu tìm hiểu tại sao dân tộc Việt Nam và VNCH thua và CSBV thắng. 

Tại sao VNCH thua? 
Việt Nam Hoá chiến tranh đòi hỏi điều kiện đầu tiên là miền Nam phải có  một chính quyền ổn định mọi mặt, nhưng tất cả còn đang trong thời xây dựng ban đầu. Chính trị Việt Nam bất ổn liên tục và tình trạng tiến thoái lưỡng nan của chương trình Việt Nam Hoá là hai nghịch lý song hành: VNCH sẽ còn nắm quyền cho đến khi nào còn được Hoa Kỳ ủng hộ, nhưng khi VNCH còn tiếp tục nắm quyền thì chương trình Việt Nam Hoá sẽ thất bại.

Ngoài vấn đề an ninh, những vấn đề cấu trúc cơ bản của xã hội miền Nam vẫn chưa giải quyết, đặc biệt nhất là khiá cạnh chính danh cho chế độ. Tổng Thống Thiệu thắng cử độc diễn năm 1971 với 90% số phiếu ủng hộ, nên không tạo uy tín lãnh đạo. Bộ máy hành chánh, cơ cấu quân đội và hệ thống kinh tế chưa tạo ra được một ý thức về quyền lợi quốc gia đủ mạnh. Tinh thần của đa số dân chúng là quá mệt mỏi vì chiến tranh và không quan tâm đến chính sự. Nhưng trầm trọng nhất là vấn đề tham nhũng, đa số mong biến thành quyền lợi cá nhân và gia đình khi đóng góp cho chế độ. Khi Việt Nam Hoá chiến tranh cũng có nghiã là dân thành phố không còn tiếp tục làm giàu qua cơ chế viện trợ Mỹ; tinh thần ủng hộ cho chính quyền cũng suy giảm theo

Khả năng và bản lĩnh của chính giới miền Nam là khía cạnh quan trọng nhất. Đa số là được Pháp đào tạo qua hai lĩnh vực quân đội hay hành chánh, nay họ tiếp tục hành sự trong tinh thần lệ thuộc viện trợ Mỹ, nên  không thể suy nghĩ độc lập và đủ bản lĩnh tìm một lối đi tương kế tựu kế cho đất nước trong gọng kiềm của lịch sử. Thiểu số liêm chính, có khả năng, tinh thần quốc gia và kiên cường thì không được chế độ trọng dụng, nhất là có cơ hội hợp tác với Mỹ. Cùng một hoàn cảnh đất nước bị chia cắt mà các chính khách của Tây Đức và Nam Hàn đem lại một số thí dụ khác biệt. Tinh thần chiến đấu của QLVNCH sẽ ra sao khi được tiếp tục quân viện đầy đủ, hoặc không bị lãnh đạo bỏ chạy, vấn đề đến nay còn gây nhiều tranh cải. Nhưng tấm gương bất khuất và hào hùng của các tướng lãnh và chiến sĩ luôn được hậu thế tri ân nhân ngày 30 tháng 4.

Tại sao CSBV thắng?
Bất ổn nội tình và truyền thông hỗn loạn của Hoa Kỳ là các lý giải chính.
CSBV thua nặng trong chiến cuộc Mậu Thân nhưng truyền thông Hoa Kỳ lầm lạc khi đề cao khả năng chiến đấu. Qua màn ảnh truyền hình người dân nghĩ rằng nguy cơ cho miền Nam đã đến khi Công quân vào tận đến Toà Đại Sứ Hoa Kỳ và các thành phố lớn. Phạm vi hành động của Nixon càng thu hẹp khi phải đề ra kế hoạch tuần tự rút quân để thu phục cảm tình của giới phản chiến. Thắng lợi trong việc cảị thiện bang giao Nga – Hoa làm cho các lo sợ của Hoa Kỳ phải trực tiếp đối đầu không còn. Áp lực quốc tế giảm đã đem lại một suy nghĩ mới: Thuyết Domino không còn có giá trị thuyết phục cho Hoa Kỳ phải tiếp tục kết ước tại Việt Nam và Đông Nam Á. Cuối cùng, hậu quả của Watergate là một bất hạnh cho định mệnh chính trị của Nixon, nhưng là một đại bất hạnh cho sinh mệnh toàn dân miền Nam.

Sách lược đấu tranh và nội tình của CSBV cũng mang lại các lý giải khác.

Ý chí xâm chiếm miền Nam là động cơ duy nhất. So với các nước cùng cảnh ngộ như Đông Đức và Bắc Hàn, hai nước này không tiến hành đấu tranh giải phóng Tây Đức và Nam Hàn đang bị Hoa Kỳ kiềm kẹp.

Đối với dư luận quốc tế, CSBV đánh Đế quốc Mỹ cho đến xương máu của người Việt Nam cuối cùng thay cho Trung Quốc và Liên Xô, đó là một lý tưởng cao cả như đến nay mà họ còn hãnh diện. Chính sách đu dây ngoại giao của CSBV trong tình huống xung đột Nga – Hoa là một thành công đặc biệt; không có nguồn lực này, chiến thắng của CSBV là chuyện không tưởng. Điểm đặc biệt là, dù lệ thuộc nặng nề về viện trợ vũ khí của khối CS, nhưng CSBV lại hoàn toàn hành sử độc lập trong mọi lĩnh vực hoạt động tác chiến, không như VNCH bị lệ thuộc vào mọi sự chỉ đạo cụ thể của Hoa Kỳ.

Đối với đồng bào, CSVN dùng chiêu bài giải phóng dân tộc qua lý tưởng đấu tranh cách mạng, chống bạo quyền miền Nam và giặc Mỹ xâm lăng. Họ không có các lập luận kinh điển nhằm bảo vệ công nhân bị bóc lột trong một xã hội công nghiệp, mà sách động quần chúng kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự như là một chiến lược chung, đôi khi qua các liên hệ với thân nhân, đó cũng là một cách ràng buộc để làm cho người dân đi theo CS. Kết hợp uyển chuyển này làm cho CSBV thành công trong mặt trận tình báo và nội tuyến.

Đối với Đảng viên, nghệ thuật lãnh đạo của Đảng là đồng hoá vận mệnh của ĐCSVN, dân tộc, cá nhân, gia đình, tập thể và xã hội, tất cà hoà nhập trong một lý tưởng đấu tranh chung; nên tất cả phải tuân phục kỷ luật và có tinh thần hy sinh; mà cao cả nhất là được hy sinh cho Đảng và tổ quốc, vì đó là hạnh phúc của con người. Kết quả của sự tuyên truyền này là 1 triệu 1 thanh niên miền Bắc nằm xuống, 300.000 mất tích và 600.000 bị thương và thế hệ thanh niên miền Bắc cho chiến dịch 1975 là thế hệ cuối cùng.

Cơ chế lãnh đạo của ĐCSVN chặt chẽ nên tạo ra một hình ảnh chung là đoàn kết, nghiêm mật và kiên cường. Hồ Chí Minh được thần thánh hoá là hình ảnh cao đẹp của vị cha già dân tộc; sách vở phương Tây cũng phụ hoạ theo lập luận này khi so chiếu với Bảo Đại và Ngô Đình Diệm. Ngày nay, vô số tư liệu cho thấy nội bộ của ĐCSVN thanh toán nhau đẩm máu để tranh giành quyền lực, nên chuyện hèn với giặc và ác với dân không còn gây ngạc nhiên. Thần tượng sụp đổ khi đời tư và công của Bác Hồ được phơi bày. Bác Hồ nào đã chết trong quên lãng vào năm 1932 và còn Bác Hồ nào còn được tiếp tục sùng bái trong lăng Ba Đình, các sử gia thiếu can đảm làm sang tỏ.  

Tại sao dân tộc Việt Nam thua?
Toàn dân phải trả một cái giá quá mắc cho chiến thắng của ĐCSVN là vì có khoảng hơn 1,5 triệu cho đến 2 triệu người chết và 300.000 người mất tích.

Người dân Miền Bắc thua mà không biết, vì lý tưởng cao đẹp bị lừa dối. Đau xót nhất là những người nằm xuống, không còn có cơ hội biết đưọc sự thật về ý nghiã của cuộc chiến tranh giải phóng.

Người dân miền Nam biết mà vẫn thua, vì không tránh khỏi các biện pháp tiến nhanh, tiến mạnh lên XHCN; nông dân thua vì bị tập thể hoá nông nghiệp; doanh nhân thua vì bị cải tạo tư sản; dân thành phố thua vì phải đi xây khu kinh tế mới; trí thức thua vì chiến dịch bài trừ văn hoá Mỹ Ngụy; thảm kịch học tập cải tạo và thuyền nhân là hai thí dụ bi thương của phe thua cuộc.

Binh sĩ thua vì là nạn nhân của một chính sách sai lầm và còn chịu thêm hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và Trung Việt; người nằm xuống không được tưởng niệm và người còn sống không được ghi công.

Thế hệ hậu chiến thua vì không có kiến thức về lịch sử đấu tranh của dân tộc, sách về chiến tranh chống Mỹ bị bóp méo và chiến tranh Trung Việt ghi lại có 11 dòng để truyền lại cho hậu thế. Đa số không được học tập các giá trị dân chủ, nên vô cảm trước các chính sự trong nước và chính biến ngoài nước.   

Cuối cùng, những người thành tâm hoà giải quốc gia và hoà hợp dân tộc cũng thua, vì không có chổ đứng trong lòng dân tộc.

Dân tộc Việt còn thua đến bao giờ và làm gi?  
Không ai biết rõ còn bao lâu nữa và phải làm gì cụ thể để thay đổi. Có còn chăng là sự tỉnh thức trong chúng ta. Đó là một khả năng tự soi sáng và tự quyết định về vận mệnh của đất nước mà toàn dân Đông Âu là một thí dụ. Tỉnh thức thân phận là vấn đề kiến thức; xác định ý muốn để thay đổi là vấn đề quyết tâm. Nếu còn sống trong vô cảm, mang tâm trạng nô lệ tự nguyện hay còn Đảng còn mình và chờ đợi hạnh phúc giả tạo do Đảng, Trung Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế ban phát, thì người dân sẽ còn tiếp tục thua trong đau khổ. Không ai có phép lạ để chuyển hoá đất nước thay cho chúng ta. Vấn đề là sự chọn lựa.

Chúng ta cùng giúp nhau tỉnh thức trong tình tự dân tộc là một hy vọng khởi đầu: Đất nước đang nguy cơ hơn bao giờ hết, sức mạnh của toàn dân sẽ đem lại giải pháp và quyền dân tộc tự quyết là phương tiện. May ra một phép lạ nào đó cho đất nước sẽ đến sau.

* Dr. Đỗ Kim Thêm: Non Governmental Advisor of International Competition Network (ICN), Research Associate at United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD). Bài viết là ý kiến cá nhân và không phải là quan điểm của ICN và UNCTAD.