Thursday, February 28, 2019

HÀNG TRIỆU CÔNG NHÂN DỆT MAY SỐNG LAY LẮT VÌ LƯƠNG THẤP (The Leader)




Thu Uyên - Ngọc Mỹ  -  The Leader  
09:01, 27/02/2019

TheLEADEROxfam cho biết, tại Việt Nam hiện nay, có tới 99% công nhân may không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn lương châu Á và 74% không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn của Liên minh lương đủ sống toàn cầu.

Tọa đàm về tiền lương không đủ sống do Oxfam tổ chức

Những con số thống kê trong báo cáo được Oxfam kết hợp với Viện Nghiên cứu Công nhân và công đoàn đưa ra tại buổi tọa đàm “Tiền lương không đủ sống và hệ lụy” diễn ra sáng nay ngày 26/02 tại trụ sở của Oxfam Việt Nam thực sự đáng để suy ngẫm.

Báo cáo của Oxfam là kết quả khảo sát đối với doanh nghiệp may ở nhiều khu vực, nhiều doanh nghiệp trong đó cung ứng hàng cho các thương hiệu nổi tiếng như K.hey, Target, GU, Uni Clo, Carrefour, SFG, Froevernew, Cotton On, Peacocks, Tesco, DP Garments, Gap, Splat, Camel, BVH, New Look, Primax, Morrison, Jorge, CK, Zara, Posco, Arcadia, Dunnes, Mango, Jamax. Tại các doanh nghiệp được khảo sát đều có quy mô doanh nghiệp trên 200 lao động, 70 - 80% là lao động trực tiếp, 85 - 90% là nữ.

Báo cáo cho biết, tại Việt Nam hiện nay, có tới 99% công nhân may không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn lương châu Á là 8,9 triệu đồng/tháng và 74% không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn của Liên minh lương đủ sống toàn cầu 5,2 triệu đồng/tháng.

Ước tính lương cơ bản trung bình của 2,5 triệu lao động trong 60.000 doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam chỉ 3,7 triệu đồng/tháng.

Chị Hà 35 tuổi, làm công nhân may ở Hải Dương đã được 18 năm. Công việc vất vả nhưng tiền lương nhận được thậm chí không đủ đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống, chứ chưa nói đến chăm lo cho hai đứa con chị một cuộc sống tốt đẹp. Chị Hà muốn nghỉ việc đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, tuy nhiên giám đốc sản xuất từ chối ký vào đơn xin nghỉ việc của chị, yêu cầu sang gặp phòng nhân sự.

Phòng nhân sự cho biết hiện có những người nộp đơn từ đầu năm đến giờ vẫn chưa được giải quyết. Nếu không được công ty đồng ý cho thôi việc, chị và những người khác sẽ không thể hưởng quyền lợi bảo hiểm của mình. Câu chuyện của chị Hà cho thấy một thực tế là bản thân công ty rất muốn giữ công nhân nhưng họ không giữ bằng động lực “tiền lương” mà bằng biện pháp hành chính.

Cũng theo báo cáo của Oxfam, 69% công nhân dệt may cho biết họ không có đủ tiền để trang trải nhu cầu sinh hoạt của mình; 28% công nhân nói rằng tiền lương không đủ để đảm bảo chi tiêu ăn uống cho gia đình trong cả tháng, trong đó 50% cho biết họ phải vay tiền để mua thức ăn; 53% không đủ khả năng điều trị khi ốm đau và có tới 94% công nhân không dám nghỉ ốm khi cần.

Đi làm muộn, quên quẹt thẻ chấm công, nghỉ ốm hay không đạt định mức, tất cả chỉ là một trong muôn vẻ những cách khác nhau để doanh nghiệp khấu trừ thu nhập của người lao động.

Bà Phạm Thu Lan – Phó viện trưởng Viện Công nhân và công đoàn, Trưởng nhóm nghiên cứu đã tổng hợp từ những nghiên cứu thực tế và đưa ra kết luận về các phương thức mà chủ doanh nghiệp sử dụng để cắt giảm lương của người lao động, bao gồm cách tính tiền lương phụ thuộc và giá đơn hàng, tăng làm thêm giờ thay vì tuyển thêm lao động, gây áp lực về mặt hành chính để buộc công nhân làm việc,…

“Cuộc khảo sát cho thấy rất nhiều công nhân may có mức lương chưa đủ sống. Họ phải chi tiêu ở mức dè xẻn và hiếm khi chi tiền vào những khoản chưa thực sự cần thiết. Các chi tiêu cho giải trí, hoạt động xã hội và thậm chí đi lại về quê thăm gia đình và bạn bè ít công nhân có thể dám chi trong tiền lương hàng tháng của họ. Có công nhân nhận mức lương sản phẩm đạt 10-12 triệu đồng/tháng nhưng họ thường làm việc hết sức. Mong đợi của công nhân may hiện nay là lương đủ sống trong điều kiện làm việc bình thường, trong giờ làm việc tiêu chuẩn và cường độ làm việc phù hợp”, báo cáo nhận định.

Hệ luỵ

Bà Nguyễn Thị Lê Hoa, Phó giám đốc tổ chức Oxfam tại Việt Nam khẳng định: “Tình trạng tiền lương thấp trong chuỗi cung ứng ngành may đang làm cho công nhân và gia đình họ bị mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của đói nghèo, nợ nần. Mức lương không đủ sống khiến người lao động bị bần cùng hóa, không được hưởng những nhu cầu sống tối thiểu, buộc họ phải làm thêm giờ dẫn đến những tổn hại về sức khỏe và thậm chí rơi vào nợ nần".

Bà Nguyễn Thị Lê Hoa, Phó giám đốc tổ chức Oxfam tại Việt Nam

Có tới 65% công nhân may tại Việt Nam thường xuyên phải làm thêm giờ và 37% công nhân cho biết họ thường xuyên phải vay mượn từ bạn bè, người thân hoặc hàng xóm để bù đắp chi tiêu.

Đặc biệt, báo cáo cũng cho thấy, không chỉ thiếu thốn về vật chất, tiền lương không đủ sống còn đem tới những hệ lụy về tâm lý, sức khỏe của người lao động và doanh nghiệp cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng. 

Chị Nguyễn Thanh Phụng 37 tuổi, hiện đang mắc bệnh tim mãn tính và huyết áp cao, sức khỏe rất kém vẫn thường xuyên phải làm thêm giờ chỉ để đạt đủ định mức và được hưởng mức lương tối thiểu.

Hay chị Hậu, công nhân may 27 tuổi – người hằng ngày vẫn tiếp tục cuộc sống tằn tiện, cần mẫn làm việc với cái bụng rỗng để tích góp từng đồng, vẫn đang chờ đợi những thay đổi tích cực và cụ thể hơn cùng với mong mỏi về một mức lương đủ sống, một tương lai tươi sáng cho họ và gia đình.

Theo ý kiến từ một quản lý sản xuất được phỏng vấn trong quá trình nghiên cứu: “Khi tâm lý ức chế hoặc không thoải mái thì năng suất và chất lượng công việc giảm, vì người lao động làm việc uể oải, không hứng thú. Nếu điều kiện lao động kém và lương quá thấp thì người lao động sẽ nghỉ việc để tìm kiếm cơ hội tốt hơn”.

“Lương không đủ sống” là một bóng đen đang phủ lên, kìm hãm sự phát triển của ngành may xuất khẩu Việt Nam và kéo dài chuỗi ngày sống khó khăn của những công nhân dù họ ngày ngày cần mẫn tới xưởng, thậm chí chấp nhận làm thêm giờ hay sống xa gia đình. 






SUY NGHĨ CỦA MỘT NGƯỜI MỸ GỐC VIỆT về THÁNG LỊCH SỬ NGƯỜI DA ĐEN (Nikki Chau, thành viên của Pivot)




Nikki Chau, thành viên của Pivot
22 Tháng 2 2019

Với một người Mỹ gốc Việt như tôi, Tháng Lịch Sử Người Da Đen (Black History Month) có nghĩa gì?

Các từ “Da đen”, “Người Mỹ gốc Phi châu”, và “Người Mỹ gốc Việt,” tự chúng đã là các tên gọi nặng nề. Ngay cả khi được sử dụng chỉ để đòi lại căn cước và phẩm giá, chúng vẫn đầy rẫy sự phân chia chủng tộc, dù là thời nay hay trong quá khứ. Suy ngẫm về lịch sử người Da đen, làm sao tôi có thể vượt qua cái hậu quả dã man của sức tưởng tượng và các chính sách của người da trắng Châu Âu đã bắt rễ từ hơn 500 năm trước?

Lịch sử của người Da đen bao gồm các nhà phát minh, nhạc sĩ, văn sĩ, thi sĩ, khoa học gia, kỹ sư, nhà đấu tranh, triết gia, lực sĩ, doanh thương và các vị lãnh đạo tài năng.

Lịch sử của người Da đen cũng bao gồm các nền văn minh rực rỡ, các nền văn hóa, các truyền thống tâm linh, các truyền thống ẩm thực, và các tác phẩm nghệ thuật vĩ đại.

Lịch sử của người Da đen ở Mỹ bao gồm những con người như sơ Rosetta Tharpe, người tiên phong trong dòng nhạc Rock & Roll; Octavia Butler, từng thắng giải thưởng thần đồng Mac Arthur và tác giả về khoa học giả tưởng, cũng như nhà toán học Katherine Johnson, người tiên phong trong ngành khoa học không gian và các điện toán, với các công trình thực hiện tại cơ quan NASA đóng vai trò then chốt cho phi thuyền Apollo đáp được xuống mặt trăng.

Lịch sử của người Da đen cũng bao gồm các thuộc địa và đế quốc. Lịch sử của người Da đen ở Mỹ bao gồm 500 năm của chế độ sở hữu nô lệ hợp pháp, tách ly chủng tộc, phân biệt khu vực sinh sống theo chủng tộc, và bỏ tù tập thể. Lịch sử của người Da đen tại Mỹ bao gồm những nhân vật như W. E. B. Du Bois, Harriet Tubman, và Rosa Parks. Đó là những nỗ lực còn đang tiếp tục để chống lại nạn kỳ thị chủng tộc, đấu tranh cho quyền dân sự và quyền làm người của người Da đen.

Trên cương vị một người Mỹ gốc Việt khi suy ngẫm về Tháng Lịch Sử Người Da đen, tôi liên tưởng đến lịch sử của Mỹ và Việt Nam, và làm thế nào người Mỹ gốc Việt có thể đồng minh với Người Da đen trong quá trình tranh đấu chung để đòi tự do và được giải phóng.

Sinh trưởng tại Việt Nam, tôi đã từng biết về “Mỹ” qua ba má tôi và những cuốn phim của Hollywood. Nước Mỹ là nơi mà ai ai cũng có tự do, nơi có đầy Ovaltine, sữa tươi và Coca Cola, và người nào cũng sống trong một căn nhà như trong phim “Home Alone”. Mỹ là nơi mà điều kiện sống tốt đến nỗi gia đình tôi – và ba triệu người khác – đã đánh cuộc bằng mạng sống của mình, khi bỏ xứ ra đi trên một chiếc thuyền để đến một xứ sở cách xa hơn 7.000 dặm Anh.

Sinh trưởng tại Việt Nam và Mỹ, ba má tôi thường dùng cụm từ “người Mỹ” để ngụ ý một người da trắng. Chúng tôi là người Việt, những người khác là Da đen, Trung Hoa, Nhật, Mễ, Phi-líp-pin, v.v. Nước Mỹ đương nhiên là xử sở của người da trắng. Phải nhiều năm sau, tôi mới thực sự hiểu lịch sử của Mỹ châu, và người da đen đã đến lục địa này bằng cách nào.

Người Bồ đào nha khởi xướng Cuộc Buôn Nô Lệ Xuyên Đại Tây Dương vào khoảng năm 1840. Người Tây ban nha mang những nô lệ từ Phi châu đến vùng đất bây giờ là tiểu bang South Carolina vào năm 1526. Các quốc gia Âu châu nhanh chóng theo chân. Theo ước lượng, khoảng 10 đến 12 triệu người Phi châu đã bị buộc lìa quê hương của họ từ thế kỷ 14 đến 17. Họ bị tải đi một cách tàn nhẫn qua 5.000 dặm Anh để lao động dưới các điều kiện khắc nghiệt ở trong các đồn điền sản xuất đường, thuốc lá, lúa và vải sợi. Nguồn nhân công miễn phí kéo dài hàng mấy trăm năm này đưa đến sự thịnh vượng và quyền lực vĩ đại cho Âu châu, người Âu châu và người Mỹ gốc Âu châu (những người đã bứng gốc người Da đỏ bản xứ để cướp đất của họ).

Khi tôi đề cập đến phần này của lịch sử Hoa kỳ với các người Mỹ gốc Việt khác, tôi thường nghe câu trả lời: “nhưng chuyện đó đã lâu lắm rồi.” Tôi hiểu tại sao họ ngại ngùng không muốn nghĩ đến đề tài đó.

Trong một Việt nam hậu chiến, ba tôi đã mất hết, mất tất cả các tài sản vật chất cũng như tinh thần. Ông đã bị tước đi quyền làm người. Ông đã cảm thấy bị làm nhục. Ông đã cảm thấy mất giá trị, đối với xã hội cũng như với chính mình. Ông đã mất quyền được di chuyển, được có việc làm, và được sống yên lành. Với ông và nhiều người tị nạn Việt nam, nước Mỹ là cơ hội thứ hai để khôi phục những gì họ đã đánh mất.

Ba má tôi thường nói về lòng biết ơn và chịu ơn những người đã giúp chúng tôi. Hiện tôi đang ở Việt nam và nhân dịp Tết, đến thăm viếng họ hàng và bạn của ba má không nghỉ. Tôi mệt rã rời vào cuối ngày. Khi trò chuyện với má, bà nhắc tôi ai đã tử tế với chúng tôi, đã cho chúng tôi mươn tiền, và ai đã cho chúng tôi ở nhờ hồi mấy thập niên trước. Cuộc thăm viếng vào dịp Tết này chỉ là sự trả ơn nhỏ nhoi nhất tôi có thể làm. “Mình trả ơn, con,” bà vẫn nói, “mình trả lại cái ơn họ đã cho mình.”

Tôi hiểu tâm trạng chịu ơn của người Việt với nước Mỹ. “Đất nước này đã cho gia đình tôi tất cả những gì chúng tôi hiện đang có” là câu nói tôi thường nghe. Tôi đóan rằng họ không muốn nghĩ về giai đoạn lịch sử xấu xa này tại Mỹ, với chế độ nô lệ và kỳ thị chủng tộc, vì họ cho làm thế là phản bội “ân nhân” của mình.

Nhưng “ân nhân” của chúng ta bao gồm cả người Da đen nữa. Máu, mồ hôi và nước mắt của người Da đen đã xây dựng nước Mỹ trong 350 năm mà họ không được đền bù gì. Người Da đen đã cống hiến rất nhiều cho Hoa kỳ và thế giới trong các lãnh vực như khoa học, kỹ thuật, âm nhạc và còn nhiều nữa, kể cả các quyền dân sự.

Vào ngày 1 tháng 2, 1960, khi bốn sinh viên Da đen bất chấp các luật lệ kỳ thị mang tên Jim Crow và ngồi ở một quầy ăn trưa “chỉ dành cho người da trắng”, họ đã châm ngòi cho cuộc đấu tranh về quyền dân sự dẫn đến Đạo Luật Di Dân và Quốc Tịch của năm 1965. Đạo luật này hủy bỏ các giới hạn di dân dựa trên chủng tộc đã được thiết lập từ năm 1917 để cấm người Châu Á được nhập cư vào nước Mỹ.

Đạo Luật Di Dân và Quốc Tịch đã cho phép các anh chị em họ của tôi, sau khi vượt biên trái phép bằng thuyền vào thập niên 1970, trở thành công dân Mỹ và sau đó bảo trợ cho ba má họ - dì và dượng tôi – được di dân hợp pháp đến Mỹ hai thập niên sau, và được rời Việt nam bằng máy bay. Luật này đã cho phép các đứa cháu tôi lớn lên trong tình thương của ông bà.

Người Da đen không chỉ là “ân nhân” và người đồng xứ sở của chúng ta, họ còn là thân nhân và gia đình nữa. Nhiều người Việt sau khi nhập cư, đã kết hôn với người từ các chủng tộc khác nhau. Nhiều gia đình gốc Việt hiện có thành viên lai: Việt lai Da đỏ bản xứ, Việt lai Phi-líp-pin, Việt lai Pháp, Việt lai Trung Nam Mỹ, và đương nhiên, Việt lai Da đen.

Chính một phụ nữ Da đen, Mildred Loving, đã khiến hôn nhân hỗn hợp chủng tộc tại Mỹ trở thành hợp pháp. Mildred Loving và người chồng da trắng bị đi tù khi họ kết hôn với nhau. Họ kiện tiểu bang Virginia và thắng kiện. Vào năm 1967, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ buộc hủy bỏ tất cả các bộ luật tiểu bang cấm cản hôn nhân hỗn hợp chủng tộc. Quyết định đó đã cho phép chính tôi được kết hôn hợp pháp cùng một người Mỹ gốc Âu châu với tổ tiên từ Ba lan và Đức. Cuộc hôn nhân này được tiểu bang California công nhận, trong khi má tôi và tôi hãnh diện mặc chiếc áo dài truyền thống của Việt nam.

Khi suy nghĩ về Tháng Lịch Sử Người Da Đen, tôi tự nhắc là chính người Việt cũng có nhiều sắc da khác nhau. Khi tôi có con, chúng sẽ là người Việt nam, hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ như trong truyền thuyết. Cùng lúc, con cái của người Da đen và Việt nam cũng sẽ là con rồng cháu tiên – hậu duệ của một thủy long và một sơn tiên.

Ngày nay, tôi hiểu rằng những gì tôi được kể về nước Mỹ khi còn bé chỉ đúng một phần. Không phải ai ở Mỹ cũng sống trong căn nhà như trong phim “Home Alone”. Mấy thế kỷ bất công xã hội và kinh tế đã tạo ra sự bất bình đẳng khổng lồ. Tài sản trung bình của một gia đình da trắng bằng 13 lần tài sản của một gia đình Da đen. Phần lớn tài sản này được chuyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Và đây chỉ là một trong nhiều hình thức bất công và kỳ thị mà người Da đen trên đất Mỹ vẫn phải tiếp tục đối diện cho đến bây giờ.

Bây giờ là năm 2019, mà người Da đen vẫn còn phải tranh đấu để được đối xử công bằng dưới luật pháp; người Da đen vẫn còn phải tranh đấu để có cơ hội giáo dục tương đương. Trước đây không lâu, người Da đen đã không được đi học cùng trường với người da trắng. Ruby Bridges, học sinh Da đen đầu tiên được học ở một trường da trắng, ra đời bốn năm sau má tôi.

Suy ngẫm về Tháng Lịch Sử Người Da Đen, tôi nhớ rằng ba má tôi mang tôi đến Mỹ để có được cơ hội học hành và kiếm việc làm tốt hơn, và mục tiêu của Chính Sách Nâng Đỡ Những Người Từng Chịu Bất Công (Affirmative Action) cũng là mang các cơ hội đó đến với những anh chị em da màu, như nhà thơ Langston Hughes đã từng viết, “Chính tôi cũng hát về Nước Mỹ.”

Là người Việt, tôi thường được nhắc nhở về lịch sử của mình. “Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu,” tôi nghe thế. “30 tháng tư,” ba tôi vẫn nhớ ngày đó hàng năm. Từ khi còn là một đứa con gái nhỏ, tôi được dạy phải thắp nén hương trên bàn thờ để tưởng nhớ tổ tiên và những gì họ đã làm trong mỗi dịp cúng giỗ. Là người Mỹ cũng thế, tôi có trách nhiệm hiểu biết về lịch sử của người Da đen, quá khứ và hiện tại, bởi vì lịch sử của người Da đen chính là một phần không thể thiếu của lịch sử Hoa kỳ.

Má tôi thường nói “sống có tình có nghĩa” và bảo tôi cần “nhớ ơn.” Là người Mỹ gốc Việt, Tháng Lịch Sử Của Người Da Đen có nghĩa tôi cần công nhận sự đóng góp của người Da đen cho xã hội và các đóng góp này đã cho tôi một số quyền lợi; nó có nghĩa tôi cần công nhận vai trò và trách nhiệm của mình trong cuộc đấu tranh cho công lý và công bằng; nó đòi hỏi tôi phải tự xét để hiểu về những định kiến kỳ thị người Da đen đã có sẵn trong tôi; và nó kêu gọi tôi đòi hỏi nước Mỹ phải tôn trọng bản Tuyên Ngôn Độc Lập, đã ghi rằng tất cả mọi người đều có các Quyền không thể tách rời về Sự Sống và Tự do. Tôi mong mỏi nhiều người Mỹ gốc Việt tham gia cùng với tôi trong nỗ lực này.

Ghi chú của tác giả: Các giống người di dân từ Phi châu rất đa dạng và có xuất xứ khác biệt và phong phú nhất trong tất cả các chủng tộc khác ở Mỹ châu. Tôi cố tình chọn các từ “Da đen”, “bà con Da đen”, “người Da đen”, thay vì “Người Mỹ gốc Phi châu” để công nhận sự phong phú và đa dạng về nguồn gốc chủng tộc và lịch sử di dân của họ.

Chân dung tác giả








LÝ DO HỘI NGHỊ HOA KỲ- BẮC HÀN TẠI HÀ NỘI THẤT BẠI (Trần Củng Sơn)




28/02/2019

Chưa bao giờ thủ đô Hà Nội tổ chức đón tiếp khách quốc tế một cách tưng bừng như vậy. Phải đóng quốc lộ 1, con đường chính của Việt Nam, từ ga xe lửa Đồng Đăng tỉnh Lạng Sơn về Hà Nội, dài 170 cây số để dành riêng cho đoàn xe đưa đón Kim Yong Un- Chủ tịch Bắc Hàn. 

Tổng thống Mỹ Donald Trump thì đến sau vào buổi tối tại phi trường Nội Bài nên nghi lễ đón tiếp đơn giản.

Điều hãnh diện cho Việt Nam là trong mấy ngày trước và trong hai ngày hội nghị Hoa Kỳ- Bắc Hàn diễn ra thì nơi đây trở thành tin nóng hổi được cả thế giới chú ý với mấy ngàn phóng viên quốc tế đến làm tin.

Hà Nội đã vui, tự tin sẽ trở thành địa điểm lịch sử cho buổi lễ ký kết hiệp ước giải trừ hạt nhân của Bắc Hàn với Hoa Kỳ. Nhưng niềm vui đang dâng cao bỗng hụt hẫng vì buổi trưa Thứ Năm 28-2-2019, cuộc họp giữa Trump và Un cắt ngắn giữa chừng, cả hai bỏ ăn trưa và chia tay ai nấy về khách sạn. 

Buổi lễ ký kết hủy bỏ, thay vào đó, Tổng thống Donald Trump mở cuộc họp báo cho biết là hai bên không đạt được thỏa thuận nào. Lý do chính là Bắc Hàn đòi Hoa Kỳ gỡ bỏ cấm vận hoàn toàn trước khi bàn chuyện tháo dỡ các võ khí nguyên tử. Và Donald Trump không đồng ý, cuộc họp tan vỡ.

Nếu so sánh hội nghị Trump- Un lần đầu tại Singapore tháng 6-2018 và hội nghị lần hai tại Hà Nội thì lần 1 được coi là thành công vì mở ra một bước mới hợp tác, hứa hẹn tương lai cho lần gặp gỡ kế tiếp.

Hội nghị lần 2 coi như thất bại vì hai bên đã có thời gian chuẩn bị, thương thảo những chi tiết để hai vị nguyên thủ quốc gia gặp nhau tại Hà Nội mà ký kết hiệp ước mà thôi.

Thời xưa phương tiện truyền thông hạn chế, hai vị vua phải mặt đối mặt để bàn luận, bây giờ có điện thoại tha hồ thảo luận các điều kiện trước khi tham dự hội nghị. Tại sao lại xảy ra chuyện bất ngờ như vậy?

Phải chờ thêm thời gian để người ta biết thêm các chi tiết ẩn giấu đàng sau đưa đến sự thất bại của Hanoi Summit 2019.

Trước hội nghị nhiều tháng, Hoa Kỳ đã tuyên bố đòi Bắc Hàn phải tháo gỡ các phương tiện liên quan đến vũ khí nguyên tử và phi đạn thì sau đó mới bỏ cấm vận kinh tế. Đây là điều kiện bắt buộc. Vì nếu Hoa Kỳ bỏ cấm vận trước mà Bắc Hàn vẫn lén lút duy trì và tiếp tục phát triển vũ khí thì coi như Hoa Kỳ thiệt thòi.

Nhưng nếu Bắc Hàn hủy bỏ các vũ khí nguyên tử và phi đạn thì sau đó họ được gì? Câu trả lời là mấu chốt của vấn đề, đây là chính sách Bắc Hàn.

Cả thế giới nể nang Bắc Hàn là vì họ có phi đạn và vũ khí nguyên tử- báo chí còn gọi là vũ khí hạt nhân. Nếu dẹp bỏ bảo bối này thì Bắc Hàn chẳng còn gì để nhắc tới.

Donald Trump tuyên bố rằng Bắc Hàn có tiềm năng kinh tế lớn lao, nếu họ quyết tâm bỏ phi đạn và vũ khí nguyên tử thì Hoa Kỳ sẽ giúp tài chánh để phát triển kinh tế.

Câu nói này cần xem xét.

Thứ nhất là Bắc Hàn thành công trong việc cai trị độc tài và phát triển vũ khí phi đạn nguyên tử có thể bắn tới Mỹ, nhưng chưa chắc đã thành công trong việc xây dựng kinh tế. Vì hai công việc khác nhau, mỗi công việc đòi hỏi những điều kiện khác nhau.

Thứ nhì là thời gian trị vì của tổng thống Mỹ chỉ tối đa là 8 năm, bây giờ ông Trump hứa giúp, nhưng khi tổng thống khác lên thay thế thì chính sách cũng thay đổi. Và tổng thống Mỹ cũng chưa nắm quyền hành tuyệt đối vì còn có Quốc hội. Một thí dụ rõ ràng nhất là trong lúc Donald Trump đang ở Hà Nội để bàn việc giải trừ vũ khí hạt nhân với Bắc Hàn thì tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, luật sư riêng của Trump ra trước Quốc Hội để tố cáo ông. Đây là một thách đố, một nghiệt ngã của chính trị và nói lên sự chia rẽ của chính trường Mỹ quốc hiện tại.

Người ta còn nhớ tới lời hứa của Tổng thống Nixon sẽ giúp bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa khi thúc đẩy ký kết hiệp định Paris 1973, nhưng một năm sau thì ông từ chức và Quốc hội Mỹ đã cắt viện trợ hoàn toàn. Bài học lịch sử đó nhiều người Việt Nam vẫn không quên.

Tại sao hội nghị Hoa Kỳ- Bắc Hàn 2019, báo trong nước gọi là  Mỹ- Triều, thất bại?

Trong họp báo tại Hà Nội, Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói rằng phía Bắc Hàn đã không chuẩn bị đầy đủ để tiến tới việc ký kết.
 
Có thêm một số suy luận như sau :

-  Bắc Hàn đã ỡm ờ, hứa hẹn chuyện giải trừ vũ khí nguyên tử trong những lần đối thoại với Hoa Kỳ trước đó và trong hội nghị Hà Nội đã yêu cầu gỡ bỏ hoàn toàn cấm vận. Đây là một nước cờ, một chiêu thức bất ngờ để đẩy đối phương vào thế bị động. Tổng thống Trump coi hội nghị này là một điểm son để ông đạt uy tín cao, đi vào lịch sử hòa bình thế giới. Trước đó ông đã tuyên bố rằng không gấp gáp đòi Bắc Hàn giải trừ vũ khí nguyên tử…

Và Donald đã từ chối, hội nghị bế tắc, tan vỡ. Phía Bắc Hàn đã đẩy Hoa Kỳ vào thế bị động rằng chính Hoa Kỳ đã từ chối đề nghị của họ. Đây là một thủ đoạn ngoại giao, một mánh khóe trong lúc thương thảo. Bắc Hàn đã có cố vấn Trung Quốc mách nước, chỉ đạo. Nhưng Donald Trump cũng là người kinh nghiệm trong thương trường- Người xưa nói thương trường là chiến trường quả không sai.

Từ lúc họp báo cho đến lúc đứng trên máy bay giã từ Việt Nam, tổng thống Hoa Kỳ không nở nụ cười. Có thể mệt mỏi, ông đã trên bảy mươi tuổi, và có thể ông đã không đạt được điều mong muốn là ký kết được văn kiện giải trừ vũ khí nguyên tử Bắc Hàn để ông đi vào lịch sử.

Để biện hộ cho sự thất bại, Tổng thống Trump đã nhiều lần nói rằng chính ông đã mở con đường đối thoại với Bắc Hàn; điều mà các đời tổng thống trước không làm. Dù sao thì sự căng thẳng thù nghịch giữa hai nước đã giảm bớt; đó là điểm cộng của ông.
 
Tóm lại, câu chuyện giải trừ vũ khí nguyên tử và phi đạn của Bắc Hàn là điều hầu như không thể và nếu đạt được thì cần rất nhiều năm. Yếu tố Trung Quốc rất quan trọng vì Bắc Hàn được coi là chư hầu. Phải nhớ rằng Tàu và Nga lúc đầu đã giúp Bắc Hàn chế võ khí và với sự quyết tâm Bắc Hàn đã đạt được nhiều vũ khí như vậy.

Hội nghị thất bại nhưng Kim Yong Un thêm nổi tiếng khắp thế giới, một lãnh tụ trên 30 tuổi của một quốc gia không lớn lắm, đứng ngang hàng, bắt tay, bàn bạc tay đôi với Donald Trump, tổng thống Hoa Kỳ. Và chiêu thức giải trừ vũ khí nguyên tử Bắc Hàn của Trump từ đây đã không còn ăn khách nữa.

Người dân Hà Nội nao nức với hội nghị Hoa Kỳ- Bắc Hàn cuối tháng 2 năm 2019. Niềm vui chưa trọn thì Donald Trump vội vã giã từ buồn hiu. Kim Yong Un ở lại thêm 2 ngày trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam. Nhưng nhân vật chính đã ra về, Hà Nội có còn tưng bừng tiếp khách. Vui và buồn lẫn lộn cho Ha Noi Summit- Mỹ- Triều 2019.

-----------------------------



Trước khi Trump-Kim gặp nhau lần thứ nhất ở Singapore năm ngoái, tôi đã nói với các bạn tôi rằng các cuộc hội đàm Trump-Kim đều sẽ thất bại, vì:

1/ Kim chỉ có lá bài duy nhất là vũ khí nguyên tử, nếu hắn vất lá bài đó thì kể như hắn thua sạch tay, nên hắn nhất định sẽ không bỏ trước khi Mỹ hoàn toàn gỡ bỏ cấm vận.

2/ Ngược lại, Trump thì muốn Kim dẹp bỏ ngay vũ khí nguyên tử, để hắn có cơ hội gáy rằng hắn là kẻ đầu tiên mang lại hoà bình cho bán đảo Triều Tiên (rồi hắn hy vọng lãnh giải Nobel Hoà Bình, điều mà hắn luôn luôn mơ ước).

Năm ngoái, ngay sau cuộc hội đàm lần đầu tiên ở Singapore, Trump đã gân cổ gáy rằng, Kim “sẽ nhanh chóng dẹp bỏ hoàn toàn vũ khí nguyên tử”, mặc dù hiển nhiên là Kim vẫn duy trì vũ khí nguyên tử. Thế rồi Trump nhờ Thủ tướng Nhật Abe đề cử giải Nobel Hoà Bình cho Trump. Tất nhiên, chẳng ai ngu mà trao giải Nobel Hoà Bình cho một màn hát xiệc dỏm.
Thế nhưng Trump lại tiếp tục gáy rằng nhờ Trump mà nước Mỹ khỏi sợ bị Kim tấn công bằng hoả tiễn nguyên tử, mặc dù ai cũng biết rằng Kim không bao giờ dám tấn công nước Mỹ, và thực ra Kim không bao giờ có đủ sức tấn công nước Mỹ. Những lời “hăm doạ” của Kim trước đây chỉ là trò diễu võ dương oai rởm để lên gân với nhân dân Bắc Hàn rằng “đại lãnh tụ kính yêu rất ư là vĩ đại, sẵn sàng tấn công tiêu diệt nước Mỹ!”.

Lần này Trump hớn hở tổ chức hội đàm với Kim tại Hà Nội, gọi Kim là “bạn của tôi”, rồi dụ dỗ Kim vất bỏ vũ khí nguyên tử để được “phồn thịnh” như Việt Nam, vì “ít có nơi nào trên trái đất mà đang phồn thịnh như Việt Nam”!

Tay bắt mặt mừng, chén chú chén anh, tưởng là sẽ dụ dỗ được thằng nhỏ. Nào ngờ nó vẫn khăng khăng đòi Mỹ hoàn toàn gỡ bỏ cấm vận trước đã, rồi nó mới giải quyết chuyện vũ khí nguyên tử sau. Thế là Trump hụt cẳng. Buổi ăn trưa chung và lễ ký kết hiệp ước bị huỷ bỏ. Đường ai nấy đi.

Ấy vậy mà Trump còn cố nói với vát rằng “tôi thà làm chuyện đó cho ngon lành, còn hơn là làm vội vàng” (“I’d much rather do it right than do it fast”). A ha, nghe mà chết cười!

*
ABC.NET.AU
The nuclear summit between Donald Trump and Kim Jong-un collapses after the two sides fail to reach a deal.

*Top of Form

*
*Bottom of Form


-----------------------------

2 giờ · 
Có người nói rằng, việc Trump cầm cờ CHXHCNVN cũng chẳng sao, vì sau đó Trump trao cho TT Nguyễn Xuân Phúc lá cờ Mỹ và do đó... huề cả làng!
Thực ra, việc NXP cũng vẫy lá cờ Mỹ làm cho cử chỉ của Trump còn có ý nghĩa tệ hơn.
Nếu chỉ mình Trump phất cờ, thì có thể nghĩ rằng đó là 1 cử chỉ tùy hứng, ngẫu nhiên, không định trước (unpremeditated). Nhưng việc 2 người phất cờ của nhau là rõ ràng có kế hoạch bàn định trước giữa hai bên. Hai lá cờ cùng cỡ, cùng loại cán,  rõ ràng là sản xuất theo mẫu chung hay bởi 1 hãng.
Tóm lại đó là một màn diễn có sửa soạn trước để bày tỏ sự thân thiết giữa hai nước.






CHÂN DUNG & DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM QUA HỘI NGHỊ TRUMP - KIM (Nguyễn Gia Kiểng)




28/02/2019

Donald Trump và Kim Jong-un đang gặp nhau tại Hà Nội để thương thuyết giải trừ vũ khí nguyên tử trên bán đảo Cao Ly. Tác dụng tức khắc của cuộc gặp gỡ này là khiến chính quyền cộng sản Việt Nam hãnh diện. Nó cũng được một số người Việt Nam tự coi là dân chủ nhìn như một cơ hội và một hy vọng.

Donald Trump được Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc long trọng tiếp đón tại Hà Nội. Ảnh minh họa

Hình ảnh của chính quyền cộng sản Việt Nam chắc chắn là khá hơn trong lúc này bởi vì bất cứ một nước chủ nhà nào cũng gây được thiện cảm khi tiếp đãi một hội nghị có mục tiêu giảm bớt căng thẳng và tăng cường hòa bình. Ngành du lịch Việt Nam sẽ chỉ có thể có lợi và quan hệ thương mại với Mỹ sẽ không gặp khó khăn ít nhất trong một thời gian. Hơn nữa chính quyền cộng sản Việt Nam còn được tổng thống Mỹ ca tụng như một mẫu mực thành công hiếm có, sau khi được phát ngôn viên bộ ngoại giao Mỹ đánh giá như là như là một bạn thân, close friend.

Tuy nhiên ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam sẽ rất sai lầm nếu quá hân hoan. Thiện cảm ban đầu có thể nhanh chóng qua đi nhường chỗ cho một cái nhìn chán ghét, thậm chí một sự lên án nghiêm khắc.

Donald Trump và Kim Jong-un giả náo động Hà Nội trước khi Donald Trump và Kim Jong-un thật xuất hiện - Ảnh minh họa

Việt Nam có vinh dự gì khi tiếp đón long trọng Trump và Kim ? Kim Jong-un đang là nguyên thủ quốc gia đáng ghét nhất và cũng bị ghét nhất thế giới. Một người hung bạo đã hành quyết chú mình, đồng thời cũng là thầy và cố vấn của mình, bằng đại bác, đã ám sát anh ruột mình bằng hơi độc tại phi trường Kuala Lumpur, đã giết vô số người khác và đã đẩy dân tộc mình xuống đáy vực đói khổ. Một người vô văn hóa với tâm hồn của một con rắn độc. Phải là Donald Trump mới có thể coi Kim Jong-un là một bạn thân và một thiên tài.

Donald Trump là tổng thống Mỹ duy nhất hoàn toàn không hề có một ưu tư nào về tự do, dân chủ, nhân quyền và các giá trị đạo đức. Trump coi các nước dân chủ như đối thủ và ca tụng các chế độ độc tài. Ông ăn nói thô lỗ bộc lộ một tâm hồn nhớp nhúa. Không một nước văn minh nào mời ông thăm viếng. Ông phá mọi kỷ lục của một tổng thống Mỹ có cộng sự viên bị truy tố vì gian dối và chính bản thân ông cũng đang bị điều tra. Chưa bao giờ một tổng thống Mỹ chia rẽ nước Mỹ như Trump và cũng chưa bao giờ một tổng thống Mỹ bị khinh thường như ông.

Kim Jong-un được Việt Nam long trọng tiếp đón khi vừa ra khỏi toa xe lửa. Ảnh AFP

Có bao nhiêu quốc gia chấp nhận trải thảm đỏ cùng một lúc dưới chân hai con người như thế ? Nhất là cuộc thương thuyết này vừa không quan trọng vừa khó có kết quả. Không quan trọng vì Triều Tiên (Bắc Cao Ly) chỉ dọa chứ không dám và cũng không thể chế tạo vũ khí nguyên tử ở mức độ thực sự nguy hiểm, bằng cớ là Nhật và Hàn Quốc (Nam Cao Ly), hai nước trên nguyên tắc bị đe dọa nhất không nhiệt tình với cuộc thương thuyết này. Khó có kết quả vì đe dọa vũ khí nguyên tử là tất cả tài sản của chế độ Triều Tiên ; bỏ đe dọa này nó không còn gì, kể cả khả năng tồn tại.

Chế độ cộng sản Việt Nam sẽ khó hy vọng được coi là đã có công đóng góp cho hòa bình trong vùng. Trái lại nhờ hội nghị Trump – Kim này từ nay thế giới sẽ chú ý nhiều hơn tới Việt Nam. Để thấy rõ chân dung của một đất nước đang quằn quại dưới một chế độ chà đạp nhân quyền một cách cực kỳ thô bạo, một chế độ có thể dựa vào những bản cáo trạng rất tùy tiện và vớ vẩn để kết án mười năm tù những phụ nữ có con thơ.

Ban lãnh đạo cộng sản Việt Nam đã có lý khi cố gắng tách dần khỏi quỹ đạo Trung Quốc và sáp lại với Mỹ nhưng họ sẽ rất sai lầm nếu nghĩ rằng có thể giữ quan hệ mật thiết với Mỹ mà vẫn giữ nguyên chế độ độc tài toàn trị. Điều này đúng với Donald Trump nhưng Donald Trump chỉ là một ngoặc đơn ngắn đang đóng lại trong chính trị Mỹ.

Điều đáng buồn cần được nói ra nhân cuộc gặp gỡ này là cung cách của một số trí thức Việt Nam tự nhận là dân chủ.

Có những người ủng hộ Trump một cách cuồng nhiệt và vô điều kiện. Một người dân chủ Việt Nam có lý do gì để ái mộ một người vô đạo đức, coi thường dân chủ và coi thường mọi nước nghèo như Trump ? Chân dung của người dân chủ Việt Nam phải rõ rệt. 

Cũng có những người thấy nên gửi thư thỉnh cầu Trump giúp đỡ Việt Nam có dân chủ hay để chống lại chính sách bành trướng bá quyền của Trung Quốc. Hoàn toàn vô ích, Trump chống Trung Quốc hay thân Trung Quốc chỉ tùy theo ông ta nghĩ thế nào là có lợi cho Mỹ và cho uy tín cá nhân của ông. Cầu khẩn Trump chỉ khiến dáng đứng của mình mất thẩm mỹ.

Hiện tượng Donald Trump và hội nghị này cho thấy một sự thật đáng buồn là những người dân chủ chân chính không nhiều. Có những người tưởng lầm mình là người dân chủ và cũng có những người dân chủ chưa hiểu rằng vũ khí duy nhất nhưng vô địch của cuộc vận động dân chủ là lẽ phải và niềm tin.

Lẽ phải và niềm tin thể hiện qua chân dung và dáng đứng của những người dân chủ hôm nay. Đó cũng sẽ là chân dung và dáng đứng của đất nước ngày mai.

Nguyễn Gia Kiểng
(27/02/2019)






'CHÚNG TA TỐT HƠN THẾ NÀY NHIỀU!' (Y Chan - Luật Khoa)





28/02/2019

Những người theo dõi cuộc điều trần của Michael Cohen, cựu luật sư riêng của Tổng thống Donald Trump, trước Ủy ban Giám sát Hạ viện Hoa Kỳ vào tối qua 27/2/2019 (theo giờ Việt Nam) đều có cảm giác mình đang xem một trận bóng đá, nơi hai đội thi nhau tấn công qua lại suốt hơn bảy tiếng đồng hồ.

Michael Cohen, cựu luật sư riêng của Tổng thống Mỹ Donald Trump, trong phiên điều trần tại Uỷ ban Giám sát của Hạ viện Mỹ, ngày 27/2/2019. Ảnh: AP Photo/Alex Brandon

Michael Cohen là cựu luật sư của Trump suốt hơn 10 năm, đã nhận tội và bị kết án ba năm tù vào tháng 12/2018 vì các tội danh liên quan đến việc vi phạm các quy định tài chính trong chiến dịch tranh cử của Trump (dùng tiền tranh cử mua chuộc sự im lặng của những cô gái tố cáo có quan hệ tình dục với Trump), và nói dối trước Quốc hội về dự án xây dựng cao ốc của Trump có liên quan đến người Nga.

Cohen thú nhận ông phải trả giá vì đã “trung thành mù quáng” với Donald Trump. Và giờ ông muốn “chuộc tội”, chấp nhận yêu cầu của Hạ viện ra điều trần để “kể sự thật”.

Chủ tịch Uỷ ban Elijah Cummings, người từng kề vai sát cánh với mục sư Martin Luther King trong phong trào Dân quyền Mỹ những năm 1960, tổng kết sau một ngày kịch tính, “tôi không biết liệu người ta có còn tin anh (Cohen) hay không”, nhưng “nếu đất nước này không cho những ai phạm lỗi cơ hội để thay đổi cuộc đời mình, sẽ có rất nhiều người mắc kẹt không tìm được đường ra.”

Những lời của Cohen có thuyết phục được những người vẫn luôn thề sống chết với Tổng thống Trump hay không không phải là vấn đề quan trọng nhất. Bất kể những tiết lộ đó là về chuyện Trump đã chỉ đạo thế nào việc dùng tiền tranh cử bịt miệng những cô người mẫu, cùng với các chi phiếu làm bằng chứng (hành vi vi phạm pháp luật mà trước đó Trump luôn khẳng định “không biết gì cả”), hay chuyện Trump nói “không biết gì” về các cuộc gặp với người Nga trong tòa cao ốc của mình vào năm 2016 trong chiến dịch tranh cử, nhằm tìm cách liên kết hạ bệ ứng viên của đảng Dân chủ (Cohen tiết lộ Trump nhận được báo cáo về nó ít nhất hai lần trước khi cuộc gặp diễn ra), hoặc chuyện Trump chỉ đạo thổi phồng tài sản của mình để nằm trong danh sách các tỉ phú giàu nhất của tạp chí Forbes, và “đại hạ giá” cũng những tài sản đó để tránh nộp thuế, hay chuyện có vẻ vô thưởng vô phạt như Trump cảnh cáo kiện những trường học cũ nếu dám tiết lộ thành tích học tập “siêu hạng” của mình.
Vấn đề quan trọng nhất, đối với những người muốn tìm hiểu chân tướng về tất cả mớ lùng bùng này, đó là sự thật cuối cùng cũng được trao cho cơ hội lên tiếng.

Tất nhiên sẽ là ảo tưởng, và sai lầm, nếu chỉ lấy lời của một người làm bằng chứng chống lại người khác, cho dù có vật chứng đi kèm, đặc biệt là khi người tố cáo đã có thành tích bất hảo trước đó. Nhưng đây là lần đầu tiên một người trong “băng của Trump” được gọi ra điều trần công khai trước Quốc hội để trả lời về những thắc mắc nhức nhối bấy lâu. Và chắc chắn đó không phải người cuối cùng. Những cái tên được Cohen nhắc đến, những cộng sự khác của Trump, và cả người nhà của ông, sẽ được xướng lên trong thời gian tới.

Phiên điều trần căng thẳng của Micheal Cohen trước Uỷ ban Giám sát của Hạ viện, với các đảng viên Dân chủ và Cộng hoà đấu qua đấu lại. Ảnh: Your News Now.

Vì sao phải chờ tới bây giờ mới bắt đầu yêu cầu những nhân vật này ra điều trần? Tại sao không làm sớm hơn?

Là vì chỉ sau khi phe Dân chủ giành được đa số ở Hạ viện (sau bầu cử giữa kỳ vào tháng 11/2018), họ mới có đủ thẩm quyền yêu cầu triệu tập những người có liên quan đến điều trần. Trước đó, trong suốt thời gian đảng Cộng hòa nắm giữ đa số cả lưỡng viện, không có bất kỳ động thái nào từ Quốc hội để làm cho ra lẽ những lùm xùm nghi vấn này.

Đa số những người Cộng hòa vẫn xác quyết với niềm tin: phải bảo vệ người theo phe của mình đến cùng. Đây không phải đặc điểm riêng của Cộng hòa. Nhiều người của đảng Dân chủ cũng thuộc lòng lối tư duy đó.

Tính phe phái (partisanship) là một đặc trưng nổi bật của nền chính trị Mỹ.

Trong phiên điều trần này, mỗi khi dân biểu Dân chủ lên tiếng đều hỏi xoáy vào những thông tin về Trump, thì dân biểu Cộng hòa tới phần của mình lại dành phần lớn thời gian đả kích tư cách cá nhân người làm chứng Cohen.

Điều tương tự cũng diễn ra ở những phiên điều trần trước đó, gần đây nhất là vụ việc ứng viên cho vị trí thẩm phán của Tối cao pháp viện Brett Kavanaugh và người tố cáo ông tấn công tình dục Christine Blasey Ford cùng ra điều trần ở Thượng viện. Các dân biểu thuộc hai đảng lần lượt hoan hô “người phe ta”, xỉa xói “người phe địch”, và không ngần ngại trao cho nhau những lời chỉ trích thẳng thừng nhất. Có những lúc người xem, đặc biệt ở những nước như Việt Nam, cảm giác ngột ngạt khó thở thay cho họ.

Nhưng người Mỹ thì lại quá quen với việc này. Thẳng thừng không giữ kẽ, công khai không che giấu, bảo vệ tới cùng thứ mình tin tưởng, đó là những yêu cầu của cử tri, và các dân biểu chỉ đơn giản đang đại diện cho những người đã bầu mình lên. Họ đòi hỏi quyền lợi cho cử tri của mình, cho dù đòi hỏi đó có thỏa đáng hay không. Họ giận dữ cho những bức xúc của cử tri, cho dù bức xúc đó có hợp lý hay chưa.

Giống như một trận bóng đá, hai đội thi nhau bộc lộ hết tất cả những gì mình có trên sân bóng. Thứ làm người xem chán ghét nhất không phải là một trận đấu dở, mà là một trận đấu giả, nơi các cầu thủ dàn xếp, đóng kịch, bán độ, diễn theo kịch bản.

Cũng giống như trong trận bóng, ngoài mục tiêu chiến thắng cho phe mình, mọi người đều ý thức đề cao tinh thần chơi đẹp (fair-play). Chiến thắng sẽ bị la ó nếu giành được bằng những thủ đoạn xấu xa. Ở chính trường Mỹ, nếu chọn phe (partisanship) là để chiến thắng, thì hợp tác (bipartisanship) là một kiểu chơi đẹp giống vậy.

Họ biết rằng đến cuối ngày, nếu không hợp tác thì sẽ không có kết quả gì tốt đẹp.

Sự hợp tác này thể hiện ngay từ cách các dân biểu tôn trọng tuyệt đối quyền được lên tiếng của người khác, dù rằng họ chống đối gay gắt từng câu từng chữ từng ngụ ý trong những lời đó.

“Tôi phản đối những gì anh nói, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền được nói của anh”, đây là lời của Evelyn Beatrice Hall, một nhà văn người Anh (chứ không phải của Voltaire như nhiều người nhầm lẫn). Nó được xem là một trong những kim chỉ nam hành xử cho tất cả những con người tự do, văn minh. Nguyên tắc này không phải chỉ trao cơ hội cho người khác, mà đó là nguyên tắc bảo vệ cơ hội lên tiếng của chính mình.

Khi đóng lại phiên điều trần của Cohen, Chủ tịch Elijah Cummings đã hi vọng đây là bước đầu tiên để có “một Michael Cohen tốt hơn, một Donald Trump tốt hơn, một nước Mỹ tốt hơn, và một thế giới tốt hơn”, đơn giản vì “chúng ta tốt hơn thế này nhiều!”.

Một khi vẫn còn bảo vệ đến cùng quyền được lên tiếng, bất kể tiếng nói đó đối nghịch hoàn toàn với mình, và quyền được biết sự thật, bất kể sự thật đó chói tai gai mắt đến mức nào, người Mỹ, hay người dân ở bất kỳ nơi nào trên trái đất, sẽ luôn có cơ hội đó: trở thành những người “tốt hơn thế này nhiều”.






THÁNH SỬ NHÀ HỌ KIM (Võ Văn Quản - Luật Khoa)




Võ Văn Quản  -  Luật Khoa
27/02/2019

Năm 1994, khi Bắc Triều Tiên rơi vào nạn đói trầm trọng đến mức cộng đồng quốc tế phải lo ngại, chính quyền nước này chợt nhận ra rằng họ cần chi hàng triệu USD vào việc trùng tu tỉnh tháp của lăng Tangun, người sáng lập ra vương triều Kojoson trong huyền sử Triều Tiên.

Cha con Kim Il-Sung (Kim Nhật Thành) và Kim Jong-Il (Kim Chính Nhật) sừng sững, hiên ngang giữa thủ đô Bình Nhưỡng. Ảnh: EPA

Vì sao lăng của Tangun, một vị vua được tương truyền trị vì vào năm 2.333 trước Công Nguyên lại quan trọng đến như vậy?

Khác với hầu hết các vương triều trên bán đảo Triều Tiên đều nằm gần Seoul, thủ đô của Đế vương Tangun nằm gần Bình Nhưỡng (Pyongyang). Và trong cuộc đua tranh giành chính danh với Hàn Quốc vào những thập niên 1990 – đầu những năm 2000 để đại diện cho toàn bộ bán đảo Triều Tiên mà trong đó Hàn Quốc có vẻ đang thắng thế, Bình Nhưỡng lục lại lịch sử dân tộc để tìm ra cách giải thích cho tính chính danh của mình.

Truyền thuyết của người Triều Tiên về Tangun có nhiều dị bản, nhưng nhìn chung đều nói về nguồn gốc “người trời” của Tangun nói riêng và người Triều Tiên nói chung (bao gồm cả Hàn Quốc).

Theo một phiên bản được từ điển Britannica ghi nhận, Hwanung (Đàn Quân) rời thiên đàng xuống Thánh đỉnh Paektu (hay Baektu) để cai trị địa giới. Trong lúc này, một con hổ và một con gấu đến gặp Hwanung và thể hiện mong ước được có hình thù của người trời. Hwanung căn dặn để có được hình thù này, cả hai con thú phải vào sâu trong hang động không có ánh mặt trời và không được ăn thịt trong suốt 100 ngày. Con hổ không đủ kiên nhẫn và bỏ đi. Con gấu ở lại và hóa thành một người phụ nữ xinh đẹp. Người này sau này trở thành mẫu thân của Tangun, thụ thai sau khi nhận được một hơi thở từ Đàn Quân. Tộc người Triều Tiên và các vương triều Triều Tiên bắt đầu từ đây.

Truyền thuyết này có tính quan trọng tương tự như câu chuyện Âu Cơ – Lạc Long Quân tại Việt Nam. Nếu người Kinh có nguồn gốc “Con Rồng, Cháu Tiên”, người Triều Tiên là truyền nhân trực tiếp của “người trời”.

Và gia đình họ Kim tìm cách gắn mình với nguồn gốc “người trời” này.

Thánh sử bắt đầu

Năm 1997, Bắc Triều Tiên đưa vào sử dụng một bộ lịch mới, gọi là lịch Juche. Năm đầu tiên tính theo lịch này là năm Chủ tịch Kim Nhật Thành ra đời, tức là  năm 1912 (đồng nghĩa với việc năm nay là năm 108 tại Bắc Triều Tiên, không phải 2019). Ông được ca tụng là người giáng trần từ thiên đàng với tư cách Tangun tái thế, được thiên định sẽ bắt đầu và xây dựng lại lịch sử và nhà nước trên toàn bán đảo Triều Tiên sau khi nó bị chủ nghĩa đế quốc quân phiệt Nhật Bản làm cho ô uế.

Thánh sử (hagiography) của gia đình họ Kim bắt đầu.

Gia đình đầy “khí chất” thánh thần gồm Kim Il-Sung (Kim Nhật Thành – Quốc phụ), Kim Jong-Il (Kim Chính Nhật) trên ngựa trắng và Quốc mẫu Kim Jong-suk (Kim Chính Thục) trên ngựa nâu. Ảnh: KCNA.

Ba đời lãnh đạo Triều Tiên nhà họ Kim không đơn thuần chỉ là những thiên tài, họ được mô tả là có tài năng và khí chất của thần thánh.

Đối với Kim Nhật Thành, ông kể rằng mình đã nắm tay thề quyết tâm đánh bại chủ nghĩa đế quốc vào năm lên năm, khi đang chơi… xích đu với mẹ.

Năm lên sáu, Kim Nhật Thành tự nguyện tham gia cuộc biểu tình phản đối sự chiếm đóng của đế quốc Nhật, nằm trong các sự kiện của phong trào Nhất Tam 1919 (March 1st Movement of 1919). Phong trào bị đàn áp dữ dội, và đó cũng là lúc mà Lãnh tụ vĩ đại – Chủ tịch vĩnh hằng (Great leader and Eternal President) Kim Nhật Thành quyết tâm đánh đuổi đế quốc Nhật bằng mọi giá.

Năm lên tám, ông đã bắt đầu vận chuyển vũ khí đạn dược xuyên lòng địch.

Năm 11 tuổi, ông được cha mình gửi đến một trường học cách mạng bí mật ở Mãn Châu (Trung Quốc).

Năm 13 tuổi, Kim Nhật Thành với chỉ một bản đồ vẽ tay đã quyết tâm thực hiện hành trình 4.000 km từ Mãn Châu trở về Triều Tiên, vượt bão tuyết, núi cao, đối phó với thú dữ, để cảm nhận số phận của người dân Triều Tiên trên con đường và thấu hiểu nỗi thống khổ của họ.

Đây là một trong những sự kiện quan trọng nhất trong Thánh sử được xây dựng về Kim Nhật Thành, thường được gọi là “Hành trình 1000 ri trở về đất mẹ” (“1000 ri Journey”. Ri – 里 là một đơn vị đo chiều dài của Nhật. Một ri tương ứng với khoảng 3,9 km).

Nếu câu chuyện về Kim Nhật Thành mang màu sắc văn hóa bản địa, câu chuyện về việc sinh hạ Kim Chính Nhật lại khiêm tốn và mang màu sắc Thiên Chúa giáo nhiều hơn, theo bình luận của một số tài liệu.

Theo đó, truyền thông nhà nước nhại lại khung cảnh Thánh Đản (Biblical Nativity) để tả thời khắc sinh ra dù khiêm tốn của Kim Chính Nhật, nhưng lại mang tầm vóc vũ trụ bao la, được dự báo với đàn én, hai sắc cầu vồng và một tinh cầu mới trên bầu trời đêm.

Đối chiếu với các tình tiết trong Kinh Tân Ước (New Testament), câu chuyện có diễn biến khá tương tự.

Các nhân chứng của buổi hạ sinh ngay lập tức nhận ra những điều tiên tri và định mệnh cao cả của đứa trẻ. Họ cho rằng đứa trẻ là ngôi sao sẽ đem ánh sáng đến cho tương lai của Triều Tiên và gọi nó là Vầng sao sáng của Thánh đỉnh Baekdu (The Bright Star of Mt. Baekdu). Tin lành về đứa trẻ được lan truyền đi khắp đi đất nước, với người dân hạnh phúc đón mừng.

Đế quốc Nhật xấu xa, tương tự như Vua Herod xứ Judaea, thì cho rằng đứa trẻ là điềm báo dữ, đã tìm mọi cách để truy lùng và tiêu diệt. Tiểu sử Kim Chính Nhật Quyển I, thậm chí còn trích dẫn nguyên văn một tài liệu… tưởng tượng của người Nhật rằng việc Kim Chính Nhật được sinh ra đã làm hoang mang toàn bộ Tokyo, và dự báo rằng cậu bé “người trời” này sẽ trở thành một Đại tướng quân đánh bại quân đội Nhật, mang lại độc lập cho Triều Tiên.

Duy chỉ đáng tiếc cho nhà lãnh đạo tiếp theo, Kim Jong-un (Kim Chính Ân), là thời điểm ông trở thành lãnh đạo Bắc Triều Tiên vào năm 2011 thì một bộ phận dân chúng đã bắt đầu có cơ hội tiếp xúc nhiều với thế giới bên ngoài, ít ra là với Trung Quốc. Điều này khiến cho Kim Chính Ân khó có cơ hội sử dụng giai thoại huyền sử để mô tả tuổi thơ ấu của mình. Tuy nhiên, nó vẫn không triệt tiêu hoàn toàn nhu cầu tuyên truyền của bộ máy nhà nước Bắc Triều Tiên.

Năm 2014, Đài truyền hình KBS của Hàn Quốc thu thập được một giáo trình trung học Bắc Triều Tiên, cho thấy học sinh ở đây đã phải bắt đầu một khóa đào tạo dài ba năm về cuộc đời niên thiếu của Kim Chính Ân.

Nội dung của chương trình vẫn chưa được tìm ra, tuy nhiên nhiều phim tài liệu phát toàn Bắc Triều Tiên tuyên truyền rằng Kim Chính Ân đã trở thành một thiện xạ súng lục cũng như thông thạo bảy ngoại ngữ ở tuổi lên ba; có các phát hiện khoa học địa chất và là một sử gia ở tuổi vị thành niên. Không khó để dự đoán trong chương trình giáo dục trung học nói trên chứa đựng những gì.

Những thông tin mà cơ quan ngôn luận trung ương của Bắc Triều Tiên tuyên truyền được trình bày ở trên, bạn đọc có toàn quyền tin hoặc không tin. Nhưng với những người không tin, câu hỏi đặt ra là vì sao những chiến dịch tuyên truyền thế này lại tiếp tục được sử dụng ở thế kỷ 21.

Sùng bái cá nhân

Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ sùng bái cá nhân (cult of personality) trong văn cảnh chính trị là Karl Marx, trong bức thư gửi cho Wilhelm Blos vào năm 1877.

Marx chỉ trích Ferdinand Lasalle, một đối thủ chính trị của ông ngay trong Liên minh Cộng sản Quốc tế (Communist League). Đáng tiếc thay, hầu hết học trò xuất sắc hay nổi tiếng nhất của ông như Lenin, Stalin, Mao hay Kim Nhật Thành đều sử dụng sùng bái cá nhân như một phần không thể thiếu trong chiến thuật trị quốc của mình.

Theo luận khảo nổi tiếng “Tính cách là gì và nó có thật sự quan trọng không?” (What is character and why it really does matter), Giáo sư Thomas A. Wright (Đại học Fordham, Anh) định nghĩa sùng bái cá nhân là một hiện tượng “mẫu mực hóa, đến mức như thần thánh hóa hình ảnh công cộng của một cá nhân, được định hình và phát triển dựa trên các chiến dịch tuyên truyền không ngừng nghỉ cùng với các tương tác truyền thông”.

Karl Marx hóa ra lại là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “sùng bái cá nhân” trong văn cảnh chính trị. Ảnh: ullstein bild Dtl.

Tuy điều này nghe có vẻ dễ nhận biết và dễ phản đối, các chiến thuật tuyên truyền bền bỉ và có chuẩn bị đều có những tác động như ý muốn lên hầu hết các đối tượng tiếp nhận thông tin.

Ví dụ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho đến nay được xem là hình mẫu hoàn hảo của một chính trị gia tại Việt Nam. Tài năng, đức độ, danh tiếng, khiêm tốn, giản dị, thông minh… là số ít những đức tính mà một người Việt Nam thông thường có thể kể ra để mô tả vị “Cha già dân tộc”. Không chỉ vậy, ngay cả bố và mẹ của Hồ Chí Minh cũng đã và đang được mô tả như những vị thánh, có đền thờ riêng, có sử sách riêng, với quyết tâm cách mạng và nhân phẩm hoàn mỹ.

Đây có phải là dấu hiệu của sùng bái cá nhân?

Tôi cá là sẽ có một số lượng lớn bạn đọc phản đối quan điểm này. Với họ, những kẻ xét lại Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ là những tên cặn bã.

Điều này thật ra không quá khác với tình trạng ở Triều Tiên.

Năm 2011, người dân và các sĩ quan quân đội Hàn Quốc bắt đầu chiến dịch thả hàng chục ngàn bong bóng vào lãnh thổ Triều Tiên kèm theo hình ảnh về đời tư của Kim Chính Nhật, sự xa hoa mà các con ông đang được hưởng tại nước ngoài, thông tin về Mùa Xuân Ả Rập và hàng loạt các thông tin về sự phát triển của Đại Hàn Dân Quốc.

Họ tin là thời điểm chín muồi để một cuộc Cách mạng tự thân ở Bắc Triều Tiên có thể sẽ diễn ra.

Nạn đói thập niên 1990 giết chết gần một triệu nhân mạng, việc thay đổi tiền tệ không tuân thủ quy tắc thị trường năm 2009, các tướng lãnh quân sự bắt đầu lo lắng về vị trí và vai trò của mình khi tình trạng sức khỏe của Kim Chính Nhật suy yếu, các phong trào dân chủ quốc tế lên cao đến đỉnh điểm… tất cả dường như đều quá hoàn hảo cho một cuộc Cách mạng dân chủ ở Triều Tiên.

Nhưng tại sao nó vẫn không diễn ra nổi?

Đơn giản là vì sùng bái cá nhân vẫn còn hiệu quả, và thậm chí người ta còn không nhận ra nó đang vận hành hiệu quả. Người dân Bắc Triều sau hàng chục năm được nhồi nhét thứ tôn giáo chính trị (political religion) của nhà họ Kim có vẻ không biết mình đang thật sự muốn gì, và họ cũng sợ sự bất định mà việc thiếu vắng một “lãnh tụ kính yêu” hay một “lãnh tụ vĩ đại” có thể mang lại.

Thiếu vắng một người để người dân tôn sùng và sợ hãi, đôi khi cũng là nguyên cớ để những gia đình thần thánh như thế này tồn tại trên thế giới ngày nay.