Sunday, January 31, 2010
BÀN VỀ CƠ HỘI
Bàn về cơ hội
Hồng Nga
2010-01-31, 7:46
http://www.bbc.co.uk/blogs/vietnamese/2010/01/ban-ve-c-hoi.html
Việt Nam đang phát triển từng ngày với thu nhập hôm nay cao hơn hôm trước. Nhưng điều đó chưa hẳn có nghĩa là người dân được hưởng cơ hội kinh tế ngang nhau.
Chúng ta ai cũng thích sự đổi đời. Từ xấu xí, tẻ nhạt trở thành xinh đẹp, hấp dẫn; từ nghèo khó, bần cùng thành giàu có, phong lưu - những câu chuyện như thể cổ tích luôn làm chúng ta mê mẩn.
Thế nên mới có hiện tượng Susan Boyle. Người xem chương trình Britain's Got Talent được tận mắt chứng kiến sự đổi đời như sâu hóa bướm của một cô gái già (Susan Boyle năm nay 49 tuổi) xứ Scotland.
Nhưng muốn đổi đời, thì phải có cơ hội. Susan Boyle phải cảm ơn Britain's Got Talent đã cho cô (bà?) một cơ hội trong đời.
Tôi là người tôn sùng sự công bằng trong cuộc sống.
Công bằng, theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới trong một phúc trình năm 2005, chính là "công bằng trong các cơ hội".
Phúc trình 'Công bằng và Phát triển' của World Bank nhấn mạnh: "Cơ hội đồng đều tức là sự thành đạt của một người phải do các nỗ lực, chọn lựa và tài năng của người ấy, chứ không do những hoàn cảnh có sẵn trước đó như chủng tộc, giới tính, nhóm xã hội, gốc gác gia đình và sinh quán của họ".
Chỉ có bình đẳng về cơ hội mới khép lại khoảng cách giàu nghèo, phân bổ tài sản xã hội một cách hợp lý cho người nghèo được hưởng lợi ích từ quá trình phát triển kinh tế.
Vậy cho nên, các bình luận mới đây của giới phân tích nước ngoài đã làm tôi lo ngại.
Con ông cháu cha
Một số cây viết khi nói về kinh tế Việt Nam đã nhắc nhiều tới cụm từ 'crony socialism', hay 'crony communism' .
Các cụm từ này dịch sang tiếng Việt có thể là chủ nghĩa xã hội/cộng sản thân hữu, nhưng tôi muốn dùng một định nghĩa đơn giản và bình dân hơn, là 'con ông cháu cha' (COCC).
Tác giả Bill Hayton, đồng nghiệp của chúng tôi nhận định rằng các manh nha tích lũy tư bản tại Việt Nam đang nằm trong tay số ít người và nền kinh tế đang biến thái "theo xu hướng thỏa mãn nhu cầu của số ít chứ không phải nguyện vọng của số đông".
Anh viết trong bài đăng trên tạp chí Foreign Policy của Mỹ: "Ban lãnh đạo Đảng Cộng sản đang biến chủ nghĩa tư bản ở Việt Nam thành doanh nghiệp gia đình."
Một nhà bình luận khác, Greg Rushford, người từng theo dõi kinh tế Việt Nam hàng chục năm, thì còn cho rằng việc bỏ tù bốn nhân vật đối kháng hồi tuần trước tại TP Hồ Chí Minh cũng là một nỗ lực triệt tiêu rào cản trong cuộc làm ăn.
Triệu tiêu cơ hội cũng là triệt tiêu sự công bằng. Sự công bằng mà các nhà cách mạng, dù ở Việt Nam hay nước ngoài, luôn cổ súy.
Ông Võ Văn Kiệt có người con trai đi bộ đội chết trận, tướng Nguyễn Chí Thanh gửi con vào thiếu sinh quân... việc chia sẻ gánh nặng chiến tranh một cách đồng đều từng được các lãnh đạo Việt Nam coi như lẽ bình thường.
Thời nay, có vị lãnh đạo nào cho rằng con cái họ cũng nên chia sẻ những khó khăn thời bình cùng con cái của các đồng bào khác?
Tôi còn nhớ ái nữ của một vị tổng biên tập có tiếng trong nước từng nói trên báo rằng vị trí "con ông cháu cha" chỉ cho em một nền tảng vững để "đánh bại" hàng chục "đối thủ" trong một cuộc thi tài năng.
"Cơ hội luôn chia đều cho tất cả mọi người. Nếu có bạn không phải là con ông cháu cha chạnh lòng thì điều này tốt cho các bạn, nếu các bạn lấy đây là động lực để vươn lên."
Và nói rộng ra, hàng vạn thanh niên Việt Nam, cũng trẻ như em, chưa chắc đã nghĩ rằng cơ hội được chia đều cho mọi người.
Nghĩ thế nào được, khi bố mẹ các em còn phải chạy ăn từng bữa, và chính các em phải bỏ học để kiếm tiền, khi cơ hội duy nhất mà các em có thể đạt được trước mắt là vào làm công nhân trong một khu chế xuất?
Ông Hồ Chí Minh từng nói một câu, mà tương truyền là của Khổng Tử: "Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng, không sợ nghèo, chỉ sợ lòng dân không yên".
Tác giả Bill Hayton trong bài viết nói trên thì cảnh báo: ""Mạng lưới xã hội chủ nghĩa theo kiểu con ông cháu cha đang trở thành đe dọa cho sự ổn định trong tương lai của Việt Nam."
Công bằng là khát vọng của xã hội. Và lòng dân sẽ không yên, khi mà thành quả cách mạng của toàn dân nay tập trung vào tay một số ít người.
Quý vị nghĩ thế nào về công bằng xã hội ở Việt Nam? Quý vị có được cơ hội mà mình mong muốn hay không? Xin bấm vào chữ Bình luận ở góc trên bên phải để chia sẻ với Hồng Nga.
AI SỢ và VÌ SAO LẠI SỢ "DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH" ?
Ai sợ và vì sao lại sợ Diển Biến Hoà Bình ?
Kami
http://nguoiduatinkami.wordpress.com/2010/01/30/ai-s%E1%BB%A3-va-vi-sao-l%E1%BA%A1i-s%E1%BB%A3-di%E1%BB%85n-bi%E1%BA%BFn-hoa-binh/
Bắt đầu bài viết với ý kiến của một thành viên thuộc thành phần yêu đảng trên Diễn đàn Hoangsa.org có nick phongvan177 đã viết “Độc lập của VN có còn không khi không chống Diễn biến Hòa Bình?”(1), để thông qua đó thấy được nhận thức của đa phần nhân dân trong nước có cái nhìn lệch lạc, thiếu chính xác với cụm từ “Diễn biến hòa bình”. Đồng thời qua đó thấy hiệu quả và sự nguy hiểm của công tác tuyên truyền của truyền thông nhà nước đã tạo được cho người dân ý thức không mấy thiện cảm với công cuộc vận động cho một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự, mà thường bị chụp mũ là những ” nhân tố phản động, chống đối từ bên trong” với tội danh tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt nam hay hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt nam một cơ quan của nhà nước đã định nghĩa cụ thể ” Diễn biến hòa bình là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội, chống độc lập dân tộc”(2).
Nếu những người ở trong một môi trường bị bưng bít thông tin như ở Việt nam hiện nay, nếu chỉ nghe thông tin một chiều và suy nghĩ đảng bao giờ cũng nói đúng, thì những suy nghĩ cho rằng hậu quả của Diễn biến hòa bình là mất độc lập dân tộc như thành viên phongvan177 chẳng có gì đáng trách, họ hiểu đúng như Đảng CSVN và Nhà nước Việt nam mong muốn, đó là làm cho người dân sợ hãi, xa lánh và ghét bỏ cái gọi là Diễn biến hòa bình.
Thực chất của Diễn biến hòa bình thì bản thân cái tên gọi đã nói lên phương thức của nó là hòa bình (bất bạo động), diễn biến này thực chất là một quá trình dùng các lý luận thông qua các bài viết, các ý kiến bình luận đánh giá giúp cho người dân hiểu được giá trị của một Nhà nước pháp quyền, với khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” và “Mọi người bình đẳng trước luật pháp. Thông qua đó dùng sự hiểu biết của đa số quần chúng nhân dân để tiến tới xây dựng một Chính quyền nhân dân thực sự, ở đó người dân làm chủ vận mệnh đất nước và bản thân cá nhân mình quyết định tương lai thông qua lá phiếu bầu của mình bầu các đại diện của mình vào cơ quan Lập pháp (Quốc hội)trong một cuộc bầu cử tự do (đề cử, ứng cử), trung thực và công bằng.
Những việc làm như vậy hoàn toàn là quyền và nghĩa vụ của nhân dân được Hiến pháp và luật pháp nước CHXHCN Việt nam khẳng định thì ảnh hưởng gì tới độc lập dân tộc? Tại sao lại reo rắc nỗi lo không thể có cho người dân rằng “Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội, chống độc lập dân tộc”(2)được.
Nếu đọc kỹ cái định nghĩa có đoạn “Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa” thì thấy đảng và nhà nước Việt nam coi thường tri thức và dân trí của người Việt nam quá. Cái gì là phi tư bản? Bởi đến giờ phút này ở Việt nam làm gì còn cái gì nữa dính dáng tới CNXH theo học thuyết Marx-Lênin mà trước đây đảng ta vẫn theo đuổi, bản chất của cái CNXH đó là dùng bạo lực chuyên chính vô sản để công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân. Đó là thời kỳ 1954-1956 ở Miền Bắc và 1975-1976 ở Miền nam khi Đảng CSVN và chính quyền tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh để Công hữu hóa sở hữu tư nhân, điều đó trái ngược hoàn toàn với chủ trương Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà thực chất là Tư hữu hóa sở hữu toàn dân mà chúng ta đang tiến hành. Phải khẳng định, đường lối gọi là đổi mới mà Đảng CSVN và chính quyền của họ từ năm 1986 đến nay hoàn toàn trái với nguyên tắc về CNXH của Chủ nghĩa Marx-Lênin.
Về kinh tế thì Việt nam hiện nay là một chế độ tư bản giai đoạn đầu mà người ta gọi là thời kỳ tư bản hoang dã, chính là thời kỳ Lê nin đánh giá rằng tư bản với sự tự do bóc lột quan hệ “Người với người là chó sói” và đầy rẫy bất công. Sự duy trì quản lý nhà nước đối với một số doanh nghiệp chủ đạo mang tính độc quyền hiện nay thực chất chỉ là hình thức Tư bản nhà nước.
Xin hỏi đâu là phi tư bản và đâu là Chủ nghĩa xã hội?
Theo lý luận của CN Marx-Lênin thì chủ nghĩa xã hội sẽ là một hệ thống kinh tế-xã hội sau khi một cuộc cách mạng đã nổ ra để chuyển quyền điều khiển và sử dụng các tư liệu sản xuất từ tay của một số ít sang tay của một tập thể hay còn gọi là bước đệm để tiến tới chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Marx-Lênin tuy đã bị phá sản hoàn toàn cùng với sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên xô và Đông Âu, nhưng nhưng những bài học xương máu của sự thất bại toàn diện này đem lại cho nhân loại một cái nhìn sâu rộng hơn về chủ nghĩa cộng sản và điều quan trọng nhất sự hình thành chủ nghĩa xã hội cũng đã làm cho chủ nghĩa tư bản phải thay đổi để không còn bóc lột một cách trực diện như trước, buộc CNTB phải giải quyết mâu thuẫn đó để tồn tại và phát triển.
Quan trọng hơn cả sự thất bại của CNCS đã giúp loài người thu được các kinh nghiệm và tri thức cực kỳ to lớn, đã từ bỏ được bạo lực. Các tầng lớp trong xã hội đã không còn dễ bị kích động bởi các ý tưởng có tính cực đoan, trong cách xử lý với các thách thức lớn của xã hội, đó là cách thích nghi và triển khai một xã hội dân sự mà trong đó mọi thành phần xã hội đều có thể phát triển hoặc có cơ hội phát triển ngang nhau, các mâu thuẫn xã hội không thể đã hết nhưng đã có những cơ chế thỏa hiệp để giải quyết trên cơ sở hợp lý cho các tầng lớp. Xã hội hướng đến cách giải quyết các mâu thuẫn bằng con đường phi bạo lực đó chính là con đường của đấu tranh bất bạo động hay được gọi dưới cái tên mang nhiều tranh cãi đó là Diễn biến hòa bình.
Ở Việt nam hiện nay, tuy nền kinh tế đã hoàn toàn từ bổ mô hình kinh tế Tập trung-Kế hoạch hóa-Bao cấp vốn là đặc trưng của kinh tế XHCN theo học thuyết Marx-Lênin để chuyển sang nền kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa hoàn chỉnh kéo theo cái đuôi định hướng XHCN để hy vọng duy trì quyền lãnh đạo theo tính đặc trưng nhất của CNXH theo học thuyết Marx-Lênin là “chỉ do một đảng lãnh đạo đó là đảng cộng sản”(3).
Diễn biến hòa bình thực chất không phải là “do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 thế kỉ 20, sau được tiếp tục bổ sung; cuối thập kỉ 80 thế kỉ 20, được nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược”(2) như sách báo của đảng tuyên truyền. Mà thực chất khái niệm này đã được Lênin nhắc tới trong lý luận của mình trích “Lenin khi lý luận về khả năng thắng lợi của cách mạng tại một quốc gia đã đưa ra một ý tưởng mới rất khác lạ với Marx là hệ quả của điểm khác biệt lớn nhất của hai người – đó là khái niệm “cùng tồn tại hòa bình” (Мирное сосуществование): theo đó các đế quốc và các quốc gia xã hội chủ nghĩa cùng có thể tồn tại hòa bình với nhau (rất khác quan điểm của Marx rằng các nước tư bản nhất định sẽ tập hợp lại bóp chết cách mạng đến cùng), thậm chí có thể hợp tác trong một số lĩnh vực. Và chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi trên toàn thế giới thông qua “thi đua hòa bình” mà trong đó công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản sẽ là hình mẫu ưu thế của thế giới mới trước thế giới cũ và nhân dân cùng vô sản tại các nước tư bản còn lại sẽ tự đứng lên lật đổ chế độ đó. Khái niệm “diễn biến hòa bình” ngày nay các quốc gia cộng sản hậu Xô Viết đang ra sức chống lại đó chính là khái niệm “Thi đua hòa bình” ngày xưa của Lenin nhưng theo chiều ngược lại.”(4)
Điều đó càng khẳng định hoàn toàn không đúng như Từ điển bách khoa toàn thư của nhà nước đã viết “Phương thức và thủ đoạn chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ”. Bởi chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa (về kinh tế) là chủ trương sáng suốt, đúng đắn và là tính tất yếu phù hợp quy luật phát triển tự nhiên của Đảng CSVN đã cứu nguy nguy cơ chết đói cho cả dân tộc Việt nam những năm 1985-1986, chứ không hề có sự can thiệp của Diễn biến hòa bình. Và đáng lưu ý tên gọi của nó là Diễn biến hòa bình sao lại bảo “Dùng bạo lực lật đổ”?
Thực chất Diễn biến hòa bình hoàn toàn không có nguy cơ gây xáo trộn xã hội, nó chỉ là quá trình với các hành động sử dụng quyền tự do ngôn luận theo luật pháp quy định mang tính chất ôn hòa bất bạo động, từng bước nâng cao sự hiểu biết của quần chúng nhân dân về một xã hội dân sự và một Nhà nước pháp quyền để tiến tới đồng thuận cao trong công cuộc cải cách chính trị, nhắm hướng tới đích xây dựng một chính quyền nhân dân đúng nghĩa của nó, thực sự là “của dân-do dân và vì dân” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó đơn giản chỉ là những ý kiến đòi hỏi nhiều hơn sự minh bạch, đòi hỏi luật lệ phải nhất quán, dịch vụ y tế, giáo dục và quản lý nhà nước, xã hội, môi trường phải tốt hơn, chế độ bớt tham nhũng hơn.
Vì vậy Diễn biến hòa bình chỉ là nguy cơ mất quyền lực của một số kẻ tham quyền cố vị, không chấp nhận cạnh tranh trong chính trị để lựa chọn những người có tài, có đức tham gia lãnh đạo đất nước vì một tương lai tươi sáng của Tổ quốc Việt nam.
Tổ quốc này, đất nước Việt nam này không của riêng ai, không phải của riêng người Cộng sản mà là của toàn thể 87 triệu người Việt nam. Nhân dân phải làm chủ đất nước, mọi người phải bình đẳng trước pháp luật, không cho phép bất kỳ ai hay nhóm người nào có đặc quyền và vùng cấm kể cả đảng CSVN như Hiến pháp khẳng định.
Diễn biến hòa bình không hề ảnh hưởng tới độc lập dân tộc, nó không gây xáo trộn xã hội và càng không tác động gì cho bạn, cho tôi hay cho bất kỳ ai. Nó chỉ là mối nguy hiểm cho những kẻ đang cố bằng mọi cách để ôm cái ghế quyền lực, nó thực sự đe dọa cho một vài trăm đảng viên cộng sản đang nắm chức vụ lãnh đạo chủ chốt. Nhưng Diễn biến hòa bình không hề hạn chế, cấm hay tước quyền tham gia hoạt động chính trị của họ, nếu họ cảm thấy có đủ tài năng, có đủ đức độ và tin rằng nhân dân vẫn sẽ lựa chọn họ làm lãnh đạo đất nước, thì xin mời cùng tham gia cuộc chơi chính trị, bình đẳng và công bằng mà trọng tài là toàn thể nhân dân Việt nam có quyền bầu cử trên cơ sở tôn trọng Hiến pháp và pháp luật quy định.
Khi ấy những người được nhân dân chọn lựa phải làm được những gì cho đất nước, hay cá nhân người dân đòi hỏi, chứ không chỉ vì quyền lợi của đảng CSVN như hiện nay những người lãnh đạo đất nước vẫn làm. Quyền làm chủ của nhân dân được luật pháp bảo hộ, do đó mỗi chúng ta hay trân trọng và giữ lấy cái quyền thiêng liêng ấy của mình, phải để cho các chính trị gia họ sợ không nhận được sự ủng hộ và lá phiếu bầu đừng và càng đừng thờ ơ để kẻ khác sử dụng danh nghĩa của mình vào mục đích của họ.
Đừng để bọn họ (chính trị gia)vừa được ăn, vừa được nói vừa được gói đem về , không những thế bọn họ cười thầm trong bụng nghĩ rằng “sao người Việt nam chúng ta ngu thế, không biết sử dụng quyền của mình”.
12/01/2010
——————
Chú thích:
(1) http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=22373
(2) http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=13EFaWQ9MzQ5NTMmZ3JvdXBpZD00JmtpbmQ9JmtleXdvcmQ9&page=2
(3) http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_x%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a
(4) http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n
© Kami 2010
Kami
http://nguoiduatinkami.wordpress.com/2010/01/30/ai-s%E1%BB%A3-va-vi-sao-l%E1%BA%A1i-s%E1%BB%A3-di%E1%BB%85n-bi%E1%BA%BFn-hoa-binh/
Bắt đầu bài viết với ý kiến của một thành viên thuộc thành phần yêu đảng trên Diễn đàn Hoangsa.org có nick phongvan177 đã viết “Độc lập của VN có còn không khi không chống Diễn biến Hòa Bình?”(1), để thông qua đó thấy được nhận thức của đa phần nhân dân trong nước có cái nhìn lệch lạc, thiếu chính xác với cụm từ “Diễn biến hòa bình”. Đồng thời qua đó thấy hiệu quả và sự nguy hiểm của công tác tuyên truyền của truyền thông nhà nước đã tạo được cho người dân ý thức không mấy thiện cảm với công cuộc vận động cho một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự, mà thường bị chụp mũ là những ” nhân tố phản động, chống đối từ bên trong” với tội danh tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt nam hay hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt nam một cơ quan của nhà nước đã định nghĩa cụ thể ” Diễn biến hòa bình là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế, được thực hiện dưới một phương thức, thủ đoạn mới để chống phá, đẩy lùi và đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội. Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa. Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội, chống độc lập dân tộc”(2).
Nếu những người ở trong một môi trường bị bưng bít thông tin như ở Việt nam hiện nay, nếu chỉ nghe thông tin một chiều và suy nghĩ đảng bao giờ cũng nói đúng, thì những suy nghĩ cho rằng hậu quả của Diễn biến hòa bình là mất độc lập dân tộc như thành viên phongvan177 chẳng có gì đáng trách, họ hiểu đúng như Đảng CSVN và Nhà nước Việt nam mong muốn, đó là làm cho người dân sợ hãi, xa lánh và ghét bỏ cái gọi là Diễn biến hòa bình.
Thực chất của Diễn biến hòa bình thì bản thân cái tên gọi đã nói lên phương thức của nó là hòa bình (bất bạo động), diễn biến này thực chất là một quá trình dùng các lý luận thông qua các bài viết, các ý kiến bình luận đánh giá giúp cho người dân hiểu được giá trị của một Nhà nước pháp quyền, với khẩu hiệu “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” và “Mọi người bình đẳng trước luật pháp. Thông qua đó dùng sự hiểu biết của đa số quần chúng nhân dân để tiến tới xây dựng một Chính quyền nhân dân thực sự, ở đó người dân làm chủ vận mệnh đất nước và bản thân cá nhân mình quyết định tương lai thông qua lá phiếu bầu của mình bầu các đại diện của mình vào cơ quan Lập pháp (Quốc hội)trong một cuộc bầu cử tự do (đề cử, ứng cử), trung thực và công bằng.
Những việc làm như vậy hoàn toàn là quyền và nghĩa vụ của nhân dân được Hiến pháp và luật pháp nước CHXHCN Việt nam khẳng định thì ảnh hưởng gì tới độc lập dân tộc? Tại sao lại reo rắc nỗi lo không thể có cho người dân rằng “Bản chất của chiến lược DBHB là chống chủ nghĩa xã hội, chống độc lập dân tộc”(2)được.
Nếu đọc kỹ cái định nghĩa có đoạn “Đối tượng của chiến lược DBHB là các nước có khuynh hướng phát triển phi tư bản chủ nghĩa” thì thấy đảng và nhà nước Việt nam coi thường tri thức và dân trí của người Việt nam quá. Cái gì là phi tư bản? Bởi đến giờ phút này ở Việt nam làm gì còn cái gì nữa dính dáng tới CNXH theo học thuyết Marx-Lênin mà trước đây đảng ta vẫn theo đuổi, bản chất của cái CNXH đó là dùng bạo lực chuyên chính vô sản để công hữu hóa toàn bộ tư liệu sản xuất thuộc sở hữu toàn dân. Đó là thời kỳ 1954-1956 ở Miền Bắc và 1975-1976 ở Miền nam khi Đảng CSVN và chính quyền tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh để Công hữu hóa sở hữu tư nhân, điều đó trái ngược hoàn toàn với chủ trương Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà thực chất là Tư hữu hóa sở hữu toàn dân mà chúng ta đang tiến hành. Phải khẳng định, đường lối gọi là đổi mới mà Đảng CSVN và chính quyền của họ từ năm 1986 đến nay hoàn toàn trái với nguyên tắc về CNXH của Chủ nghĩa Marx-Lênin.
Về kinh tế thì Việt nam hiện nay là một chế độ tư bản giai đoạn đầu mà người ta gọi là thời kỳ tư bản hoang dã, chính là thời kỳ Lê nin đánh giá rằng tư bản với sự tự do bóc lột quan hệ “Người với người là chó sói” và đầy rẫy bất công. Sự duy trì quản lý nhà nước đối với một số doanh nghiệp chủ đạo mang tính độc quyền hiện nay thực chất chỉ là hình thức Tư bản nhà nước.
Xin hỏi đâu là phi tư bản và đâu là Chủ nghĩa xã hội?
Theo lý luận của CN Marx-Lênin thì chủ nghĩa xã hội sẽ là một hệ thống kinh tế-xã hội sau khi một cuộc cách mạng đã nổ ra để chuyển quyền điều khiển và sử dụng các tư liệu sản xuất từ tay của một số ít sang tay của một tập thể hay còn gọi là bước đệm để tiến tới chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Marx-Lênin tuy đã bị phá sản hoàn toàn cùng với sự sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên xô và Đông Âu, nhưng nhưng những bài học xương máu của sự thất bại toàn diện này đem lại cho nhân loại một cái nhìn sâu rộng hơn về chủ nghĩa cộng sản và điều quan trọng nhất sự hình thành chủ nghĩa xã hội cũng đã làm cho chủ nghĩa tư bản phải thay đổi để không còn bóc lột một cách trực diện như trước, buộc CNTB phải giải quyết mâu thuẫn đó để tồn tại và phát triển.
Quan trọng hơn cả sự thất bại của CNCS đã giúp loài người thu được các kinh nghiệm và tri thức cực kỳ to lớn, đã từ bỏ được bạo lực. Các tầng lớp trong xã hội đã không còn dễ bị kích động bởi các ý tưởng có tính cực đoan, trong cách xử lý với các thách thức lớn của xã hội, đó là cách thích nghi và triển khai một xã hội dân sự mà trong đó mọi thành phần xã hội đều có thể phát triển hoặc có cơ hội phát triển ngang nhau, các mâu thuẫn xã hội không thể đã hết nhưng đã có những cơ chế thỏa hiệp để giải quyết trên cơ sở hợp lý cho các tầng lớp. Xã hội hướng đến cách giải quyết các mâu thuẫn bằng con đường phi bạo lực đó chính là con đường của đấu tranh bất bạo động hay được gọi dưới cái tên mang nhiều tranh cãi đó là Diễn biến hòa bình.
Ở Việt nam hiện nay, tuy nền kinh tế đã hoàn toàn từ bổ mô hình kinh tế Tập trung-Kế hoạch hóa-Bao cấp vốn là đặc trưng của kinh tế XHCN theo học thuyết Marx-Lênin để chuyển sang nền kinh tế thị trường Tư bản chủ nghĩa hoàn chỉnh kéo theo cái đuôi định hướng XHCN để hy vọng duy trì quyền lãnh đạo theo tính đặc trưng nhất của CNXH theo học thuyết Marx-Lênin là “chỉ do một đảng lãnh đạo đó là đảng cộng sản”(3).
Diễn biến hòa bình thực chất không phải là “do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 thế kỉ 20, sau được tiếp tục bổ sung; cuối thập kỉ 80 thế kỉ 20, được nâng lên và hoàn chỉnh thành chiến lược”(2) như sách báo của đảng tuyên truyền. Mà thực chất khái niệm này đã được Lênin nhắc tới trong lý luận của mình trích “Lenin khi lý luận về khả năng thắng lợi của cách mạng tại một quốc gia đã đưa ra một ý tưởng mới rất khác lạ với Marx là hệ quả của điểm khác biệt lớn nhất của hai người – đó là khái niệm “cùng tồn tại hòa bình” (Мирное сосуществование): theo đó các đế quốc và các quốc gia xã hội chủ nghĩa cùng có thể tồn tại hòa bình với nhau (rất khác quan điểm của Marx rằng các nước tư bản nhất định sẽ tập hợp lại bóp chết cách mạng đến cùng), thậm chí có thể hợp tác trong một số lĩnh vực. Và chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi trên toàn thế giới thông qua “thi đua hòa bình” mà trong đó công cuộc xây dựng chủ nghĩa cộng sản sẽ là hình mẫu ưu thế của thế giới mới trước thế giới cũ và nhân dân cùng vô sản tại các nước tư bản còn lại sẽ tự đứng lên lật đổ chế độ đó. Khái niệm “diễn biến hòa bình” ngày nay các quốc gia cộng sản hậu Xô Viết đang ra sức chống lại đó chính là khái niệm “Thi đua hòa bình” ngày xưa của Lenin nhưng theo chiều ngược lại.”(4)
Điều đó càng khẳng định hoàn toàn không đúng như Từ điển bách khoa toàn thư của nhà nước đã viết “Phương thức và thủ đoạn chủ yếu là tạo dựng và thúc đẩy những nhân tố phản động, chống đối từ bên trong, đẩy đối phương vào khủng hoảng toàn diện, từng bước chuyển hoá chế độ chính trị theo con đường phát triển tư bản chủ nghĩa hoặc bị chính các thế lực chống đối dùng bạo lực lật đổ”. Bởi chuyển sang chế độ tư bản chủ nghĩa (về kinh tế) là chủ trương sáng suốt, đúng đắn và là tính tất yếu phù hợp quy luật phát triển tự nhiên của Đảng CSVN đã cứu nguy nguy cơ chết đói cho cả dân tộc Việt nam những năm 1985-1986, chứ không hề có sự can thiệp của Diễn biến hòa bình. Và đáng lưu ý tên gọi của nó là Diễn biến hòa bình sao lại bảo “Dùng bạo lực lật đổ”?
Thực chất Diễn biến hòa bình hoàn toàn không có nguy cơ gây xáo trộn xã hội, nó chỉ là quá trình với các hành động sử dụng quyền tự do ngôn luận theo luật pháp quy định mang tính chất ôn hòa bất bạo động, từng bước nâng cao sự hiểu biết của quần chúng nhân dân về một xã hội dân sự và một Nhà nước pháp quyền để tiến tới đồng thuận cao trong công cuộc cải cách chính trị, nhắm hướng tới đích xây dựng một chính quyền nhân dân đúng nghĩa của nó, thực sự là “của dân-do dân và vì dân” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó đơn giản chỉ là những ý kiến đòi hỏi nhiều hơn sự minh bạch, đòi hỏi luật lệ phải nhất quán, dịch vụ y tế, giáo dục và quản lý nhà nước, xã hội, môi trường phải tốt hơn, chế độ bớt tham nhũng hơn.
Vì vậy Diễn biến hòa bình chỉ là nguy cơ mất quyền lực của một số kẻ tham quyền cố vị, không chấp nhận cạnh tranh trong chính trị để lựa chọn những người có tài, có đức tham gia lãnh đạo đất nước vì một tương lai tươi sáng của Tổ quốc Việt nam.
Tổ quốc này, đất nước Việt nam này không của riêng ai, không phải của riêng người Cộng sản mà là của toàn thể 87 triệu người Việt nam. Nhân dân phải làm chủ đất nước, mọi người phải bình đẳng trước pháp luật, không cho phép bất kỳ ai hay nhóm người nào có đặc quyền và vùng cấm kể cả đảng CSVN như Hiến pháp khẳng định.
Diễn biến hòa bình không hề ảnh hưởng tới độc lập dân tộc, nó không gây xáo trộn xã hội và càng không tác động gì cho bạn, cho tôi hay cho bất kỳ ai. Nó chỉ là mối nguy hiểm cho những kẻ đang cố bằng mọi cách để ôm cái ghế quyền lực, nó thực sự đe dọa cho một vài trăm đảng viên cộng sản đang nắm chức vụ lãnh đạo chủ chốt. Nhưng Diễn biến hòa bình không hề hạn chế, cấm hay tước quyền tham gia hoạt động chính trị của họ, nếu họ cảm thấy có đủ tài năng, có đủ đức độ và tin rằng nhân dân vẫn sẽ lựa chọn họ làm lãnh đạo đất nước, thì xin mời cùng tham gia cuộc chơi chính trị, bình đẳng và công bằng mà trọng tài là toàn thể nhân dân Việt nam có quyền bầu cử trên cơ sở tôn trọng Hiến pháp và pháp luật quy định.
Khi ấy những người được nhân dân chọn lựa phải làm được những gì cho đất nước, hay cá nhân người dân đòi hỏi, chứ không chỉ vì quyền lợi của đảng CSVN như hiện nay những người lãnh đạo đất nước vẫn làm. Quyền làm chủ của nhân dân được luật pháp bảo hộ, do đó mỗi chúng ta hay trân trọng và giữ lấy cái quyền thiêng liêng ấy của mình, phải để cho các chính trị gia họ sợ không nhận được sự ủng hộ và lá phiếu bầu đừng và càng đừng thờ ơ để kẻ khác sử dụng danh nghĩa của mình vào mục đích của họ.
Đừng để bọn họ (chính trị gia)vừa được ăn, vừa được nói vừa được gói đem về , không những thế bọn họ cười thầm trong bụng nghĩ rằng “sao người Việt nam chúng ta ngu thế, không biết sử dụng quyền của mình”.
12/01/2010
——————
Chú thích:
(1) http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=22373
(2) http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn/default.aspx?param=13EFaWQ9MzQ5NTMmZ3JvdXBpZD00JmtpbmQ9JmtleXdvcmQ9&page=2
(3) http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_x%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a
(4) http://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_c%E1%BB%99ng_s%E1%BA%A3n
© Kami 2010
LỒNG LỘN ĐIÊN CUỒNG (Bán Nguyệt San TỰ DO NGÔN LUẬN số 92)
Lồng lộn điên cuồng
Xã Luận bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 92 (01-02-2010)
http://www.tdngonluan.com/
Nicolae Ceaucescu (1918-1989), tên độc tài CS khét tiếng ngang hàng với Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh, đã làm cho Rumania thành một nhà tù ghê tởm và sống trên xương máu của người dân. Y đã tàn phá 8.000 làng mạc để biến thành khu kinh tế giả. Chỗ nào có địa thế tốt hoặc đất đai mầu mỡ là y xua đuổi dân làng để cướp, giống như CSVN hiện thời. Khi Đông Đức sụp đổ, thì vào tháng 11-1989,
Ceaucescu vội vã chạy cầu cứu Liên Xô nhưng đã bị Gorbachev thẳng thừng xua đuổi. Trở về Rumania, ngày 17-12-1989, Ceaucescu ban lệnh trục xuất Linh mục Chính thống giáo Laszo Tokes ra khỏi nước vì ngài đã tranh đấu nhân cho quyền tại thành phố Timisoara 3 hôm trước đó. Chính vụ trục xuất này đã tạo ra cuộc chống đối đầu tiên của người dân. Ngày 21-12-1989 Ceaucescu tổ chức một cuộc mít-tinh nhằm ủng hộ mình. Lúc đầu khoảng 100.000 dân chúng hồ hởi ca ngợi. Nhưng càng lúc diễn văn của tên bạo chúa càng làm cho họ căm phẫn với những lời lẽ dối trá lừa đảo, và họ đồng thanh hô to khẩu hiệu chống đối. Ceaucescu lập tức ra lệnh cho công an mật vụ Securitate nổ súng vào đám đông, giết hại nhiều người.
Tuy nhiên tổng trưởng quốc phòng Vasile Milea từ chối cho quân đội bắn vào dân chúng. Ông liền bị Ceaucescu kết án tử hình. Chỉ 2 ngày sau, hàng ngàn người dân tấn công dinh chủ tịch. Ceaucescu vội vã trốn thoát với vợ bằng trực thăng. Lúc ấy công an mật vụ Securitate bắn nhau với quân đội ngoài đường sá làm cho hàng ngàn người thiệt mạng. Tức giận vì tổng chỉ huy Milea của họ bị giết, nên sáng ngày 25-12-1989, sau khi bắt được vợ chồng Ceaucescu, tòa án quân đội đã kết án tử hình cả hai lập tức vào lúc 15g chiều cùng ngày. Kết thúc thê thảm một đời bạo chúa Cộng sản!
Hoàn cảnh của Rumania và thái độ của Ceaucescu cuối năm 1989 ấy xem ra không khác gì hoàn cảnh của Việt Nam và thái độ của Bộ chính trị Hà Nội hiện thời. Vẫn là sự lồng lộn điên cuồng của một con thú dữ đã đến ngày tận mạt. Lồng lộn điên cuồng vì các vết thương gây ra do khủng hoảng kinh tế, sụp đổ tài chánh, đánh mất lòng dân, quốc tế chê cười, Trung Cộng chèn ép và do chia rẽ nội bộ... Sự điên cuồng lồng lộn đó đã diễn ra thành những màn đàn áp nhân dân khốc liệt mà hai vụ việc thời sự mới đây là thí dụ điển hình.
1- Triệt hạ Thánh giá ở Giáo xứ Đồng Chiêm:
Lần đầu tiên trong chính sách tiêu diệt tôn giáo của mình, Cộng sản Việt Nam đã ra tay triệt hạ chính biểu tượng linh thánh nhất của Công giáo là cây Thập giá. Triệt hạ không những bằng cách phá đổ bằng bom mìn, nhưng còn băm nát ra cho vụn, chắc chắn trong sự điên tiết đầy căm thù của những kẻ chỉ huy ở Hà Nội và những kẻ thực hiện tại Đồng Chiêm. Đang khi tại tòa Khâm Sứ, linh địa Thái Hà, nhà thờ Tam Tòa và lèn đá Bàu Sen, CS chỉ dám tháo dỡ thánh tượng và giao lại cho Giáo hội.
Bên cạnh đó, còn có màn ném lựu đạn cay vào những giáo dân vô tội, đánh đổ máu một số khác, đoạn vất họ lên xe, đem đi cứu chữa qua loa rồi tống cổ khỏi bệnh viện. Vài ngày sau lại bắt bớ nhiều người về đồn, đánh đập hành hạ, ép buộc nhận tội cách phi lý. Cùng lúc lại đổ đá chặn đường vào làng gây cản trở sinh hoạt và đi lại; đặt chốt canh với những gương mặt gầm ghè, hăm dọa khách hành hương; xét hỏi giấy tờ “theo chỉ thị” cách vô luật của đủ loại công an cảnh sát; cướp máy ảnh đánh trọng thương cả thường dân lẫn tu sĩ, người lớn lẫn sinh viên học sinh; chõ loa vào nhà thờ để tra tấn lỗ tai và đầu độc tâm trí từ cha sở tới bổn đạo, thậm chí trong chính giờ thánh lễ; tiếp tục triệt hạ các cây Thập giá bằng tre, bằng gỗ do giáo dân kiên cường dựng lại; giở trò kiểm tra hộ khẩu ban đêm cách rất thô bỉ đối với cộng đoàn nữ tu ở Đồng Chiêm. Ngoài ra, chính Đức TGM Ngô Quang Kiệt, nhiều linh mục và nhiều nữ tu thuộc Giáo phận Hà Nội cũng bị vạ lây vì nạn công an khám xét, phong tỏa, hăm dọa, nạn thanh niên côn đồ la ó phỉ báng hết sức vô liêm sỉ theo lệnh của một nhà cầm quyền bất chấp dư luận trong nước cũng như quốc tế đang mạnh mẽ lên án.... Quả là một cuộc tấn công dai dẳng, quy mô và tàn bạo chưa từng thấy!
Song song đó, trên mặt trận tuyên truyền, những bồi bút văn nô từ Thông tấn xã Việt Nam đến báo An ninh Thủ đô, Hà Nội mới, đài Truyền hình và đài Tiếng nói Việt Nam, thậm chí đến cả Ủy ban Đoàn kết Công giáo cũng nhảy vào cuộc. TTXVN bảo rằng người nhà nước “tiến hành tháo dỡ cây Thánh giá” trong khi hàng trăm công an, quân đội đã đến hiện trường dùng vũ khí, thuốc nổ để phá hủy. Báo đài vu cáo linh mục giáo dân mới chính là bọn thủ phạm, là lũ xúc phạm!?! UBĐK thì kêu gọi “trừng trị nghiêm khắc những kẻ lợi dụng tôn giáo”, thậm chí còn lừa cả một trang mạng Công giáo quốc tế (CathNewsAsia) để bênh vực cho lập trường nhà cầm quyền. Độc đáo nhất là trong cuộc họp giao ban báo chí sáng ngày 19-01-2010 tại Hà Nội, Ban Khoa giáo Thành ủy, đơn vị chủ trì cuộc họp, đã dùng những lời lẽ hết sức ngạo mạn, vô văn hóa như “thằng này, thằng kia” để gọi các vị chức sắc như Ðức TGM và các linh mục Thái Hà. Nhiều phóng viên báo đài lề phải được mời tham dự cuộc họp đã phải thốt lên: “Không thể tưởng tượng được đấy lại là ngôn từ của một cơ quan đảng Cộng sản”. Đúng là những lối ứng xử cuồng điên !
2- Phiên tòa xét xử 4 nhà Dân chủ yêu nước tại Sài Gòn
Phiên tòa được gọi là xét xử “công khai” luật sư Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, hai doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long hôm 20-01 đã kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ. Cách ứng xử của nhà cầm quyền, với các thủ thuật đê tiện áp dụng cho phiên toà, một lần nữa đã cho thấy sự vô liêm sỉ trâng tráo cũng như sự sợ hãi đến điên cuồng của chế độ!
Đối với người dân trong nước thì CS phá sóng, chận đường, hăm dọa quanh khu vực xử án. “Công an dày đặc ở khắp nơi. Thật không thể tưởng tượng được là họ huy động toàn bộ lực lượng cho một phiên tòa cách hùng hậu như thế. Xe chở bộ đội đặc công vũ trang ra vào rầm rập. Thỉnh thoảng lại có mấy chiếc xe tù chạy vòng vòng thị uy. Nếu làm một phép tính, hẳn một người đứng bên ngoài tòa sẽ hân hạnh có từ 6 tới 8 kẻ chăm sóc; đến cả đi mua nước uống và đi wc ở công viên bên cạnh cũng có người bám đeo và nghe dùm điện thoại. Thật không thể nào tin được.” (lời một blogger). Phóng viên đài Á châu Tự do thì bảo nhà nước “ứng xử như sắp có đại loạn”. Với cộng đồng dân mạng thì CS ra sức triệt phá những trang web đứng đắn và cập nhật tin tức nhanh nhạy như X-Café, Dân Luận, Bôxít Việt Nam, Talawas, Chân Trời Mới… khiến nhiều trang bị tê liệt cho tới hôm nay. Đối với giới ngoại giao, luật sư và truyền thông quốc tế thì hành xử cách mất thể thống quốc gia như lừa gạt, cố tình cấp lộn visa, cấm không cho vào nơi xét xử. Đối với thân nhân bị cáo thì hết sức giới hạn số người, để dành chỗ cho hàng xóm được thuê tiền tới hầu đề phòng sự phản đối hay sự hỗ trợ tinh thần của họ…
Công khai mà tất cả thân nhân và cơ quan báo chí truyền thông quốc tế đều phải chứng kiến phiên xử qua màn ảnh truyền hình… Công khai mà chánh án phiên tòa bị giấu tên, mà những đoạn bào chữa xác đáng và hùng hồn của luật sư đều bị cắt ngang thô bạo, mà những đoạn đối đáp và trả lời chất vấn của Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long đều bị nhiễu loạn một cách khó hiểu v.v… Công khai mà báo chí trong nước chỉ đưa tin một cách chung chung và không dám bình luận ngoài “lề phải”, mà truyền hình nhà nước sau đó chỉ chiếu một số cảnh, cho nghe một số lời ướm màu “nhận tội” của Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định (thật ra lời luật sư Định hàm chứa một sự kết án chế độ cách hùng hồn nhưng truyền thông ngu dốt của CS không nhận thấy!).
Sự lồng lộn điên cuồng, sự lố bịch vô liêm sỉ của chế độ lên đến đỉnh điểm khi hội đồng xét xử nghị án chỉ có 15 phút nhưng đọc bản luận tội dài đến 45 phút; khi phiên tòa lại kết thúc vào lúc chiều tối thay vì kéo dài đến hôm sau để luật sư Triệu Quốc Mạnh có giờ bào chữa cho thân chủ Trần Huỳnh Duy Thức và cho chính ông Thức hồi phục sức khỏe mà trả lời; khi quan tòa tuyên những bản án hết sức bất công và vô lý cho 4 con người trẻ tuổi tài cao và rất mực yêu nước thương nòi (không nên đặt vấn đề nặng nhẹ ở đây, vì họ chẳng hề đáng bị tù một ngày nào cả). Đặc biệt là bản án mang tính trả thù đối với doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức vì thái độ bất khuất của ông: đòi thay thế hội đồng xét xử, không nhận bất cứ tội danh nào, khẳng định mọi việc tranh đấu của mình là chính đáng, hợp lòng dân… và theo nhiều nhà bình luận, là vì những bài viết lâu nay của ông tố cáo sự tham nhũng lạm quyền của viên thủ tướng CS.
Thành ra chẳng lạ gì mà Hội Ân xá Quốc tế đã nhận xét: “Phiên tòa phô bày sự nhạo báng công lý. Phiên xử tước bỏ nhân quyền cơ bản như thông lệ giả định là bị cáo vô tội [cho đến khi chứng minh được là có tội], và quyền được bào chữa”; mà tòa đại sứ Hoa Kỳ đã cho rằng “Những bản án này đi ngược lại Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế, đồng thời đặt ra những câu hỏi bức thiết về sự cam kết cải cách luật pháp và đổi mới của Việt Nam ”; mà đại sứ Đan Mạch nói với các phóng viên: “Có những quan ngại nghiêm trọng về toàn bộ quá trình xét xử”; mà Tổ chức Phóng viên Không biên giới đã gọi các bản án nặng nề này là “cái giá mà những nhà hoạt động phải trả cho hội chứng hoang tưởng của Đảng CSVN, cũng như cho cuộc đấu đá quyền lực nội bộ trong đảng trước kỳ đại hội đảng được tổ chức vào năm tới.”
Khi một chế độ độc tài, nhất là độc tài CS, hành xử một cách cuồng điên, trong tức tối lồng lộn, vặn vẹo luật pháp, bất chấp công lý, chà đạp sự thật, khinh bỉ nhân dân và coi thường quốc tế, thì chắc chắn nó phải nhận một phản ứng ngược đến từ bên trong lẫn bên ngoài, thì số phận như Ceaucescu đang chờ các thành viên Bộ Chính trị CSVN. Mong rằng họ sẽ sớm tỉnh ngộ để khỏi phải dựa lưng vào tường đá, đối mặt với nhân dân đang sôi sục căm hờn!
BAN BIÊN TẬP
Xã Luận bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 92 (01-02-2010)
http://www.tdngonluan.com/
Nicolae Ceaucescu (1918-1989), tên độc tài CS khét tiếng ngang hàng với Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh, đã làm cho Rumania thành một nhà tù ghê tởm và sống trên xương máu của người dân. Y đã tàn phá 8.000 làng mạc để biến thành khu kinh tế giả. Chỗ nào có địa thế tốt hoặc đất đai mầu mỡ là y xua đuổi dân làng để cướp, giống như CSVN hiện thời. Khi Đông Đức sụp đổ, thì vào tháng 11-1989,
Ceaucescu vội vã chạy cầu cứu Liên Xô nhưng đã bị Gorbachev thẳng thừng xua đuổi. Trở về Rumania, ngày 17-12-1989, Ceaucescu ban lệnh trục xuất Linh mục Chính thống giáo Laszo Tokes ra khỏi nước vì ngài đã tranh đấu nhân cho quyền tại thành phố Timisoara 3 hôm trước đó. Chính vụ trục xuất này đã tạo ra cuộc chống đối đầu tiên của người dân. Ngày 21-12-1989 Ceaucescu tổ chức một cuộc mít-tinh nhằm ủng hộ mình. Lúc đầu khoảng 100.000 dân chúng hồ hởi ca ngợi. Nhưng càng lúc diễn văn của tên bạo chúa càng làm cho họ căm phẫn với những lời lẽ dối trá lừa đảo, và họ đồng thanh hô to khẩu hiệu chống đối. Ceaucescu lập tức ra lệnh cho công an mật vụ Securitate nổ súng vào đám đông, giết hại nhiều người.
Tuy nhiên tổng trưởng quốc phòng Vasile Milea từ chối cho quân đội bắn vào dân chúng. Ông liền bị Ceaucescu kết án tử hình. Chỉ 2 ngày sau, hàng ngàn người dân tấn công dinh chủ tịch. Ceaucescu vội vã trốn thoát với vợ bằng trực thăng. Lúc ấy công an mật vụ Securitate bắn nhau với quân đội ngoài đường sá làm cho hàng ngàn người thiệt mạng. Tức giận vì tổng chỉ huy Milea của họ bị giết, nên sáng ngày 25-12-1989, sau khi bắt được vợ chồng Ceaucescu, tòa án quân đội đã kết án tử hình cả hai lập tức vào lúc 15g chiều cùng ngày. Kết thúc thê thảm một đời bạo chúa Cộng sản!
Hoàn cảnh của Rumania và thái độ của Ceaucescu cuối năm 1989 ấy xem ra không khác gì hoàn cảnh của Việt Nam và thái độ của Bộ chính trị Hà Nội hiện thời. Vẫn là sự lồng lộn điên cuồng của một con thú dữ đã đến ngày tận mạt. Lồng lộn điên cuồng vì các vết thương gây ra do khủng hoảng kinh tế, sụp đổ tài chánh, đánh mất lòng dân, quốc tế chê cười, Trung Cộng chèn ép và do chia rẽ nội bộ... Sự điên cuồng lồng lộn đó đã diễn ra thành những màn đàn áp nhân dân khốc liệt mà hai vụ việc thời sự mới đây là thí dụ điển hình.
1- Triệt hạ Thánh giá ở Giáo xứ Đồng Chiêm:
Lần đầu tiên trong chính sách tiêu diệt tôn giáo của mình, Cộng sản Việt Nam đã ra tay triệt hạ chính biểu tượng linh thánh nhất của Công giáo là cây Thập giá. Triệt hạ không những bằng cách phá đổ bằng bom mìn, nhưng còn băm nát ra cho vụn, chắc chắn trong sự điên tiết đầy căm thù của những kẻ chỉ huy ở Hà Nội và những kẻ thực hiện tại Đồng Chiêm. Đang khi tại tòa Khâm Sứ, linh địa Thái Hà, nhà thờ Tam Tòa và lèn đá Bàu Sen, CS chỉ dám tháo dỡ thánh tượng và giao lại cho Giáo hội.
Bên cạnh đó, còn có màn ném lựu đạn cay vào những giáo dân vô tội, đánh đổ máu một số khác, đoạn vất họ lên xe, đem đi cứu chữa qua loa rồi tống cổ khỏi bệnh viện. Vài ngày sau lại bắt bớ nhiều người về đồn, đánh đập hành hạ, ép buộc nhận tội cách phi lý. Cùng lúc lại đổ đá chặn đường vào làng gây cản trở sinh hoạt và đi lại; đặt chốt canh với những gương mặt gầm ghè, hăm dọa khách hành hương; xét hỏi giấy tờ “theo chỉ thị” cách vô luật của đủ loại công an cảnh sát; cướp máy ảnh đánh trọng thương cả thường dân lẫn tu sĩ, người lớn lẫn sinh viên học sinh; chõ loa vào nhà thờ để tra tấn lỗ tai và đầu độc tâm trí từ cha sở tới bổn đạo, thậm chí trong chính giờ thánh lễ; tiếp tục triệt hạ các cây Thập giá bằng tre, bằng gỗ do giáo dân kiên cường dựng lại; giở trò kiểm tra hộ khẩu ban đêm cách rất thô bỉ đối với cộng đoàn nữ tu ở Đồng Chiêm. Ngoài ra, chính Đức TGM Ngô Quang Kiệt, nhiều linh mục và nhiều nữ tu thuộc Giáo phận Hà Nội cũng bị vạ lây vì nạn công an khám xét, phong tỏa, hăm dọa, nạn thanh niên côn đồ la ó phỉ báng hết sức vô liêm sỉ theo lệnh của một nhà cầm quyền bất chấp dư luận trong nước cũng như quốc tế đang mạnh mẽ lên án.... Quả là một cuộc tấn công dai dẳng, quy mô và tàn bạo chưa từng thấy!
Song song đó, trên mặt trận tuyên truyền, những bồi bút văn nô từ Thông tấn xã Việt Nam đến báo An ninh Thủ đô, Hà Nội mới, đài Truyền hình và đài Tiếng nói Việt Nam, thậm chí đến cả Ủy ban Đoàn kết Công giáo cũng nhảy vào cuộc. TTXVN bảo rằng người nhà nước “tiến hành tháo dỡ cây Thánh giá” trong khi hàng trăm công an, quân đội đã đến hiện trường dùng vũ khí, thuốc nổ để phá hủy. Báo đài vu cáo linh mục giáo dân mới chính là bọn thủ phạm, là lũ xúc phạm!?! UBĐK thì kêu gọi “trừng trị nghiêm khắc những kẻ lợi dụng tôn giáo”, thậm chí còn lừa cả một trang mạng Công giáo quốc tế (CathNewsAsia) để bênh vực cho lập trường nhà cầm quyền. Độc đáo nhất là trong cuộc họp giao ban báo chí sáng ngày 19-01-2010 tại Hà Nội, Ban Khoa giáo Thành ủy, đơn vị chủ trì cuộc họp, đã dùng những lời lẽ hết sức ngạo mạn, vô văn hóa như “thằng này, thằng kia” để gọi các vị chức sắc như Ðức TGM và các linh mục Thái Hà. Nhiều phóng viên báo đài lề phải được mời tham dự cuộc họp đã phải thốt lên: “Không thể tưởng tượng được đấy lại là ngôn từ của một cơ quan đảng Cộng sản”. Đúng là những lối ứng xử cuồng điên !
2- Phiên tòa xét xử 4 nhà Dân chủ yêu nước tại Sài Gòn
Phiên tòa được gọi là xét xử “công khai” luật sư Lê Công Định, thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung, hai doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long hôm 20-01 đã kết thúc nhanh chóng đến bất ngờ. Cách ứng xử của nhà cầm quyền, với các thủ thuật đê tiện áp dụng cho phiên toà, một lần nữa đã cho thấy sự vô liêm sỉ trâng tráo cũng như sự sợ hãi đến điên cuồng của chế độ!
Đối với người dân trong nước thì CS phá sóng, chận đường, hăm dọa quanh khu vực xử án. “Công an dày đặc ở khắp nơi. Thật không thể tưởng tượng được là họ huy động toàn bộ lực lượng cho một phiên tòa cách hùng hậu như thế. Xe chở bộ đội đặc công vũ trang ra vào rầm rập. Thỉnh thoảng lại có mấy chiếc xe tù chạy vòng vòng thị uy. Nếu làm một phép tính, hẳn một người đứng bên ngoài tòa sẽ hân hạnh có từ 6 tới 8 kẻ chăm sóc; đến cả đi mua nước uống và đi wc ở công viên bên cạnh cũng có người bám đeo và nghe dùm điện thoại. Thật không thể nào tin được.” (lời một blogger). Phóng viên đài Á châu Tự do thì bảo nhà nước “ứng xử như sắp có đại loạn”. Với cộng đồng dân mạng thì CS ra sức triệt phá những trang web đứng đắn và cập nhật tin tức nhanh nhạy như X-Café, Dân Luận, Bôxít Việt Nam, Talawas, Chân Trời Mới… khiến nhiều trang bị tê liệt cho tới hôm nay. Đối với giới ngoại giao, luật sư và truyền thông quốc tế thì hành xử cách mất thể thống quốc gia như lừa gạt, cố tình cấp lộn visa, cấm không cho vào nơi xét xử. Đối với thân nhân bị cáo thì hết sức giới hạn số người, để dành chỗ cho hàng xóm được thuê tiền tới hầu đề phòng sự phản đối hay sự hỗ trợ tinh thần của họ…
Công khai mà tất cả thân nhân và cơ quan báo chí truyền thông quốc tế đều phải chứng kiến phiên xử qua màn ảnh truyền hình… Công khai mà chánh án phiên tòa bị giấu tên, mà những đoạn bào chữa xác đáng và hùng hồn của luật sư đều bị cắt ngang thô bạo, mà những đoạn đối đáp và trả lời chất vấn của Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long đều bị nhiễu loạn một cách khó hiểu v.v… Công khai mà báo chí trong nước chỉ đưa tin một cách chung chung và không dám bình luận ngoài “lề phải”, mà truyền hình nhà nước sau đó chỉ chiếu một số cảnh, cho nghe một số lời ướm màu “nhận tội” của Nguyễn Tiến Trung và Lê Công Định (thật ra lời luật sư Định hàm chứa một sự kết án chế độ cách hùng hồn nhưng truyền thông ngu dốt của CS không nhận thấy!).
Sự lồng lộn điên cuồng, sự lố bịch vô liêm sỉ của chế độ lên đến đỉnh điểm khi hội đồng xét xử nghị án chỉ có 15 phút nhưng đọc bản luận tội dài đến 45 phút; khi phiên tòa lại kết thúc vào lúc chiều tối thay vì kéo dài đến hôm sau để luật sư Triệu Quốc Mạnh có giờ bào chữa cho thân chủ Trần Huỳnh Duy Thức và cho chính ông Thức hồi phục sức khỏe mà trả lời; khi quan tòa tuyên những bản án hết sức bất công và vô lý cho 4 con người trẻ tuổi tài cao và rất mực yêu nước thương nòi (không nên đặt vấn đề nặng nhẹ ở đây, vì họ chẳng hề đáng bị tù một ngày nào cả). Đặc biệt là bản án mang tính trả thù đối với doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức vì thái độ bất khuất của ông: đòi thay thế hội đồng xét xử, không nhận bất cứ tội danh nào, khẳng định mọi việc tranh đấu của mình là chính đáng, hợp lòng dân… và theo nhiều nhà bình luận, là vì những bài viết lâu nay của ông tố cáo sự tham nhũng lạm quyền của viên thủ tướng CS.
Thành ra chẳng lạ gì mà Hội Ân xá Quốc tế đã nhận xét: “Phiên tòa phô bày sự nhạo báng công lý. Phiên xử tước bỏ nhân quyền cơ bản như thông lệ giả định là bị cáo vô tội [cho đến khi chứng minh được là có tội], và quyền được bào chữa”; mà tòa đại sứ Hoa Kỳ đã cho rằng “Những bản án này đi ngược lại Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế, đồng thời đặt ra những câu hỏi bức thiết về sự cam kết cải cách luật pháp và đổi mới của Việt Nam ”; mà đại sứ Đan Mạch nói với các phóng viên: “Có những quan ngại nghiêm trọng về toàn bộ quá trình xét xử”; mà Tổ chức Phóng viên Không biên giới đã gọi các bản án nặng nề này là “cái giá mà những nhà hoạt động phải trả cho hội chứng hoang tưởng của Đảng CSVN, cũng như cho cuộc đấu đá quyền lực nội bộ trong đảng trước kỳ đại hội đảng được tổ chức vào năm tới.”
Khi một chế độ độc tài, nhất là độc tài CS, hành xử một cách cuồng điên, trong tức tối lồng lộn, vặn vẹo luật pháp, bất chấp công lý, chà đạp sự thật, khinh bỉ nhân dân và coi thường quốc tế, thì chắc chắn nó phải nhận một phản ứng ngược đến từ bên trong lẫn bên ngoài, thì số phận như Ceaucescu đang chờ các thành viên Bộ Chính trị CSVN. Mong rằng họ sẽ sớm tỉnh ngộ để khỏi phải dựa lưng vào tường đá, đối mặt với nhân dân đang sôi sục căm hờn!
BAN BIÊN TẬP
VÌ SAO VIỆT NAM MỞ RỘNG CHIẾN DỊCH ĐÀN ÁP ?
Vì sao Việt Nam mở rộng chiến dịch đàn áp?
Thanh Quang, phóng viên đài RFA
2010-01-31
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Why-vietnam-embarks-campaign-of-tighter-repression-tquang-01312010125532.html
Trong thời gian gần đây, VN xem chừng như trở thành trọng tâm chú ý của công luận khi những vụ đàn áp, giam giữ, kết án diễn ra gần như dồn dập trong nước trước sự làm ngơ của giới cầm quyền đối với phản ứng khắp nơi.
Câu hỏi được nêu lên là vì sao VN đột nhiên tăng tốc chiến dịch đàn áp như vậy. Tổng hợp thông tin liên hệ, Thanh Quang trình bày tình hình này sau đây:
Kể từ tháng 3 năm ngoái, VN xem chừng như mở rộng chiến dịch đàn áp nặng tay đối với giới tu hành và những nhà bất đồng chính kiến, tiến hành đợt bắt bớ mới nhắm vào các luật sư độc lập, bloggers, những nhà hoạt động cho dân chủ dám chỉ trích đường lối, chính sách của giới cầm quyền, khiến hằng chục tù nhân lương tâm gần như liên tiếp lâm vào cảnh lao lý sau những phiên xử bất công.
Và rồi những bản án tù nặng nề gần đây nhất với những tội danh thường thấy như “xâm phạm an ninh quốc gia”, “tuyên truyền chống phá nhà nước”, thậm chí “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, đã dành cho những người có tâm huyết với đất nước.
Đại hội đảng XI, tranh giành quyền lực
Khi đề cập tới tình trạng đàn áp tại VN, qua bài “Những vụ kết tội nguy hiểm”, báo The Economist của Anh có nêu lên nghi vấn rằng “không rõ tại sao VN phát động chiến dịch đàn áp nặng tay hơn trong thời gian gần đây”. Bài báo trích dẫn lời một số quan sát viên cho rằng tình hình căng thẳng này diễn ra vì sắp sửa có đại hội đảng lần thứ 11 vào năm tới. Trong khi những người khác tin là chính cuộc đấu tranh trong Bộ Chính trị - giữa phe thân Trung Quốc và phe thân Phương Tây - mới là thủ phạm. Theo bài báo thì tình trạng gọi là cởi mở chính trị tại VN có thể ví như chỉ số thị trường, trồi sụt theo thời gian. Nhưng bài báo khẳng định là chừng nào mà hệ thống giáo dục VN còn đưa thế hệ trẻ có khả năng đi du học nước ngoài, thì khi trở về quê, họ sẽ bị ảnh hưởng của những tư tưởng phương Tây.
Tờ Wall Street Journal của Mỹ mới đây, qua bài tựa đề “Hà Nội đàn áp nhân quyền”, cũng nêu lên thắc mắc tương tự, rằng “Không rõ tại sao giới lãnh đạo VN bất ngờ áp dụng đường lối cứng rắn chống tự do bày tỏ cảm tưởng?”. Theo nhận xét của bài báo thì việc Hà Nội kết án 5 năm rưởi tù đối với cựu trung tá Trần Anh Kim về tội gọi là “thực hiện những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là một phản ứng hốt hoảng trước phong trào đối lập đang được sự ủng hộ của dân chúng”. Vẫn theo bài báo thì cũng có thể chiến dịch ngày càng nặng tay của giới cầm quyền là nhằm gởi một thông điệp cho phe cán bộ chủ trương cải cách, cũng như tìm cách đoàn kết lại các phe nhóm trong đảng trước kỳ đại hội toàn quốc vào năm tới. Bài báo kết luận rằng cho dù vì lý do gì đi nữa, thì hành động của VN gởi một thông điệp rõ ràng là mặc dù VN mong ước hội nhập chặt chẽ hơn với thế giới qua phương cách đối thoại về thương mại, chính trị, nhưng căn nguyên vấn đề là VN vẫn còn dưới thể chế độc đoán rất bấp bênh và lạc hậu.
Ngay sau vụ xử 4 nhà nhà dân chủ ở Saigòn, kể cả LS Lê Công Định và thạc sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Tiến Trung, tổ chức Ân Xá Quốc Tế trụ sở tại Luân Đôn, Anh Quốc ra một thông cáo báo chí, trích dẫn lời ông Brittis Edman, chuyên gia nghiên cứu về VN của Tổ chức Ân Xá Quốc Tế lưu ý rằng “Vụ xử này là một hình thức hoàn toàn chế giễu công lý, bất chấp những nhân quyền căn bản...”. Vẫn theo viên chức vừa nói thì lẽ ra những nhà dân chủ ấy “không bao giờ bị bắt, chứ đừng nói tới chuyện bị buộc tội và lãnh án tù.” Vì sao, viên chức ấy giải thích, vì “phiên xử không cho bị cáo hưởng quyền được bào chữa đúng nghĩa, cho thấy rõ tình trạng VN thiếu tôn trọng tự do ngôn luận và bất đồng chính kiến trong ôn hòa, cũng như tòa án không được độc lập”. Bản thông cáo báo chí của Tổ chức Ân xá Quốc tế kết luận rằng phiên xử cũng chứng tỏ VN cần phải cấp bách cải cách những khuyết điểm nghiêm trọng trong Bộ Luật Hình sự năm 1999, những điều khoản mơ hồ dùng để kết tội những nhà bất đồng chính kiến ôn hòa – là điều đi ngược lại với nghĩa vụ của VN trong khuôn khổ luật quốc tế.
Tờ The Times ở Luân Đôn trích dẫn lời ông Brad Adams, Giám đốc Á Châu của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch trụ sở tại New York lưu ý rằng “thái độ thù nghịch đối với tự do bày tỏ cảm tưởng và bất đồng chính kiến ôn hòa ngày càng trở nên trắng trợn trong giai đọan trước khi có đại hội đảng vào năm tới”. Và ông kêu gọi “VN phải chấm dứt hành động buộc tội và bỏ tù những người chỉ trích chính phủ chỉ vì họ thực thi quyền tự do ngôn luận, và VN cần phải bắt đầu tôn trọng nghĩa vụ của mình theo những công ước về nhân quyền mà chính Hà Nội đã ký kết”.
Theo tổ chức Ký Giả Không Biên Giới trụ sở tại Paris, Pháp Quốc, thì “những nhà dân chủ đấu tranh ôn hòa đang phải trả giá cho chứng hoang tưởng và những vụ tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng cộng sản cầm quyền trước khi diễn ra đại hội đảng vào năm tới”.
Tổ chức Ký Giả Không Biên Giới lưu ý rằng “Làn sóng bắt bớ đó sẽ không chấm dứt được cuộc tranh luận về tương lai đất nước (VN)”. Theo tổ chức này thì những nhà bất đống chính kiến bị tù tội “...đã trở thành biểu tượng thúc đẩy cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng tại VN và hải ngoại”. và “cộng đồng thế giới phải lên án những bản án nặng nề và áp lực chính phủ (VN) trả tự do cho những nhà hoạt động dân chủ”.
Qua tờ Wall Street Journal, luật sư quốc tế Robert Amsterdam có bài nói về “Ngôn ngữ nhân quyền, ngữ pháp công lý bị rơi vào tay những kẻ không thích hợp”, lưu ý rằng “một phiên xử mà không có quyền bào chữa nào cũng gọi là “phiên xử”, một sự kết tội nhận lệnh từ lãnh tụ độc đoán – chứ không phải quan tòa – vẫn gọi là “tội”, và rồi tiếp tục tồn tại một quan niệm sâu rộng và nguy hiểm rằng luật pháp và tòa án phối hợp hoạt động tốt đẹp...”. Vẫn theo luật sư này thì đối với những chính phủ độc tài, “việc áp dụng tội trạng là mục tiêu của họ hơn là thực trạng có tội, vì họ dựa vào quyền lực để xóa bỏ tình trạng được coi là vô tội khi chưa có án quyết. Họ biết rằng chỉ bằng cách gán cho những nhà bất đồng chính kiến hay đối lập là tội phạm, thì công chúng cũng sẽ xem những người này như vậy”.
Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All rights reserved.
Thanh Quang, phóng viên đài RFA
2010-01-31
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Why-vietnam-embarks-campaign-of-tighter-repression-tquang-01312010125532.html
Trong thời gian gần đây, VN xem chừng như trở thành trọng tâm chú ý của công luận khi những vụ đàn áp, giam giữ, kết án diễn ra gần như dồn dập trong nước trước sự làm ngơ của giới cầm quyền đối với phản ứng khắp nơi.
Câu hỏi được nêu lên là vì sao VN đột nhiên tăng tốc chiến dịch đàn áp như vậy. Tổng hợp thông tin liên hệ, Thanh Quang trình bày tình hình này sau đây:
Kể từ tháng 3 năm ngoái, VN xem chừng như mở rộng chiến dịch đàn áp nặng tay đối với giới tu hành và những nhà bất đồng chính kiến, tiến hành đợt bắt bớ mới nhắm vào các luật sư độc lập, bloggers, những nhà hoạt động cho dân chủ dám chỉ trích đường lối, chính sách của giới cầm quyền, khiến hằng chục tù nhân lương tâm gần như liên tiếp lâm vào cảnh lao lý sau những phiên xử bất công.
Và rồi những bản án tù nặng nề gần đây nhất với những tội danh thường thấy như “xâm phạm an ninh quốc gia”, “tuyên truyền chống phá nhà nước”, thậm chí “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, đã dành cho những người có tâm huyết với đất nước.
Đại hội đảng XI, tranh giành quyền lực
Khi đề cập tới tình trạng đàn áp tại VN, qua bài “Những vụ kết tội nguy hiểm”, báo The Economist của Anh có nêu lên nghi vấn rằng “không rõ tại sao VN phát động chiến dịch đàn áp nặng tay hơn trong thời gian gần đây”. Bài báo trích dẫn lời một số quan sát viên cho rằng tình hình căng thẳng này diễn ra vì sắp sửa có đại hội đảng lần thứ 11 vào năm tới. Trong khi những người khác tin là chính cuộc đấu tranh trong Bộ Chính trị - giữa phe thân Trung Quốc và phe thân Phương Tây - mới là thủ phạm. Theo bài báo thì tình trạng gọi là cởi mở chính trị tại VN có thể ví như chỉ số thị trường, trồi sụt theo thời gian. Nhưng bài báo khẳng định là chừng nào mà hệ thống giáo dục VN còn đưa thế hệ trẻ có khả năng đi du học nước ngoài, thì khi trở về quê, họ sẽ bị ảnh hưởng của những tư tưởng phương Tây.
Tờ Wall Street Journal của Mỹ mới đây, qua bài tựa đề “Hà Nội đàn áp nhân quyền”, cũng nêu lên thắc mắc tương tự, rằng “Không rõ tại sao giới lãnh đạo VN bất ngờ áp dụng đường lối cứng rắn chống tự do bày tỏ cảm tưởng?”. Theo nhận xét của bài báo thì việc Hà Nội kết án 5 năm rưởi tù đối với cựu trung tá Trần Anh Kim về tội gọi là “thực hiện những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là một phản ứng hốt hoảng trước phong trào đối lập đang được sự ủng hộ của dân chúng”. Vẫn theo bài báo thì cũng có thể chiến dịch ngày càng nặng tay của giới cầm quyền là nhằm gởi một thông điệp cho phe cán bộ chủ trương cải cách, cũng như tìm cách đoàn kết lại các phe nhóm trong đảng trước kỳ đại hội toàn quốc vào năm tới. Bài báo kết luận rằng cho dù vì lý do gì đi nữa, thì hành động của VN gởi một thông điệp rõ ràng là mặc dù VN mong ước hội nhập chặt chẽ hơn với thế giới qua phương cách đối thoại về thương mại, chính trị, nhưng căn nguyên vấn đề là VN vẫn còn dưới thể chế độc đoán rất bấp bênh và lạc hậu.
Ngay sau vụ xử 4 nhà nhà dân chủ ở Saigòn, kể cả LS Lê Công Định và thạc sĩ công nghệ thông tin Nguyễn Tiến Trung, tổ chức Ân Xá Quốc Tế trụ sở tại Luân Đôn, Anh Quốc ra một thông cáo báo chí, trích dẫn lời ông Brittis Edman, chuyên gia nghiên cứu về VN của Tổ chức Ân Xá Quốc Tế lưu ý rằng “Vụ xử này là một hình thức hoàn toàn chế giễu công lý, bất chấp những nhân quyền căn bản...”. Vẫn theo viên chức vừa nói thì lẽ ra những nhà dân chủ ấy “không bao giờ bị bắt, chứ đừng nói tới chuyện bị buộc tội và lãnh án tù.” Vì sao, viên chức ấy giải thích, vì “phiên xử không cho bị cáo hưởng quyền được bào chữa đúng nghĩa, cho thấy rõ tình trạng VN thiếu tôn trọng tự do ngôn luận và bất đồng chính kiến trong ôn hòa, cũng như tòa án không được độc lập”. Bản thông cáo báo chí của Tổ chức Ân xá Quốc tế kết luận rằng phiên xử cũng chứng tỏ VN cần phải cấp bách cải cách những khuyết điểm nghiêm trọng trong Bộ Luật Hình sự năm 1999, những điều khoản mơ hồ dùng để kết tội những nhà bất đồng chính kiến ôn hòa – là điều đi ngược lại với nghĩa vụ của VN trong khuôn khổ luật quốc tế.
Tờ The Times ở Luân Đôn trích dẫn lời ông Brad Adams, Giám đốc Á Châu của tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch trụ sở tại New York lưu ý rằng “thái độ thù nghịch đối với tự do bày tỏ cảm tưởng và bất đồng chính kiến ôn hòa ngày càng trở nên trắng trợn trong giai đọan trước khi có đại hội đảng vào năm tới”. Và ông kêu gọi “VN phải chấm dứt hành động buộc tội và bỏ tù những người chỉ trích chính phủ chỉ vì họ thực thi quyền tự do ngôn luận, và VN cần phải bắt đầu tôn trọng nghĩa vụ của mình theo những công ước về nhân quyền mà chính Hà Nội đã ký kết”.
Theo tổ chức Ký Giả Không Biên Giới trụ sở tại Paris, Pháp Quốc, thì “những nhà dân chủ đấu tranh ôn hòa đang phải trả giá cho chứng hoang tưởng và những vụ tranh giành quyền lực trong nội bộ đảng cộng sản cầm quyền trước khi diễn ra đại hội đảng vào năm tới”.
Tổ chức Ký Giả Không Biên Giới lưu ý rằng “Làn sóng bắt bớ đó sẽ không chấm dứt được cuộc tranh luận về tương lai đất nước (VN)”. Theo tổ chức này thì những nhà bất đống chính kiến bị tù tội “...đã trở thành biểu tượng thúc đẩy cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng tại VN và hải ngoại”. và “cộng đồng thế giới phải lên án những bản án nặng nề và áp lực chính phủ (VN) trả tự do cho những nhà hoạt động dân chủ”.
Qua tờ Wall Street Journal, luật sư quốc tế Robert Amsterdam có bài nói về “Ngôn ngữ nhân quyền, ngữ pháp công lý bị rơi vào tay những kẻ không thích hợp”, lưu ý rằng “một phiên xử mà không có quyền bào chữa nào cũng gọi là “phiên xử”, một sự kết tội nhận lệnh từ lãnh tụ độc đoán – chứ không phải quan tòa – vẫn gọi là “tội”, và rồi tiếp tục tồn tại một quan niệm sâu rộng và nguy hiểm rằng luật pháp và tòa án phối hợp hoạt động tốt đẹp...”. Vẫn theo luật sư này thì đối với những chính phủ độc tài, “việc áp dụng tội trạng là mục tiêu của họ hơn là thực trạng có tội, vì họ dựa vào quyền lực để xóa bỏ tình trạng được coi là vô tội khi chưa có án quyết. Họ biết rằng chỉ bằng cách gán cho những nhà bất đồng chính kiến hay đối lập là tội phạm, thì công chúng cũng sẽ xem những người này như vậy”.
Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All rights reserved.
Nhà Văn PHẠM ĐÌNH TRỌNG Tường Trình BUỔI LÀM VIỆC CUỐI CÙNG với TỔ CHỨC ĐẢNG
Trở về với nhân dân:
Tường trình buổi làm việc cuối cùng của tôi với tổ chức đảng
Phạm Đình Trọng
Đăng ngày 31/01/2010 lúc 05:36:59 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4552
Đảng ủy quận Tân Bình. Đảng ủy phường 15.
Thư mời.
Ban chấp hành đảng bộ phường 15 (Dòng trên là đảng ủy phường 15, ngay dòng dưới lại là đảng bộ phường 15), kính mời đảng viên Phạm Đình Trọng đến tại: Hội trường A – UBND phường 15, số 822 Trường Chinh, phường 15, quận Tân Bình lúc 08 giờ 00 ngày 18 tháng 1 năm 200 (năm 2010 nhưng thiếu số 1 giữa hai số 0).
Nội dung: Theo đơn Thông báo về việc từ bỏ đảng tịch. Rất mong các đồng chí đến dự đúng thời gian.
T/M Đảng ủy.
Phó bí thư Bành Anh Tuấn.
*
Đọc thư mời trên, tôi xác định ngay sẽ tham dự cuộc họp, mặc dù trước đó tôi đã từ chối mọi lời mời dự sinh họat đảng. Ngày 23.11.2009, tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản. Từ đó tôi đã từ chối tất cả những lời mời đi họp tổ đảng, họp chi bộ: “Tôi đã từ bỏ đảng là chấm dứt mọi liên quan với đảng”. Nhưng tôi sẽ tham dự cuộc họp này với đảng ủy phường 15.
Thành phần dự họp có bốn cấp: Quận ủy, đảng ủy phường, chi ủy, tổ trưởg đảng. Quận ủy có: Phó ban kiểm tra, cán bộ ban kiểm tra, phó ban tuyên giáo, phó ban dân vận, cán bộ ban tổ chức, cán bộ văn phòng quận ủy. Đảng ủy phường có: Bí thư, phó bí thư, trưởng và phó ban kiểm tra. Ngoài ra còn có chủ tịch hội Cựu chiến binh phường.
Trưởng ban kiểm tra đảng ủy phường 15 mở đầu cuộc họp nói rằng: Trong cuộc họp chi bộ khu phố Bốn, ngày 6.12.2009, 56/56 đảng viên ở chi bộ đã biểu quyết nhất trí khai trừ đồng chí Trọng ra khỏi đảng. Nay đảng ủy phường muốn nghe thêm về suy nghĩ, tâm tư của đồng chí Trọng. Sao kì vậy ta? Ngay cả việc xét xử tội phạm hình sự, bị can còn được nói lời cuối cùng rồi tòa mới tuyên án. Chỉ 13 ngày sau khi tôi đưa Thông báo từ bỏ đảng, chi bộ đã mau lẹ triệu tập họp khai trừ tôi. Vậy mà 42 ngày sau khi khai trừ tôi ra khỏi đảng, đảng ủy mới cho tôi nói lời cuối cùng là sao? Cách làm giễu cợt cả quy ước luật pháp và giễu cợt con người đến vậy sao? Cố nén lòng lại để giữ bình tĩnh, tôi đứng lên. Đã từ lâu tôi không dùng từ đồng chí. Nay không còn là đảng viên nữa, tôi càng không muốn dùng từ đó.
Tôi nói:
- Thưa các anh! Thưa các chị! Dù thấy rõ trong quá khứ đảng có nhiều sai lầm với dân tộc và theo tôi, trong hiện tại đảng cũng đang trượt trong sai lầm cả trong đối nội và đối ngọai nhưng trước ngày 13.11.2009, tôi chưa hề có ý định từ bỏ đảng. Tôi vẫn muốn tham gia, có ý kiến với đảng với tư cách là đảng viên đóng góp xây dựng đảng để đảng khắc phục sai lầm, đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử đưa đất nước bước vào thời kì phát triển huy hoàng. Nhưng cuộc họp với đảng ủy phường 15 ngày 13.11.2009 đã đưa tôi đi đến quyết định từ bỏ đảng!
Tôi đưa bài viết « Ăn mày dĩ vãng – Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh » cho tổ chức đảng là để đảng nhìn lại một chủ trương, một việc làm hình thức, không thật lòng. Đây là một vấn đề của tư tưởng văn hóa, là một sinh họat tư tưởng. Lẽ ra cơ quan tuyên giáo của đảng phải gặp tôi, chân thành và trung thực trao đổi với tôi xem bài viết của tôi đúng sai thế nào. Nếu tôi sai, khi đó cơ quan kiểm tra đảng mới vào cuộc xem xét đánh giá mức độ sai trái của tôi để xử lí. Nhưng tổ chức đảng đã không có được nề nếp dân chủ, không có được sự cầu thị, lắng nghe. Cơ quan tuyên giáo, cơ quan lí luận tư tưởng của đảng từ thấp đến cao đều làm thinh trước đóng góp chân thành và thẳng thắn của tôi, để cơ quan kiểm tra đảng là cơ quan kỉ luật phán xét bài viết của tôi!
Ngày 11.9.2009, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 mời tôi đến “trao đổi về bài viết Ăn mày dĩ vãng” chỉ để hỏi tôi đã gửi bài viết cho những ai ! Ngày 13.11.2009, đảng ủy phường 15 lại mời tôi đến “Nghe UBKT/ĐU (Ủy ban kiểm tra đảng ủy) thông báo việc giải quyết tài liệu « Ăn mày dĩ vãng – Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”. Ban kiểm tra đảng ủy phường 15 đã tự đặt họ ở vị trí quá cao. Bài viết Ăn mày dĩ vãng của tôi nêu những vấn đề về tư tưởng, lí luận và thực tiễn đặt ra với cơ quan tuyên giáo trung ương và cơ quan lí luận trung ương đảng. Ban kiểm tra đảng ủy phường 15 không có phận sự và cũng không đủ tầm giải quyết!
Nhưng suốt hơn nửa thế kỉ cầm quyền, ỷ vào quyền lực và quen cách hành xử áp đặt của chuyên chính vô sản, đảng và nhà nước ta đã tạo ra một thói quen, một thông lệ là: Những họat động xã hội nào cơ quan nhà nước do năng lực yếu kém hoặc do tiêu cực không quản lí được liền dùng quyền lực để cấm! Những vấn đề, những vụ việc gì cơ quan chức năng không giải quyết được bằng lí lẽ, bằng lẽ phải liền dùng sức mạnh công cụ, dùng quyền uy của tổ chức để trị! Dù ở cấp quyền lực thấp nhất của tổ chức đảng, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 cũng rất thuần thục trong cách hành xử đó! Và cách trị dễ nhất, tiện nhất, nhanh nhất và đã đời nhất là đẩy kẻ cần trị sang phía các thế lực thù địch, có tư tưởng chống đối, không còn trung thành với đảng, với Tổ quốc nữa!
Những ý kiến thẳng thắn và chân thành của tôi về một việc làm không thật lòng của đảng, về một nếp tư duy, một cách làm công tác tư tưởng của đảng không còn phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Vấn đề đó vượt ra ngoài rất xa tầm của ban kiểm tra đảng ủy cấp phường. Không đủ tầm giải quyết, ban kiểm tra phường 15 chỉ còn cách bác bỏ thẳng thừng những ý kiến chân thành và thẳng thắn của tôi. Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng, bài viết Ăn mày dĩ vãng của tôi nêu ra những sự thật trần trụi, nghiệt ngã.
Những sự thật đó là hiển nhiên, tôi không thể bịa đặt! Nói ra sự thật đã khó nhưng biết nghe sự thật còn khó hơn! Phải trung thực và dũng cảm mới dám nhìn vào sự thật không đẹp đẽ, mới tiếp cận được chân lí. Đảng đã mở đầu sự nghiệp đổi mới bằng sự dũng cảm: Nhìn thẳng vào sự thật! Nhưng ngày nay sự dũng cảm ấy dường như đã vắng bóng! Đảng hôm nay miệng vẫn nói đổi mới đấy nhưng lòng dũng cảm không còn và bản lĩnh cũng không đủ thì không thể đổi mới, đành làm theo bài bản cũ, giáo điều, rập khuôn!
Tán dương, hùa theo, nói leo chính thống thì dễ quá, lại an toan và dễ bề thăng tiến. Nhưng hùa theo, tán dương những việc làm trái với tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh là đã phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh.
Lòng trung thực và sự lương thiện không cho tôi làm điều đó. Thẳng thắn chỉ ra những chủ trương, những việc làm trái với tư tưởng chân chính của Hồ Chí Minh là tôi đã dũng cảm bảo vệ tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh. Hùa theo sai trái của chính thống trong việc làm trái với tư tưởng thực sự của Hồ Chí Minh, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 đã vu cho tôi tội xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh!
Không đủ dũng cảm nhìn vào sự thật cay đắng thì người nói ra sự thật tất sẽ mang vạ! Tôi hiểu điều đó nhưng vì còn tin yêu đảng, vì đảng chính là một phần cuộc đời tôi nên tôi phải chỉ ra sự thật. Phải nặng lòng với đảng lắm tôi mới viết ra những điều day dứt, xót xa tự trong sâu thẳm lòng mình với đảng. Không đủ tầm tư tưởng, cũng không đủ tấm lòng cởi mở nhìn nhận vấn đề, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 với tư duy xơ cứng, với chức năng qui kết, với ngôn từ quen thuộc đã đẩy tôi sang phía đối lập với đảng, biến tôi thành tội đồ của đảng, tội đồ của Tổ quốc! Trong cuộc họp ngày 18.01.2010 với cán bộ quận ủy Tân Bình và đảng ủy phường 15 tôi đã gọi tên việc làm đó của ban kiểm tra đảng ủy phường 15 là: về nhận thức, đó là độc quyền chân lí, về cách làm là cả vú lấp miệng em!
Ỷ vào sức mạnh của tổ chức, của bạo lực chuyên chính, của độc quyền chân lí là cách hành xử của những người năng lực yếu kém. Cách hành xử này không phải chỉ có ở đảng ủy phường 15 quận Tân Bình mà là cách hành xử khá phổ biến của các cơ quan đảng và nhà nước ta hiện nay. Bỏ ngoài tai sự đóng góp trung thực của tôi, những người đã làm nhiều điều trái với tư tưởng thật sự của Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục dùng đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân rầm rộ phô trương một việc làm không thật lòng: Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh! Trước thực trạng đó, tôi thấy chỉ còn cách từ bỏ sự không trung thực đó để được vẫn trung thành với lí tưởng chân chính của đảng mà tôi đã hiến dâng những năm tháng đẹp nhất cuộc đời. Tôi phải tách ra khỏi những việc làm ngược với tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh để tôi vẫn được trung thành với lí tưởng vì nước vì dân của Hồ Chí Minh.
Dù đã ra khỏi đảng nhưng đảng vẫn là một phần cuộc đời tôi, đảng vẫn còn trong máu thịt tôi nên đảng tốt đẹp thì tôi cũng mở mày mở mặt, đảng chưa tốt thì tôi cũng xót xa, phiền muộn. Vì thế trong buổi làm việc cuối cùng của tôi với tổ chức đảng ngày 18.01.2010, tôi phải thưa với tổ chức đảng một nỗi phiền muộn là:
Ngày 23.11.2009, tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản. Từ đó cho đến cuộc họp ngày 18.01.2010, tổ chức đảng không có một lời với tôi. Nhưng đầu tháng 1 năm 2010, con trai tôi là Kiến trúc sư bỗng nhận được liên tiếp hai cuộc điện thoại của một người đàn ông không xưng tên, không nói là người ở cơ quan nào đe nẹt con trai tôi rằng muốn yên ổn làm ăn thì phải nói với bố đừng viết bài chống đảng nữa! Tiếp đến ba người phụ nữ xưng là ở hội Phụ nữ quận, hội Phụ nữ phường và tổ phụ nữ khu phố đến gặp con gái tôi cũng nói với con gái tôi như người đàn ông đã gọi điện nói với con trai tôi! Là đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước, dù là tổ chức đảng ở cấp phường cũng cần hành xử với tư thế “đường đường phương diện quốc gia”. Là công dân, tôi có đầy đủ trách nhiệm trước pháp luật. Là người lính đã để lại toàn bộ năm tháng tuổi trẻ vào cuộc kháng chiến giữ nước, tôi không thể không suy nghĩ, trăn trở cùng nhân dân, cùng đất nước tôi. Là nhà văn, những nghĩ suy trăn trở ấy phải trở thành trang viết. Những trang viết đó để ghi nhận, phát hiện hiện thực đất nước và giãi bày hiện thực trong lòng tôi. Những trang viết đó không phải để chống đảng. Tôi đã có đủ tư thế và lòng dũng cảm nêu những vấn đề của đất nước, của cuộc sống thì tôi cũng có đầy đủ trách nhiệm trước những trang viết của tôi về những vấn đề đó. Đe dọa cuộc sống làm ăn của con tôi để gây áp lực với tôi là việc làm không sòng phẳng, không đàng hoàng ở tư thế phương diện quốc gia!
Ngay sau hôm tôi làm việc với tổ chức đảng, một đại tá hưu trí ở hội Cựu chiến binh quận Tân Bình, đại tá Lê Minh Phong đến gặp tôi. Ông nói rằng: Bí thư quận ủy Tân Bình Nguyễn Thị Kim Hoàng và cả phó Bí thư thường trực thành ủy Nguyễn Văn Đua đều có lời đề nghị ông đến gặp và nói chuyện với tôi. Tôi ghi nhận sự quan tâm của Bí thư quận ủy Tân Bình Nguyễn Thị Kim Hoàng và phó Bí thư thường trực thành ủy Nguyễn Văn Đua dành cho tôi. Trước sự quan tâm đó, tôi viết những dòng này để giãi bày sự son sắt trung trinh đối với đảng của tôi. Ra khỏi đảng Cộng sản nhưng trong tôi mãi mãi còn một đảng lớn lao, thiêng liêng là đảng của Dân tộc Việt Nam.
Vua sáng mới dùng được tôi hiền. Người trung thực, tâm sáng mới nghe được lời nói thẳng. Đến Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, nơi tập hợp những lõi sáng hàng đầu đất nước còn phải tự giải tán. Lời tâm huyết của những trí tuệ hàng đầu đất nước còn không được lắng nghe thì những ý kiến nông nổi của tôi nào có nghĩa lí gì! Trong tình thế đó, với thời cuộc này thì đây là những dòng cuối cùng tôi viết trực tiếp về thế sự! Giã từ thế sự để trở về giấu mình vào văn chương! Lại nhớ ông Nghè Nguyễn Khuyến, một người hiền ba lần đỗ Giải Nguyên nhưng gặp phải thời triều đình nhà Nguyễn lần lượt dâng từng phần đất đai gấm vóc của tổ tiên cho thực dân Pháp để giữ lấy ngai vàng, Nguyễn Khuyến cũng phải lui về giấu mình vào văn chương khi mới bốn mươi tám tuổi. Tưởng giấu mình vào văn chương nhưng nỗi niềm Nguyễn Khuyến cứ lồ lộ trong văn chương: Ơn vua chưa chút báo đền / Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn Trời! Khi thân phận kẻ sĩ đã gắn liền với thân phận đất nước thì chẳng thể nào an phận với riêng mình: Nếu trơ như đá thì đâu khổ / Còn chút lương tâm mới khó nguôi!
Phạm Đình Trọng
-------------------------------
Nhà Văn PHẠM ĐÌNH TRỌNG Từ Bỏ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nhà Văn PHẠM ĐÌNH TRỌNG Từ Bỏ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (nhanquyenchovn)
Thông báo về việc từ bỏ đảng tịch đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam (thông luận)
Nhà văn Phạm Đình Trọng sinh năm 1944 tại Hải Phòng, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Một số tác phẩm của ông đã xuất bản bao gồm: Rừng và biển (1981), Một sự nổi tiếng (1987), Sự tích đảo (1993), Cuộc gặp gỡ muộn màng (1994), Ve ve nói chẳng thèm nghe (1995), Niềm vui lớn của mẹ (2004), Một thuở (2008)…Bài liên quan:
• “Thư gửi Thủ tướng về vấn đề khai thác bauxit Tây Nguyên” . Thông Luận, ngày 07/03/2009.
• “Ăn mày dĩ vãng – thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”. Thông Luận, ngày 14/07/2009.
• “Thời nghịch lí”. Thông Luận, ngày 30/09/2009.
Tường trình buổi làm việc cuối cùng của tôi với tổ chức đảng
Phạm Đình Trọng
Đăng ngày 31/01/2010 lúc 05:36:59 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=4552
Đảng ủy quận Tân Bình. Đảng ủy phường 15.
Thư mời.
Ban chấp hành đảng bộ phường 15 (Dòng trên là đảng ủy phường 15, ngay dòng dưới lại là đảng bộ phường 15), kính mời đảng viên Phạm Đình Trọng đến tại: Hội trường A – UBND phường 15, số 822 Trường Chinh, phường 15, quận Tân Bình lúc 08 giờ 00 ngày 18 tháng 1 năm 200 (năm 2010 nhưng thiếu số 1 giữa hai số 0).
Nội dung: Theo đơn Thông báo về việc từ bỏ đảng tịch. Rất mong các đồng chí đến dự đúng thời gian.
T/M Đảng ủy.
Phó bí thư Bành Anh Tuấn.
*
Đọc thư mời trên, tôi xác định ngay sẽ tham dự cuộc họp, mặc dù trước đó tôi đã từ chối mọi lời mời dự sinh họat đảng. Ngày 23.11.2009, tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản. Từ đó tôi đã từ chối tất cả những lời mời đi họp tổ đảng, họp chi bộ: “Tôi đã từ bỏ đảng là chấm dứt mọi liên quan với đảng”. Nhưng tôi sẽ tham dự cuộc họp này với đảng ủy phường 15.
Thành phần dự họp có bốn cấp: Quận ủy, đảng ủy phường, chi ủy, tổ trưởg đảng. Quận ủy có: Phó ban kiểm tra, cán bộ ban kiểm tra, phó ban tuyên giáo, phó ban dân vận, cán bộ ban tổ chức, cán bộ văn phòng quận ủy. Đảng ủy phường có: Bí thư, phó bí thư, trưởng và phó ban kiểm tra. Ngoài ra còn có chủ tịch hội Cựu chiến binh phường.
Trưởng ban kiểm tra đảng ủy phường 15 mở đầu cuộc họp nói rằng: Trong cuộc họp chi bộ khu phố Bốn, ngày 6.12.2009, 56/56 đảng viên ở chi bộ đã biểu quyết nhất trí khai trừ đồng chí Trọng ra khỏi đảng. Nay đảng ủy phường muốn nghe thêm về suy nghĩ, tâm tư của đồng chí Trọng. Sao kì vậy ta? Ngay cả việc xét xử tội phạm hình sự, bị can còn được nói lời cuối cùng rồi tòa mới tuyên án. Chỉ 13 ngày sau khi tôi đưa Thông báo từ bỏ đảng, chi bộ đã mau lẹ triệu tập họp khai trừ tôi. Vậy mà 42 ngày sau khi khai trừ tôi ra khỏi đảng, đảng ủy mới cho tôi nói lời cuối cùng là sao? Cách làm giễu cợt cả quy ước luật pháp và giễu cợt con người đến vậy sao? Cố nén lòng lại để giữ bình tĩnh, tôi đứng lên. Đã từ lâu tôi không dùng từ đồng chí. Nay không còn là đảng viên nữa, tôi càng không muốn dùng từ đó.
Tôi nói:
- Thưa các anh! Thưa các chị! Dù thấy rõ trong quá khứ đảng có nhiều sai lầm với dân tộc và theo tôi, trong hiện tại đảng cũng đang trượt trong sai lầm cả trong đối nội và đối ngọai nhưng trước ngày 13.11.2009, tôi chưa hề có ý định từ bỏ đảng. Tôi vẫn muốn tham gia, có ý kiến với đảng với tư cách là đảng viên đóng góp xây dựng đảng để đảng khắc phục sai lầm, đảm nhiệm được sứ mệnh lịch sử đưa đất nước bước vào thời kì phát triển huy hoàng. Nhưng cuộc họp với đảng ủy phường 15 ngày 13.11.2009 đã đưa tôi đi đến quyết định từ bỏ đảng!
Tôi đưa bài viết « Ăn mày dĩ vãng – Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh » cho tổ chức đảng là để đảng nhìn lại một chủ trương, một việc làm hình thức, không thật lòng. Đây là một vấn đề của tư tưởng văn hóa, là một sinh họat tư tưởng. Lẽ ra cơ quan tuyên giáo của đảng phải gặp tôi, chân thành và trung thực trao đổi với tôi xem bài viết của tôi đúng sai thế nào. Nếu tôi sai, khi đó cơ quan kiểm tra đảng mới vào cuộc xem xét đánh giá mức độ sai trái của tôi để xử lí. Nhưng tổ chức đảng đã không có được nề nếp dân chủ, không có được sự cầu thị, lắng nghe. Cơ quan tuyên giáo, cơ quan lí luận tư tưởng của đảng từ thấp đến cao đều làm thinh trước đóng góp chân thành và thẳng thắn của tôi, để cơ quan kiểm tra đảng là cơ quan kỉ luật phán xét bài viết của tôi!
Ngày 11.9.2009, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 mời tôi đến “trao đổi về bài viết Ăn mày dĩ vãng” chỉ để hỏi tôi đã gửi bài viết cho những ai ! Ngày 13.11.2009, đảng ủy phường 15 lại mời tôi đến “Nghe UBKT/ĐU (Ủy ban kiểm tra đảng ủy) thông báo việc giải quyết tài liệu « Ăn mày dĩ vãng – Thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”. Ban kiểm tra đảng ủy phường 15 đã tự đặt họ ở vị trí quá cao. Bài viết Ăn mày dĩ vãng của tôi nêu những vấn đề về tư tưởng, lí luận và thực tiễn đặt ra với cơ quan tuyên giáo trung ương và cơ quan lí luận trung ương đảng. Ban kiểm tra đảng ủy phường 15 không có phận sự và cũng không đủ tầm giải quyết!
Nhưng suốt hơn nửa thế kỉ cầm quyền, ỷ vào quyền lực và quen cách hành xử áp đặt của chuyên chính vô sản, đảng và nhà nước ta đã tạo ra một thói quen, một thông lệ là: Những họat động xã hội nào cơ quan nhà nước do năng lực yếu kém hoặc do tiêu cực không quản lí được liền dùng quyền lực để cấm! Những vấn đề, những vụ việc gì cơ quan chức năng không giải quyết được bằng lí lẽ, bằng lẽ phải liền dùng sức mạnh công cụ, dùng quyền uy của tổ chức để trị! Dù ở cấp quyền lực thấp nhất của tổ chức đảng, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 cũng rất thuần thục trong cách hành xử đó! Và cách trị dễ nhất, tiện nhất, nhanh nhất và đã đời nhất là đẩy kẻ cần trị sang phía các thế lực thù địch, có tư tưởng chống đối, không còn trung thành với đảng, với Tổ quốc nữa!
Những ý kiến thẳng thắn và chân thành của tôi về một việc làm không thật lòng của đảng, về một nếp tư duy, một cách làm công tác tư tưởng của đảng không còn phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Vấn đề đó vượt ra ngoài rất xa tầm của ban kiểm tra đảng ủy cấp phường. Không đủ tầm giải quyết, ban kiểm tra phường 15 chỉ còn cách bác bỏ thẳng thừng những ý kiến chân thành và thẳng thắn của tôi. Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng, bài viết Ăn mày dĩ vãng của tôi nêu ra những sự thật trần trụi, nghiệt ngã.
Những sự thật đó là hiển nhiên, tôi không thể bịa đặt! Nói ra sự thật đã khó nhưng biết nghe sự thật còn khó hơn! Phải trung thực và dũng cảm mới dám nhìn vào sự thật không đẹp đẽ, mới tiếp cận được chân lí. Đảng đã mở đầu sự nghiệp đổi mới bằng sự dũng cảm: Nhìn thẳng vào sự thật! Nhưng ngày nay sự dũng cảm ấy dường như đã vắng bóng! Đảng hôm nay miệng vẫn nói đổi mới đấy nhưng lòng dũng cảm không còn và bản lĩnh cũng không đủ thì không thể đổi mới, đành làm theo bài bản cũ, giáo điều, rập khuôn!
Tán dương, hùa theo, nói leo chính thống thì dễ quá, lại an toan và dễ bề thăng tiến. Nhưng hùa theo, tán dương những việc làm trái với tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh là đã phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh.
Lòng trung thực và sự lương thiện không cho tôi làm điều đó. Thẳng thắn chỉ ra những chủ trương, những việc làm trái với tư tưởng chân chính của Hồ Chí Minh là tôi đã dũng cảm bảo vệ tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh. Hùa theo sai trái của chính thống trong việc làm trái với tư tưởng thực sự của Hồ Chí Minh, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 đã vu cho tôi tội xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh!
Không đủ dũng cảm nhìn vào sự thật cay đắng thì người nói ra sự thật tất sẽ mang vạ! Tôi hiểu điều đó nhưng vì còn tin yêu đảng, vì đảng chính là một phần cuộc đời tôi nên tôi phải chỉ ra sự thật. Phải nặng lòng với đảng lắm tôi mới viết ra những điều day dứt, xót xa tự trong sâu thẳm lòng mình với đảng. Không đủ tầm tư tưởng, cũng không đủ tấm lòng cởi mở nhìn nhận vấn đề, ban kiểm tra đảng ủy phường 15 với tư duy xơ cứng, với chức năng qui kết, với ngôn từ quen thuộc đã đẩy tôi sang phía đối lập với đảng, biến tôi thành tội đồ của đảng, tội đồ của Tổ quốc! Trong cuộc họp ngày 18.01.2010 với cán bộ quận ủy Tân Bình và đảng ủy phường 15 tôi đã gọi tên việc làm đó của ban kiểm tra đảng ủy phường 15 là: về nhận thức, đó là độc quyền chân lí, về cách làm là cả vú lấp miệng em!
Ỷ vào sức mạnh của tổ chức, của bạo lực chuyên chính, của độc quyền chân lí là cách hành xử của những người năng lực yếu kém. Cách hành xử này không phải chỉ có ở đảng ủy phường 15 quận Tân Bình mà là cách hành xử khá phổ biến của các cơ quan đảng và nhà nước ta hiện nay. Bỏ ngoài tai sự đóng góp trung thực của tôi, những người đã làm nhiều điều trái với tư tưởng thật sự của Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục dùng đồng tiền thuế mồ hôi nước mắt của dân rầm rộ phô trương một việc làm không thật lòng: Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh! Trước thực trạng đó, tôi thấy chỉ còn cách từ bỏ sự không trung thực đó để được vẫn trung thành với lí tưởng chân chính của đảng mà tôi đã hiến dâng những năm tháng đẹp nhất cuộc đời. Tôi phải tách ra khỏi những việc làm ngược với tư tưởng đích thực của Hồ Chí Minh để tôi vẫn được trung thành với lí tưởng vì nước vì dân của Hồ Chí Minh.
Dù đã ra khỏi đảng nhưng đảng vẫn là một phần cuộc đời tôi, đảng vẫn còn trong máu thịt tôi nên đảng tốt đẹp thì tôi cũng mở mày mở mặt, đảng chưa tốt thì tôi cũng xót xa, phiền muộn. Vì thế trong buổi làm việc cuối cùng của tôi với tổ chức đảng ngày 18.01.2010, tôi phải thưa với tổ chức đảng một nỗi phiền muộn là:
Ngày 23.11.2009, tôi đưa cho tổ chức đảng Thông báo từ bỏ đảng tịch đảng viên Cộng sản. Từ đó cho đến cuộc họp ngày 18.01.2010, tổ chức đảng không có một lời với tôi. Nhưng đầu tháng 1 năm 2010, con trai tôi là Kiến trúc sư bỗng nhận được liên tiếp hai cuộc điện thoại của một người đàn ông không xưng tên, không nói là người ở cơ quan nào đe nẹt con trai tôi rằng muốn yên ổn làm ăn thì phải nói với bố đừng viết bài chống đảng nữa! Tiếp đến ba người phụ nữ xưng là ở hội Phụ nữ quận, hội Phụ nữ phường và tổ phụ nữ khu phố đến gặp con gái tôi cũng nói với con gái tôi như người đàn ông đã gọi điện nói với con trai tôi! Là đảng cầm quyền, đảng lãnh đạo nhà nước, dù là tổ chức đảng ở cấp phường cũng cần hành xử với tư thế “đường đường phương diện quốc gia”. Là công dân, tôi có đầy đủ trách nhiệm trước pháp luật. Là người lính đã để lại toàn bộ năm tháng tuổi trẻ vào cuộc kháng chiến giữ nước, tôi không thể không suy nghĩ, trăn trở cùng nhân dân, cùng đất nước tôi. Là nhà văn, những nghĩ suy trăn trở ấy phải trở thành trang viết. Những trang viết đó để ghi nhận, phát hiện hiện thực đất nước và giãi bày hiện thực trong lòng tôi. Những trang viết đó không phải để chống đảng. Tôi đã có đủ tư thế và lòng dũng cảm nêu những vấn đề của đất nước, của cuộc sống thì tôi cũng có đầy đủ trách nhiệm trước những trang viết của tôi về những vấn đề đó. Đe dọa cuộc sống làm ăn của con tôi để gây áp lực với tôi là việc làm không sòng phẳng, không đàng hoàng ở tư thế phương diện quốc gia!
Ngay sau hôm tôi làm việc với tổ chức đảng, một đại tá hưu trí ở hội Cựu chiến binh quận Tân Bình, đại tá Lê Minh Phong đến gặp tôi. Ông nói rằng: Bí thư quận ủy Tân Bình Nguyễn Thị Kim Hoàng và cả phó Bí thư thường trực thành ủy Nguyễn Văn Đua đều có lời đề nghị ông đến gặp và nói chuyện với tôi. Tôi ghi nhận sự quan tâm của Bí thư quận ủy Tân Bình Nguyễn Thị Kim Hoàng và phó Bí thư thường trực thành ủy Nguyễn Văn Đua dành cho tôi. Trước sự quan tâm đó, tôi viết những dòng này để giãi bày sự son sắt trung trinh đối với đảng của tôi. Ra khỏi đảng Cộng sản nhưng trong tôi mãi mãi còn một đảng lớn lao, thiêng liêng là đảng của Dân tộc Việt Nam.
Vua sáng mới dùng được tôi hiền. Người trung thực, tâm sáng mới nghe được lời nói thẳng. Đến Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, nơi tập hợp những lõi sáng hàng đầu đất nước còn phải tự giải tán. Lời tâm huyết của những trí tuệ hàng đầu đất nước còn không được lắng nghe thì những ý kiến nông nổi của tôi nào có nghĩa lí gì! Trong tình thế đó, với thời cuộc này thì đây là những dòng cuối cùng tôi viết trực tiếp về thế sự! Giã từ thế sự để trở về giấu mình vào văn chương! Lại nhớ ông Nghè Nguyễn Khuyến, một người hiền ba lần đỗ Giải Nguyên nhưng gặp phải thời triều đình nhà Nguyễn lần lượt dâng từng phần đất đai gấm vóc của tổ tiên cho thực dân Pháp để giữ lấy ngai vàng, Nguyễn Khuyến cũng phải lui về giấu mình vào văn chương khi mới bốn mươi tám tuổi. Tưởng giấu mình vào văn chương nhưng nỗi niềm Nguyễn Khuyến cứ lồ lộ trong văn chương: Ơn vua chưa chút báo đền / Cúi trông hổ đất, ngửa lên thẹn Trời! Khi thân phận kẻ sĩ đã gắn liền với thân phận đất nước thì chẳng thể nào an phận với riêng mình: Nếu trơ như đá thì đâu khổ / Còn chút lương tâm mới khó nguôi!
Phạm Đình Trọng
-------------------------------
Nhà Văn PHẠM ĐÌNH TRỌNG Từ Bỏ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Nhà Văn PHẠM ĐÌNH TRỌNG Từ Bỏ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (nhanquyenchovn)
Thông báo về việc từ bỏ đảng tịch đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam (thông luận)
Nhà văn Phạm Đình Trọng sinh năm 1944 tại Hải Phòng, hiện sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Một số tác phẩm của ông đã xuất bản bao gồm: Rừng và biển (1981), Một sự nổi tiếng (1987), Sự tích đảo (1993), Cuộc gặp gỡ muộn màng (1994), Ve ve nói chẳng thèm nghe (1995), Niềm vui lớn của mẹ (2004), Một thuở (2008)…Bài liên quan:
• “Thư gửi Thủ tướng về vấn đề khai thác bauxit Tây Nguyên” . Thông Luận, ngày 07/03/2009.
• “Ăn mày dĩ vãng – thực chất cuộc vận động học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”. Thông Luận, ngày 14/07/2009.
• “Thời nghịch lí”. Thông Luận, ngày 30/09/2009.
CHIẾN TRANH và NGƯỜI MỸ trên QUÊ HƯƠNG TÔI (truyện ngắn)
Chiến tranh và người Mỹ trên quê hương tôi
Huyên Chương Qúy
Đăng ngày 31-1-2010
http://danchimviet.com/articles/1994/1/Chin-tranh-va-ngi-M-tren-que-hng-toi/Page1.html
LTG: Kỷ niệm 35 năm người Việt tị nạn tại hải ngoại. Kính tưởng niệm tất cả anh linh chiến sĩ Việt Nam – Hoa Kỳ và đồng minh, có Anh Chị Em ruột thịt của tôi, đã hy sinh vì chính nghĩa Tự Do trong chiến tranh Việt Nam trước tháng 4/1975
Năm 1961, má tôi bị bệnh tê liệt, chạy chữa khắp nơi, thuốc Bắc, thuốc Nam vẫn không khỏi, phải vào nằm nhà thương thí thị xã Phan Rang. Cha tôi đã mất. Chị Mùi, trưởng nữ, đi buôn dưa tận tỉnh Long Khánh, thỉnh thoảng mới về thăm má. Anh Phùng, trưởng huynh, anh Thiện kế tôi, đều đi học nghề thí công ở nhà chủ. Em Hỷ làm con nuôi người ta. Chỉ còn tôi luôn quấn quýt ở bên má. Thấy gia cảnh má nghèo, ban giám đốc cho tôi được ở lại luôn tại nhà thương để phụ chăm sóc má.
Hàng ngày, ngoài hai lần đến nhà bếp lãnh cơm về cho má và tôi cùng ăn, tôi thường đi la cà các khu bệnh khác trong nhà thương. Có lần đi ngang khu cấp cứu, tôi thấy nhiều thương binh nằm ở ngoài sân. Người nào cũng máu me lênh láng đầy mình. Họ rên rĩ, la hét vì cơn đau của những vết thương. Không hiểu vì sao có nhiều người bị thương như vậy, tôi tần ngần đứng nhìn một lúc, thấy tội nghiệp cho họ lắm. Lần khác, khi có vài anh lính khỏe mạnh khiêng thương binh vào khu cấp cứu xong thì ngồi nghỉ mệt, tôi làm gan đến hỏi. Các anh cho biết vừa mới đánh nhau ác liệt với tụi Việt cộng ở Sông Pha, cách thị xã vài chục cây số. Tôi không biết tụi Việt cộng là ai. Tôi nghĩ chắc là bọn ăn cướp. Tuổi mới lên bảy, tôi chưa biết gì về chiến tranh.
Nằm nhà thương vài tháng, bệnh má tôi vẫn không thuyên giảm. Cô Ba Tình, em kết nghĩa của cha tôi, đưa hai má con tôi về lại làng Tấn Tài B, cách thị xã bốn cây số, ở trong ngôi nhà tranh nhỏ trong vườn nhà cô. Tháng 8 / 1962, má tôi mất. Cô Ba nhận tôi làm con nuôi, cho ăn học tử tế. Sau vài lần ngồi khóc một mình trong xó tối vì nhớ má, tôi trở lại tính hồn nhiên, đi học, đi chơi với bạn bè, quên đi thời gian cơ cực mỗi ngày phải tự đi chợ, đi lượm củi, nấu cơm, nấu thuốc Bắc, lo lắng cho mẹ hiền bệnh hoạn nằm một chỗ; quên cả hình ảnh các thương binh máu me đầy mình ở khu cấp cứu trong nhà thương. Có vài ngày má nuôi và nhiều người khác trong làng đi làm hàng rào ấp chiến lược. Tôi đi theo má nuôi, lanh chanh chạy chỗ này, chỗ nọ chứ chẳng giúp được gì cho ai. Tôi hỏi má nuôi sao phải làm hàng rào dài thế, má nuôi nói là để không cho Việt cộng vào làng, vì Việt cộng nó ác lắm. Cuối năm, có anh Phước, người cháu của má nuôi từ tỉnh Lâm Đồng về chơi, kể cho tôi nghe những trận đánh của anh với Việt cộng; nhiều lần một mình anh mà đánh lui cả trăm tên Việt cộng. Anh đặt nhiều khẩu súng dọc theo giao thông hào, rồi chạy xẹt tới, xẹt lui bắn loạn xà ngầu, tụi Việt cộng sợ quá phải bỏ chạy. Lớn lên, tôi biết anh nói dóc. Anh còn nói dóc là Việt cộng nó ốm tong, ốm teo như con khỉ, nhiều thằng leo lên cây đu đủ cũng không gãy. Nhưng lúc đó còn nhỏ, nghe anh kể, tôi phục lăn. Anh cho tôi biết Việt cộng đang gây chiến tranh ở nhiều nơi trên đất nước. Rồi nhờ các bài học lịch sử vở lòng, thêm đọc truyện “Tuấn, chàng trai nước Việt” của Nguyễn Vỹ, tôi mới hiểu thế nào là giặc ngoại xâm gây họa chiến tranh, sự tàn ác của bọn Tàu và sự bóc lột dân ta của người Pháp. Bây giờ thêm tụi Việt cộng ác ôn gây chiến. Tôi thấy sợ chiến tranh, căm ghét tụi Việt cộng, oán hận giặc Tàu phương Bắc và giặc Pháp phương Tây. Đời sống quanh tôi ở Phan Rang bấy giờ rất thanh bình. Nhưng qua lời kể chuyện của anh Phước, trí óc tuổi thơ tôi cũng lờ mờ hiểu được hiểm họa chiến tranh đang xảy ra trên quê hương.
Hè 1965, tôi học xong lớp ba. Chị Mùi đưa mấy anh em tôi vào Long Khánh sống với chú thiếm Bảy tại ấp Tân Phú. Con đường đất đỏ từ thị xã Xuân Lộc đi vào ấp mang tên Hoàng Diệu có một đồn lính Mỹ ở đầu ấp. Mọi người gọi là đồn Hoàng Diệu. Cách ấp khoảng hai cây số, có thêm căn cứ đóng quân của Sư đoàn 18 bộ binh và Lực lượng Thiết giáp. Nhiều lần, xe thiết giáp và xe GMC chở đầy lính chạy rầm rầm ngang qua ấp, đi về hướng rừng sâu, bụi tung mù mịt cả con đường. Tôi đoán là lính đi hành quân đánh Việt cộng. Rồi, nhiều lần có những tiếng nổ ầm ầm trong đêm, nghe rất gần. Cả gia đình đều chạy xuống hầm. Chú Bảy nói đó là Việt cộng pháo kích. Bộ mặt chiến tranh đã hiện rõ trước mắt tôi.
Một ngày, đi học về trên đường Hoàng Diệu, ngang qua đồn lính Mỹ, tôi nhìn thấy nhiều người lính Mỹ ra, vào đồn. Họ da trắng, cao lớn, mủi lỏ, mắt xanh. Có vài người cũng cao lớn nhưng mặt mày đen thui. Nhớ lời má nuôi kể giặc Pháp thời trước cũng dáng người cao lớn, mủi lỏ, mắt xanh, thêm có nhiều lính lê dương da đen rất hung ác, tự nhiên tôi thấy sợ sợ những người lính Mỹ này. Tôi nghĩ, chắc là họ xâm lăng nước mình. Lòng hiếu kỳ khiến tôi cứ đứng nhìn chăm chăm vào họ. Nhưng sao trông họ hiền hòa quá, chẳng có chút
Hoa Kỳ đưa quân vào miền Nam Việt Nam gì hung dữ như giặc Tây. Họ cười vui vẻ khi thấy tôi đứng nhìn. Còn vẫy vẫy tay với tôi nữa. Một người lính đen đến gần, chìa ra trước mặt tôi cây kẹo chewing gum. Tôi lắc đầu không nhận, ù chạy về nhà. Tôi nói với chú Bảy :
- Hôm nay lần đầu tiên con gặp người Mỹ. Trông tướng họ giống như giặc Tây vậy. Bộ người Mỹ xâm lăng nước mình hở chú ?
Chú Bảy cười xòa :
- Họ không phải là giặc xâm lăng đâu con.
- Vậy họ đến nước mình làm chi ?
- Vì nước Mỹ, còn gọi là Hoa Kỳ, là đồng minh nước Việt Nam Cộng Hòa mình, nên họ gửi lính qua giúp mình đánh Việt cộng.
- Vậy người Mỹ là bạn của mình. Hèn chi con thấy họ hiền ghê, còn cho con kẹo nữa, mà con không lấy. Nước Mỹ ở đâu chú ?
- Ở Châu Mỹ. Còn nước Pháp ở Châu Âu. Hai nước cách xa nhau lắm. Mỹ là nước giàu mạnh, lãnh đạo khối thế giới tự do chống lại cộng sản. Tụi cộng sản Tàu, Nga nó ác lắm, thường giết hại dân lành. Việt cộng là tay sai của cộng sản Nga, Tàu nên cũng rất ác ôn, chuyên đấu tố, cướp của, giết người. Trước năm 1954, ba của con làm Chánh tổng ở tổng Phước An, tỉnh Ninh Thuận, giàu có lắm, bị Việt cộng, hồi đó gọi là Việt minh, vào đốt nhà, cướp hết tài sản, đất đai. Ba má con mới chạy về làng Tấn Tài B lánh nạn, sống nghèo khổ như vậy.
Đối với tuổi thơ tôi, người Mỹ đã hiện diện trên quê hương tôi bắt đầu từ lần đầu tiên nhìn thấy đó. Rồi hình ảnh người Mỹ trở thành quen thuộc khi tôi thường nhìn thấy những xe GMC chở lính Mỹ chạy trên nhiều con đường khác trong thị xã. Đám trẻ nhỏ mỗi khi thấy xe lính Mỹ chạy qua là ùa ra vẫy tay, kêu ỏm tỏi những tiếng ô kê, ô kê, hê lô, hê lô để mong được lính Mỹ quăng cho vài cây kẹo.
Có lính Mỹ đóng quân, con đường Hoàng Diệu dần dần trở nên vui nhộn với những quán bar mọc lên san sát, đối diện với suốt cả chiều dài của đồn Mỹ. Những cô gái trẻ, mặt đầy phấn son, mặc Mini bó sát, ngắn củn cởn, thường ra đứng trước cửa quán mời mọc lính Mỹ. Có anh nào chịu vào quán là các cô ôm eo, bá vai, cười nói lả lơi. Thỉnh thoảng, có vài anh lính Mỹ say xỉn làm bậy cái gì đó, các cô la ới ới, chạy sấp chạy ngửa ra đường.
Số phận ấp Tân Phú có chung số phận với đồn Mỹ khi phải chịu đựng những trận đạn pháo của Việt cộng rót vào. Mỗi khi bị Việt cộng pháo kích, đồn Mỹ pháo trả lại. Tiếng nổ ầm ầm vang dội trong đêm. Cứ sau giờ cơm nước buổi tối, người dân trong ấp lại phập phồng lo sợ, không biết lúc nào Việt cộng sẽ bắn pháo. Họ ngủ không yên giấc. Gia đình chú thiếm Bảy tôi cũng vậy. Phần tôi, mỗi lần phải chạy xuống hầm tránh đạn pháo kích, tôi thấy ớn ớn căn hầm. Tôi với cả nhà tám người chụm lại, ngồi chồm hổm ở dưới hầm. Vách hầm đất đỏ ẩm ướt, bốc lên mùi hôi hám, thật khó chịu, tôi muốn ói. Tôi còn gục tới, gục lui vì cơn buồn ngủ, nhiều lúc ngã lăn kềnh trong hầm, mặt, mủi, tay, chân, quần áo dính đầy đất đỏ..
Có nhiều trận pháo kích, đạn rót trúng ngay nhà dân. Tiếng la hét, kêu gào của những người hàng xóm bị thương nghe thật thảm thiết, thê lương trong đêm đen. Những trận pháo kích của Việt cộng tăng lên, từng đêm, từng đêm. Riết rồi chú Bảy tôi không thèm chạy xuống hầm nữa. Mọi người trong gia đình ngồi dưới hầm mà cứ nơm nớp lo lắng cho chú. Thiếm Bảy gào lên :
- Xuống hầm đi ông. Xuống hầm đi ông.
Tiếng chú tôi nói vọng xuống :
- Mấy người cứ ở yên dưới hầm đi. Đừng lo cho tôi.
Thiếm Bảy càng gào to hơn :
- Trời ơi ! Ông muốn chết sao ? Tôi lạy ông !. Xuống hầm đi ông.
- Đừng lo. Gần đất, xa trời rồi, sợ gì chết.
Cứ vậy, đêm nào cũng điệp khúc đó giữa chú thiếm, thành quen thuộc với tôi. Cũng từ đó, tôi bắt đầu mỗi ngày biết dán mắt vào những mẫu tin tức chiến sự trên các nhật báo. Tôi biết được chiến tranh đã lan ra khắp miền Nam Việt Nam. Con số lính Mỹ tham chiến lên tới mấy trăm ngàn người. Còn có thêm quân các nước đồng minh khác như Đại Hàn, Thái Lan, Tân tây Lan, Úc đại Lợi, Phi luật Tân. Cường độ chiến tranh leo thang, thì lính Mỹ ở đồn Hoàng Diệu và người dân ấp Tân Phú càng hứng chịu nhiều hơn những trận pháo kích của Việt cộng. Cứ vài ngày là có một ngôi nhà bị máy bay B52 thả bom Bắc Việt đổ sập, tan hoang, và vài người dân chết hoặc bị thương. Tuổi thơ tôi có lần tự hỏi : Vì người Mỹ có mặt càng ngày càng đông trên quê hương tôi mà chiến tranh lan rộng, hay vì Việt cộng tăng cường chiến sự, mở rộng chiến tranh mà người Mỹ mới ngày càng có mặt đông đảo trên quê hương tôi ? Rồi tôi cũng quên đi những thắc mắc đó. Chuyện chiến tranh ngày càng khốc liệt trên quê hương trở thành quen thuộc, như chuyện ăn cơm mỗi bửa, sáng, trưa, chiều. Trí óc non nớt của tôi chưa đủ sức để tìm hiểu những vấn đề phức tạp. Tôi phải lo học hành. Còn phải đi phụ ruộng rẫy với gia đình chú thiếm.
Cuối năm 1966, chị Mùi lấy chồng là lính Biệt kích Mỹ. Tôi và anh Thiện theo ở với chị. Biệt kích Mỹ là binh chủng do người Mỹ trực tiếp huấn luyện, chỉ huy và trả lương. Mới đầu, đại đội anh Vọng, anh rể tôi, đóng quân ở Gia Liêu, gần thị xã. Vài tháng sau, đơn vị anh Vọng chuyển lên đóng trại ở lưng chừng núi Thị, cách thị xã khoảng mười cây số. Ở trên đỉnh núi, có căn cứ sĩ quan Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ. Chị tôi nhận được công việc nấu ăn cho sĩ quan Mỹ. Mỗi tối, khoảng 8 giờ, tôi lên đỉnh núi đón chị về. Nhiều lần tôi gặp các sĩ quan Mỹ. Họ rất thân thiện, cởi mở. Lúc thì ông sĩ quan Mỹ trắng lấy bánh ngọt mời tôi ăn. Lúc khác thì ông sĩ quan Mỹ đen lấy cho tôi lon cô ca lạnh, rồi xoa đầu tôi và nói vài câu tiếng Anh. Chị tôi thông ngôn lại : “Ổng nói em hiền hậu, trắng trẻo, dễ thương, nhưng dáng người có chút xíu khoảng tám, chín tuổi. Ổng không tin là em đã 13 tuổi rồi” Tôi bẽn lẽn cảm ơn ông. Tôi thấy thiện cảm với người Mỹ.
Nên lúc đọc báo, biết được nhiều lính Mỹ bị thương, tử trận khi sát cánh chiến đấu với lính mình ở khắp nơi trên nửa lãnh thổ hình cong chữ S, tôi thấy đau xót cho họ. Quên bẵng những lời giải thích của chú Bảy, tôi lại tự hỏi : Tại sao từ một nơi xa lắc, xa lơ cách một Thái Bình Dương vời vợi, người Mỹ lại đến đây chiến đấu cho quê hương tôi và chết vì quê hương tôi như thế ?
Gần cuối năm 1967, đại đội anh Vọng chuyển đi trại Biệt kích Mỹ Bến Sỏi, ở tận tỉnh Tây Ninh. Chị tôi theo chồng. Tôi và anh Thiện về ở với cô Lang, em họ lớn tuổi của tôi trong xóm cây cao su, gần bến xe Xuân Lộc. Anh Phùng rời nhà chú Bảy đi Sài Gòn sống với gia đình dì Mười, bà con bên ngoại. Tết Mậu thân, 1968, Việt cộng tổng tấn công vào Sài Gòn, Huế và khắp các tỉnh, thành khác ở miền Nam. Thị xã Xuân Lộc cũng không tránh khỏi. Tôi không ngờ cô Lang là cán bộ Việt cộng nằm vùng. Trong đêm giao thừa, cộng quân tấn công vào thị xã, cô dẫn Lộc, 17 tuổi, con trai cô và anh Thiện đi vòng vòng trong xóm, kêu gọi người dân nổi dậy lật đổ chính quyền “Mỹ, Ngụy”. Nằm trong nhà, tôi nghe rõ mồn một tiếng cô Lang, Lộc và anh Thiện vang lên om om trong đêm khuya. Cuộc tấn công của Việt cộng bị thất bại, phơi nhiều xác trong thị xã. Cô Lang dẫn Lộc và anh Thiện đi vào rừng làm du kích. Tôi chạy về lại nhà chú Bảy. Học hết đệ thất ( lớp 6 ), tôi đi Sài Gòn sống với anh Phùng. Tại Sài Gòn, nhiều nơi vẫn còn dấu tích bị tàn phá bởi đạn pháo, và người dân vẫn còn nét lo lắng, ưu tư trên khuôn mặt. Riêng Huế bị cộng quân chiếm giữ 25 ngày, tàn sát hơn sáu ngàn dân rồi chôn vào mấy chục hố chôn tập thể trong thành phố. Nghe người ta kể lại, tôi thấy ớn lạnh vì sự tàn ác của Việt cộng.
Cuối năm 1968, cô Lang cho người báo tin cho chú Bảy là anh Thiện và Lộc đã chết trong một trận càn quét của Sư đoàn 18. Nghe chú Bảy kể lại, tôi ra sau hè, ngồi lặng lẽ một hồi thì bật khóc nức nở. Kế tiếp là Ngọc, lính Sư đoàn 18, con trai duy nhất của chú Bảy cũng hy sinh trong một trận đánh vào cứ địa Việt cộng tại biên giới Việt – Miên. Rồi anh Phùng vào lính, sư đoàn 7 bộ binh, đóng quân tại căn cứ Đồng Tâm, gần thành phố Mỹ Tho. Tôi đi Tây Ninh, sống với anh chị Mùi trong trại Biệt kích Mỹ Bến Sỏi, từ giữa năm 1969 đến giữa năm 1970. Đây chính là thời gian tôi có những kỷ niệm thật đẹp, thật êm đềm, vui vẻ với nhiều người lính Mỹ, và hiểu rõ hơn tại sao người Mỹ đã đến đất nước tôi, ra công, ra sức, ra tiền, tốn hao bom, đạn, xương máu để bảo vệ miền Nam Việt Nam.
….
Trại Biệt kích Mỹ Bến Sỏi do một nhóm sĩ quan Lực lượng đặc biệt Việt Nam trực tiếp chỉ huy nhưng thuộc quyền chủ quản của Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ B16, tỉnh Tây Ninh. Trại cách biên giới Việt – Miên khoảng sáu, bảy cây số. Chung quanh công sự phòng thủ của trại có sáu hàng rào kẻm gai gắn mìn “định hướng”, loại mìn bắn mìểng về phiá trước chống địch quân xâm nhập. Vòng ngoài xa xa, ở phía Bắc và Tây là những xóm nhà dân, phía Đông là cánh đồng hoang, phía Nam là con sông Vàm Cỏ lượn lờ chảy ngang qua. Quân số của trại có bốn đại đội Biệt kích, thêm một đội Pháo binh tăng cường. Lính của ba đại đội : 349, 351, 352 đều là người Việt chính gốc. Riêng đại đội 350 do anh Vọng làm đại đội phó toàn người Việt gốc Miên, được Mỹ tuyển dụng từ tỉnh Trà Vinh.
Anh Vọng cũng là người Việt gốc Miên nhưng có nước da trắng hơn nhiều người Việt. Dáng người anh dong dong, phong nhã, trông như thư sinh. Khuôn mặt anh có nét rắn rỏi, can trường của một người lính dày dạn gió sương. Miệng anh lúc nào cũng nở nụ cười tươi, và tính tình rất hòa nhã, khiêm tốn. Có lẽ đó là điều khiến chị tôi hết mực yêu thương anh và sống với anh rất hạnh phúc. Tôi mừng cho chị tôi lấy được người chồng tốt. Anh Vọng thương tôi như em ruột. Lần này, chính anh viết thư kêu tôi đi Bến Sỏi sống với anh chị; cho anh chị em gần gũi nhau. Anh đã chờ cả buổi ở bến xe Tây Ninh để đón tôi, đưa tôi về Bến Sỏi. Anh kể lại, trong mấy năm qua, vì ở gần biên giới là vùng cứ địa Việt cộng, nên trại Bến Sỏi chịu đựng nhiều áp lực nặng nề của cộng quân. Đã nhiều lần cộng quân tấn công vào trại bằng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung, nhưng đều bị thất bại trước sự chống trả quyết liệt của lực lượng Biệt kích Mỹ. Chúng rút lui, đã bỏ lại nhiều xác chết vắt vẻo trên các hàng rào kẻm gai. Còn chuyện hứng chịu những cơn mưa pháo của Việt cộng hằng đêm là chuyện quá thường tình đối với người lính Biệt kích Bến Sỏi và vợ con của họ. Chị Mùi theo anh Vọng mấy năm qua, đã quen với những gian nguy, khổ cực của đời vợ lính. Đạn, bom, sự chết chóc của con người trong chiến tranh, đối với chị đã trở thành quen thuộc.
Anh chị Mùi bấy giờ đã có một đứa con trai lên một tuổi, tên Quang. Tôi sống với anh chị và cháu Quang trong một căn nhà mái tôn xập xệ ở xóm dân, gần bến phà sông Vàm Cỏ. Anh Vọng bận nhiều công vụ, chỉ xẹt về nhà một chút khi có giờ rãnh. Mỗi trưa, tôi vào trại lãnh cơm về cho cả nhà ăn. Mỗi chiều, chị Mùi bế cháu Quang cùng với tôi vào trại, ngủ qua đêm trong một căn hầm chất đầy bao cát chung quanh và trên nóc; cũng là công sự phòng thủ rất kiên cố. Hai tháng đầu, tôi chỉ long nhong đi chơi trong các xóm dân. Tôi làm quen được vài đứa bạn cùng lứa tuổi, thường hẹn nhau đi hái ổi, hái me ở các vườn hoang. Ăn đã rồi bắn bi, vật lộn. Sau đó rủ nhau đi tắm sông, thi đua bơi lội. Có lần, tôi xin theo ca nô của các anh đội Giang thuyền. Ca nô lướt nước dọc theo dòng sông Vàm Cỏ uốn khúc quanh co. Hai bên sông, chen lẫn với hàng dừa xanh, là những khóm hoa dại đủ màu, đỏ, vàng, tím. Phong cảnh thật đẹp, nên thơ. Khi đã xa khu dân cư, các anh Giang thuyền quăng một trái lựu đạn xuống nước. Vài phút sau, cá nổi lềnh bềnh, nhìn vui con mắt. Chúng tôi tranh nhau vớt cá, cười, nói ầm ĩ. Đời sống thật vui, nhưng vô tích sự. Có lẽ thấy cái vô tích sự đó, nên giữa tháng 8 / 1969, tôi đi bán đậu phộng rang trong trại.
Thường, ăn cơm trưa xong, nghỉ ngơi một tiếng, tôi mới đến nhà chủ lấy đậu phộng rang đem vào trại. Công việc nhẹ nhàng này cũng cho tôi có được vài chục đồng tiền lời mỗi ngày để tiêu xài lặt vặt. Mới đó, đã đi bán được một tháng. Một buổi chiều, thấy thùng đậu chỉ còn lại vài gói, tôi ngồi nghỉ trên một công sự gần dãy nhà cố vấn Mỹ. Một ông cố vấn Mỹ, trông còn trẻ, từ trong dãy nhà bước ra, đi tới, đi lui ở hàng hiên. Không biết ông định làm cái gì. Chắc là vận động cho giãn gân, giãn cốt. Bỗng ông nhìn về phía tôi, rồi đến gần. Ông nở nụ cười rất tươi, nói :
- Hello! How are you ?
Tôi cũng biết bập bõm vài câu tiếng Anh thông thường, hiểu câu này là câu chào, hỏi thăm, nên cũng cười tươi, trả lời :
- Yes ! I am very good. And you ?
- Very good too !
Rồi ông chỉ vào thùng đậu phộng :
- How much ?
Vốn đã có thiện cảm với người lính Mỹ, tôi muốn nhân dịp này thể hiện cảm tình của tôi nên vội lấy ra hai gói đậu đưa ông, rồi quơ quơ tay, nói :
- I like you. I don’t take money
Nét ngạc nhiên hiện lên trên khuôn mặt ông. Ông nói một câu hơi dài, tôi tỏ vẻ không hiểu. Ông mới ngoắc tay :
- Come with me.
Tôi đi theo ông vào nhà cố vấn. Ông gọi một anh lính Việt đến, nói với ảnh điều gì đó.
Ảnh quay sang tôi, tự giới thiệu :
- Anh là Tô, thông dịch viên. Còn ổng là Bonny, trung úy cố vấn trưởng ở đây. Ổng nói em đi bán mà sao lại không muốn lấy tiền của ổng ?.
Tôi ấp úng, ơ ơ một hồi mới nói :
- Dạ, tại vì em thấy rất quý trọng những người lính Mỹ. Họ từ nước Mỹ xa xôi lại đến nước mình, giúp mình đánh Việt cộng. Em ghét Việt cộng lắm.
Anh Tô nói lại với ông Bonny, ông gật gật đầu. Qua anh Tô thông ngôn, ông nói chuyện với tôi :
- Em tốt lắm. Em tên gì ? Mấy tuổi ?
- Dạ, em tên Quý, 15 tuổi.
- Em đang ở với ai trong trại ?
- Dạ, em ở với anh chị. Anh rể em là anh Vọng, đại đội phó đại đội 350
- Còn ba má em đâu ?
- Dạ, ba má em đã mất lúc em còn nhỏ.
- Em có đi học không ?
- Dạ, em học hết lớp đệ thất thì nghỉ. Bây giờ ở đây muốn đi học cũng khó. Từ Bến Sỏi đến thị xã Tây Ninh mấy chục cây số. Xa quá.
Trung úy Bonny trầm ngâm một lúc rồi nói với anh Tô một câu hơi dài. Anh Tô mỉm cười thông ngôn lại :
- Ổng nói hoàn cảnh của em thật tội nghiệp. Ổng thấy thương. Em 15 tuổi gì mà có chút xíu, như là mười tuổi. Nhìn dễ thương lắm. Từ ngày mai, em đừng đi bán đậu phộng nữa. Cực khổ. Em đến ở tại nhà cố vấn này luôn. Coi như ổng nuôi em.
Anh Tô vỗ vai tôi, nói tiếp :
- Sướng rồi đó. Em cảm ơn ổng đi.
Tôi đứng dậy, nói lí nhí :
- Thank you very much. Rồi tôi lấy ra hết mấy gói đậu trong thùng đưa cho anh Tô :
- Còn mấy gói, em biếu anh. Ngày mai, em sẽ đến.
Ông Bonny bắt tay tôi :
- See you tomorrow.
Tôi cúi đầu chào ông, cảm ơn anh Tô rồi về hầm kể cho chị Mùi nghe. Chị vui vẻ nói :
- Ờ, vào sống trong nhà cố vấn thì sướng cho mày rồi. Nhưng nhớ đừng có làm cái gì bậy mà người ta coi thường người Việt Nam mình.
Nhà cố vấn Mỹ có năm gian. Gian thứ nhất ăn thông với hầm làm việc và ngủ, nghỉ của ban cố vấn. Gian thứ hai rất rộng, gồm nhà bếp, phòng giải trí, cũng là nơi ngủ của anh Tô, anh Kim và tôi. Gian giữa hẹp hơn, dùng làm phòng khách, có cửa ra vào phiá trước, phía sau. Gian thứ tư và gian thứ năm là nơi làm việc, ngủ, nghỉ của đội Công binh, Truyền tin Mỹ tăng cường. Họ phụ trách đài quan sát cao mấy chục mét dựng ở giữa sân trại. Phía sau dãy nhà có các hầm trú ẩn cho mọi người mỗi khi có pháo kích. Hai tuần lễ đầu ở đây, ngoài trung úy Bonny và anh Tô, tôi còn quen thân với trung sĩ John, cố vấn phó, anh Kim, thông dịch viên, chị Dung, nấu ăn, anh Lai, giặt quần áo, và vài anh lính Mỹ khác trong đội tăng cường như Henry, Andy, Jim, Danny, Peter… Anh Lai và chị Dung là thường dân ở thị xã, sáng đến làm, chiều về nhà. Chị Dung nấu các món ăn Mỹ rất ngon. Nhưng tôi chỉ ăn vào buổi chiều ở nhà cố vấn. Buổi trưa, tôi vẫn đi lấy cơm ở nhà bếp trại lính về nhà ăn với anh chị Mùi và cháu Quang cho vui với gia đình
Lúc còn ở ngoài trại, nhiều khi thèm uống một ly đá chanh, hay ngay cả một ly nước đá lạnh cho đã họng dưới cái nóng như thiêu đốt của vùng Bến Sỏi khô cằn, tôi cũng không có tiền để mua mà uống. Từ ngày tự do ra, vào nhà cố vấn, tôi tha hồ uống cô ca lạnh và ăn cam, táo, nho, bánh ngọt. Không có việc gì làm, tôi thường lân la nói chuyện với các anh lính Mỹ. Hết nói chuyện với anh này thì gặp anh khác. Nhiều câu nói không được thì quơ tay làm dấu loạn xà ngầu. Rồi các anh cũng hiểu. Tôi học hỏi thêm được nhiều câu tiếng Anh đàm thoại qua các anh. Các anh thường lấy hình ảnh người thân, cha, mẹ, vợ, con bên Mỹ cho tôi xem và nói nhớ họ lắm. Tôi hiểu được tình cảm của các anh; nỗi nhớ nhà da diết của người lính Mỹ phải xa gia đình để đi chiến đấu ở một đất nước xa lạ. Cũng buồn lắm. Nhiều khi các anh hát cho tôi nghe, hoặc rủ tôi leo lên đài quan sát chơi. Đứng trên đài cao, có thể nhìn thấy cảnh vật ở xa mấy cây số.
Trung úy Bonny, 30 tuổi, da trắng, dáng người cao lớn, khuôn mặt bầu bầu, tính tình nghiêm nghị, ít nói chuyện với mọi người. Trung sĩ John, 35 tuổi, ngược lại, rất cởi mở, vui vẻ, nói nhiều. Tướng ông cũng cao lớn, khuôn mặt tròn, nước da trắng hồng, hai cánh tay hay khuỳnh ra khi đi, đứng. Ông thích các món ăn Việt. Mỗi cuối tuần, ông và anh Kim chở tôi đi Tây Ninh, đến bộ chỉ huy Lực lượng đặc biệt B16 lấy phim, tài liệu linh tinh, rồi ghé vào thị xã ăn phở. Thỉnh thoảng, ông dẫn tôi vào chợ mua bún, rau sống, tôm, thịt heo ba chỉ, nước mắm đem về cho chị Dung nấu, rồi bày ra giữa gian nhà giải trí, mời mọi người cùng ăn. Xem cách ông John lấy rau, cuốn bún, tôm, thịt, chấm nước mắm ớt ăn ngon lành, không khác gì một người Việt chính gốc, tôi thấy vui lắm. Ăn xong là ông chiếu phim cho cả nhà cố vấn xem.
Ông John có tánh thương người, đặc biệt với trẻ em. Ông hay ra chơi ở xóm dân, cho bánh, kẹo và vui đùa rất vô tư với các em bé. Khi biết có nhà dân nào bị đạn pháo kích của Việt cộng, ông ra thăm, biếu một ít tiền. Có lần, tôi đưa ông đến thăm nhà chị Mùi. Ông rất thích cháu Quang, thường mua quà cho cháu. Ông còn tận tình giúp đỡ một gia đình nghèo ở gần nhà chị tôi có đứa con gái chín tuổi bị cụt chân quá đầu gối. Ông mua cho bé một chiếc xe lăn và nhiều đồ chơi. Mỗi tuần, ông ra thăm bé một lần, đẩy xe cho bé đi chơi vòng vòng trong xóm..Tôi xem ông như một vị Thánh sống. Tình thương của ông là tình thương nhân loại vô bờ bến.
Tôi ở nhà cố vấn được một tháng thì trong một bửa ăn chiều, trung úy Bonny nhờ anh Tô thông ngôn lại với tôi, là ông có người anh bác sĩ ở bên Mỹ muốn tìm con nuôi ở Việt Nam. Ông đã giới thiệu về hoàn cảnh tôi với người anh, anh ổng đồng ý nhận tôi làm con nuôi. Ông hỏi tôi có chịu đi Mỹ làm con nuôi anh ổng không. Tôi chịu ngay. Ông bảo tôi mai về nhà đưa chị Mùi đến gặp ông nói chuyện.
Ngay trong tối đó, tôi đến hầm công sự tìm chị Mùi. Chị đang ngồi ngoài sân với mấy bà bạn. Vừa nghe tôi thuật lại chuyện sẽ làm con nuôi người Mỹ, mấy bà bạn của chị Mùi dèm pha :
- Trời ! Qua ở một nước xa lắc, xa lơ, làm sao chị em được gặp nhau.
- Biết làm con nuôi người Mỹ có sướng không. Hổng chừng bị người ta cho làm ở đợ thì khổ.
- Qua đó, hổng biết tiếng Anh, tiếng u gì, làm sao sống.
- Rồi biết bao giờ chị mới gặp lại nó. Chị đừng cho nó đi.
Tôi tức mình :
- Anh Tô, thông dịch viên, ảnh nói ông đó là bác sĩ, giàu lắm. Nước Mỹ giàu mạnh, văn minh nhất thế giới. Luật pháp ở nước họ quy định con nuôi cũng như con ruột, được nuôi dưỡng, cho học hành đến khi thành tài. Chị đừng nghe mấy bả xúi.
Chị Mùi trầm ngâm một hồi thì quyết định :
- Tao không đồng ý. Cha mẹ không còn. Thằng Thiện đã mất. Thằng Hỷ làm con nuôi cho người ta ở Phan Rang, ngay trong nước mình mà bao năm rồi chưa có dịp gặp lại. Anh Phùng mày thì đang đời lính nay đây, mai đó tận vùng bốn. Tao chỉ còn mày gần gũi. Làm sao mà… Chị Mùi ngập ngừng giây lát rồi dứt khoát : - Tao không chịu. Tao không muốn chị em xa cách nhau.
Tôi cố thuyết phục :
- Chị. Em muốn đi. Nghe anh Tô nói đời sống ở Mỹ vui lắm, sướng lắm. Mà em qua đó được làm con của bác sĩ thì càng sướng hơn nữa. Cho em đi đi chị. Em sẽ viết thư cho chị thường chứ có phải mất biệt luôn đâu. Có dịp thì em sẽ về thăm chị.
Chị Mùi nín thinh. Tôi khẩn khoản :
- Chị… Chị… Cho em đi đi chị…
Thấy tôi cứ đứng năn nỉ hoài, chị Mùi trả lời nước đôi :
- Thì để tối nay tao suy nghĩ đã. Rồi ngày mai tao cũng đến gặp ông Bonny, nghe ổng nói gì.
Trưa hôm sau, tôi và anh Kim đưa chị Mùi xuống hầm làm việc của ông Bonny. Sau khi ông Bonny nói một tràng tiếng Anh, anh Kim thông ngôn lại với chị Mùi :
- Ổng nói anh của ổng ở bên Mỹ là bác sĩ, đã 45 tuổi, nhà rất giàu mà không có con. Tính tình anh của ổng rất hiền, thương người. Ổng thấy em Quý của chị cũng hiền hậu, dễ thương, nên muốn xin phép chị cho em Quý làm con nuôi của anh ổng. Nếu chị đồng ý thì ký vào giấy thỏa thuận. Rồi tuần sau ổng sẽ cho em Quý về Sài Gòn học Anh văn sáu tháng. Mọi chi phí ăn, ở của em Quý ở Sài Gòn sẽ được ổng lo hết. Sau đó ổng làm thủ tục cho em Quý qua Mỹ.
Tôi nhìn chị Mùi. Cả cái tương lai xán lạn của tôi chỉ chờ một chữ ký của chị là sẽ có được. Nhưng, chị Mùi cứ ngồi im lặng. Im lặng. Rồi hai dòng lệ tuôn dài trên khuôn mặt xinh đẹp đượm nét u buồn của chị. Chị khóc ! Ông Bonny thấy vậy thở dài. Tôi thất vọng !. Tất cả lại im lặng. Một lúc sau, ông Bonny đứng lên nói, anh Kim thông ngôn lại :
- Thôi. Chị không chịu thì đành vậy ! Ổng nói, không đi Mỹ thì cứ ở đây. Nhưng em Quý nên đi học lại. Để nó cứ chơi long nhong hoài, hư người.
Vậy là tôi đi học lại. Tôi xin học lớp đệ lục ( lớp bảy ) ở trường trung học Hàn Thuyên, thị xã Tây Ninh. Vào học trễ một tháng, nhưng tôi vẫn học giỏi, theo kịp bạn bè. Ông Bonny cho tôi tiền mua sách vở và tiền tiêu vặt mỗi tuần. Mỗi sáng, tôi được tài xế cố vấn chở đi học bằng xe Jeep. Xế chiều, tôi quá giang xe nhà binh GMC về lại trại. Mỗi cuối tuần, tôi đi chơi với ông John, hoặc với các anh lính Mỹ trong đội tăng cường. Có lần, ông John chở tôi đi chơi ở Sài Gòn và Biên Hoà, thưởng thức nhiều món ăn Việt, ngày hôm sau mới về lại trại. Có khi, Peter và Henry chở tôi đi chơi căn cứ Mỹ, Trảng Sụp. Vào PS, Perter mua cho tôi cái radio. Henry mua cho tôi mấy cái áo thun. Hôm khác, Danny chở tôi đi, mua cho tôi cái máy chụp hình. Những món quà này thật quý giá, đong đầy tình thương mến của các anh dành cho tôi; cũng là tấm lòng tử tế của người lính viễn chinh đối với người dân nghèo ở một nước đang điêu linh, thống khổ vì bom, đạn, khói lửa chiến tranh.
Những cơn mưa pháo vào trại vẫn tiếp diễn hàng đêm. Anh Tô, anh Kim và tôi chẳng bao giờ chạy vào hầm trú ẩn. Anh Kim nói : “Mặc kệ. Cho chúng pháo. Chết, sống có số”. Vài lần trong đêm, giữa những tiếng nổ của đạn pháo, tôi nghe xen lẫn có những tiếng hét đau đớn của ai đó ở vòng đai công sự phòng thủ. Tôi biết có vài anh nơi vọng gác bị trúng đạn pháo kích. Nhờ nằm ngủ kế bên anh Tô, anh Kim, nghe các anh nói chuyện, tôi biết thêm nhiều về nước Mỹ, người Mỹ. Nhiều lúc hai anh tranh luận với nhau các vấn đề thời sự mà với tuổi tôi bấy giờ, đã có trí khôn đủ để hiểu được những điều các anh nói. Giọng của anh Tô :
- Tôi thấy thời của Tổng thống Ngô đình Diệm, đất nước còn thanh bình lắm. Vì có người Mỹ đưa quân vào miền Nam, chiến tranh mới lan tràn.
Anh Kim không đồng ý :
- Thanh bình là trước 1960 kìa. Từ năm 1960, tụi Việt cộng thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, chúng hoạt động mạnh, đánh phá nhiều nơi. Rồi tụi cộng sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam, người Mỹ mới trực tiếp tham chiến.
- Tôi nghĩ, nước Mỹ cứ viện trợ khí giới, đạn dược, tiền bạc và cố vấn quân sự cho ông Diệm là đủ rồi. Ông Diệm và ông Nhu thừa sức lãnh đạo miền Nam chống cộng sản. Ông Diệm đã từng tuyên bố : “Nếu để người Mỹ đưa quân vào, chúng ta sẽ mất đi thế chính nghĩa. Bắc Việt sẽ có cớ xâm lăng miền Nam” Quả nhiên, từ khi quân đội Mỹ ném bom Hà Nội sau sự kiên vịnh Bắc bộ, 1964, rồi trực tiếp đưa quân tham chiến, chiến tranh mới khốc liệt như bây giờ. Người Mỹ giết anh em ông Diệm uổng quá. Ông Diệm và ông Nhu đều là người yêu nước.
Tôi xen vào, hỏi :
- Ủa, sao lại người Mỹ giết ? Em nghe nói đám tướng lãnh người Việt mình giết ông Diệm mà.
Anh Tô trả lời :
- Đám tướng đó do người Mỹ mua chuộc làm đảo chánh, thì chuyện giết ông Diệm cũng do người Mỹ xúi giục thôi.
- Em thấy người Mỹ hiền hòa, tốt tánh lắm. Chắc không phải đâu anh.
- Lớn lên, em sẽ hiểu.
Tiếng anh Kim :
- Chuyện người Mỹ nếu có lệnh cho đám tướng đảo chánh giết anh em ông Diệm cũng phải thôi. Vì chế độ ông Diệm độc tài, gia đình trị, lại cứng đầu với Mỹ lắm. Trong khi người Mỹ bỏ tiền, bỏ của ra, họ muốn người lãnh đạo miền Nam phải nghe theo lời họ. Cuộc chiến chống cộng sản không phải chỉ với cái đám du kích Việt cộng lẻ tẻ ở miền Nam, mà là với cả một khối cộng sản quốc tế, do quân chính quy Bắc Việt làm công cụ. Dù không có quân Mỹ trực tiếp tham chiến, tụi cộng sản Bắc Việt cũng sẽ xâm lăng miền Nam theo lệnh Nga, Tàu. Nuốt xong miền Nam Việt Nam, chúng sẽ nuốt luôn các nước khác ở Đông Nam Á theo ý đồ nhuộm đỏ toàn cầu. Sau hiệp định Genève, 1954, cộng sản Bắc Việt đã gài cán bộ nằm vùng ở khắp miền Nam, chính là để chuẩn bị một cuộc chiến xâm lăng của chúng vào miền Nam trong vài năm sau. Điều đó, bây giờ đã thấy rõ rồi. Người Mỹ là đàn anh lãnh đạo khối tự do, vì lý tưởng bảo vệ cho chính nghĩa tự do và vì lòng nhân đạo, họ bắt buộc phải hành động quyết liệt để ngăn chận làn sóng “đỏ”. Nếu không có quân Mỹ và nhiều nước đồng minh khác đến giúp Việt Nam Cộng Hòa mình, giờ này Việt cộng chắc đã chiếm xong miền Nam rồi.
Anh Tô vẫn chưa chịu thua :
- Tôi vẫn thấy thương ông Diệm, ông Nhu. Nghe hai ông bị đánh đập rồi bị bắn vào đầu rất dã man, chết thảm trong chiếc xe tăng, tội nghiệp quá. Tôi vẫn cứ nghĩ người Mỹ đừng đưa quân vào mà chỉ nên tăng cường viện trợ tiền bạc, xe tăng, tàu bay, khí giới, đạn dược, thêm cố vấn quân sự là đủ rồi. Như vậy tốt hơn. Quân dân miền Nam mình chiến đấu rất anh dũng, thừa sức đánh bại tụi cộng sản Bắc Việt. Chính phủ Mỹ đưa nửa triệu quân vào nước mình, một phần giúp mình chống cộng sản, một phần cũng là business. Họ vừa thỏa mãn quyền lợi tư bản Mỹ, vừa giải quyết nạn thất nghiệp, giúp công ăn, việc làm cho dân xứ họ
Chẳng biết anh Kim có nghe anh Tô vừa nói không, chỉ nghe tiếng ngáy khò khò của anh. Tôi hỏi anh Tô :
- Thỏa mãn quyền lợi tư bản Mỹ là thế nào hở anh ?
- Là tiêu thụ cho tư bản Mỹ số súng, đạn tồn đọng có từ thời đệ nhị thế chiến, đem trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa mình. Đồng thời, với chiến tranh và nửa triệu quân viễn chinh, tư bản Mỹ có dịp sản xuất nhiều vũ khí tối tân khác, nào là xe tăng, phi cơ, tàu chiến, súng cá nhân, bom, đạn, rồi còn quân trang, quân dụng, thuốc men, luơng thực và nhiều thứ khác nữa… để cung ứng cho nhu cầu của quân lính tác chiến trên chiến trường. Nhờ vậy, tư bản Mỹ hưởng lợi rất nhiều, và người dân có thêm nhiều việc làm trong sản xuất vũ khí và hàng hóa quốc phòng.
Tôi lại thắc mắc :
- Nhưng chiến tranh là sự tốn kém tiền của và tốn hao xương máu. Ngân sách quốc phòng Mỹ sẽ tăng cao lắm. Sự thu lợi vào có hơn được sự chi ra không ?
- Anh không làm được bài toán đó. Nhưng anh nghĩ có lợi nhiều hơn, về lâu, về dài cho tư bản Mỹ là không sai chút nào. Tuy vậy, lời anh Kim nói cũng có phân nửa đúng. Nước Mỹ văn minh, dân chủ nhất thế giới, nên họ có cái lý tưởng vương đạo, cảm thấy có trách nhiệm phải đứng ra gánh vác việc bảo vệ thế giới tự do đối đầu với thế lực cộng sản quốc tế độc tài, chuyên chế. Như thời đệ nhị thế chiến, nhờ có Mỹ lãnh đạo phe đồng minh đánh bại Đức quốc xã, mới giải phóng được nước Pháp và vài nước Âu châu khác thoát khỏi sự cai trị khát máu của Adolf Hitler.
- Em cũng nghĩ vậy. Em thấy thương người lính Mỹ lắm. Họ đã vì quê hương mình mà chiến đấu. Tất cả những người lính Mỹ mà em biết, đều tốt tánh, tử tế quá..
- Ừa, anh cũng thấy thương họ. Thôi, ngủ đi.
Đại đội 350 của anh Vọng thỉnh thoảng đi hành quân cả tuần mới về. Những lần như vậy, chị Mùi lo lắng, trông đứng, trông ngồi. Có lần đơn vị anh Vọng chạm địch, có mấy quân nhân bị tử trận. Nhìn các vợ con họ khóc lóc thảm thiết, tôi cũng mủi lòng, chảy nước mắt. Đầu năm 1970, Việt cộng lại cả gan kéo về xóm dân, gần trại, ngay giữa ban ngày. Thám báo cho biết cũng cỡ hai đại đội địch. Xế chiều, đại đội 350 và 351 được lệnh xuất kích, dàn trận ở cánh đồng hoang ở phía Đông của trại. Đại úy Hải, trưởng trại, đứng trên nóc hầm trực tiếp chỉ huy ra ngoài. Tôi cũng bắt chước đứng trên một nóc hầm khác nhìn ra cánh đồng hoang, chẳng nghĩ gì đến chuyện tên bay, đạn lạc. Tôi nhận ra được anh Vọng đang dẫn đầu hàng quân chạy lom khom tiến lên phía trước. Cả hàng quân cùng tiến lên khoảng chục mét thì nằm xuống. Rồi lại chạy lom khom tiến lên, và nằm xuống. Những tiếng nổ ầm ầm liên tục vang dội cả một vùng trời. Đạn bay chéo chéo từ phía địch quân núp ở các bụi cây phía xóm dân bắn ra hàng loạt. Tiếng đạn tạch tạch của đại liên, trung liên và súng cá nhân từ đội quân Biệt kích cũng bắn đi không ngớt. Trung úy Bonny và trung sĩ John cùng ra đứng trên nóc hầm với đại úy Hải. Quan sát trận chiến một hồi, nói chuyện với đại úy Hải điều gì đó, hai ông vào lại nhà cố vấn. Khoảng tiếng rưởi đồng hồ sau, một trực thăng bay đến phun khói màu cuồn cuộn dọc theo cánh đồng hoang. Ngay sau đó, nhiều trực thăng bay đến thả quân bộ binh tăng viện sau làn khói mù. Tôi nghĩ là ông Bonny đã kêu viện binh. Trận chiến ác liệt kéo dài đến chiều thì địch quân tháo chạy, bỏ lại nhiều xác chết. Quân ta bắt sống hai tên Việt cộng, tịch thu được một số súng Ak47 và súng pháo B40, B41, triển lãm ở phòng sinh hoạt trại. Lần đầu tiên trong đời tôi mới được chứng kiến một chiến trường thực sự diễn ra trước mắt. Nhìn thấy được sự chiến đấu dũng cảm của người lính Biệt kích Mỹ nói riêng, và của tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hoà trong công cuộc chống lại sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Và cũng nhìn thấy được sự làm việc hữu hiệu của các cố vấn Mỹ trong hiệp đồng tác chiến với quân đội ta. Nghe anh Kim, anh Tô kể lại, nhiều địa phương thuộc vùng một, vùng hai ở miền Trung còn diễn ra nhiều trận chiến kinh hồn gấp ngàn lần.
Những địa danh như Đắc Tô, Khe Sanh đã vang lừng trong chiến sử. Ở Khe Sanh, lực lượng lính Mỹ tử thủ đã liên tục nhiều ngày đêm phải đương đầu với đạn pháo và chiến thuật tấn công biển người của quân chính quy Bắc Việt. Người ta ví cường độ ác liệt của trận chiến Khe Sanh như trận chiến Điện Biên Phủ. Có điều, ở Điện Biên Phủ, Việt cộng thắng quân Pháp, còn ở Khe Sanh, Việt cộng thất bại nặng nề trước sự chiến đấu dũng mãnh của những người lính Mỹ kiêu hùng.
Tháng 3 / 1970, một chuyện bất ngờ khiến tôi buồn rũ rượi suốt một ngày. Đại đội 350 của anh Vọng theo lệnh của Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, phải chuyển đi Nam Vang để trợ giúp chính phủ Lonnol ở Campuchia; sau khi Lonnol lật đổ chế độ quân chủ của ông hoàng Sihanouk. Chị Mùi phải theo chồng. Ngày lên đường, chị Mùi vừa bế cháu Quang, vừa khóc nức nở. Chị nói :
- Chị đâu có ngờ phải xa em để theo chồng qua một nước khác thế này. Nếu biết vầy, chị đã cho em đi làm con nuôi ông bác sĩ Mỹ. Chị đã hại em rồi !.
Tôi an ủi chị :
- Chị đừng buồn nữa. Em hiểu vì chị thương em mà. Qua bên đó, xem tình hình thế nào rồi chị viết thư về cho em theo địa chỉ dì Mười ở Sài Gòn, nhen chị…Tôi hôn lên má cháu Quang rồi nói tiếp : - Ở Campuchia bây giờ cũng chiến tranh với Khmer Đỏ. Em lo cho anh chị và cháu Quang lắm. Anh chị giữ gìn sức khỏe.
Anh Vọng ôm chặc tôi :
- Mong là chiến tranh sớm kết thúc, anh em mình có ngày gặp lại.
Chị Mùi lên xe rồi vẫn cứ nhìn tôi bằng đôi mắt u sầu, đẫm lệ. Từng chiếc xe từ từ chạy lên phà, qua sông. Những bàn tay vẫy vẫy những bàn tay. Nhìn đoàn xe chở quân dần xa khuất bên kia sông, tôi mới bật khóc. Buổi chia ly nào không nước mắt Mây mù giăng kín mảnh hồn tôi Tiễn anh, tiễn chị, lòng đau thắt Mơ ngày gặp lại ấm êm đời…Về nhà cố vấn, tôi báo cho ông Bonny và ông John là tôi sẽ về Sài Gòn. Hai ông khuyên tôi ở lại, học cho hết niên học rồi hãy về. Tôi nói để suy nghĩ thêm. Qua hôm sau, tôi đồng ý ở lại. Ông John cười ha hả, ôm chầm lấy tôi rồi bế tôi lên, cứ như bế một đứa con nít ba, bốn tuổi. Tôi xúc động, cũng cười ha hả với ông.
Nửa tháng sau, ông Bonny và ông John được thuyên chuyển về bộ chỉ huy ở Tây Ninh. Hai ông giới thiệu tôi với ban cố vấn mới là trung úy Calvin và trung sĩ Munoz. Bến phà sông Bến Sỏi lại chứng kiến sự chia ly. Lần này là giữa hai người lính Mỹ với một thiếu niên Việt mà sự cảm động không khác gì giữa những người thân trong gia đình. Tôi nói với hai ông:
- I very thanks for your support. You two have the best of human kindness in the world. I always keep in mind your love for me.
Ông Bonny và ông John cùng mỉm cười và lần lượt ôm chặc lấy tôi trước khi lên xe. Nhìn chiếc xe Jeep qua đến bên kia sông chạy xa dần, xa dần rồi mất hút trong bầu trời xám xịt, tôi mới uể oải đi vào trại.
Trung úy Calvin, 32 tuổi, người Mỹ gốc Mễ, tướng nhỏ con giống người Việt, cũng ít nói như ông Bonny. Ông không thân thiện gì với tôi, nhưng thường nở nụ cười tươi mỗi khi gặp tôi.trong giờ ăn uống hay xem phim. Trung sĩ Munoz, 34 tuổi, người Mỹ gốc Đức, tướng người mập, cao vừa tầm, tính điềm đạm, nói năng chừng mực, không bao giờ cười. Ông nói tiếng Việt thông thạo, nhờ học nơi cô vợ Việt. Do ông biết tiếng Việt, nói giọng nhỏ nhẹ, tôi thấy gần gũi với ông. Nghe tôi kể về hoàn cảnh sinh ly, tử biệt giữa các người thân trong gia đình tôi, ông nói thương tôi lắm. Ông tốt với tôi như ông John và ông Bonny trước đó. Cuối tuần, đi thị xã, ông chở tôi theo, vào chợ ăn hủ tíu hay bánh xèo là hai món ông thích nhất. Ăn xong, ông cho tôi một ít tiền, nói : “Quý giữ lấy để tiêu vặt. Mỗi tuần, anh sẽ cho em như vầy”. Có nhiều ngày, ông tự lái xe Jeep chở tôi đi học vào buổi sáng rồi đến xế chiều đón tôi về. Tôi thấy thương ông quá. Cuối tháng tư, chị Hồng, vợ ông Munoz, từ tỉnh Biên Hòa lên thăm ông, ở lại trại một tuần. Chị 27 tuổi, có nét đẹp đằm thắm, dịu dàng, tính cởi mở, vui vẻ. Chúng tôi thân nhau như hai chị em. Chiều nào, ông Munoz cũng dẫn chị Hồng và tôi ra xóm dân, vào một quán lá bên đường uống cà phê đá. Ông nói rất thích cà phê Việt vì hương vị đậm đà; không như cà phê Mỹ nhạt phèo. Có lúc ông nhờ Giang thuyền lấy ca nô chở chúng tôi hóng mát trên sông. Sự thân mật, vui vẻ giữa ba người chúng tôi như trong một gia đình. Ngày chị Hồng về lại Biên Hòa, ông Munoz chở chị và tôi đi ăn sáng rồi dạo chơi vòng vòng thị xã Tây Ninh. Đến trưa lại vào nhà hàng. Ăn uống thỏa thuê rồi mới ra bến xe.
Cuối tháng 5 / 1970, tôi mãn học với giải thưởng hạng nhì. Ông Munoz xoa đầu tôi khen :
- Very good ! Em giỏi quá. Mai mốt về Sài Gòn cũng rán học giỏi vậy.
- Dạ. Em cảm ơn anh. Vậy, vài hôm nữa em về Sài Gòn nhen anh ?
Ông Munoz trợn mắt :
- Sao gấp vậy ? Ở chơi nửa tháng nữa đi. Anh cũng không ở trại này bao lâu nữa đâu.
- Ủa. Sao vậy anh ?
- Vì trại Biệt kích này sắp chuyển thành Biệt động quân biên phòng. Thôi, bây giờ anh thưởng em học giỏi bằng một bửa ăn nhà hàng. Lên xe, anh chở đi Tây Ninh.
- A…cảm ơn anh. Tôi reo mừng rồi nhảy tót lên xe Jeep. Hôm đó, sau khi ăn xong, ông Munoz dẫn tôi đi vào chợ, mua cho tôi mấy bộ quần áo, thêm cái va li. Ông nói : “Để cho em đựng đồ ngày về Sài Gòn”. Tôi có cảm giác như đang được một người anh ruột quan tâm, chăm sóc cho mình.
Nửa tháng sau. Ông Munoz xách chiếc va li của tôi bỏ lên chiếc xe Jeep. Tôi bắt tay trung úy Calvin, nói :
- Thank you so much for your kindness. I wish you the best of health and happiness.
Ông nở nụ cười tươi và xiết chặc tay tôi : - Have a good trip.
Tôi đến bắt tay anh Tô và anh Kim, nói lời cảm ơn hai anh. Anh Tô vỗ vai tôi :
- Về Sài Gòn lo học hành nhen em. Đừng có lêu lổng ham chơi mà khổ cái thân.
Anh Kim nói đùa :
- Khi nào chú em cưới vợ nhớ mời hai anh uống rượu nhen..
- Dạ. Em sẽ viết thư thăm hai anh.
Tôi lại lần lượt bắt tay Peter, Henry, Jim, Danny, Andy, rồi nói :
- I hope one day we will meet each other. Hope you have the best of health and happiness.
Ông Munoz đã ngồi sẵn trước tay lái. Tôi lên ngồi ghế kế ông, ngoái nhìn lại phía sau và vẫy vẫy tay chào các anh. Chiếc xe Jeep chạy đi, tôi vẫn còn thấy các anh đứng nhìn theo. Ông Munoz lái chiếc Jeep rời khỏi phà, từ từ leo lên bờ sông rồi vụt chạy bon bon trên con đường đất đỏ. Xin từ biệt Bến Sỏi. Từ biệt một vùng hỏa tuyến nhiều hiểm nguy nhưng đượm thắm tình người. Xin chúc bình an cho các anh lính Mỹ tốt lành và tất cả người lính Biệt kích Mỹ oai hùng của trại Bến Sỏi.
Cũng như lần tiễn chị Hồng, ông Munoz đưa tôi đến một khu phố trung tâm thị xã, vào nhà hàng ăn một bửa thịnh soạn. Trong buổi ăn lần cuối này, tôi mạnh dạn hỏi ông :
- Anh có buồn khi phải xa nhà, xa xứ để đi chiến đấu cho quê hương nghèo khổ của em không ?
Ông Munoz nói giọng nhỏ nhẹ, chậm rãi :
- Xa nhà, xa xứ thì ai cũng buồn. Nhưng đã là quân nhân thì phải chấp nhận đi tác chiến ở bất cứ nơi nào mà cấp trên điều động. Qua chiến đấu cho quê hương em là bổn phận, nghĩa vụ của quân nhân Mỹ các anh để giúp cho người dân nước em không bị cộng sản xâm chiếm. Tụi cộng sản nó độc tài, gian ác lắm. Anh mong người dân Việt sớm có ngày thanh bình.
- Anh thấy người dân Việt nước em như thế nào ?
- Người dân Việt rất can đảm, gan lì trong đấu tranh chống ngoại xâm. Anh biết chút ít lịch sử nước Việt của em. Một ngàn năm bi người Tàu đô hộ vẫn không bị đồng hóa. Nhiều lần người dân Việt đã anh hùng đánh đuổi được giặc Tàu, giặc Pháp, giặc Nhật, giữ yên đất nước. Còn mở rộng thêm lãnh thổ nữa. Tiếc rằng bây giờ bị họa cộng sản mà thành hai miền Nam, Bắc, hai chế độ khác nhau. Nước Đức của ông bà nội anh cũng bị chia cắt làm hai. Đau lòng lắm !
Ông Munoz cầm ly nước lên uống vài hớp rồi nói tiếp : - Người dân Việt còn có nhiều đức tính rất đáng quý. Bản tánh hiền hòa, hiếu khách, siêng năng, nhẫn nại, dám hy sinh cho người thân. Đặc biệt, phụ nữ Việt có nét đẹp dịu dàng, hiền hậu. Vì vậy anh mới cưới cô Hồng làm vợ.
- Anh có làm hôn thú với chị Hồng không ?
- Có. Anh còn làm đám cưới với Hồng ở Biên Hòa theo phong tục người Việt. Khi về nước, anh sẽ làm bảo lãnh cổ.
- Em kính chúc anh chị luôn hạnh phúc, sống mãi với nhau trọn đời.
- Cảm ơn em nhiều. Thôi mình ra bến xe, em.
Đến bến xe, tôi ôm chặc ông. Ông cũng ôm chặc lấy tôi một hồi lâu. Mắt tôi cay sè. Tuổi niên thiếu tôi có nhiều cuộc chia tay, ly biệt quá. Ông Munoz xách cái va li của tôi đem đến cho anh lơ xe rồi đi lại phía tôi. Ông đưa tôi một phong thư, nói :
- Em giữ lấy, để dành khi về Sài Gòn mua sách vở đi học.
Cầm phong thư, tôi xúc động nói :
- Em cảm ơn anh nhiều lắm. Anh thật tốt với em, như anh chị ruột của em đối với em vậy. Em rất thương anh. Em sẽ nhớ anh mãi.
Ông Munoz vỗ vỗ bàn tay lên vai tôi :
- Anh cũng thấy thương em lắm. Em nhớ học cho giỏi nhen. Thôi, em lên xe đi. Chúc em đi bình an.
Tôi ôm chặc ông một lần nữa rồi lên xe. Chiếc xe đò đã chật cứng khách. Anh lơ cho tôi ngồi ở cuối xe. Tôi ló đầu ra cửa xe nhìn ông Munoz. Ông vẫn còn đứng bên chiếc Jeep, giơ tay lên vẫy vẫy, miệng nở một nụ cười. Lần đầu tiên tôi thấy ông cười. Nụ cười thật tươi, có nét hiền lành, phúc hậu. Xe rời bến. Tôi cố ngoái lại nhìn ông và hét lớn : “I love you”. Tôi còn kịp nhìn thấy nụ cười hiền hòa của ông một lần nữa trước khi chiếc xe đò vụt chạy nhanh trên tỉnh lộ. Trời đổ mưa. Cảnh trời xám ngoét trong mưa gây cho tôi cảm giác lạnh lẽo, buồn buồn. Ngồi thừ người ra một hồi, tôi mở bao thư xem. Ông cho tôi $ 250 dollars đỏ. Khá nhiều đối với một người trẻ chưa biết làm ăn gì ra tiền như tôi. Bấy giờ là giữa tháng 6 / 1970.
….
Về Sài Gòn sống nhờ nhà dì Mười, tôi vừa đi làm vừa tiếp tục việc học. Chiến tranh vẫn diễn ra hàng ngày trên quê hương. Ngày nào tôi cũng đọc báo theo dõi tình hình thời sự. Tin tức chiến sự dồn dập từ bốn vùng chiến thuật choán đầy các trang nhật báo. Ở Hoa Kỳ, phong trào phản chiến lan ra nhiều tiểu bang. Tổng thống Nixon triển khai kế hoạch “Việt Nam hoá chiến tranh”, trang bị thêm cho quân đội miền Nam Việt Nam nhiều vũ khí tối tân, có thể chiến đấu hữu hiệu hơn trên khắp chiến trường, để rút dần quân Mỹ về nước. Trong nước, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu tái đắc cử trong cuộc bầu cử “độc diễn” ngày 3 / 10 / 1971. Ông Thiệu là người chống cộng quyết liệt với lập trường “ bốn không” và câu nói bất hủ : ”Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”, rất được lòng chính phủ Mỹ. Nhưng, gió lịch sử đổi chiều. Tháng 2 / 1972, Tổng thống Mỹ qua thăm Trung cộng, gặp gỡ Mao trạch Đông và Chu ân Lai. Cái bắt tay lịch sử giữa Nixon và Mao mà về sau này tôi hiểu, vừa cô lập cộng sản Liên xô, vừa đáp ứng nguyện vọng người dân Mỹ đang quyết liệt phản đối chiến tranh, và vừa để tìm kiếm thị trường béo bở hơn tỉ dân Trung quốc; là cái bắt tay ‘định mệnh’ dọn đường cho sự bức tử chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Để tăng áp lực lên hòa đàm Paris, Việt cộng tổng tiến công lần thứ hai. Chiến sự bùng nổ tàn khốc trong mùa hè đỏ lửa, 1972. Đông Hà, Cổ thành Quảng Trị, Tân Cảnh, Kom Tum, Bình Giã, Lộc Ninh, An Lộc, Bình Long, nhiều địa danh khác nữa…ở vùng một, vùng hai, vùng ba bốc lửa vì hỏa lực khủng khiếp của cộng sản Bắc Việt điên cuồng tấn công mong tìm một chiến thắng vang dội.
Nhưng chúng đã bị chặn đứng mưu đồ bởi sự chiến đấu kiên cường của chiến sĩ Việt - Mỹ và đồng minh. Mặt trận vùng bốn cũng sôi động không kém. Tôi ngày đêm phập phồng lo lắng cho an nguy của anh Phùng. Điều lo sợ của tôi không tránh khỏi. Ngày 9 / 5 / 1972, anh Phùng hy sinh tại chiến trường Mộc Hóa. Chú Bảy cho người nhà lên Sài Gòn báo tin. Tôi khóc ngất !... Tôi đi lang thang khắp Sài Gòn như người mất hồn suốt một ngày đêm không thiết gì ăn uống.
Trong khi người lính Mỹ đang đổ máu tại chiến trường thì cô đào màn bạc Mỹ, Jane Fonda, người cuồng nhiệt cổ võ phong trào phản chiến, đã trơ trẽn đến Hà Nội trong tháng 7 / 1972. Cô đội nón sắt vào thăm từng chiến hào của bộ đội cộng sản Bắc Việt. Hành động đâm sau lưng chiến sĩ của Jane Fonda đã gây nên sự căm phẫn của nhiều người dân Việt, Mỹ thù ghét cộng sản. Tổng thống Nixon thì bị tai tiếng vụ Watergate sau khi các nhân vật thân cận của ông cho người đột nhập vào văn phòng của đảng Dân chủ tại khách sạn Watergate để nghe lén. Uy tín ông xuống thấp. Ông càng lo tìm kiếm một giải pháp hòa bình với Bắc Việt nhằm sớm rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam để lấy lòng dân Mỹ. Trong tháng 10 / 1972, cố vấn Kissinger đến Sài Gòn yêu cầu Tổng thống Thiệu ký hiệp định Paris. Mới đầu, ông Thiệu phản đối kịch liệt vì cho rằng bản hiệp định bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trước áp lực của chính phủ Mỹ, hăm dọa sẽ cắt hết viện trợ quân sự, ông Thiệu đành phải chấp nhận. Hiệp định Paris chính thức được ký kết ngày 27 / 1 / 1973.
Ngày 29/3/1973, người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Từ đó, quân lực Việt Nam Cộng Hòa đơn độc chiến đấu chống lại cộng quân vẫn đang ngày càng mạnh lên nhờ vào viện trợ quân sự tối đa của cộng sản Nga, Tàu. Trong suốt hai năm từ tháng 4 / 1973 đến tháng 4 / 1975, Việt cộng xé bỏ hiệp định Paris, ngang nhiên tiếp tục phát động chiến tranh, tổng tấn công trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Chính quyển Tổng thống Thiệu cố gắng xoay trở, chống đở cuộc chiến trong khó khăn, tuyệt vọng vì bị Quốc hội Mỹ ra nghị quyết cắt giảm nhiều nguồn viện trợ. Tỉnh Phước Long bị Việt cộng chiếm trong đầu tháng 1 / 1975. Kế tiếp, thành phố Ban Mê Thuột bị thất thủ ngày 16 / 3 / 1975 dẫn đến sự biến “di tản chiến thuật’ trong hỗn loạn, kinh hoàng, đưa đến hậu quả bị mất vùng một, vùng hai. Rồi nhiều tỉnh thuộc vùng ba cũng bị rơi vào tay giặc. Ngày 21 / 4 / 1975, Việt cộng tiến quân vào Biên Hoà. Tổng thống Thiệu từ chức, giao quyền lại cho tân Tổng thống Trần văn Hương. Vài ngày sau, có tin đồn ông Thiệu rời Việt Nam mang theo 16 tấn vàng. Nhiều năm về sau này ở Mỹ, qua những tài liệu đọc được trên vài trang Web, tôi mới biết ông ra đi với tư cách đặc sứ của Việt Nam Cộng Hòa đến Đài Bắc phúng điếu Tưởng giới Thạch. Ông sống đạm bạc nơi xứ người, chẳng có tấn vàng, tấn bạc gì cả. Ngày 28, cộng quân áp sát Sài Gòn. Tổng thống Trần văn Hương trao quyền cho tướng Dương văn Minh. Khi phần lớn binh lính miền Nam ở quanh Sài Gòn còn ghìm chặc tay súng, sẵn sàng chống trả quyết liệt với quân cộng, thì rất nhiều tướng, tá chỉ huy đã đào ngũ, tháo chạy ra nước ngoài. Sự mất nước phải tới. Sáng ngày 30 / 4 / 1975, xe tăng Việt cộng tiến vào dinh Độc lập, nơi biểu tượng uy quyền của hai triều đại Cộng Hòa. Tổng thống Dương văn Minh lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chính thức sụp đổ. Chiến tranh Việt Nam kết thúc trong sự tức tưởi, nghẹn ngào của hàng triệu quân, dân miền Nam Việt Nam. ( * )
Trong những ngày tàn cuộc chiến cuối tháng tư, vẫn còn nhiều quân nhân hy sinh vì lý tưởng bảo vệ miền Nam tự do. Ngày 23/4/1975, Hỷ, 17 tuổi, em kế tôi, là lính tình nguyện binh chủng Biệt động quân, đã hy sinh trong một cuộc chạm súng với Việt cộng ở Gò Dầu. Khi anh lính Biệt động báo tin đi khỏi, tôi vào căn phòng vắng ngồi lặng lẽ nhớ về người em hiền lành mà can đảm. Nước mắt tuôn rơi không biết từ lúc nào. Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ này, giữa một bên là chính nghĩa tự do, nhân bản, với một bên là phi nghĩa, độc tài, bạo tàn, khát máu, tôi đã bao lần phải khóc thương cho những người thân ruột thịt đã vĩnh viễn nằm sâu dưới lòng đất lạnh.!...
….
Sau tháng 4 / 1975, khi nắm trọn quyền cai trị đất nước, cộng sản Việt Nam càng bộc lộ rõ hơn bộ mặt xảo trá, gian ác, phi nhân khi ra sức cướp bóc tài sản người dân miền Nam, bắt cả trăm ngàn sĩ quan miền Nam và nhiều văn nghệ sĩ, tu sĩ đi tù cải tạo không biết ngày về, và kềm kẹp người dân cả nước từ Bắc đến Nam phải sống trong nghèo nàn, cơ cực, thiếu thốn, đói khổ để xây dựng cái thiên đàng cộng sản ảo tưởng của chúng. Hàng triệu trẻ em bị thất học. Cái sự đói ăn, khát uống khiến cho trộm cắp, cướp bóc, đĩ điếm tràn lan trên cả nước. Xã hội băng hoại. Để được ngoi ngóp sinh tồn trong xã hội cộng sản, con người phải tập nói dối, tập gian trá với bọn cầm quyền và ngay cả giữa những người dân với nhau; phải dẫm đạp lên nhau mà sống. Cộng sản Việt Nam thống nhất được đất nước nhưng không thống nhất được lòng người. Mấy triệu người dân lần lượt bỏ nước ra đi bằng đường biển hay đường bộ để mưu tìm một con đường sống mới có ánh sáng của tự do, dân chủ và quyền làm người. Cuối năm 1980, tôi tiếp nối bước chân tìm tự do của những người đi trước, liều mạng một mình vượt biên đường bộ. May mắn có Ơn Trên thiêng liêng phù hộ, tôi đã được nước Mỹ đón nhận từ giữa năm 1982 để có cuộc sống yên lành trong 27 năm nay.
….
Chiều nay, tôi đến thăm Tượng đài Chiến Sĩ Việt - Mỹ trên đường All American Way trong khu thị chính Westminster city, quận Cam. Tiết trời giữa thu mát mẽ, dễ chịu. Mưa phùn lất phất bay tăng thêm trong tôi nỗi bâng khuâng, u hoài khi nhìn lên tượng hai người lính Mỹ và Việt đứng sát bên nhau giữa kỳ đài.
Những đường nét chạm khắc khéo léo làm tăng vẻ uy nghi, oai vệ, can trường nơi dáng dấp và khuôn mặt của hai người lính. Tôi cúi đầu thật lâu trước tượng hai chiến sĩ, rồi nhìn lên hai quốc kỳ Việt - Mỹ đang phất phới trong trời gió lộng, cảm nghe trong thinh không như có tiếng quân hành ca hùng tráng. Tôi nhớ đến anh chị em ruột thịt của tôi đã mất hết trong chiến tranh. Rồi nghĩ về trung úy Bonny, trung sĩ John, trung sĩ Munoz, trung úy Calvin, các anh : Peter, Henry, Danny, Andy, Jim, những người lính Mỹ đã dành cho tôi tình thương mến đặc biệt thời niên thiếu ở trại Bến Sỏi. Không biết bây giờ các anh đang làm gì, ở đâu ?
Tôi lại cúi đầu thật lâu trước tượng đài, tưởng tiếc đến tất cả anh linh chiến sĩ Việt - Mỹ đã hy sinh vì chính nghĩa tự do.( Có 58.209 quân nhân Mỹ tử trận, 2000 quân nhân Mỹ mất tích và 220.000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa “vị quốc vong thân” (*). Dù kết thúc chiến tranh là sự thua cuộc của miền Nam Việt Nam, nhưng sự hy sinh của các anh không vô nghĩa. Bởi nhờ vào sự chiến đấu quả cảm và hy sinh của các anh từ
Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, quận Cam thời chiến tranh Việt Nam mà sau cùng hệ thống cộng sản quốc tế hoàn toàn sụp đổ. Liên xô tan rã. Các nước cộng sản Đông Âu đã chuyển qua chế độ tự do, dân chủ từ 20 năm nay. Chẳng bao lâu nữa, chế độ đảng trị độc tài Việt Nam cũng sẽ cáo chung vì phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân Việt trong và ngoài nước đang mỗi ngày lan rộng, và sẽ trở thành sức mạnh vô địch không thế lực phi nhân nào chống đỡ nổi. Sự tiêu vong của cộng sản Việt Nam là điều tất nhiên phải đến…
Chiến sĩ Việt - Mỹ anh hùng ! Các anh là những người chiến thắng trận sau cùng ! Vinh quang thuộc về các anh.!
Sau khi cúi đầu thật lâu trước tượng đài lần nữa, tôi lững thững ra xe, lòng thanh thản. Gíó thu thổi nhẹ từng cơn mát rượi. Những cánh hoa vàng, đỏ, tím nở rộ ở ven đường rung rinh, rung rinh trong gió như cười vui tiễn bước chân tôi. Hoàng hôn dần buông. Phố đã lên đèn.
-----------------
Bài do tác giả gửi đăng.
Tác giả HCQ năm 1969 tại Tây Ninh
Huyên Chương Qúy
Đăng ngày 31-1-2010
http://danchimviet.com/articles/1994/1/Chin-tranh-va-ngi-M-tren-que-hng-toi/Page1.html
LTG: Kỷ niệm 35 năm người Việt tị nạn tại hải ngoại. Kính tưởng niệm tất cả anh linh chiến sĩ Việt Nam – Hoa Kỳ và đồng minh, có Anh Chị Em ruột thịt của tôi, đã hy sinh vì chính nghĩa Tự Do trong chiến tranh Việt Nam trước tháng 4/1975
Năm 1961, má tôi bị bệnh tê liệt, chạy chữa khắp nơi, thuốc Bắc, thuốc Nam vẫn không khỏi, phải vào nằm nhà thương thí thị xã Phan Rang. Cha tôi đã mất. Chị Mùi, trưởng nữ, đi buôn dưa tận tỉnh Long Khánh, thỉnh thoảng mới về thăm má. Anh Phùng, trưởng huynh, anh Thiện kế tôi, đều đi học nghề thí công ở nhà chủ. Em Hỷ làm con nuôi người ta. Chỉ còn tôi luôn quấn quýt ở bên má. Thấy gia cảnh má nghèo, ban giám đốc cho tôi được ở lại luôn tại nhà thương để phụ chăm sóc má.
Hàng ngày, ngoài hai lần đến nhà bếp lãnh cơm về cho má và tôi cùng ăn, tôi thường đi la cà các khu bệnh khác trong nhà thương. Có lần đi ngang khu cấp cứu, tôi thấy nhiều thương binh nằm ở ngoài sân. Người nào cũng máu me lênh láng đầy mình. Họ rên rĩ, la hét vì cơn đau của những vết thương. Không hiểu vì sao có nhiều người bị thương như vậy, tôi tần ngần đứng nhìn một lúc, thấy tội nghiệp cho họ lắm. Lần khác, khi có vài anh lính khỏe mạnh khiêng thương binh vào khu cấp cứu xong thì ngồi nghỉ mệt, tôi làm gan đến hỏi. Các anh cho biết vừa mới đánh nhau ác liệt với tụi Việt cộng ở Sông Pha, cách thị xã vài chục cây số. Tôi không biết tụi Việt cộng là ai. Tôi nghĩ chắc là bọn ăn cướp. Tuổi mới lên bảy, tôi chưa biết gì về chiến tranh.
Nằm nhà thương vài tháng, bệnh má tôi vẫn không thuyên giảm. Cô Ba Tình, em kết nghĩa của cha tôi, đưa hai má con tôi về lại làng Tấn Tài B, cách thị xã bốn cây số, ở trong ngôi nhà tranh nhỏ trong vườn nhà cô. Tháng 8 / 1962, má tôi mất. Cô Ba nhận tôi làm con nuôi, cho ăn học tử tế. Sau vài lần ngồi khóc một mình trong xó tối vì nhớ má, tôi trở lại tính hồn nhiên, đi học, đi chơi với bạn bè, quên đi thời gian cơ cực mỗi ngày phải tự đi chợ, đi lượm củi, nấu cơm, nấu thuốc Bắc, lo lắng cho mẹ hiền bệnh hoạn nằm một chỗ; quên cả hình ảnh các thương binh máu me đầy mình ở khu cấp cứu trong nhà thương. Có vài ngày má nuôi và nhiều người khác trong làng đi làm hàng rào ấp chiến lược. Tôi đi theo má nuôi, lanh chanh chạy chỗ này, chỗ nọ chứ chẳng giúp được gì cho ai. Tôi hỏi má nuôi sao phải làm hàng rào dài thế, má nuôi nói là để không cho Việt cộng vào làng, vì Việt cộng nó ác lắm. Cuối năm, có anh Phước, người cháu của má nuôi từ tỉnh Lâm Đồng về chơi, kể cho tôi nghe những trận đánh của anh với Việt cộng; nhiều lần một mình anh mà đánh lui cả trăm tên Việt cộng. Anh đặt nhiều khẩu súng dọc theo giao thông hào, rồi chạy xẹt tới, xẹt lui bắn loạn xà ngầu, tụi Việt cộng sợ quá phải bỏ chạy. Lớn lên, tôi biết anh nói dóc. Anh còn nói dóc là Việt cộng nó ốm tong, ốm teo như con khỉ, nhiều thằng leo lên cây đu đủ cũng không gãy. Nhưng lúc đó còn nhỏ, nghe anh kể, tôi phục lăn. Anh cho tôi biết Việt cộng đang gây chiến tranh ở nhiều nơi trên đất nước. Rồi nhờ các bài học lịch sử vở lòng, thêm đọc truyện “Tuấn, chàng trai nước Việt” của Nguyễn Vỹ, tôi mới hiểu thế nào là giặc ngoại xâm gây họa chiến tranh, sự tàn ác của bọn Tàu và sự bóc lột dân ta của người Pháp. Bây giờ thêm tụi Việt cộng ác ôn gây chiến. Tôi thấy sợ chiến tranh, căm ghét tụi Việt cộng, oán hận giặc Tàu phương Bắc và giặc Pháp phương Tây. Đời sống quanh tôi ở Phan Rang bấy giờ rất thanh bình. Nhưng qua lời kể chuyện của anh Phước, trí óc tuổi thơ tôi cũng lờ mờ hiểu được hiểm họa chiến tranh đang xảy ra trên quê hương.
Hè 1965, tôi học xong lớp ba. Chị Mùi đưa mấy anh em tôi vào Long Khánh sống với chú thiếm Bảy tại ấp Tân Phú. Con đường đất đỏ từ thị xã Xuân Lộc đi vào ấp mang tên Hoàng Diệu có một đồn lính Mỹ ở đầu ấp. Mọi người gọi là đồn Hoàng Diệu. Cách ấp khoảng hai cây số, có thêm căn cứ đóng quân của Sư đoàn 18 bộ binh và Lực lượng Thiết giáp. Nhiều lần, xe thiết giáp và xe GMC chở đầy lính chạy rầm rầm ngang qua ấp, đi về hướng rừng sâu, bụi tung mù mịt cả con đường. Tôi đoán là lính đi hành quân đánh Việt cộng. Rồi, nhiều lần có những tiếng nổ ầm ầm trong đêm, nghe rất gần. Cả gia đình đều chạy xuống hầm. Chú Bảy nói đó là Việt cộng pháo kích. Bộ mặt chiến tranh đã hiện rõ trước mắt tôi.
Một ngày, đi học về trên đường Hoàng Diệu, ngang qua đồn lính Mỹ, tôi nhìn thấy nhiều người lính Mỹ ra, vào đồn. Họ da trắng, cao lớn, mủi lỏ, mắt xanh. Có vài người cũng cao lớn nhưng mặt mày đen thui. Nhớ lời má nuôi kể giặc Pháp thời trước cũng dáng người cao lớn, mủi lỏ, mắt xanh, thêm có nhiều lính lê dương da đen rất hung ác, tự nhiên tôi thấy sợ sợ những người lính Mỹ này. Tôi nghĩ, chắc là họ xâm lăng nước mình. Lòng hiếu kỳ khiến tôi cứ đứng nhìn chăm chăm vào họ. Nhưng sao trông họ hiền hòa quá, chẳng có chút
Hoa Kỳ đưa quân vào miền Nam Việt Nam gì hung dữ như giặc Tây. Họ cười vui vẻ khi thấy tôi đứng nhìn. Còn vẫy vẫy tay với tôi nữa. Một người lính đen đến gần, chìa ra trước mặt tôi cây kẹo chewing gum. Tôi lắc đầu không nhận, ù chạy về nhà. Tôi nói với chú Bảy :
- Hôm nay lần đầu tiên con gặp người Mỹ. Trông tướng họ giống như giặc Tây vậy. Bộ người Mỹ xâm lăng nước mình hở chú ?
Chú Bảy cười xòa :
- Họ không phải là giặc xâm lăng đâu con.
- Vậy họ đến nước mình làm chi ?
- Vì nước Mỹ, còn gọi là Hoa Kỳ, là đồng minh nước Việt Nam Cộng Hòa mình, nên họ gửi lính qua giúp mình đánh Việt cộng.
- Vậy người Mỹ là bạn của mình. Hèn chi con thấy họ hiền ghê, còn cho con kẹo nữa, mà con không lấy. Nước Mỹ ở đâu chú ?
- Ở Châu Mỹ. Còn nước Pháp ở Châu Âu. Hai nước cách xa nhau lắm. Mỹ là nước giàu mạnh, lãnh đạo khối thế giới tự do chống lại cộng sản. Tụi cộng sản Tàu, Nga nó ác lắm, thường giết hại dân lành. Việt cộng là tay sai của cộng sản Nga, Tàu nên cũng rất ác ôn, chuyên đấu tố, cướp của, giết người. Trước năm 1954, ba của con làm Chánh tổng ở tổng Phước An, tỉnh Ninh Thuận, giàu có lắm, bị Việt cộng, hồi đó gọi là Việt minh, vào đốt nhà, cướp hết tài sản, đất đai. Ba má con mới chạy về làng Tấn Tài B lánh nạn, sống nghèo khổ như vậy.
Đối với tuổi thơ tôi, người Mỹ đã hiện diện trên quê hương tôi bắt đầu từ lần đầu tiên nhìn thấy đó. Rồi hình ảnh người Mỹ trở thành quen thuộc khi tôi thường nhìn thấy những xe GMC chở lính Mỹ chạy trên nhiều con đường khác trong thị xã. Đám trẻ nhỏ mỗi khi thấy xe lính Mỹ chạy qua là ùa ra vẫy tay, kêu ỏm tỏi những tiếng ô kê, ô kê, hê lô, hê lô để mong được lính Mỹ quăng cho vài cây kẹo.
Có lính Mỹ đóng quân, con đường Hoàng Diệu dần dần trở nên vui nhộn với những quán bar mọc lên san sát, đối diện với suốt cả chiều dài của đồn Mỹ. Những cô gái trẻ, mặt đầy phấn son, mặc Mini bó sát, ngắn củn cởn, thường ra đứng trước cửa quán mời mọc lính Mỹ. Có anh nào chịu vào quán là các cô ôm eo, bá vai, cười nói lả lơi. Thỉnh thoảng, có vài anh lính Mỹ say xỉn làm bậy cái gì đó, các cô la ới ới, chạy sấp chạy ngửa ra đường.
Số phận ấp Tân Phú có chung số phận với đồn Mỹ khi phải chịu đựng những trận đạn pháo của Việt cộng rót vào. Mỗi khi bị Việt cộng pháo kích, đồn Mỹ pháo trả lại. Tiếng nổ ầm ầm vang dội trong đêm. Cứ sau giờ cơm nước buổi tối, người dân trong ấp lại phập phồng lo sợ, không biết lúc nào Việt cộng sẽ bắn pháo. Họ ngủ không yên giấc. Gia đình chú thiếm Bảy tôi cũng vậy. Phần tôi, mỗi lần phải chạy xuống hầm tránh đạn pháo kích, tôi thấy ớn ớn căn hầm. Tôi với cả nhà tám người chụm lại, ngồi chồm hổm ở dưới hầm. Vách hầm đất đỏ ẩm ướt, bốc lên mùi hôi hám, thật khó chịu, tôi muốn ói. Tôi còn gục tới, gục lui vì cơn buồn ngủ, nhiều lúc ngã lăn kềnh trong hầm, mặt, mủi, tay, chân, quần áo dính đầy đất đỏ..
Có nhiều trận pháo kích, đạn rót trúng ngay nhà dân. Tiếng la hét, kêu gào của những người hàng xóm bị thương nghe thật thảm thiết, thê lương trong đêm đen. Những trận pháo kích của Việt cộng tăng lên, từng đêm, từng đêm. Riết rồi chú Bảy tôi không thèm chạy xuống hầm nữa. Mọi người trong gia đình ngồi dưới hầm mà cứ nơm nớp lo lắng cho chú. Thiếm Bảy gào lên :
- Xuống hầm đi ông. Xuống hầm đi ông.
Tiếng chú tôi nói vọng xuống :
- Mấy người cứ ở yên dưới hầm đi. Đừng lo cho tôi.
Thiếm Bảy càng gào to hơn :
- Trời ơi ! Ông muốn chết sao ? Tôi lạy ông !. Xuống hầm đi ông.
- Đừng lo. Gần đất, xa trời rồi, sợ gì chết.
Cứ vậy, đêm nào cũng điệp khúc đó giữa chú thiếm, thành quen thuộc với tôi. Cũng từ đó, tôi bắt đầu mỗi ngày biết dán mắt vào những mẫu tin tức chiến sự trên các nhật báo. Tôi biết được chiến tranh đã lan ra khắp miền Nam Việt Nam. Con số lính Mỹ tham chiến lên tới mấy trăm ngàn người. Còn có thêm quân các nước đồng minh khác như Đại Hàn, Thái Lan, Tân tây Lan, Úc đại Lợi, Phi luật Tân. Cường độ chiến tranh leo thang, thì lính Mỹ ở đồn Hoàng Diệu và người dân ấp Tân Phú càng hứng chịu nhiều hơn những trận pháo kích của Việt cộng. Cứ vài ngày là có một ngôi nhà bị máy bay B52 thả bom Bắc Việt đổ sập, tan hoang, và vài người dân chết hoặc bị thương. Tuổi thơ tôi có lần tự hỏi : Vì người Mỹ có mặt càng ngày càng đông trên quê hương tôi mà chiến tranh lan rộng, hay vì Việt cộng tăng cường chiến sự, mở rộng chiến tranh mà người Mỹ mới ngày càng có mặt đông đảo trên quê hương tôi ? Rồi tôi cũng quên đi những thắc mắc đó. Chuyện chiến tranh ngày càng khốc liệt trên quê hương trở thành quen thuộc, như chuyện ăn cơm mỗi bửa, sáng, trưa, chiều. Trí óc non nớt của tôi chưa đủ sức để tìm hiểu những vấn đề phức tạp. Tôi phải lo học hành. Còn phải đi phụ ruộng rẫy với gia đình chú thiếm.
Cuối năm 1966, chị Mùi lấy chồng là lính Biệt kích Mỹ. Tôi và anh Thiện theo ở với chị. Biệt kích Mỹ là binh chủng do người Mỹ trực tiếp huấn luyện, chỉ huy và trả lương. Mới đầu, đại đội anh Vọng, anh rể tôi, đóng quân ở Gia Liêu, gần thị xã. Vài tháng sau, đơn vị anh Vọng chuyển lên đóng trại ở lưng chừng núi Thị, cách thị xã khoảng mười cây số. Ở trên đỉnh núi, có căn cứ sĩ quan Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ. Chị tôi nhận được công việc nấu ăn cho sĩ quan Mỹ. Mỗi tối, khoảng 8 giờ, tôi lên đỉnh núi đón chị về. Nhiều lần tôi gặp các sĩ quan Mỹ. Họ rất thân thiện, cởi mở. Lúc thì ông sĩ quan Mỹ trắng lấy bánh ngọt mời tôi ăn. Lúc khác thì ông sĩ quan Mỹ đen lấy cho tôi lon cô ca lạnh, rồi xoa đầu tôi và nói vài câu tiếng Anh. Chị tôi thông ngôn lại : “Ổng nói em hiền hậu, trắng trẻo, dễ thương, nhưng dáng người có chút xíu khoảng tám, chín tuổi. Ổng không tin là em đã 13 tuổi rồi” Tôi bẽn lẽn cảm ơn ông. Tôi thấy thiện cảm với người Mỹ.
Nên lúc đọc báo, biết được nhiều lính Mỹ bị thương, tử trận khi sát cánh chiến đấu với lính mình ở khắp nơi trên nửa lãnh thổ hình cong chữ S, tôi thấy đau xót cho họ. Quên bẵng những lời giải thích của chú Bảy, tôi lại tự hỏi : Tại sao từ một nơi xa lắc, xa lơ cách một Thái Bình Dương vời vợi, người Mỹ lại đến đây chiến đấu cho quê hương tôi và chết vì quê hương tôi như thế ?
Gần cuối năm 1967, đại đội anh Vọng chuyển đi trại Biệt kích Mỹ Bến Sỏi, ở tận tỉnh Tây Ninh. Chị tôi theo chồng. Tôi và anh Thiện về ở với cô Lang, em họ lớn tuổi của tôi trong xóm cây cao su, gần bến xe Xuân Lộc. Anh Phùng rời nhà chú Bảy đi Sài Gòn sống với gia đình dì Mười, bà con bên ngoại. Tết Mậu thân, 1968, Việt cộng tổng tấn công vào Sài Gòn, Huế và khắp các tỉnh, thành khác ở miền Nam. Thị xã Xuân Lộc cũng không tránh khỏi. Tôi không ngờ cô Lang là cán bộ Việt cộng nằm vùng. Trong đêm giao thừa, cộng quân tấn công vào thị xã, cô dẫn Lộc, 17 tuổi, con trai cô và anh Thiện đi vòng vòng trong xóm, kêu gọi người dân nổi dậy lật đổ chính quyền “Mỹ, Ngụy”. Nằm trong nhà, tôi nghe rõ mồn một tiếng cô Lang, Lộc và anh Thiện vang lên om om trong đêm khuya. Cuộc tấn công của Việt cộng bị thất bại, phơi nhiều xác trong thị xã. Cô Lang dẫn Lộc và anh Thiện đi vào rừng làm du kích. Tôi chạy về lại nhà chú Bảy. Học hết đệ thất ( lớp 6 ), tôi đi Sài Gòn sống với anh Phùng. Tại Sài Gòn, nhiều nơi vẫn còn dấu tích bị tàn phá bởi đạn pháo, và người dân vẫn còn nét lo lắng, ưu tư trên khuôn mặt. Riêng Huế bị cộng quân chiếm giữ 25 ngày, tàn sát hơn sáu ngàn dân rồi chôn vào mấy chục hố chôn tập thể trong thành phố. Nghe người ta kể lại, tôi thấy ớn lạnh vì sự tàn ác của Việt cộng.
Cuối năm 1968, cô Lang cho người báo tin cho chú Bảy là anh Thiện và Lộc đã chết trong một trận càn quét của Sư đoàn 18. Nghe chú Bảy kể lại, tôi ra sau hè, ngồi lặng lẽ một hồi thì bật khóc nức nở. Kế tiếp là Ngọc, lính Sư đoàn 18, con trai duy nhất của chú Bảy cũng hy sinh trong một trận đánh vào cứ địa Việt cộng tại biên giới Việt – Miên. Rồi anh Phùng vào lính, sư đoàn 7 bộ binh, đóng quân tại căn cứ Đồng Tâm, gần thành phố Mỹ Tho. Tôi đi Tây Ninh, sống với anh chị Mùi trong trại Biệt kích Mỹ Bến Sỏi, từ giữa năm 1969 đến giữa năm 1970. Đây chính là thời gian tôi có những kỷ niệm thật đẹp, thật êm đềm, vui vẻ với nhiều người lính Mỹ, và hiểu rõ hơn tại sao người Mỹ đã đến đất nước tôi, ra công, ra sức, ra tiền, tốn hao bom, đạn, xương máu để bảo vệ miền Nam Việt Nam.
….
Trại Biệt kích Mỹ Bến Sỏi do một nhóm sĩ quan Lực lượng đặc biệt Việt Nam trực tiếp chỉ huy nhưng thuộc quyền chủ quản của Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ B16, tỉnh Tây Ninh. Trại cách biên giới Việt – Miên khoảng sáu, bảy cây số. Chung quanh công sự phòng thủ của trại có sáu hàng rào kẻm gai gắn mìn “định hướng”, loại mìn bắn mìểng về phiá trước chống địch quân xâm nhập. Vòng ngoài xa xa, ở phía Bắc và Tây là những xóm nhà dân, phía Đông là cánh đồng hoang, phía Nam là con sông Vàm Cỏ lượn lờ chảy ngang qua. Quân số của trại có bốn đại đội Biệt kích, thêm một đội Pháo binh tăng cường. Lính của ba đại đội : 349, 351, 352 đều là người Việt chính gốc. Riêng đại đội 350 do anh Vọng làm đại đội phó toàn người Việt gốc Miên, được Mỹ tuyển dụng từ tỉnh Trà Vinh.
Anh Vọng cũng là người Việt gốc Miên nhưng có nước da trắng hơn nhiều người Việt. Dáng người anh dong dong, phong nhã, trông như thư sinh. Khuôn mặt anh có nét rắn rỏi, can trường của một người lính dày dạn gió sương. Miệng anh lúc nào cũng nở nụ cười tươi, và tính tình rất hòa nhã, khiêm tốn. Có lẽ đó là điều khiến chị tôi hết mực yêu thương anh và sống với anh rất hạnh phúc. Tôi mừng cho chị tôi lấy được người chồng tốt. Anh Vọng thương tôi như em ruột. Lần này, chính anh viết thư kêu tôi đi Bến Sỏi sống với anh chị; cho anh chị em gần gũi nhau. Anh đã chờ cả buổi ở bến xe Tây Ninh để đón tôi, đưa tôi về Bến Sỏi. Anh kể lại, trong mấy năm qua, vì ở gần biên giới là vùng cứ địa Việt cộng, nên trại Bến Sỏi chịu đựng nhiều áp lực nặng nề của cộng quân. Đã nhiều lần cộng quân tấn công vào trại bằng chiến thuật biển người, tiền pháo hậu xung, nhưng đều bị thất bại trước sự chống trả quyết liệt của lực lượng Biệt kích Mỹ. Chúng rút lui, đã bỏ lại nhiều xác chết vắt vẻo trên các hàng rào kẻm gai. Còn chuyện hứng chịu những cơn mưa pháo của Việt cộng hằng đêm là chuyện quá thường tình đối với người lính Biệt kích Bến Sỏi và vợ con của họ. Chị Mùi theo anh Vọng mấy năm qua, đã quen với những gian nguy, khổ cực của đời vợ lính. Đạn, bom, sự chết chóc của con người trong chiến tranh, đối với chị đã trở thành quen thuộc.
Anh chị Mùi bấy giờ đã có một đứa con trai lên một tuổi, tên Quang. Tôi sống với anh chị và cháu Quang trong một căn nhà mái tôn xập xệ ở xóm dân, gần bến phà sông Vàm Cỏ. Anh Vọng bận nhiều công vụ, chỉ xẹt về nhà một chút khi có giờ rãnh. Mỗi trưa, tôi vào trại lãnh cơm về cho cả nhà ăn. Mỗi chiều, chị Mùi bế cháu Quang cùng với tôi vào trại, ngủ qua đêm trong một căn hầm chất đầy bao cát chung quanh và trên nóc; cũng là công sự phòng thủ rất kiên cố. Hai tháng đầu, tôi chỉ long nhong đi chơi trong các xóm dân. Tôi làm quen được vài đứa bạn cùng lứa tuổi, thường hẹn nhau đi hái ổi, hái me ở các vườn hoang. Ăn đã rồi bắn bi, vật lộn. Sau đó rủ nhau đi tắm sông, thi đua bơi lội. Có lần, tôi xin theo ca nô của các anh đội Giang thuyền. Ca nô lướt nước dọc theo dòng sông Vàm Cỏ uốn khúc quanh co. Hai bên sông, chen lẫn với hàng dừa xanh, là những khóm hoa dại đủ màu, đỏ, vàng, tím. Phong cảnh thật đẹp, nên thơ. Khi đã xa khu dân cư, các anh Giang thuyền quăng một trái lựu đạn xuống nước. Vài phút sau, cá nổi lềnh bềnh, nhìn vui con mắt. Chúng tôi tranh nhau vớt cá, cười, nói ầm ĩ. Đời sống thật vui, nhưng vô tích sự. Có lẽ thấy cái vô tích sự đó, nên giữa tháng 8 / 1969, tôi đi bán đậu phộng rang trong trại.
Thường, ăn cơm trưa xong, nghỉ ngơi một tiếng, tôi mới đến nhà chủ lấy đậu phộng rang đem vào trại. Công việc nhẹ nhàng này cũng cho tôi có được vài chục đồng tiền lời mỗi ngày để tiêu xài lặt vặt. Mới đó, đã đi bán được một tháng. Một buổi chiều, thấy thùng đậu chỉ còn lại vài gói, tôi ngồi nghỉ trên một công sự gần dãy nhà cố vấn Mỹ. Một ông cố vấn Mỹ, trông còn trẻ, từ trong dãy nhà bước ra, đi tới, đi lui ở hàng hiên. Không biết ông định làm cái gì. Chắc là vận động cho giãn gân, giãn cốt. Bỗng ông nhìn về phía tôi, rồi đến gần. Ông nở nụ cười rất tươi, nói :
- Hello! How are you ?
Tôi cũng biết bập bõm vài câu tiếng Anh thông thường, hiểu câu này là câu chào, hỏi thăm, nên cũng cười tươi, trả lời :
- Yes ! I am very good. And you ?
- Very good too !
Rồi ông chỉ vào thùng đậu phộng :
- How much ?
Vốn đã có thiện cảm với người lính Mỹ, tôi muốn nhân dịp này thể hiện cảm tình của tôi nên vội lấy ra hai gói đậu đưa ông, rồi quơ quơ tay, nói :
- I like you. I don’t take money
Nét ngạc nhiên hiện lên trên khuôn mặt ông. Ông nói một câu hơi dài, tôi tỏ vẻ không hiểu. Ông mới ngoắc tay :
- Come with me.
Tôi đi theo ông vào nhà cố vấn. Ông gọi một anh lính Việt đến, nói với ảnh điều gì đó.
Ảnh quay sang tôi, tự giới thiệu :
- Anh là Tô, thông dịch viên. Còn ổng là Bonny, trung úy cố vấn trưởng ở đây. Ổng nói em đi bán mà sao lại không muốn lấy tiền của ổng ?.
Tôi ấp úng, ơ ơ một hồi mới nói :
- Dạ, tại vì em thấy rất quý trọng những người lính Mỹ. Họ từ nước Mỹ xa xôi lại đến nước mình, giúp mình đánh Việt cộng. Em ghét Việt cộng lắm.
Anh Tô nói lại với ông Bonny, ông gật gật đầu. Qua anh Tô thông ngôn, ông nói chuyện với tôi :
- Em tốt lắm. Em tên gì ? Mấy tuổi ?
- Dạ, em tên Quý, 15 tuổi.
- Em đang ở với ai trong trại ?
- Dạ, em ở với anh chị. Anh rể em là anh Vọng, đại đội phó đại đội 350
- Còn ba má em đâu ?
- Dạ, ba má em đã mất lúc em còn nhỏ.
- Em có đi học không ?
- Dạ, em học hết lớp đệ thất thì nghỉ. Bây giờ ở đây muốn đi học cũng khó. Từ Bến Sỏi đến thị xã Tây Ninh mấy chục cây số. Xa quá.
Trung úy Bonny trầm ngâm một lúc rồi nói với anh Tô một câu hơi dài. Anh Tô mỉm cười thông ngôn lại :
- Ổng nói hoàn cảnh của em thật tội nghiệp. Ổng thấy thương. Em 15 tuổi gì mà có chút xíu, như là mười tuổi. Nhìn dễ thương lắm. Từ ngày mai, em đừng đi bán đậu phộng nữa. Cực khổ. Em đến ở tại nhà cố vấn này luôn. Coi như ổng nuôi em.
Anh Tô vỗ vai tôi, nói tiếp :
- Sướng rồi đó. Em cảm ơn ổng đi.
Tôi đứng dậy, nói lí nhí :
- Thank you very much. Rồi tôi lấy ra hết mấy gói đậu trong thùng đưa cho anh Tô :
- Còn mấy gói, em biếu anh. Ngày mai, em sẽ đến.
Ông Bonny bắt tay tôi :
- See you tomorrow.
Tôi cúi đầu chào ông, cảm ơn anh Tô rồi về hầm kể cho chị Mùi nghe. Chị vui vẻ nói :
- Ờ, vào sống trong nhà cố vấn thì sướng cho mày rồi. Nhưng nhớ đừng có làm cái gì bậy mà người ta coi thường người Việt Nam mình.
Nhà cố vấn Mỹ có năm gian. Gian thứ nhất ăn thông với hầm làm việc và ngủ, nghỉ của ban cố vấn. Gian thứ hai rất rộng, gồm nhà bếp, phòng giải trí, cũng là nơi ngủ của anh Tô, anh Kim và tôi. Gian giữa hẹp hơn, dùng làm phòng khách, có cửa ra vào phiá trước, phía sau. Gian thứ tư và gian thứ năm là nơi làm việc, ngủ, nghỉ của đội Công binh, Truyền tin Mỹ tăng cường. Họ phụ trách đài quan sát cao mấy chục mét dựng ở giữa sân trại. Phía sau dãy nhà có các hầm trú ẩn cho mọi người mỗi khi có pháo kích. Hai tuần lễ đầu ở đây, ngoài trung úy Bonny và anh Tô, tôi còn quen thân với trung sĩ John, cố vấn phó, anh Kim, thông dịch viên, chị Dung, nấu ăn, anh Lai, giặt quần áo, và vài anh lính Mỹ khác trong đội tăng cường như Henry, Andy, Jim, Danny, Peter… Anh Lai và chị Dung là thường dân ở thị xã, sáng đến làm, chiều về nhà. Chị Dung nấu các món ăn Mỹ rất ngon. Nhưng tôi chỉ ăn vào buổi chiều ở nhà cố vấn. Buổi trưa, tôi vẫn đi lấy cơm ở nhà bếp trại lính về nhà ăn với anh chị Mùi và cháu Quang cho vui với gia đình
Lúc còn ở ngoài trại, nhiều khi thèm uống một ly đá chanh, hay ngay cả một ly nước đá lạnh cho đã họng dưới cái nóng như thiêu đốt của vùng Bến Sỏi khô cằn, tôi cũng không có tiền để mua mà uống. Từ ngày tự do ra, vào nhà cố vấn, tôi tha hồ uống cô ca lạnh và ăn cam, táo, nho, bánh ngọt. Không có việc gì làm, tôi thường lân la nói chuyện với các anh lính Mỹ. Hết nói chuyện với anh này thì gặp anh khác. Nhiều câu nói không được thì quơ tay làm dấu loạn xà ngầu. Rồi các anh cũng hiểu. Tôi học hỏi thêm được nhiều câu tiếng Anh đàm thoại qua các anh. Các anh thường lấy hình ảnh người thân, cha, mẹ, vợ, con bên Mỹ cho tôi xem và nói nhớ họ lắm. Tôi hiểu được tình cảm của các anh; nỗi nhớ nhà da diết của người lính Mỹ phải xa gia đình để đi chiến đấu ở một đất nước xa lạ. Cũng buồn lắm. Nhiều khi các anh hát cho tôi nghe, hoặc rủ tôi leo lên đài quan sát chơi. Đứng trên đài cao, có thể nhìn thấy cảnh vật ở xa mấy cây số.
Trung úy Bonny, 30 tuổi, da trắng, dáng người cao lớn, khuôn mặt bầu bầu, tính tình nghiêm nghị, ít nói chuyện với mọi người. Trung sĩ John, 35 tuổi, ngược lại, rất cởi mở, vui vẻ, nói nhiều. Tướng ông cũng cao lớn, khuôn mặt tròn, nước da trắng hồng, hai cánh tay hay khuỳnh ra khi đi, đứng. Ông thích các món ăn Việt. Mỗi cuối tuần, ông và anh Kim chở tôi đi Tây Ninh, đến bộ chỉ huy Lực lượng đặc biệt B16 lấy phim, tài liệu linh tinh, rồi ghé vào thị xã ăn phở. Thỉnh thoảng, ông dẫn tôi vào chợ mua bún, rau sống, tôm, thịt heo ba chỉ, nước mắm đem về cho chị Dung nấu, rồi bày ra giữa gian nhà giải trí, mời mọi người cùng ăn. Xem cách ông John lấy rau, cuốn bún, tôm, thịt, chấm nước mắm ớt ăn ngon lành, không khác gì một người Việt chính gốc, tôi thấy vui lắm. Ăn xong là ông chiếu phim cho cả nhà cố vấn xem.
Ông John có tánh thương người, đặc biệt với trẻ em. Ông hay ra chơi ở xóm dân, cho bánh, kẹo và vui đùa rất vô tư với các em bé. Khi biết có nhà dân nào bị đạn pháo kích của Việt cộng, ông ra thăm, biếu một ít tiền. Có lần, tôi đưa ông đến thăm nhà chị Mùi. Ông rất thích cháu Quang, thường mua quà cho cháu. Ông còn tận tình giúp đỡ một gia đình nghèo ở gần nhà chị tôi có đứa con gái chín tuổi bị cụt chân quá đầu gối. Ông mua cho bé một chiếc xe lăn và nhiều đồ chơi. Mỗi tuần, ông ra thăm bé một lần, đẩy xe cho bé đi chơi vòng vòng trong xóm..Tôi xem ông như một vị Thánh sống. Tình thương của ông là tình thương nhân loại vô bờ bến.
Tôi ở nhà cố vấn được một tháng thì trong một bửa ăn chiều, trung úy Bonny nhờ anh Tô thông ngôn lại với tôi, là ông có người anh bác sĩ ở bên Mỹ muốn tìm con nuôi ở Việt Nam. Ông đã giới thiệu về hoàn cảnh tôi với người anh, anh ổng đồng ý nhận tôi làm con nuôi. Ông hỏi tôi có chịu đi Mỹ làm con nuôi anh ổng không. Tôi chịu ngay. Ông bảo tôi mai về nhà đưa chị Mùi đến gặp ông nói chuyện.
Ngay trong tối đó, tôi đến hầm công sự tìm chị Mùi. Chị đang ngồi ngoài sân với mấy bà bạn. Vừa nghe tôi thuật lại chuyện sẽ làm con nuôi người Mỹ, mấy bà bạn của chị Mùi dèm pha :
- Trời ! Qua ở một nước xa lắc, xa lơ, làm sao chị em được gặp nhau.
- Biết làm con nuôi người Mỹ có sướng không. Hổng chừng bị người ta cho làm ở đợ thì khổ.
- Qua đó, hổng biết tiếng Anh, tiếng u gì, làm sao sống.
- Rồi biết bao giờ chị mới gặp lại nó. Chị đừng cho nó đi.
Tôi tức mình :
- Anh Tô, thông dịch viên, ảnh nói ông đó là bác sĩ, giàu lắm. Nước Mỹ giàu mạnh, văn minh nhất thế giới. Luật pháp ở nước họ quy định con nuôi cũng như con ruột, được nuôi dưỡng, cho học hành đến khi thành tài. Chị đừng nghe mấy bả xúi.
Chị Mùi trầm ngâm một hồi thì quyết định :
- Tao không đồng ý. Cha mẹ không còn. Thằng Thiện đã mất. Thằng Hỷ làm con nuôi cho người ta ở Phan Rang, ngay trong nước mình mà bao năm rồi chưa có dịp gặp lại. Anh Phùng mày thì đang đời lính nay đây, mai đó tận vùng bốn. Tao chỉ còn mày gần gũi. Làm sao mà… Chị Mùi ngập ngừng giây lát rồi dứt khoát : - Tao không chịu. Tao không muốn chị em xa cách nhau.
Tôi cố thuyết phục :
- Chị. Em muốn đi. Nghe anh Tô nói đời sống ở Mỹ vui lắm, sướng lắm. Mà em qua đó được làm con của bác sĩ thì càng sướng hơn nữa. Cho em đi đi chị. Em sẽ viết thư cho chị thường chứ có phải mất biệt luôn đâu. Có dịp thì em sẽ về thăm chị.
Chị Mùi nín thinh. Tôi khẩn khoản :
- Chị… Chị… Cho em đi đi chị…
Thấy tôi cứ đứng năn nỉ hoài, chị Mùi trả lời nước đôi :
- Thì để tối nay tao suy nghĩ đã. Rồi ngày mai tao cũng đến gặp ông Bonny, nghe ổng nói gì.
Trưa hôm sau, tôi và anh Kim đưa chị Mùi xuống hầm làm việc của ông Bonny. Sau khi ông Bonny nói một tràng tiếng Anh, anh Kim thông ngôn lại với chị Mùi :
- Ổng nói anh của ổng ở bên Mỹ là bác sĩ, đã 45 tuổi, nhà rất giàu mà không có con. Tính tình anh của ổng rất hiền, thương người. Ổng thấy em Quý của chị cũng hiền hậu, dễ thương, nên muốn xin phép chị cho em Quý làm con nuôi của anh ổng. Nếu chị đồng ý thì ký vào giấy thỏa thuận. Rồi tuần sau ổng sẽ cho em Quý về Sài Gòn học Anh văn sáu tháng. Mọi chi phí ăn, ở của em Quý ở Sài Gòn sẽ được ổng lo hết. Sau đó ổng làm thủ tục cho em Quý qua Mỹ.
Tôi nhìn chị Mùi. Cả cái tương lai xán lạn của tôi chỉ chờ một chữ ký của chị là sẽ có được. Nhưng, chị Mùi cứ ngồi im lặng. Im lặng. Rồi hai dòng lệ tuôn dài trên khuôn mặt xinh đẹp đượm nét u buồn của chị. Chị khóc ! Ông Bonny thấy vậy thở dài. Tôi thất vọng !. Tất cả lại im lặng. Một lúc sau, ông Bonny đứng lên nói, anh Kim thông ngôn lại :
- Thôi. Chị không chịu thì đành vậy ! Ổng nói, không đi Mỹ thì cứ ở đây. Nhưng em Quý nên đi học lại. Để nó cứ chơi long nhong hoài, hư người.
Vậy là tôi đi học lại. Tôi xin học lớp đệ lục ( lớp bảy ) ở trường trung học Hàn Thuyên, thị xã Tây Ninh. Vào học trễ một tháng, nhưng tôi vẫn học giỏi, theo kịp bạn bè. Ông Bonny cho tôi tiền mua sách vở và tiền tiêu vặt mỗi tuần. Mỗi sáng, tôi được tài xế cố vấn chở đi học bằng xe Jeep. Xế chiều, tôi quá giang xe nhà binh GMC về lại trại. Mỗi cuối tuần, tôi đi chơi với ông John, hoặc với các anh lính Mỹ trong đội tăng cường. Có lần, ông John chở tôi đi chơi ở Sài Gòn và Biên Hoà, thưởng thức nhiều món ăn Việt, ngày hôm sau mới về lại trại. Có khi, Peter và Henry chở tôi đi chơi căn cứ Mỹ, Trảng Sụp. Vào PS, Perter mua cho tôi cái radio. Henry mua cho tôi mấy cái áo thun. Hôm khác, Danny chở tôi đi, mua cho tôi cái máy chụp hình. Những món quà này thật quý giá, đong đầy tình thương mến của các anh dành cho tôi; cũng là tấm lòng tử tế của người lính viễn chinh đối với người dân nghèo ở một nước đang điêu linh, thống khổ vì bom, đạn, khói lửa chiến tranh.
Những cơn mưa pháo vào trại vẫn tiếp diễn hàng đêm. Anh Tô, anh Kim và tôi chẳng bao giờ chạy vào hầm trú ẩn. Anh Kim nói : “Mặc kệ. Cho chúng pháo. Chết, sống có số”. Vài lần trong đêm, giữa những tiếng nổ của đạn pháo, tôi nghe xen lẫn có những tiếng hét đau đớn của ai đó ở vòng đai công sự phòng thủ. Tôi biết có vài anh nơi vọng gác bị trúng đạn pháo kích. Nhờ nằm ngủ kế bên anh Tô, anh Kim, nghe các anh nói chuyện, tôi biết thêm nhiều về nước Mỹ, người Mỹ. Nhiều lúc hai anh tranh luận với nhau các vấn đề thời sự mà với tuổi tôi bấy giờ, đã có trí khôn đủ để hiểu được những điều các anh nói. Giọng của anh Tô :
- Tôi thấy thời của Tổng thống Ngô đình Diệm, đất nước còn thanh bình lắm. Vì có người Mỹ đưa quân vào miền Nam, chiến tranh mới lan tràn.
Anh Kim không đồng ý :
- Thanh bình là trước 1960 kìa. Từ năm 1960, tụi Việt cộng thành lập Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, chúng hoạt động mạnh, đánh phá nhiều nơi. Rồi tụi cộng sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam, người Mỹ mới trực tiếp tham chiến.
- Tôi nghĩ, nước Mỹ cứ viện trợ khí giới, đạn dược, tiền bạc và cố vấn quân sự cho ông Diệm là đủ rồi. Ông Diệm và ông Nhu thừa sức lãnh đạo miền Nam chống cộng sản. Ông Diệm đã từng tuyên bố : “Nếu để người Mỹ đưa quân vào, chúng ta sẽ mất đi thế chính nghĩa. Bắc Việt sẽ có cớ xâm lăng miền Nam” Quả nhiên, từ khi quân đội Mỹ ném bom Hà Nội sau sự kiên vịnh Bắc bộ, 1964, rồi trực tiếp đưa quân tham chiến, chiến tranh mới khốc liệt như bây giờ. Người Mỹ giết anh em ông Diệm uổng quá. Ông Diệm và ông Nhu đều là người yêu nước.
Tôi xen vào, hỏi :
- Ủa, sao lại người Mỹ giết ? Em nghe nói đám tướng lãnh người Việt mình giết ông Diệm mà.
Anh Tô trả lời :
- Đám tướng đó do người Mỹ mua chuộc làm đảo chánh, thì chuyện giết ông Diệm cũng do người Mỹ xúi giục thôi.
- Em thấy người Mỹ hiền hòa, tốt tánh lắm. Chắc không phải đâu anh.
- Lớn lên, em sẽ hiểu.
Tiếng anh Kim :
- Chuyện người Mỹ nếu có lệnh cho đám tướng đảo chánh giết anh em ông Diệm cũng phải thôi. Vì chế độ ông Diệm độc tài, gia đình trị, lại cứng đầu với Mỹ lắm. Trong khi người Mỹ bỏ tiền, bỏ của ra, họ muốn người lãnh đạo miền Nam phải nghe theo lời họ. Cuộc chiến chống cộng sản không phải chỉ với cái đám du kích Việt cộng lẻ tẻ ở miền Nam, mà là với cả một khối cộng sản quốc tế, do quân chính quy Bắc Việt làm công cụ. Dù không có quân Mỹ trực tiếp tham chiến, tụi cộng sản Bắc Việt cũng sẽ xâm lăng miền Nam theo lệnh Nga, Tàu. Nuốt xong miền Nam Việt Nam, chúng sẽ nuốt luôn các nước khác ở Đông Nam Á theo ý đồ nhuộm đỏ toàn cầu. Sau hiệp định Genève, 1954, cộng sản Bắc Việt đã gài cán bộ nằm vùng ở khắp miền Nam, chính là để chuẩn bị một cuộc chiến xâm lăng của chúng vào miền Nam trong vài năm sau. Điều đó, bây giờ đã thấy rõ rồi. Người Mỹ là đàn anh lãnh đạo khối tự do, vì lý tưởng bảo vệ cho chính nghĩa tự do và vì lòng nhân đạo, họ bắt buộc phải hành động quyết liệt để ngăn chận làn sóng “đỏ”. Nếu không có quân Mỹ và nhiều nước đồng minh khác đến giúp Việt Nam Cộng Hòa mình, giờ này Việt cộng chắc đã chiếm xong miền Nam rồi.
Anh Tô vẫn chưa chịu thua :
- Tôi vẫn thấy thương ông Diệm, ông Nhu. Nghe hai ông bị đánh đập rồi bị bắn vào đầu rất dã man, chết thảm trong chiếc xe tăng, tội nghiệp quá. Tôi vẫn cứ nghĩ người Mỹ đừng đưa quân vào mà chỉ nên tăng cường viện trợ tiền bạc, xe tăng, tàu bay, khí giới, đạn dược, thêm cố vấn quân sự là đủ rồi. Như vậy tốt hơn. Quân dân miền Nam mình chiến đấu rất anh dũng, thừa sức đánh bại tụi cộng sản Bắc Việt. Chính phủ Mỹ đưa nửa triệu quân vào nước mình, một phần giúp mình chống cộng sản, một phần cũng là business. Họ vừa thỏa mãn quyền lợi tư bản Mỹ, vừa giải quyết nạn thất nghiệp, giúp công ăn, việc làm cho dân xứ họ
Chẳng biết anh Kim có nghe anh Tô vừa nói không, chỉ nghe tiếng ngáy khò khò của anh. Tôi hỏi anh Tô :
- Thỏa mãn quyền lợi tư bản Mỹ là thế nào hở anh ?
- Là tiêu thụ cho tư bản Mỹ số súng, đạn tồn đọng có từ thời đệ nhị thế chiến, đem trang bị cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa mình. Đồng thời, với chiến tranh và nửa triệu quân viễn chinh, tư bản Mỹ có dịp sản xuất nhiều vũ khí tối tân khác, nào là xe tăng, phi cơ, tàu chiến, súng cá nhân, bom, đạn, rồi còn quân trang, quân dụng, thuốc men, luơng thực và nhiều thứ khác nữa… để cung ứng cho nhu cầu của quân lính tác chiến trên chiến trường. Nhờ vậy, tư bản Mỹ hưởng lợi rất nhiều, và người dân có thêm nhiều việc làm trong sản xuất vũ khí và hàng hóa quốc phòng.
Tôi lại thắc mắc :
- Nhưng chiến tranh là sự tốn kém tiền của và tốn hao xương máu. Ngân sách quốc phòng Mỹ sẽ tăng cao lắm. Sự thu lợi vào có hơn được sự chi ra không ?
- Anh không làm được bài toán đó. Nhưng anh nghĩ có lợi nhiều hơn, về lâu, về dài cho tư bản Mỹ là không sai chút nào. Tuy vậy, lời anh Kim nói cũng có phân nửa đúng. Nước Mỹ văn minh, dân chủ nhất thế giới, nên họ có cái lý tưởng vương đạo, cảm thấy có trách nhiệm phải đứng ra gánh vác việc bảo vệ thế giới tự do đối đầu với thế lực cộng sản quốc tế độc tài, chuyên chế. Như thời đệ nhị thế chiến, nhờ có Mỹ lãnh đạo phe đồng minh đánh bại Đức quốc xã, mới giải phóng được nước Pháp và vài nước Âu châu khác thoát khỏi sự cai trị khát máu của Adolf Hitler.
- Em cũng nghĩ vậy. Em thấy thương người lính Mỹ lắm. Họ đã vì quê hương mình mà chiến đấu. Tất cả những người lính Mỹ mà em biết, đều tốt tánh, tử tế quá..
- Ừa, anh cũng thấy thương họ. Thôi, ngủ đi.
Đại đội 350 của anh Vọng thỉnh thoảng đi hành quân cả tuần mới về. Những lần như vậy, chị Mùi lo lắng, trông đứng, trông ngồi. Có lần đơn vị anh Vọng chạm địch, có mấy quân nhân bị tử trận. Nhìn các vợ con họ khóc lóc thảm thiết, tôi cũng mủi lòng, chảy nước mắt. Đầu năm 1970, Việt cộng lại cả gan kéo về xóm dân, gần trại, ngay giữa ban ngày. Thám báo cho biết cũng cỡ hai đại đội địch. Xế chiều, đại đội 350 và 351 được lệnh xuất kích, dàn trận ở cánh đồng hoang ở phía Đông của trại. Đại úy Hải, trưởng trại, đứng trên nóc hầm trực tiếp chỉ huy ra ngoài. Tôi cũng bắt chước đứng trên một nóc hầm khác nhìn ra cánh đồng hoang, chẳng nghĩ gì đến chuyện tên bay, đạn lạc. Tôi nhận ra được anh Vọng đang dẫn đầu hàng quân chạy lom khom tiến lên phía trước. Cả hàng quân cùng tiến lên khoảng chục mét thì nằm xuống. Rồi lại chạy lom khom tiến lên, và nằm xuống. Những tiếng nổ ầm ầm liên tục vang dội cả một vùng trời. Đạn bay chéo chéo từ phía địch quân núp ở các bụi cây phía xóm dân bắn ra hàng loạt. Tiếng đạn tạch tạch của đại liên, trung liên và súng cá nhân từ đội quân Biệt kích cũng bắn đi không ngớt. Trung úy Bonny và trung sĩ John cùng ra đứng trên nóc hầm với đại úy Hải. Quan sát trận chiến một hồi, nói chuyện với đại úy Hải điều gì đó, hai ông vào lại nhà cố vấn. Khoảng tiếng rưởi đồng hồ sau, một trực thăng bay đến phun khói màu cuồn cuộn dọc theo cánh đồng hoang. Ngay sau đó, nhiều trực thăng bay đến thả quân bộ binh tăng viện sau làn khói mù. Tôi nghĩ là ông Bonny đã kêu viện binh. Trận chiến ác liệt kéo dài đến chiều thì địch quân tháo chạy, bỏ lại nhiều xác chết. Quân ta bắt sống hai tên Việt cộng, tịch thu được một số súng Ak47 và súng pháo B40, B41, triển lãm ở phòng sinh hoạt trại. Lần đầu tiên trong đời tôi mới được chứng kiến một chiến trường thực sự diễn ra trước mắt. Nhìn thấy được sự chiến đấu dũng cảm của người lính Biệt kích Mỹ nói riêng, và của tất cả quân nhân Việt Nam Cộng Hoà trong công cuộc chống lại sự xâm lăng của cộng sản Bắc Việt. Và cũng nhìn thấy được sự làm việc hữu hiệu của các cố vấn Mỹ trong hiệp đồng tác chiến với quân đội ta. Nghe anh Kim, anh Tô kể lại, nhiều địa phương thuộc vùng một, vùng hai ở miền Trung còn diễn ra nhiều trận chiến kinh hồn gấp ngàn lần.
Những địa danh như Đắc Tô, Khe Sanh đã vang lừng trong chiến sử. Ở Khe Sanh, lực lượng lính Mỹ tử thủ đã liên tục nhiều ngày đêm phải đương đầu với đạn pháo và chiến thuật tấn công biển người của quân chính quy Bắc Việt. Người ta ví cường độ ác liệt của trận chiến Khe Sanh như trận chiến Điện Biên Phủ. Có điều, ở Điện Biên Phủ, Việt cộng thắng quân Pháp, còn ở Khe Sanh, Việt cộng thất bại nặng nề trước sự chiến đấu dũng mãnh của những người lính Mỹ kiêu hùng.
Tháng 3 / 1970, một chuyện bất ngờ khiến tôi buồn rũ rượi suốt một ngày. Đại đội 350 của anh Vọng theo lệnh của Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ, phải chuyển đi Nam Vang để trợ giúp chính phủ Lonnol ở Campuchia; sau khi Lonnol lật đổ chế độ quân chủ của ông hoàng Sihanouk. Chị Mùi phải theo chồng. Ngày lên đường, chị Mùi vừa bế cháu Quang, vừa khóc nức nở. Chị nói :
- Chị đâu có ngờ phải xa em để theo chồng qua một nước khác thế này. Nếu biết vầy, chị đã cho em đi làm con nuôi ông bác sĩ Mỹ. Chị đã hại em rồi !.
Tôi an ủi chị :
- Chị đừng buồn nữa. Em hiểu vì chị thương em mà. Qua bên đó, xem tình hình thế nào rồi chị viết thư về cho em theo địa chỉ dì Mười ở Sài Gòn, nhen chị…Tôi hôn lên má cháu Quang rồi nói tiếp : - Ở Campuchia bây giờ cũng chiến tranh với Khmer Đỏ. Em lo cho anh chị và cháu Quang lắm. Anh chị giữ gìn sức khỏe.
Anh Vọng ôm chặc tôi :
- Mong là chiến tranh sớm kết thúc, anh em mình có ngày gặp lại.
Chị Mùi lên xe rồi vẫn cứ nhìn tôi bằng đôi mắt u sầu, đẫm lệ. Từng chiếc xe từ từ chạy lên phà, qua sông. Những bàn tay vẫy vẫy những bàn tay. Nhìn đoàn xe chở quân dần xa khuất bên kia sông, tôi mới bật khóc. Buổi chia ly nào không nước mắt Mây mù giăng kín mảnh hồn tôi Tiễn anh, tiễn chị, lòng đau thắt Mơ ngày gặp lại ấm êm đời…Về nhà cố vấn, tôi báo cho ông Bonny và ông John là tôi sẽ về Sài Gòn. Hai ông khuyên tôi ở lại, học cho hết niên học rồi hãy về. Tôi nói để suy nghĩ thêm. Qua hôm sau, tôi đồng ý ở lại. Ông John cười ha hả, ôm chầm lấy tôi rồi bế tôi lên, cứ như bế một đứa con nít ba, bốn tuổi. Tôi xúc động, cũng cười ha hả với ông.
Nửa tháng sau, ông Bonny và ông John được thuyên chuyển về bộ chỉ huy ở Tây Ninh. Hai ông giới thiệu tôi với ban cố vấn mới là trung úy Calvin và trung sĩ Munoz. Bến phà sông Bến Sỏi lại chứng kiến sự chia ly. Lần này là giữa hai người lính Mỹ với một thiếu niên Việt mà sự cảm động không khác gì giữa những người thân trong gia đình. Tôi nói với hai ông:
- I very thanks for your support. You two have the best of human kindness in the world. I always keep in mind your love for me.
Ông Bonny và ông John cùng mỉm cười và lần lượt ôm chặc lấy tôi trước khi lên xe. Nhìn chiếc xe Jeep qua đến bên kia sông chạy xa dần, xa dần rồi mất hút trong bầu trời xám xịt, tôi mới uể oải đi vào trại.
Trung úy Calvin, 32 tuổi, người Mỹ gốc Mễ, tướng nhỏ con giống người Việt, cũng ít nói như ông Bonny. Ông không thân thiện gì với tôi, nhưng thường nở nụ cười tươi mỗi khi gặp tôi.trong giờ ăn uống hay xem phim. Trung sĩ Munoz, 34 tuổi, người Mỹ gốc Đức, tướng người mập, cao vừa tầm, tính điềm đạm, nói năng chừng mực, không bao giờ cười. Ông nói tiếng Việt thông thạo, nhờ học nơi cô vợ Việt. Do ông biết tiếng Việt, nói giọng nhỏ nhẹ, tôi thấy gần gũi với ông. Nghe tôi kể về hoàn cảnh sinh ly, tử biệt giữa các người thân trong gia đình tôi, ông nói thương tôi lắm. Ông tốt với tôi như ông John và ông Bonny trước đó. Cuối tuần, đi thị xã, ông chở tôi theo, vào chợ ăn hủ tíu hay bánh xèo là hai món ông thích nhất. Ăn xong, ông cho tôi một ít tiền, nói : “Quý giữ lấy để tiêu vặt. Mỗi tuần, anh sẽ cho em như vầy”. Có nhiều ngày, ông tự lái xe Jeep chở tôi đi học vào buổi sáng rồi đến xế chiều đón tôi về. Tôi thấy thương ông quá. Cuối tháng tư, chị Hồng, vợ ông Munoz, từ tỉnh Biên Hòa lên thăm ông, ở lại trại một tuần. Chị 27 tuổi, có nét đẹp đằm thắm, dịu dàng, tính cởi mở, vui vẻ. Chúng tôi thân nhau như hai chị em. Chiều nào, ông Munoz cũng dẫn chị Hồng và tôi ra xóm dân, vào một quán lá bên đường uống cà phê đá. Ông nói rất thích cà phê Việt vì hương vị đậm đà; không như cà phê Mỹ nhạt phèo. Có lúc ông nhờ Giang thuyền lấy ca nô chở chúng tôi hóng mát trên sông. Sự thân mật, vui vẻ giữa ba người chúng tôi như trong một gia đình. Ngày chị Hồng về lại Biên Hòa, ông Munoz chở chị và tôi đi ăn sáng rồi dạo chơi vòng vòng thị xã Tây Ninh. Đến trưa lại vào nhà hàng. Ăn uống thỏa thuê rồi mới ra bến xe.
Cuối tháng 5 / 1970, tôi mãn học với giải thưởng hạng nhì. Ông Munoz xoa đầu tôi khen :
- Very good ! Em giỏi quá. Mai mốt về Sài Gòn cũng rán học giỏi vậy.
- Dạ. Em cảm ơn anh. Vậy, vài hôm nữa em về Sài Gòn nhen anh ?
Ông Munoz trợn mắt :
- Sao gấp vậy ? Ở chơi nửa tháng nữa đi. Anh cũng không ở trại này bao lâu nữa đâu.
- Ủa. Sao vậy anh ?
- Vì trại Biệt kích này sắp chuyển thành Biệt động quân biên phòng. Thôi, bây giờ anh thưởng em học giỏi bằng một bửa ăn nhà hàng. Lên xe, anh chở đi Tây Ninh.
- A…cảm ơn anh. Tôi reo mừng rồi nhảy tót lên xe Jeep. Hôm đó, sau khi ăn xong, ông Munoz dẫn tôi đi vào chợ, mua cho tôi mấy bộ quần áo, thêm cái va li. Ông nói : “Để cho em đựng đồ ngày về Sài Gòn”. Tôi có cảm giác như đang được một người anh ruột quan tâm, chăm sóc cho mình.
Nửa tháng sau. Ông Munoz xách chiếc va li của tôi bỏ lên chiếc xe Jeep. Tôi bắt tay trung úy Calvin, nói :
- Thank you so much for your kindness. I wish you the best of health and happiness.
Ông nở nụ cười tươi và xiết chặc tay tôi : - Have a good trip.
Tôi đến bắt tay anh Tô và anh Kim, nói lời cảm ơn hai anh. Anh Tô vỗ vai tôi :
- Về Sài Gòn lo học hành nhen em. Đừng có lêu lổng ham chơi mà khổ cái thân.
Anh Kim nói đùa :
- Khi nào chú em cưới vợ nhớ mời hai anh uống rượu nhen..
- Dạ. Em sẽ viết thư thăm hai anh.
Tôi lại lần lượt bắt tay Peter, Henry, Jim, Danny, Andy, rồi nói :
- I hope one day we will meet each other. Hope you have the best of health and happiness.
Ông Munoz đã ngồi sẵn trước tay lái. Tôi lên ngồi ghế kế ông, ngoái nhìn lại phía sau và vẫy vẫy tay chào các anh. Chiếc xe Jeep chạy đi, tôi vẫn còn thấy các anh đứng nhìn theo. Ông Munoz lái chiếc Jeep rời khỏi phà, từ từ leo lên bờ sông rồi vụt chạy bon bon trên con đường đất đỏ. Xin từ biệt Bến Sỏi. Từ biệt một vùng hỏa tuyến nhiều hiểm nguy nhưng đượm thắm tình người. Xin chúc bình an cho các anh lính Mỹ tốt lành và tất cả người lính Biệt kích Mỹ oai hùng của trại Bến Sỏi.
Cũng như lần tiễn chị Hồng, ông Munoz đưa tôi đến một khu phố trung tâm thị xã, vào nhà hàng ăn một bửa thịnh soạn. Trong buổi ăn lần cuối này, tôi mạnh dạn hỏi ông :
- Anh có buồn khi phải xa nhà, xa xứ để đi chiến đấu cho quê hương nghèo khổ của em không ?
Ông Munoz nói giọng nhỏ nhẹ, chậm rãi :
- Xa nhà, xa xứ thì ai cũng buồn. Nhưng đã là quân nhân thì phải chấp nhận đi tác chiến ở bất cứ nơi nào mà cấp trên điều động. Qua chiến đấu cho quê hương em là bổn phận, nghĩa vụ của quân nhân Mỹ các anh để giúp cho người dân nước em không bị cộng sản xâm chiếm. Tụi cộng sản nó độc tài, gian ác lắm. Anh mong người dân Việt sớm có ngày thanh bình.
- Anh thấy người dân Việt nước em như thế nào ?
- Người dân Việt rất can đảm, gan lì trong đấu tranh chống ngoại xâm. Anh biết chút ít lịch sử nước Việt của em. Một ngàn năm bi người Tàu đô hộ vẫn không bị đồng hóa. Nhiều lần người dân Việt đã anh hùng đánh đuổi được giặc Tàu, giặc Pháp, giặc Nhật, giữ yên đất nước. Còn mở rộng thêm lãnh thổ nữa. Tiếc rằng bây giờ bị họa cộng sản mà thành hai miền Nam, Bắc, hai chế độ khác nhau. Nước Đức của ông bà nội anh cũng bị chia cắt làm hai. Đau lòng lắm !
Ông Munoz cầm ly nước lên uống vài hớp rồi nói tiếp : - Người dân Việt còn có nhiều đức tính rất đáng quý. Bản tánh hiền hòa, hiếu khách, siêng năng, nhẫn nại, dám hy sinh cho người thân. Đặc biệt, phụ nữ Việt có nét đẹp dịu dàng, hiền hậu. Vì vậy anh mới cưới cô Hồng làm vợ.
- Anh có làm hôn thú với chị Hồng không ?
- Có. Anh còn làm đám cưới với Hồng ở Biên Hòa theo phong tục người Việt. Khi về nước, anh sẽ làm bảo lãnh cổ.
- Em kính chúc anh chị luôn hạnh phúc, sống mãi với nhau trọn đời.
- Cảm ơn em nhiều. Thôi mình ra bến xe, em.
Đến bến xe, tôi ôm chặc ông. Ông cũng ôm chặc lấy tôi một hồi lâu. Mắt tôi cay sè. Tuổi niên thiếu tôi có nhiều cuộc chia tay, ly biệt quá. Ông Munoz xách cái va li của tôi đem đến cho anh lơ xe rồi đi lại phía tôi. Ông đưa tôi một phong thư, nói :
- Em giữ lấy, để dành khi về Sài Gòn mua sách vở đi học.
Cầm phong thư, tôi xúc động nói :
- Em cảm ơn anh nhiều lắm. Anh thật tốt với em, như anh chị ruột của em đối với em vậy. Em rất thương anh. Em sẽ nhớ anh mãi.
Ông Munoz vỗ vỗ bàn tay lên vai tôi :
- Anh cũng thấy thương em lắm. Em nhớ học cho giỏi nhen. Thôi, em lên xe đi. Chúc em đi bình an.
Tôi ôm chặc ông một lần nữa rồi lên xe. Chiếc xe đò đã chật cứng khách. Anh lơ cho tôi ngồi ở cuối xe. Tôi ló đầu ra cửa xe nhìn ông Munoz. Ông vẫn còn đứng bên chiếc Jeep, giơ tay lên vẫy vẫy, miệng nở một nụ cười. Lần đầu tiên tôi thấy ông cười. Nụ cười thật tươi, có nét hiền lành, phúc hậu. Xe rời bến. Tôi cố ngoái lại nhìn ông và hét lớn : “I love you”. Tôi còn kịp nhìn thấy nụ cười hiền hòa của ông một lần nữa trước khi chiếc xe đò vụt chạy nhanh trên tỉnh lộ. Trời đổ mưa. Cảnh trời xám ngoét trong mưa gây cho tôi cảm giác lạnh lẽo, buồn buồn. Ngồi thừ người ra một hồi, tôi mở bao thư xem. Ông cho tôi $ 250 dollars đỏ. Khá nhiều đối với một người trẻ chưa biết làm ăn gì ra tiền như tôi. Bấy giờ là giữa tháng 6 / 1970.
….
Về Sài Gòn sống nhờ nhà dì Mười, tôi vừa đi làm vừa tiếp tục việc học. Chiến tranh vẫn diễn ra hàng ngày trên quê hương. Ngày nào tôi cũng đọc báo theo dõi tình hình thời sự. Tin tức chiến sự dồn dập từ bốn vùng chiến thuật choán đầy các trang nhật báo. Ở Hoa Kỳ, phong trào phản chiến lan ra nhiều tiểu bang. Tổng thống Nixon triển khai kế hoạch “Việt Nam hoá chiến tranh”, trang bị thêm cho quân đội miền Nam Việt Nam nhiều vũ khí tối tân, có thể chiến đấu hữu hiệu hơn trên khắp chiến trường, để rút dần quân Mỹ về nước. Trong nước, Tổng thống Nguyễn văn Thiệu tái đắc cử trong cuộc bầu cử “độc diễn” ngày 3 / 10 / 1971. Ông Thiệu là người chống cộng quyết liệt với lập trường “ bốn không” và câu nói bất hủ : ”Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”, rất được lòng chính phủ Mỹ. Nhưng, gió lịch sử đổi chiều. Tháng 2 / 1972, Tổng thống Mỹ qua thăm Trung cộng, gặp gỡ Mao trạch Đông và Chu ân Lai. Cái bắt tay lịch sử giữa Nixon và Mao mà về sau này tôi hiểu, vừa cô lập cộng sản Liên xô, vừa đáp ứng nguyện vọng người dân Mỹ đang quyết liệt phản đối chiến tranh, và vừa để tìm kiếm thị trường béo bở hơn tỉ dân Trung quốc; là cái bắt tay ‘định mệnh’ dọn đường cho sự bức tử chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Để tăng áp lực lên hòa đàm Paris, Việt cộng tổng tiến công lần thứ hai. Chiến sự bùng nổ tàn khốc trong mùa hè đỏ lửa, 1972. Đông Hà, Cổ thành Quảng Trị, Tân Cảnh, Kom Tum, Bình Giã, Lộc Ninh, An Lộc, Bình Long, nhiều địa danh khác nữa…ở vùng một, vùng hai, vùng ba bốc lửa vì hỏa lực khủng khiếp của cộng sản Bắc Việt điên cuồng tấn công mong tìm một chiến thắng vang dội.
Nhưng chúng đã bị chặn đứng mưu đồ bởi sự chiến đấu kiên cường của chiến sĩ Việt - Mỹ và đồng minh. Mặt trận vùng bốn cũng sôi động không kém. Tôi ngày đêm phập phồng lo lắng cho an nguy của anh Phùng. Điều lo sợ của tôi không tránh khỏi. Ngày 9 / 5 / 1972, anh Phùng hy sinh tại chiến trường Mộc Hóa. Chú Bảy cho người nhà lên Sài Gòn báo tin. Tôi khóc ngất !... Tôi đi lang thang khắp Sài Gòn như người mất hồn suốt một ngày đêm không thiết gì ăn uống.
Trong khi người lính Mỹ đang đổ máu tại chiến trường thì cô đào màn bạc Mỹ, Jane Fonda, người cuồng nhiệt cổ võ phong trào phản chiến, đã trơ trẽn đến Hà Nội trong tháng 7 / 1972. Cô đội nón sắt vào thăm từng chiến hào của bộ đội cộng sản Bắc Việt. Hành động đâm sau lưng chiến sĩ của Jane Fonda đã gây nên sự căm phẫn của nhiều người dân Việt, Mỹ thù ghét cộng sản. Tổng thống Nixon thì bị tai tiếng vụ Watergate sau khi các nhân vật thân cận của ông cho người đột nhập vào văn phòng của đảng Dân chủ tại khách sạn Watergate để nghe lén. Uy tín ông xuống thấp. Ông càng lo tìm kiếm một giải pháp hòa bình với Bắc Việt nhằm sớm rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam để lấy lòng dân Mỹ. Trong tháng 10 / 1972, cố vấn Kissinger đến Sài Gòn yêu cầu Tổng thống Thiệu ký hiệp định Paris. Mới đầu, ông Thiệu phản đối kịch liệt vì cho rằng bản hiệp định bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng trước áp lực của chính phủ Mỹ, hăm dọa sẽ cắt hết viện trợ quân sự, ông Thiệu đành phải chấp nhận. Hiệp định Paris chính thức được ký kết ngày 27 / 1 / 1973.
Ngày 29/3/1973, người lính Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Từ đó, quân lực Việt Nam Cộng Hòa đơn độc chiến đấu chống lại cộng quân vẫn đang ngày càng mạnh lên nhờ vào viện trợ quân sự tối đa của cộng sản Nga, Tàu. Trong suốt hai năm từ tháng 4 / 1973 đến tháng 4 / 1975, Việt cộng xé bỏ hiệp định Paris, ngang nhiên tiếp tục phát động chiến tranh, tổng tấn công trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Chính quyển Tổng thống Thiệu cố gắng xoay trở, chống đở cuộc chiến trong khó khăn, tuyệt vọng vì bị Quốc hội Mỹ ra nghị quyết cắt giảm nhiều nguồn viện trợ. Tỉnh Phước Long bị Việt cộng chiếm trong đầu tháng 1 / 1975. Kế tiếp, thành phố Ban Mê Thuột bị thất thủ ngày 16 / 3 / 1975 dẫn đến sự biến “di tản chiến thuật’ trong hỗn loạn, kinh hoàng, đưa đến hậu quả bị mất vùng một, vùng hai. Rồi nhiều tỉnh thuộc vùng ba cũng bị rơi vào tay giặc. Ngày 21 / 4 / 1975, Việt cộng tiến quân vào Biên Hoà. Tổng thống Thiệu từ chức, giao quyền lại cho tân Tổng thống Trần văn Hương. Vài ngày sau, có tin đồn ông Thiệu rời Việt Nam mang theo 16 tấn vàng. Nhiều năm về sau này ở Mỹ, qua những tài liệu đọc được trên vài trang Web, tôi mới biết ông ra đi với tư cách đặc sứ của Việt Nam Cộng Hòa đến Đài Bắc phúng điếu Tưởng giới Thạch. Ông sống đạm bạc nơi xứ người, chẳng có tấn vàng, tấn bạc gì cả. Ngày 28, cộng quân áp sát Sài Gòn. Tổng thống Trần văn Hương trao quyền cho tướng Dương văn Minh. Khi phần lớn binh lính miền Nam ở quanh Sài Gòn còn ghìm chặc tay súng, sẵn sàng chống trả quyết liệt với quân cộng, thì rất nhiều tướng, tá chỉ huy đã đào ngũ, tháo chạy ra nước ngoài. Sự mất nước phải tới. Sáng ngày 30 / 4 / 1975, xe tăng Việt cộng tiến vào dinh Độc lập, nơi biểu tượng uy quyền của hai triều đại Cộng Hòa. Tổng thống Dương văn Minh lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chính thức sụp đổ. Chiến tranh Việt Nam kết thúc trong sự tức tưởi, nghẹn ngào của hàng triệu quân, dân miền Nam Việt Nam. ( * )
Trong những ngày tàn cuộc chiến cuối tháng tư, vẫn còn nhiều quân nhân hy sinh vì lý tưởng bảo vệ miền Nam tự do. Ngày 23/4/1975, Hỷ, 17 tuổi, em kế tôi, là lính tình nguyện binh chủng Biệt động quân, đã hy sinh trong một cuộc chạm súng với Việt cộng ở Gò Dầu. Khi anh lính Biệt động báo tin đi khỏi, tôi vào căn phòng vắng ngồi lặng lẽ nhớ về người em hiền lành mà can đảm. Nước mắt tuôn rơi không biết từ lúc nào. Trong cuộc chiến tranh ý thức hệ này, giữa một bên là chính nghĩa tự do, nhân bản, với một bên là phi nghĩa, độc tài, bạo tàn, khát máu, tôi đã bao lần phải khóc thương cho những người thân ruột thịt đã vĩnh viễn nằm sâu dưới lòng đất lạnh.!...
….
Sau tháng 4 / 1975, khi nắm trọn quyền cai trị đất nước, cộng sản Việt Nam càng bộc lộ rõ hơn bộ mặt xảo trá, gian ác, phi nhân khi ra sức cướp bóc tài sản người dân miền Nam, bắt cả trăm ngàn sĩ quan miền Nam và nhiều văn nghệ sĩ, tu sĩ đi tù cải tạo không biết ngày về, và kềm kẹp người dân cả nước từ Bắc đến Nam phải sống trong nghèo nàn, cơ cực, thiếu thốn, đói khổ để xây dựng cái thiên đàng cộng sản ảo tưởng của chúng. Hàng triệu trẻ em bị thất học. Cái sự đói ăn, khát uống khiến cho trộm cắp, cướp bóc, đĩ điếm tràn lan trên cả nước. Xã hội băng hoại. Để được ngoi ngóp sinh tồn trong xã hội cộng sản, con người phải tập nói dối, tập gian trá với bọn cầm quyền và ngay cả giữa những người dân với nhau; phải dẫm đạp lên nhau mà sống. Cộng sản Việt Nam thống nhất được đất nước nhưng không thống nhất được lòng người. Mấy triệu người dân lần lượt bỏ nước ra đi bằng đường biển hay đường bộ để mưu tìm một con đường sống mới có ánh sáng của tự do, dân chủ và quyền làm người. Cuối năm 1980, tôi tiếp nối bước chân tìm tự do của những người đi trước, liều mạng một mình vượt biên đường bộ. May mắn có Ơn Trên thiêng liêng phù hộ, tôi đã được nước Mỹ đón nhận từ giữa năm 1982 để có cuộc sống yên lành trong 27 năm nay.
….
Chiều nay, tôi đến thăm Tượng đài Chiến Sĩ Việt - Mỹ trên đường All American Way trong khu thị chính Westminster city, quận Cam. Tiết trời giữa thu mát mẽ, dễ chịu. Mưa phùn lất phất bay tăng thêm trong tôi nỗi bâng khuâng, u hoài khi nhìn lên tượng hai người lính Mỹ và Việt đứng sát bên nhau giữa kỳ đài.
Những đường nét chạm khắc khéo léo làm tăng vẻ uy nghi, oai vệ, can trường nơi dáng dấp và khuôn mặt của hai người lính. Tôi cúi đầu thật lâu trước tượng hai chiến sĩ, rồi nhìn lên hai quốc kỳ Việt - Mỹ đang phất phới trong trời gió lộng, cảm nghe trong thinh không như có tiếng quân hành ca hùng tráng. Tôi nhớ đến anh chị em ruột thịt của tôi đã mất hết trong chiến tranh. Rồi nghĩ về trung úy Bonny, trung sĩ John, trung sĩ Munoz, trung úy Calvin, các anh : Peter, Henry, Danny, Andy, Jim, những người lính Mỹ đã dành cho tôi tình thương mến đặc biệt thời niên thiếu ở trại Bến Sỏi. Không biết bây giờ các anh đang làm gì, ở đâu ?
Tôi lại cúi đầu thật lâu trước tượng đài, tưởng tiếc đến tất cả anh linh chiến sĩ Việt - Mỹ đã hy sinh vì chính nghĩa tự do.( Có 58.209 quân nhân Mỹ tử trận, 2000 quân nhân Mỹ mất tích và 220.000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa “vị quốc vong thân” (*). Dù kết thúc chiến tranh là sự thua cuộc của miền Nam Việt Nam, nhưng sự hy sinh của các anh không vô nghĩa. Bởi nhờ vào sự chiến đấu quả cảm và hy sinh của các anh từ
Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ, quận Cam thời chiến tranh Việt Nam mà sau cùng hệ thống cộng sản quốc tế hoàn toàn sụp đổ. Liên xô tan rã. Các nước cộng sản Đông Âu đã chuyển qua chế độ tự do, dân chủ từ 20 năm nay. Chẳng bao lâu nữa, chế độ đảng trị độc tài Việt Nam cũng sẽ cáo chung vì phong trào đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền của người dân Việt trong và ngoài nước đang mỗi ngày lan rộng, và sẽ trở thành sức mạnh vô địch không thế lực phi nhân nào chống đỡ nổi. Sự tiêu vong của cộng sản Việt Nam là điều tất nhiên phải đến…
Chiến sĩ Việt - Mỹ anh hùng ! Các anh là những người chiến thắng trận sau cùng ! Vinh quang thuộc về các anh.!
Sau khi cúi đầu thật lâu trước tượng đài lần nữa, tôi lững thững ra xe, lòng thanh thản. Gíó thu thổi nhẹ từng cơn mát rượi. Những cánh hoa vàng, đỏ, tím nở rộ ở ven đường rung rinh, rung rinh trong gió như cười vui tiễn bước chân tôi. Hoàng hôn dần buông. Phố đã lên đèn.
-----------------
Bài do tác giả gửi đăng.
Tác giả HCQ năm 1969 tại Tây Ninh
Subscribe to:
Posts (Atom)