Phiếm Luận
Hà Nội và Sài Gòn là của Việt Nam
Vương Văn Quang
Đăng ngày 29-11-2008
http://danchimviet.com/articles/644/1/Ha-Ni-va-Sai-Gon-la-ca-Vit-Nam/TrangPage1.html
Mới đây, hồi tháng 10, một chiếc tầu quốc tịch Na Uy, do một công ty của Nga thuê để tiến hành thăm dò dầu khí ngoài khơi thuộc vùng biển Việt Nam, cho Việt Nam; đã bị tàu thuộc lực lượng hải quân “nước bạn” Trung Quốc tặng cho vài tràng đại liên cỡ 12,7 li hay 14,5 li gì đó, một cách vô cùng thân ái và thắm tình hữu nghị, mà nói theo ngôn ngữ ngoại giao quốc tế là: “Lặn mẹ mày đi cho nước nó trong !”. Đương nhiên, dù đã nhận tiền tạm ứng làm thuê, nhưng để cho “nước nó trong”, cho vừa lòng đại ca đầu gấu khu vực, chiếc tầu Na Uy nọ đã ngậm ngùi chạy đứt cả dép.
Cũng tương tự, hồi năm ngoái, đại ca Trung Hoa, trên tinh thần hữu nghị, núi liền núi sông liền sông, môi hở mông lạnh đã di ngón chân cái vào giữa trán tập đoàn dầu khí Anh quốc BP, chỉ vì tập đoàn này trót kí kết một hợp đồng khai thác dầu khí trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Dự án này, nghe đâu, số vốn ban đầu sơ sơ có 2 tỷ Mĩ kim, chứ mấy (!?)
Tới đầu năm nay, một tập đoàn dầu khí cũng thuộc hàng đại ca đầu gấu chứ chẳng phải thứ nhược tiểu, lìu tìu như anh chàng BP, trịnh trọng cầm cây bút bi chính hiệu Kim Long do tổ hợp bút bi Kim Long quận 5 thành phố Hồ Chí Minh sản xuất, kí một thỏa thuận hợp tác với Petro Việt Nam hòng thăm dò tìm kiếm dầu hỏa trên vùng biển của Việt Nam, đương nhiên. Không lẽ Việt Nam ăn nhầm gan trời nên thăm dò, khai thác dầu khí ở vùng biển … nước Pháp ?
Anh chàng này có tên cúng cơm là Exxon Mobil, quê quán là Huê Kì, nên đương nhiên anh ta là đại ca thứ dữ. Chàng dân chơi tỉnh lẻ Petro Việt Nam cứ tưởng rằng đã là nhà mình, lại bắt tay với đại ca thứ dữ thì chắc ngon cơm, đầu gấu cỡ Trung Quốc chẳng dám di chân lên mặt như vụ BP, bởi vậy nên thấy các anh lên đài lên báo nói to oang oang cứ như bố con chó lông ông con chó xồm: Chúng tôi khai thác dầu mỏ ở sân nhà tôi là hoàn toàn hợp pháp !
Cùng hàng đại ca đầu gấu, nên đại ca Trung Hoa lần này đã tỏ ra lịch thiệp hơn, đã có nhời cảnh cáo chàng Exxon và ku Petro rất nhã nhặn và rất hợp với thông lệ ngoại giao quốc tế (kiểu: Sân nhà mày nhưng dầu nhà tao. Đứa nào tự tiện khai thác, ngộ oánh pỏ pà). Ỷ thế đại ca hàng hiệu, chàng Exxon nào có coi mấy lời nhã nhặn của đại ca Trung Quốc ra gì. Việc chàng, chàng cứ làm. Theo đuôi liền anh, bố con ông Petro Việt Nam cũng la làng: Mọi công việc thăm dò khai thác trên thềm lục địa thuộc vùng biển Việt Nam đều hợp pháp.
Á à, thế thì lành làm gáo vỡ làm muôi nhá ! Lần này đại ca Trung Quốc chẳng thèm dùng 12,7 li hay 14,5 li, cũng chẳng chơi trò di ngón chân cái vào mặt người ta. Lần này, đai ca Trung Hoa chơi luôn 21 phát đại bác như kiểu nghi thức tiếp nguyên thủ quốc gia (mà dân gian hay gọi là “tương thẳng mấy phát fart vào giữa thóp”) vào giữa nhân trung anh Exxon, còn bố con nhà anh Petro Việt Nam thì còn nặng hơn nhiều. Thế là, 1, 2, 3 oẳn tù tì, nước xa chẳng cứu được lửa gần, biết thân biết phận, anh Exxon lặn một hơi không thấy sủi tăm, kệ đối tác là bố con nhà Petro Việt Nam bẽ bàng giữa chợ.
Thế là, tèn ten, một mình một chợ, đại ca Trung Quốc mặc sức tính tính toán toán trữ lượng dầu chỗ này bao nhiêu thùng, chỗ kia bao nhiêu xô …v.v, tóm lại tất cả dầu lửa thuộc vùng biển Đông Nam Á đều thuộc của riêng từ đời ông cố tổ nhà đại ca, là của gia bảo nhà đại ca, đừng có đứa nào nào mà mơ màng xớ rớ đòi dây máu ăn phần. Chả phải ngẫu nhiên mà đại ca Trung Hoa đổ cả tỉ bạc để xây dựng căn cứ hải quân cực kì hiện đại ở Nam Hải (đảo Hải Nam. Ảnh chụp tầu ngầm nằm xắp măng cứ như lợn cân móc hàm xong đang nằm chờ đưa ra chợ). Gần đây, cũng chả ngẫu nhiên mà đại ca cho cả cái tuần dương hạm to tổ bố mang tên ông quan cụt trym Trịnh Hòa - người được “thiên triều” cho là có công phát hiện ra Hoàng Sa-Trường Sa - đánh võng ở biển Đà Nẵng làm duyên. Cũng chả phải ngẫu nhiên mà đại ca Trung Hoa vốn khá khét tiếng trong vấn đề kiểm duyệt báo chí lại làm ngơ để trang mạng SiNa vẽ vời đủ các kiểu chiến tranh 30 ngày, chiến tranh 31 ngày với bọn tiểu bá Việt Nam. Chả biết những bài viết kiểu như trên SiNa có giá trị tới đâu, có thật hay không…, nhưng kệ, đại ca cứ để thế cho vui đấy ! Đã làm sao nào?
Mới đây nhất, Hôm 22/11, tập đoàn dầu khí của đại ca Trung Hoa - Cnooc Ltd vừa công bố dự án trị̣ giá gần 200 tỷ nhân dân tệ, tương đương 29 tỷ đôla để thăm dò khai thác tại “biển Nam Trung Hoa, nơi nguồn nguyên liệu chưa được khai thác”, trong đó có khu vực Hoàng Sa và Trường Sa.
Cũng giống với vụ đại ca buồn tình thành lập thành phố Tam Sa hồi năm ngoái, trong đó bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Để “phản đối”, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam, Lê Dũng đã “phát”:
“Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền, và các quyền hợp pháp của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…”
Giống y hệt nhá. Đố tìm thấy khác chữ nào, khác điểm gì.
(Tôi không nhớ lắm, vụ oánh nhau năm 1988 hay còn gọi là trận hải chiến 1988, hoặc là vụ 9 ngư dân Thanh Hóa bị lính hải quân Tầu khựa buồn buồn bắn chết. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam - khi đó hình như là bà Phan Thúy Thanh - có cho phát đoạn băng “muôn thuở” đó không ?)
Nói chuyện này lại nhớ, hồi năm ngoái, nhân vụ Tam Sa, trong khi bà con ta điên ruột biểu tình thì bác Dũng cứ tỉnh bơ phát đi phát lại đoạn băng: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng”. Điều nực cười này khiến tôi bỗng dưng biến thành nhà văn trong 7 phút rưỡi. Vì trong 7 phút rưỡi hồi đó, tôi có “sáng tác” ra câu chuyện thế này:
Có hai nhà nọ, liền kề nhau. Nhà ông A. có thân thế, quyền lực, giầu có; nhà ông B. không thân thích thế lực, địa vị xã hội kém cỏi, gia cảnh nghèo nàn. Bữa nọ, ông A. sau một chầu nhậu sương sương, bèn mò qua nhà ông B. đè nghiến vợ ông B. mà hiếp lấy hiếp để (dân gian gọi là hấp diêm) trước mặt cha con ông B.. Thằng con trai ông B. vốn to khỏe lực lưỡng, lại cục tính, thấy ông A. “hấp diêm” mẹ mình thì tức quá xông vào định đánh ông A. Ông B. thấy vậy hoảng hốt, quì xuống vái con trai mình ba vái, rồi nói: “Chớ nên manh động, không có lợi đâu con ơi. Rồi bố sẽ mang vụ này ra ủy ban nhân dân phường nhờ phân xử. Rồi bố sẽ kiện lão A. ra tòa, bố có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lí để chứng minh rằng bướm mẹ mày cũng chính là lìn vợ bố. Lão A. làm vậy là xâm phạm tài sản riêng công dân, sự việc lâu mau gì cũng sẽ sáng tỏ thôi, con cứ yên tâm đi. Nhá ! Ngoan nghe bố nhá !”
Đấy, đấy chính là sản phẩm trong 7 phút rưỡi làm nhà văn của tôi.
Nhưng con dân Việt Nam không phải ai cũng dễ bảo như con trai ông B. Điển hình, có thể kể anh Hoàng Hải, tức nhà báo Điếu Cầy. Thấy đại ca Trung Hoa giở thói lưu manh, “hấp diêm” hai quần đảo Hoàng-Trường của ta, anh cứ thế mà phản ứng dữ dội. Kết quả thì ai cũng biết. Anh đã bị đi tù vì… trốn thuế.
Với kiểu cách ứng xử của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, kể cả đối nội lẫn đối ngoại, tôi sẽ chẳng ngạc nhiên, nếu có một ngày nào đó, ông Lê Dũng (nếu thời điểm đó chức vụ này vẫn là ông), người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam “phát” rằng:
“Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền, và các quyền hợp pháp của mình đối với hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn …”
© 2008 www.danchimviet.com
Sunday, November 30, 2008
QUỐC TỊCH và QUYỀN CÔNG DÂN
Quốc Tịch và Quyền Công Dân
Đỗ Văn Phúc
http://lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=482:482&catid=37:bandoc&Itemid=56
(Nhân Việt Cộng vừa sửa đổi Luật Quốc Tịch để ve vãn người Việt Tị Nạn)
Mười lăm năm trước đây, khi bắt đầu có tin Hoa Kỳ chính thức lập bang giao với Việt Nam Cộng sản, vài anh em đã hoang mang và đến hỏi ý kiến chúng tôi: “Liệu toà đại sứ Việt Cộng có gọi mình đến trình diện, làm khó dễ không?” Do nhận thức hạn chế về luật pháp, và bị ám ảnh bởi những năm tháng tù đày, áp bức của Cộng sản, các anh ấy đã không nhận thức rằng thẩm quyền tài phán (Jurisdiction) và khả năng cưỡng chế (enforcement) của Cộng sản Việt Nam chỉ có giới hạn trong đám nhân viên, du học sinh, công dân của họ đang làm việc, học hành, du lịch tại ngoại quốc. Còn chúng ta, những thường trú nhân, hay công dân Hoa Kỳ thì chẳng có gì dính líu với cái ngụy quyền Cộng sản cả. Và vì thế sự lo ngại nói trên là điều không nên đặt ra.
Hai mươi ba năm sau ngày chiếm trọn miền Nam, nhà cầm quyền Việt Cộng mới nhìn thấy nguồn tài nguyên phong phú của người Việt hải ngoại mà trước đó họ không ngừng nhục mạ bằng những từ ngữ xấu xa nhất. Năm 1998, Cộng sản ban hành Luật Quốc Tịch (Luật số 07/1998/QH10) nhằm ve vãn, cưỡng bức người Việt hải ngoại. Luật này coi tất cả những người Việt Nam thường trú, tạm trú, sinh sống lâu dài tại ngoại quốc đều là công dân Việt Nam. (Điều 2, sđd). CS Việt Nam không thừa nhận thực tế người Việt mang quốc tịch khác nếu không được nhà nước Việt Nam cho phép.
Nói ve vãn là vì trước đây, họ coi người Việt di tản, vượt biên là phản quốc, là tội phạm; nay họ mở đường để cho về làm ăn, đem đô la về giúp cho họ. Nói cưỡng bức là vì những người Việt tị nạn khi về Việt Nam, nếu có vấn đề về chính trị, họ sẽ quy chụp là công dân Việt Nam để hành tội, bắt bớ giam cầm. Nam đã từng không thừa nhận thực tế người Việt mang quốc tịch khác nếu không được nhà nước Việt Nam cho phép
Mới đây, Cộng sản Việt Nam lại sửa đổi luật Quốc Tịch vào kỳ họp tháng 5 năm 2008 thừa nhận tình trạng song tịch của người Việt hải ngoại.
Sự thay đổi này cũng gây ra nhiều tranh luận và thắc mắc trên các diễn đàn.
Chúng tôi xin mạn phép nêu ra vài định nghĩa và phân tích để làm sáng tỏ vấn đề.
Theo pháp lý, có hai phạm trù Quốc Tịch (Nationality) và Công Dân (Citizenship)
Quốc tịch là tình trạng của một cá nhân, tổ chức, công ty, tàu thuyền, phi cơ… dính líu đến một quốc gia về nguồn gốc, văn hóa, liên kết. (trong Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều thương thuyền phe Đồng Minh mang quốc tịch các nước trung lập để không bị Đức đánh phá). Nói rõ ra là do sinh đẻ trên nước đó (quốc tịch đương nhiên) hoặc do việc xin gia nhập. Người (hay một entity nào đó) có quốc tịch phải chịu sự cưỡng chế (Jurisdiction), và đối lại, được sự bảo vệ của quốc gia mình mang quốc tịch. Trong thực tế lịch sử, có những nhóm, do sự liên kết bởi huyết thống, quá khứ lịch sử cũng được coi là chung quốc tịch, cho dù họ không cấu tạo thành một nhà nước nào. Ví dụ: dân Assyrians, Basques, Catalans, English, Welsh, Scots, British ,Venetians,Palestinians, Tamils, Quebecers.
Cao hơn Quốc Tịch, là Quyền Công Dân. Công Dân được hưởng toàn bộ các đặc quyền về chính trị mà người có Quốc tịch chưa chắc đã có.
Thí dụ: Những người tù vẫn mang quốc tịch Việt Nam, nhưng sau khi ra tù phải chịu một thời hạn quản chế mới được phục hồi quyền công dân.
Tình trạng song tịch là khi một người thủ đắc hai quốc tịch cùng một lúc. Nhiều quốc gia trên thế giới không chấp nhận tình trạng song tịch như Nhật Bàn, Đại Hàn, Trung Hoa, Thụy Điển, Đức… Trong Khi Anh, Pháp, Mỹ, Canada lạ mềm dẽo hơn, không bắt buộc người xin nhập tịch phải từ bỏ quốc tịch cũ của mình hoặc cho phép công dân mình nhận thêm quốc tịch của người phối ngẫu. Trường hợp con cái của công dân Hoa Kỳ đẻ ra trên nước khác cũng có thể mang thêm quốc tịch nước này.
Tuy nhiên tình trạng song tịch dẫn đến nhiều rắc rối về phương diện pháp lý do các hệ thống luật pháp và chế tài khác nhau. Do đó, thường làm hạn chế khả năng can thiệp bảo vệ cho công dân mình khi người này đến một nước khác mà họ cũng có quốc tịch (trường hợp các người Mỹ gốc Việt bị Cộng Sản bắt bớ tại Việt Nam)
Việc mang hai quốc tịch sẽ nảy sinh ra vấn đề nếu hai quốc gia có những xung đột tranh chấp về chính trị, quân sự hay quyền lợi kinh tế. Người ta sẽ hỏi:” Người song tịch sẽ trung thành với quốc gia nào, nếu có sự xung đột giữa hai nước?” Cánh hữu Mỹ đã phản đối tình trạng song tịch Mỹ-Mexico (luật Mexico thừa nhận tình trạng song tịch này), vì họ cho rằng Mexico sẽ ràng buộc các nghĩa vụ xã hội của họ lên công dân Hoa Kỳ. Về một cách nhìn chủ quan nào đó, thì người song tịch có thể mất đi một số quyền công dân như bầu cử, ứng cử, và thậm chí có thể mất quốc tịch Hoa Kỳ.
Như thế, chúng ta thấy rằng những người Việt tị nạn tại hải ngoại, về tâm lý tình cảm, không thừa nhận mình là công dân của cái quái thai Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; nhưng trên pháp lý, vẫn mang quốc tịch Việt Nam, dù chúng ta đối kháng chế độ Cộng Sản. Quốc tịch Việt Nam không giới hạn trong chế độ đương thời, mà là một tình cảm gắn bó với Tổ quốc Việt Nam, với dân tộc máu mủ đang sinh sống trên đó. Bởi tình cảm đó, mà chúng ta đã và đang hết lòng đấu tranh chống tập đoàn Cộng Sản để đem lại tự do, dân chủ cho quê hương.
Trong Khoản 1, điều 4, chương 1 của Luật Quốc Tịch ghi: Người có Quốc tịch Việt Nam là công dân nước CHXHCNVN; khoản tiếp theo thêm rằng người công dân phải thi hành các nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội. Các nghĩa vụ này chắc chắn bao gồm việc đi lính và đóng thuế cho nhà nước Việt Cộng. Nhưng có thể không có quyền ứng cử, bầu cử vì ngay người công dân trong nước vẫn không được ứng cử dù hiến pháp Việt Cộng có ghi đầy đủ quyền này.
Có quốc tịch Việt Nam, nhưng chúng ta có thể trả lời Cộng Sản rằng chúng ta không là công dân của họ. Vì Quốc tịch dính líu đến Đất Nước (là tổ quốc); trong khi công dân dính líu đến Nhà nước (định chế chính trị). Người Mỹ gốc Do Thái trở về nước đầu quân đánh Ả Rập do lòng yêu nước; trong khi người Mỹ gốc Nhật thành lập đơn vị riêng trong quân đội Mỹ đánh lại Nhật tại mặt trận Thái Bình Dương.
Người Việt Tị nạn chống Cộng sản chẳng bao giờ đóng góp cho kẻ thù, cũng như để cho con cháu mình khoác lên bộ quân phục của một chế độ từng ngược dãi, mưu giết mình; và vẫn còn là chế độ đàn áp dân tộc.
Như đã nói ở phần đầu, ngoài lãnh thổ Việt Nam, Cộng sản không có thẩm quyền tài phán (jurisdiction) và khả năng cưỡng chế (Enforcement) đối với người Việt hải ngoại.
Do đó, chúng ta an tâm chẳng nên lo lắng rằng một ngày nào đó, bọn Cộng Sản gửi giấy báo “nộp thuế” hay “nghĩa vụ quân sự” đến nhà bắt chúng ta thi hành. Trường hợp quý vị cần về Việt Nam, thì nên khẳng định mình là công dân Hoa Kỳ hay Úc hay Pháp… để được sự che chở của các nước này trong trường hợp vị bọn cầm quyền quấy nhiễu.
Còn đối với quý vị vì tiền, vì danh… mà mò về Việt Nam kiếm ăn, thì tác giả xin miễn bàn đến. Lợi nhuận nào cũng phải trả bằng một giá cả. Mà trong xã hội Cộng sản, cái giá này, coi chừng, sẽ rất bi thảm.
Đỗ Văn Phúc
Đỗ Văn Phúc
http://lyhuong.net/viet/index.php?option=com_content&view=article&id=482:482&catid=37:bandoc&Itemid=56
(Nhân Việt Cộng vừa sửa đổi Luật Quốc Tịch để ve vãn người Việt Tị Nạn)
Mười lăm năm trước đây, khi bắt đầu có tin Hoa Kỳ chính thức lập bang giao với Việt Nam Cộng sản, vài anh em đã hoang mang và đến hỏi ý kiến chúng tôi: “Liệu toà đại sứ Việt Cộng có gọi mình đến trình diện, làm khó dễ không?” Do nhận thức hạn chế về luật pháp, và bị ám ảnh bởi những năm tháng tù đày, áp bức của Cộng sản, các anh ấy đã không nhận thức rằng thẩm quyền tài phán (Jurisdiction) và khả năng cưỡng chế (enforcement) của Cộng sản Việt Nam chỉ có giới hạn trong đám nhân viên, du học sinh, công dân của họ đang làm việc, học hành, du lịch tại ngoại quốc. Còn chúng ta, những thường trú nhân, hay công dân Hoa Kỳ thì chẳng có gì dính líu với cái ngụy quyền Cộng sản cả. Và vì thế sự lo ngại nói trên là điều không nên đặt ra.
Hai mươi ba năm sau ngày chiếm trọn miền Nam, nhà cầm quyền Việt Cộng mới nhìn thấy nguồn tài nguyên phong phú của người Việt hải ngoại mà trước đó họ không ngừng nhục mạ bằng những từ ngữ xấu xa nhất. Năm 1998, Cộng sản ban hành Luật Quốc Tịch (Luật số 07/1998/QH10) nhằm ve vãn, cưỡng bức người Việt hải ngoại. Luật này coi tất cả những người Việt Nam thường trú, tạm trú, sinh sống lâu dài tại ngoại quốc đều là công dân Việt Nam. (Điều 2, sđd). CS Việt Nam không thừa nhận thực tế người Việt mang quốc tịch khác nếu không được nhà nước Việt Nam cho phép.
Nói ve vãn là vì trước đây, họ coi người Việt di tản, vượt biên là phản quốc, là tội phạm; nay họ mở đường để cho về làm ăn, đem đô la về giúp cho họ. Nói cưỡng bức là vì những người Việt tị nạn khi về Việt Nam, nếu có vấn đề về chính trị, họ sẽ quy chụp là công dân Việt Nam để hành tội, bắt bớ giam cầm. Nam đã từng không thừa nhận thực tế người Việt mang quốc tịch khác nếu không được nhà nước Việt Nam cho phép
Mới đây, Cộng sản Việt Nam lại sửa đổi luật Quốc Tịch vào kỳ họp tháng 5 năm 2008 thừa nhận tình trạng song tịch của người Việt hải ngoại.
Sự thay đổi này cũng gây ra nhiều tranh luận và thắc mắc trên các diễn đàn.
Chúng tôi xin mạn phép nêu ra vài định nghĩa và phân tích để làm sáng tỏ vấn đề.
Theo pháp lý, có hai phạm trù Quốc Tịch (Nationality) và Công Dân (Citizenship)
Quốc tịch là tình trạng của một cá nhân, tổ chức, công ty, tàu thuyền, phi cơ… dính líu đến một quốc gia về nguồn gốc, văn hóa, liên kết. (trong Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều thương thuyền phe Đồng Minh mang quốc tịch các nước trung lập để không bị Đức đánh phá). Nói rõ ra là do sinh đẻ trên nước đó (quốc tịch đương nhiên) hoặc do việc xin gia nhập. Người (hay một entity nào đó) có quốc tịch phải chịu sự cưỡng chế (Jurisdiction), và đối lại, được sự bảo vệ của quốc gia mình mang quốc tịch. Trong thực tế lịch sử, có những nhóm, do sự liên kết bởi huyết thống, quá khứ lịch sử cũng được coi là chung quốc tịch, cho dù họ không cấu tạo thành một nhà nước nào. Ví dụ: dân Assyrians, Basques, Catalans, English, Welsh, Scots, British ,Venetians,Palestinians, Tamils, Quebecers.
Cao hơn Quốc Tịch, là Quyền Công Dân. Công Dân được hưởng toàn bộ các đặc quyền về chính trị mà người có Quốc tịch chưa chắc đã có.
Thí dụ: Những người tù vẫn mang quốc tịch Việt Nam, nhưng sau khi ra tù phải chịu một thời hạn quản chế mới được phục hồi quyền công dân.
Tình trạng song tịch là khi một người thủ đắc hai quốc tịch cùng một lúc. Nhiều quốc gia trên thế giới không chấp nhận tình trạng song tịch như Nhật Bàn, Đại Hàn, Trung Hoa, Thụy Điển, Đức… Trong Khi Anh, Pháp, Mỹ, Canada lạ mềm dẽo hơn, không bắt buộc người xin nhập tịch phải từ bỏ quốc tịch cũ của mình hoặc cho phép công dân mình nhận thêm quốc tịch của người phối ngẫu. Trường hợp con cái của công dân Hoa Kỳ đẻ ra trên nước khác cũng có thể mang thêm quốc tịch nước này.
Tuy nhiên tình trạng song tịch dẫn đến nhiều rắc rối về phương diện pháp lý do các hệ thống luật pháp và chế tài khác nhau. Do đó, thường làm hạn chế khả năng can thiệp bảo vệ cho công dân mình khi người này đến một nước khác mà họ cũng có quốc tịch (trường hợp các người Mỹ gốc Việt bị Cộng Sản bắt bớ tại Việt Nam)
Việc mang hai quốc tịch sẽ nảy sinh ra vấn đề nếu hai quốc gia có những xung đột tranh chấp về chính trị, quân sự hay quyền lợi kinh tế. Người ta sẽ hỏi:” Người song tịch sẽ trung thành với quốc gia nào, nếu có sự xung đột giữa hai nước?” Cánh hữu Mỹ đã phản đối tình trạng song tịch Mỹ-Mexico (luật Mexico thừa nhận tình trạng song tịch này), vì họ cho rằng Mexico sẽ ràng buộc các nghĩa vụ xã hội của họ lên công dân Hoa Kỳ. Về một cách nhìn chủ quan nào đó, thì người song tịch có thể mất đi một số quyền công dân như bầu cử, ứng cử, và thậm chí có thể mất quốc tịch Hoa Kỳ.
Như thế, chúng ta thấy rằng những người Việt tị nạn tại hải ngoại, về tâm lý tình cảm, không thừa nhận mình là công dân của cái quái thai Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam; nhưng trên pháp lý, vẫn mang quốc tịch Việt Nam, dù chúng ta đối kháng chế độ Cộng Sản. Quốc tịch Việt Nam không giới hạn trong chế độ đương thời, mà là một tình cảm gắn bó với Tổ quốc Việt Nam, với dân tộc máu mủ đang sinh sống trên đó. Bởi tình cảm đó, mà chúng ta đã và đang hết lòng đấu tranh chống tập đoàn Cộng Sản để đem lại tự do, dân chủ cho quê hương.
Trong Khoản 1, điều 4, chương 1 của Luật Quốc Tịch ghi: Người có Quốc tịch Việt Nam là công dân nước CHXHCNVN; khoản tiếp theo thêm rằng người công dân phải thi hành các nghĩa vụ đối với nhà nước và xã hội. Các nghĩa vụ này chắc chắn bao gồm việc đi lính và đóng thuế cho nhà nước Việt Cộng. Nhưng có thể không có quyền ứng cử, bầu cử vì ngay người công dân trong nước vẫn không được ứng cử dù hiến pháp Việt Cộng có ghi đầy đủ quyền này.
Có quốc tịch Việt Nam, nhưng chúng ta có thể trả lời Cộng Sản rằng chúng ta không là công dân của họ. Vì Quốc tịch dính líu đến Đất Nước (là tổ quốc); trong khi công dân dính líu đến Nhà nước (định chế chính trị). Người Mỹ gốc Do Thái trở về nước đầu quân đánh Ả Rập do lòng yêu nước; trong khi người Mỹ gốc Nhật thành lập đơn vị riêng trong quân đội Mỹ đánh lại Nhật tại mặt trận Thái Bình Dương.
Người Việt Tị nạn chống Cộng sản chẳng bao giờ đóng góp cho kẻ thù, cũng như để cho con cháu mình khoác lên bộ quân phục của một chế độ từng ngược dãi, mưu giết mình; và vẫn còn là chế độ đàn áp dân tộc.
Như đã nói ở phần đầu, ngoài lãnh thổ Việt Nam, Cộng sản không có thẩm quyền tài phán (jurisdiction) và khả năng cưỡng chế (Enforcement) đối với người Việt hải ngoại.
Do đó, chúng ta an tâm chẳng nên lo lắng rằng một ngày nào đó, bọn Cộng Sản gửi giấy báo “nộp thuế” hay “nghĩa vụ quân sự” đến nhà bắt chúng ta thi hành. Trường hợp quý vị cần về Việt Nam, thì nên khẳng định mình là công dân Hoa Kỳ hay Úc hay Pháp… để được sự che chở của các nước này trong trường hợp vị bọn cầm quyền quấy nhiễu.
Còn đối với quý vị vì tiền, vì danh… mà mò về Việt Nam kiếm ăn, thì tác giả xin miễn bàn đến. Lợi nhuận nào cũng phải trả bằng một giá cả. Mà trong xã hội Cộng sản, cái giá này, coi chừng, sẽ rất bi thảm.
Đỗ Văn Phúc
BÀN VỀ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ CÔNG KHAI
BÀN VỀ NGUYÊN TẮC XÉT XỬ CÔNG KHAI
Lê Trần Luật
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ PHÁP QUYỀN
ngày 29 tháng 11 năm 2008
http://www.luatsuphapquyen.com/content/view/1119/52/
Công khai là một trong những thuộc tính quan trọng của xã hội dân chủ. Trong xã hội dân chủ, công khai được xem như một tư tưởng xuyên suốt quá trình tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước. Trong hoạt động tư pháp tư tưởng này cũng được ghi nhận một cách rất cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật tố tụng.
Hiến pháp 1946, Điều 67: “Các phiên tòa phải công khai, trừ trường hợp đặc biệt”.
Hiến pháp 1959, Điều 101: “Việc xét xử tại các tòa án nhân dân đều công khai, trừ trường hợp Luật định”.
Hiến pháp 1980, Điều 133: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp Luật định”.
Hiến pháp 1992, Điều 131: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp Luật định”.
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (năm 2003) đã cụ thể hóa tư tưởng này tại Điều 18: Xét xử công khai “Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này qui định.
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.”
Theo tiến sĩ Luật học Võ Khánh Vinh, “Việc xét xử công khai, một mặt bảo đảm cho nhân dân có thể kiểm tra, giám sát được các hoạt động của Tòa án” (Trang 42 - Bình luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự - Nhà xuất bản Công An Nhân Dân).
Như vậy, có thể thấy việc xét xử công khai nhằm bảo đảm cơ chế kiểm tra và giám sát của dân đối với hoạt động xét xử. Sự kiểm tra giám sát của dân đối với hoạt động nhà nước nói chung và hoạt động xét xử nói riêng là đòi hỏi cấp bách của một xã hội dân chủ. Mọi hoạt động của Nhà nước không được công khai, triệt tiêu sự giám sát của dân đều có khả năng dẫn đến chuyên quyền, quan liêu và tệ hơn nữa là ở nơi đó “Quốc nạn tham nhũng” được hoành hành.
Mặt khác, xét xử công khai là một trong bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn, nâng cao trách nhiệm và lương tâm của thẩm phán.
Hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn thì bản án phán quyết của Tòa mới được chính xác và được mọi người tôn trọng.
Một bản án “đúng người, đúng tội” làm cho những người tham dự phiên Tòa và công luận “Tâm phục, khẩu phục” thì có nghĩa rằng “Công lý đã được thực thi”, “Công lý được thực thi” thì tinh thần thượng tôn pháp luật được nâng cao.
Để nguyên tắc công khai được thực thi, điều Luật đã qui định “Xét xử công khai và mọi người (người trên 16 tuổi) có quyền tham dự”. Theo chúng tôi là để nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia phiên tòa, bảo đảm sự giám sát của dân đối với hoạt động xét xử, cũng như bảo đảm tác dụng giáo dục và phòng ngừa của hoạt động xét xử. Để đảm bảo nội dung này, Tòa án phải niêm yết kế hoạch xét xử tại trụ sở của Tòa án để nhân dân biết và tham gia. Đối với những vụ án thu hút sự chú ý của nhân dân, Tòa phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết và tham gia.
Thời gian gần đây, có nhiều phiên Tòa mà số lượng người tham dự rất đông. Thay vì khuyến khích và tạo điều kiện cho họ tham gia thì lực lượng cảnh sát bảo vệ phiên tòa và Tòa án cố tình ngăn cản không cho người dân tham gia với lý do:
- Phòng xử án hẹp, không đủ chổ.
- Tham gia đông không đảm bảo trật tự phiên tòa.
- Cá biệt, có Tòa còn yêu cầu người tham gia phải có đơn xin tham dự.
Theo chúng tôi, dù với bất cứ lý do nào cũng đều không thể hạn chế số lượng người tham gia vì điều đó là vi phạm Bộ luật tố tụng hình sự và cao hơn nữa là những hành động “vi hiến”. Để khắc phục tình trạng nêu trên và tránh tình trạng vi phạm “Nguyên tắc xét xử công khai” theo chúng tôi Tòa án có thể tiến hành một số giải pháp sau:
1/ Tạo điều kiện thuận lợi cho giới truyền thông tham gia, để những người dân không tham dự trực tiếp có thể xem qua các kênh này.
2/ Phòng xử án hẹp, thiếu chổ, Tòa có thể bố trí loa phát thanh ngoài phòng xử án để người dân không vào phòng xử án có thể nghe những diễn biến của phiên tòa.
3/ Nếu có điều kiện (chúng tôi cho rằng rất khả thi) tòa có thể dùng camera và các màn hình đặt ngoài phòng xử án để người dân trực tiếp theo dõi diễn biến phiên toàn.
4/ Trong trường hợp cần thiết Tòa có thể xử ở nơi khác (ngoài trụ sở Tòa án). Như vậy, Tòa có thể thuê, mượn những nơi có điều kiện hơn như sân vận động, nhà hát hay hội trường lớn ..v.v..
Tòa án và lực lượng bảo vệ phiên Tòa phải có nghĩa vụ tạo mọi điếu kiện thuận lợi cho mọi người tham dự phiên Tòa. Cản trở hoặc hạn chế người dân tham dự các phiên Tòa, theo chúng tôi là hành động vi phạm pháp luật cần phải nghiêm trị.
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2008
Lê Trần Luật
Thạc sỹ Luật học
Lê Trần Luật
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ PHÁP QUYỀN
ngày 29 tháng 11 năm 2008
http://www.luatsuphapquyen.com/content/view/1119/52/
Công khai là một trong những thuộc tính quan trọng của xã hội dân chủ. Trong xã hội dân chủ, công khai được xem như một tư tưởng xuyên suốt quá trình tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước. Trong hoạt động tư pháp tư tưởng này cũng được ghi nhận một cách rất cụ thể trong Hiến pháp và pháp luật tố tụng.
Hiến pháp 1946, Điều 67: “Các phiên tòa phải công khai, trừ trường hợp đặc biệt”.
Hiến pháp 1959, Điều 101: “Việc xét xử tại các tòa án nhân dân đều công khai, trừ trường hợp Luật định”.
Hiến pháp 1980, Điều 133: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp Luật định”.
Hiến pháp 1992, Điều 131: “Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp Luật định”.
Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (năm 2003) đã cụ thể hóa tư tưởng này tại Điều 18: Xét xử công khai “Việc xét xử của Tòa án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này qui định.
Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án xét xử kín, nhưng phải tuyên án công khai.”
Theo tiến sĩ Luật học Võ Khánh Vinh, “Việc xét xử công khai, một mặt bảo đảm cho nhân dân có thể kiểm tra, giám sát được các hoạt động của Tòa án” (Trang 42 - Bình luận Khoa Học Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự - Nhà xuất bản Công An Nhân Dân).
Như vậy, có thể thấy việc xét xử công khai nhằm bảo đảm cơ chế kiểm tra và giám sát của dân đối với hoạt động xét xử. Sự kiểm tra giám sát của dân đối với hoạt động nhà nước nói chung và hoạt động xét xử nói riêng là đòi hỏi cấp bách của một xã hội dân chủ. Mọi hoạt động của Nhà nước không được công khai, triệt tiêu sự giám sát của dân đều có khả năng dẫn đến chuyên quyền, quan liêu và tệ hơn nữa là ở nơi đó “Quốc nạn tham nhũng” được hoành hành.
Mặt khác, xét xử công khai là một trong bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn, nâng cao trách nhiệm và lương tâm của thẩm phán.
Hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn thì bản án phán quyết của Tòa mới được chính xác và được mọi người tôn trọng.
Một bản án “đúng người, đúng tội” làm cho những người tham dự phiên Tòa và công luận “Tâm phục, khẩu phục” thì có nghĩa rằng “Công lý đã được thực thi”, “Công lý được thực thi” thì tinh thần thượng tôn pháp luật được nâng cao.
Để nguyên tắc công khai được thực thi, điều Luật đã qui định “Xét xử công khai và mọi người (người trên 16 tuổi) có quyền tham dự”. Theo chúng tôi là để nhằm thu hút đông đảo nhân dân tham gia phiên tòa, bảo đảm sự giám sát của dân đối với hoạt động xét xử, cũng như bảo đảm tác dụng giáo dục và phòng ngừa của hoạt động xét xử. Để đảm bảo nội dung này, Tòa án phải niêm yết kế hoạch xét xử tại trụ sở của Tòa án để nhân dân biết và tham gia. Đối với những vụ án thu hút sự chú ý của nhân dân, Tòa phải thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết và tham gia.
Thời gian gần đây, có nhiều phiên Tòa mà số lượng người tham dự rất đông. Thay vì khuyến khích và tạo điều kiện cho họ tham gia thì lực lượng cảnh sát bảo vệ phiên tòa và Tòa án cố tình ngăn cản không cho người dân tham gia với lý do:
- Phòng xử án hẹp, không đủ chổ.
- Tham gia đông không đảm bảo trật tự phiên tòa.
- Cá biệt, có Tòa còn yêu cầu người tham gia phải có đơn xin tham dự.
Theo chúng tôi, dù với bất cứ lý do nào cũng đều không thể hạn chế số lượng người tham gia vì điều đó là vi phạm Bộ luật tố tụng hình sự và cao hơn nữa là những hành động “vi hiến”. Để khắc phục tình trạng nêu trên và tránh tình trạng vi phạm “Nguyên tắc xét xử công khai” theo chúng tôi Tòa án có thể tiến hành một số giải pháp sau:
1/ Tạo điều kiện thuận lợi cho giới truyền thông tham gia, để những người dân không tham dự trực tiếp có thể xem qua các kênh này.
2/ Phòng xử án hẹp, thiếu chổ, Tòa có thể bố trí loa phát thanh ngoài phòng xử án để người dân không vào phòng xử án có thể nghe những diễn biến của phiên tòa.
3/ Nếu có điều kiện (chúng tôi cho rằng rất khả thi) tòa có thể dùng camera và các màn hình đặt ngoài phòng xử án để người dân trực tiếp theo dõi diễn biến phiên toàn.
4/ Trong trường hợp cần thiết Tòa có thể xử ở nơi khác (ngoài trụ sở Tòa án). Như vậy, Tòa có thể thuê, mượn những nơi có điều kiện hơn như sân vận động, nhà hát hay hội trường lớn ..v.v..
Tòa án và lực lượng bảo vệ phiên Tòa phải có nghĩa vụ tạo mọi điếu kiện thuận lợi cho mọi người tham dự phiên Tòa. Cản trở hoặc hạn chế người dân tham dự các phiên Tòa, theo chúng tôi là hành động vi phạm pháp luật cần phải nghiêm trị.
TP Hồ Chí Minh, ngày 29 tháng 11 năm 2008
Lê Trần Luật
Thạc sỹ Luật học
CÂU CHUYỆN NGƯỜI TÙ MANG BIỂN SỐ 5109Z
11 NGÀY BỊ BẮT GIỮ, BỎ TÙ Ở CÔNG AN HUYỆN SÓC SƠN VÀ TRẠI GIAM HOÀ LÒ - HÀ NỘI CỦA TÙ NHÂN MANG BIỂN SỐ 5109 Z
Tường thuật của Lê Thanh Tùng
Viết từ ngày 18/11/2008 đến 25/11/2008
http://www.doi-thoai.com/baimoi1108_419.html
Vào hồi 8 h 00 sáng ngày 06/11/2008, tôi vào tiệm Internet của anh Lê Văn Đức ở thôn Đông Đoài, xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn – ngoại thành Hà Nội, nơi quê hương tôi đang sinh sống hiện nay để xem thư và những bài viết mới được đăng trên các trang Web. Sau đó tôi dùng máy tính trong tiệm dịch vụ này để đánh máy bài “Thư ngỏ gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” của nông dân Bắc Giang là Dương Văn Nam.
Bởi vì anh Dương Văn Nam chưa biết sử dụng máy vi tính, mặc dù tôi đã đôi lần tập huấn cho anh sử dụng Internet và cách vượt tường lửa để anh tự vào mạng Internet đọc báo và gửi bài lên mạng.
Bài viết của nông dân Dương Văn Nam gồm có 8 trang viết tay, tôi đã đánh được một nửa quãng độ 4 trang thì bất ngờ một toán công an và an ninh chính trị huyện Sóc Sơn cùng công an xã Phù Lỗ ập đến bắt giữ tôi.
Gã trung tá Lê Ngọc Ly đội trưởng an ninh công an huyện Sóc Sơn phát vào vai tôi và nói lớn : “Lê Thanh Tùng mày đã bị bắt quả tang…!!!”.
Sau đó thượng uý Nguyễn Sỹ Dũng và thiếu uý Nguyễn Sơn Tùng là hai công an đã trực tiếp xông vào khoá hai tay tôi và lôi ra khỏi ghế, lúc đó là vào đúng 10h00 trưa ngày 06/11/2008. Nữ thiếu uý tên là Lan thì xông vào máy vi tính mà tôi đang sử dụng và cóppi toàn bộ phần tôi đang đánh máy và cả bài thơ “Thực trạng lỗi lầm của đảng cộng sản Việt Nam ” của Dương Văn Nam cùng bài “Việt Nam, đất nước tôi của kỹ sư Đỗ Nam Hải” ở trong hộp thư của tôi mà tôi chưa kịp đóng hộp thư lại.
Tôi nghe thấy trung tá an ninh Lê Ngọc Ly nói lớn với vẻ mặt hớn hở, phấn khởi lắm, y nói với mọi người trong tiệm Internet :
“Thằng này nó chuyên môn đi tuyên truyền phản động, phản bội đất nước đấy bà con ạ ! ”.
Tôi trả lời ngay tại đấy trước đám an ninh và quần chúng đang hướng mắt vào theo dõi tôi và bọn họ như thế này :
“Việc định tội trạng ra sao là việc của toà án các ông không có quyền phán xét. Nếu các ông thấy việc làm của tôi là sai trái với pháp luật thì các ông cứ việc đọc lệnh mà bắt giam chứ các ông đừng cậy chức cậy quyền mà ăn nói hàm hồ như vậy…”.
Tiếp đó Lê Ngọc Ly lệnh cho Nguyễn Sỹ Dũng lập biên bản và bảo tôi ký vào tất cả các biên bản và bài viết của Dương Văn Nam nhưng tôi không ký cót gì hết với họ.
Sau đó họ đưa tôi lên xe cảnh sát chở về đồn công an huyện Sóc Sơn thuộc khu vực thị trấn Phù Lỗ. Tại đây thượng uý Nguyễn Sỹ Dũng lại tiếp tục lập biên bản hỏi cung tôi nhưng tôi kiên quyết không làm việc.
Tôi nói : Nếu các ông đọc lệnh bắt giữ thì tôi sẵn sàng làm việc còn các ông bắt giữ người trái phép thì tôi nhất định không làm việc.
Thượng uý Dũng nói: Đây là việc chúng tôi mời anh về đây để làm việc chứ không phải là bắt giữ.
Tôi trả lời : Chính vì là “mời” cho nên tôi có quyền từ chối làm việc. Tôi chỉ có trách nhiệm làm việc khi bắt giữ một cách hợp pháp.
Do đó họ không ép được tôi làm việc thế là họ sử dụng chiêu không cho tôi ăn uống gì nếu như không làm việc xong.
Tôi hỏi: Bây giờ đã là 11 h 30 rồi sao các ông chưa cho được nghỉ để đi tôi ăn trưa ?
Ngô Sỹ Dũng trả lời : Không ăn uống gì cả, lúc nào làm việc xong thì mới được ăn. Anh cứ làm việc xong lúc nào thì tôi sẽ thả anh về lúc đó.
Tôi nói : Công an không cho tôi ăn thì lấy tiền của tôi đây đi mua cơm trưa giùm tôi v ì bây giờ đến bữa trưa rồi. Các anh nói là mời tôi vào làm việc chứ không phải bị bắt giữ nên tôi vẫn còn đầy đủ các quyền công dân .
Nguyễn Sỹ Dũng trả lời : Không có mua với bán gì hết. Không ăn uống gì hết, Anh cứ ngồi yên đấy. Không hợp tác làm việc thì đừng có nghĩ gì đến ăn mới chả uống hiểu chưa ?!
Tôi nói: Thế thì tôi cũng cương quyết không làm việc. Tôi biết thừa các anh dùng thủ đoạn bắt tôi nhịn đói nhịn khát để ép cung tôi chứ gì !
Thế là từ đó tôi cũng không thèm kêu ca gì nữa và tìm cách tranh thủ ngủ trưa lấy lại sức để dành cho cuộc đấu tranh cân não còn lâu dài với cánh công an này rất lắm mưu ma chước quỷ.
Đến khoảng 17 h 30 cùng ngày thì tôi thấy có hai cán bộ của phòng điều tra xét hỏi sở công an Hà Nội đơn vị PA -24 bên thành phố Hà Nội đến và vào phòng bên cạnh bàn bạc việc gì thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ “Có lẽ lần này thì họ đọc lệnh bắt giam mình đây…”.
Sau một hồi bàn bạc thì hai công an của thành phố kia sang phòng tôi đang bị tạm giữ và giới thiệu : “Chào anh Tùng, tôi là Nguyễn Văn Xuyền – công an PA-24 thành phố Hà Nội, còn người kia là Kiều tức “Tuấn Anh nhỏ”. Đây chính là kẻ mà đã từng đe doạ là ném tôi xuống sông Hồng ở đoạn cầu Chương Dương ngày 15/5/2008 vừa qua khi tôi bị bắt giữ vừa rời nhà anh Nguyễn Khắc Toàn ra.
Một lúc sau thì Lê Ngọc Ly bảo Nguyễn Sơn Tùng đưa tôi sang một phòng khác. Tôi nghĩ có lẽ họ chờ cho tối rồi đưa tôi về nhà để đọc lệnh bắt giữ và khám xét vào đêm nay như những trường hợp của anh chị em dân chủ và một số dân oan trong chiến dịch đàn áp từ ngày 11/9/2008 vừa rồi. Thế nhưng sau đó 2 công an TP Hà Nội về lúc nào tôi cũng không hay.
Đêm đó có thượng uý Hoàng Văn Thìn và thiếu uý Nguyễn Sơn Tùng công an huyện Sóc Sơn cùng tôi ngủ ở ghế dài của phòng trực ban đồn công an thị trấn Phù Lỗ ngay ven đường quốc lộ.
8 h 00 sáng ngày 7/11/2008 thì Lê Ngọc Ly sai cấp dưới mua cho tôi một ổ bánh mì để ăn lót dạ. Ăn xong thì cũng chẳng có làm gì và cũng không cho tôi về nhà. Đến 11h30 thì họ cho tôi ăn cơm xong rồi đi nghỉ trưa, chiều đến cũng không làm gì. Tôi đoán là họ đang chờ đợi lệnh của cơ quan an ninh bên sở công an TP Hà Nội, còn họ thì chỉ có nhiệm vụ canh giữ tôi thôi ngoài ra không có trách nhiệm gi hết.
Tôi hỏi Lê Ngọc Ly : Thế các ông bắt giữ tôi vào đây mà không làm gì thì các anh phải thả cho tôi về chứ sao anh cứ giam tôi mãi ở đây thế này để làm gì ? Các anh nói mời tôi vào đây làm việc, nghe thì có vẻ lịch sự nhưng thật ra đã bắt giữ tôi hơn 1 ngày rồi còn gì nữa.
Lê Ngọc Ly trả lời : Anh cứ từ từ, anh cứ ngồi đấy chờ đợi rồi sẽ được giải quyết có lý có tình và rất đúng pháp luật.
Tối hôm ấy Lê Ngọc Ly nằm ghế dài ngủ với tôi ở phòng trực ban với tôi. Khoảng 10 h 00 trưa thì Lê Ngọc Ly đưa ông Nguyệt - chủ tịch huyện Sóc Sơn, nguyên trước đây tay này là trưởng công an huyện Sóc Sơn đến giới thiệu với tôi : “Đây là anh Nguyệt - Chủ tịch huyện Sóc Sơn…”.
- Chào anh, cám ơn chủ tịch đã đến thăm tôi. Tôi chào hỏi lại như vậy.
Tôi nghe rõ thấy tay chủ tịch huyện này lên tiếng : Huyện ta là huyện anh hùng, tại sao lại sinh ra đứa con lạc loài như anh nhỉ ? Chủ tịch Nguyệt nói.
- Ở Việt Nam thì huỵện nào chẳng là huyện anh hùng ? Mà đã là huyện anh hùng thì phải đẻ ra những người con anh hùng chứ chủ tịch. Tôi cũng nói để chủ tịch biết, dòng họ nhà tôi biết được đến 7 đời. Còn từ đơì thứ 8 trở về trước thì dòng tộc nhà tôi bị mất gia phả thì không biết thế nào, chứ còn 7 đời nhà tôi thì có 6 đời là nhà Nho. Có 2 cụ của tôi làm tướng trong triều đại đời hậu Nguyễn. Dòng họ nhà tôi chỉ còn hy vọng ở tôi liệu có làm nên lịch sử vẻ vang cho lịch sử của dòng tộc hay không ? Tôi mong chủ tịch đừng nên nhìn tôi bằng nửa con mắt như vậy. Tôi đã nói thẳng trước mặt tay “tri huyện cộng sản” có tên là Nguyệt như vậy đấy.
Đáp lại tay “tri huyện cộng sản” này cũng nói cứng rắn luôn với tôi có cả mấy an ninh vây xung quanh :
- Anh mà là em trai của tao thì tôi đập chết từ lâu rồi – tay chủ tịch huyện Nguyệt nói.
- Thế cho nên chúng tôi mới gọi các anh là độc tài, độc đoán, chuyên chế, phong kiến đời mới….Chứ tôi mà là em của anh mà anh không đánh chết, thì ngược lại anh lại tôn trọng ý tưởng của em anh thì anh lại là người dân chủ mất rồi. Tôi nói.
Sau câu đốp chát thẳng thắn như vậy của tôi thế là chủ tịch huyện có tên Nguyệt không nói gì nữa và lặng lặng đi ra ngoài. Đến đây thì tôi đoán được ông ta không dám ở lại đấu khẩu với tôi nữa nếu không muốn mình bị hớ và dại mặt với tôi - một anh chàng dân đen, thấp cổ bé miệng chẳng chức quyền gì !
Đến trưa ngày 8/11/2008, ăn cơm xong Lê Ngọc Ly có dặn Nguyễn Sĩ Dũng là:
“Nếu 3 giờ chiều mà không thấy anh xuống thì cho Tùng về nhà để ăn cưới anh vợ Tùng nhé ” !
Tôi và Dũng ngủ trưa đến 13 h 30 thì Lê Ngọc Ly đến bào tôi là đi ra về. Tôi ra tới cửa thì thấy ô tô đậu sẵn trước cửa rồi và đầy đủ các loại công an xóm, thôn, xã, huyện rồi cả công an PA - 24 của thành phố Hà Nội nữa. Tôi đếm sơ bộ được hơn 20 người và lúc này thì tôi đã hiểu điều gì sẽ xảy ra đến với mình. Tôi cũng nghĩ luôn phải nói rằng, khi đã rơi vào tay họ thì không được phép tin bất cứ gì từ miệng họ phát ra. Phải nhớ rằng họ thấm nhuần sâu sắc ông tổ ngành công an cộng sản Việt Nam chính là ông Hồ Chí Minh đã căn dặn họ : “Đối với chính phủ thì tuyệt đối trung thành…Đối với địch phải cương quyết khôn khéo…”. Cho nên xung quanh cuộc sống trong nước hiện nay đầy rẫy các mưu gian kế xảo lọc lừa là vậy. Thật khủng khiếp quá và luôn luôn nhớ không được tin bất cứ điều gì họ phát ngôn trước mặt mình mà phải coi đó tất cả đều là cạm bẫy rất nguy hiểm ! Lời dặn của Lê Ngọc Ly trước mặt tôi với Nguyễn Sĩ Dũng như trên là một ví dụ rất điển hình đó thôi.
Họ đưa tôi ra xe và đưa về nhà và bắt tôi mở cửa nhà ra. Tôi nói đã với họ : “Các ông phải đợi vợ tôi về tôi mới mở cửa được. Các ông muốn đọc lệnh bắt và khám xét nhà tôi thì cũng phải chờ vợ tôi về đã vì vợ tôi cầm chìa khóa và việc này cần phải có người nhà tôi làm chứng mới đúng các thủ tục pháp lý ! ”
Vợ tôi đang nấu cỗ cưới cậu em ở ông chú ở sát nhà thấy thế thì chạy hớt haỉ về nhà. Tôi mở cửa ra và hàng chục công an tràn vào nhà, sau đó họ đọc lệnh bắt giữ khẩn cấp đối với tôi và đọc lệnh khám xét nhà tôi. Họ quy tội tôi đã phạm vào điều 88 bộ luật hình sự nước CHXHCNVN : “Tội tôi đã làm ra tài liệu để tuyên truyền chống phá Nhà nước CHXHCN VN…”
Họ thu giữ hết tài liệu viết tay cho đến những bài tôi lấy ở trên mạng xuống, rồi tất cả những đơn thư khiếu kiện của các dân oan. Thậm chí cả đĩa hát VCD và băng cát sét học tiếng Anh cùng ảnh thẻ của tôi và vợ tôi cũng bị thu hết tuốt tuồn tuột. Họ còn định thu cả giấy đăng ký kết hôn của vợ chồng tôi và giấy khai sinh của các con tôi nữa thế mới kỳ cục làm sao. Sau tôi nói mãi họ mới trả lại các thứ đó cho vợ tôi. Toán công an khám xét nhà còn thu giữ tất cả ảnh gia đình tôi chụp kỷ niệm cùng cả nhà và họ tộc, họ còn thu giữ cả tấm thẻ ngày trước tôi làm việc trong cơ quan nữa thế mới kỳ cục chứ !
Cuộc khám xét diễn ra khoảng hơn 1,5 giờ đồng hồ thì kết thúc. Tôi dặn lại vợ tôi rằng trước khi lên xe của họ để vào nhà tù :
“Những năm 1978 – 1979 anh phải ăn củ chuối và cháo cám heo mà còn chưa chết thì bây giờ không thể chết được đâu em. Tuy nhiên no' khổ hơn lúc anh ở ngoài x ã hội, song anh chịu đựng được mà. Em khỏi phải lo cho anh, em hãy lo cho con ăn học giỏi và ngoan là được rồi. Em không được buồn, em phải tự hào về chồng mình đã bị công an của đảng và nhà nước bắt giam phải đi tù là vì dân vì nước, chứ có phải anh ăn cắp, giết người cướp của hay là bán nước mà phải đi tù đâu mà em buồn… !!!”.
Vợ tôi cũng nói trước rất đông số công an đã thực hiện lệnh khám nhà và bắt giam tôi rằng : “Anh cứ yên tâm mà thụ án tù cho hết hạn anh không phải lo cho ba mẹ con em đâu. Em tin là anh chị em dân chủ trong nước cũng như anh chị em ở hải ngoại không bao giờ bỏ rơi anh và ba mẹ em con bơ vơ, dứt khoát là như thế …!!!”.
Tội nghiệp cho các con tôi, chúng nó ngây thơ quá. Trong lúc hàng chục công an, mật vụ đang khám xét và lập biên bản không khi căng thẳng ngột ngạt bao trùm cả gian nhà chật hẹp của gia đình tôi, thì con gái tôi cứ đòi đi sang dám cưới cậu nó rất vô tư như chẳng có chuyện gì xảy ra sất. Trước tình hình đó, tôi đành nói với các con tôi :
“ Ở nhà với bố ít phút nữa thôi, bố đã bị công an bắt đi tù rồi, ít cũng phải vài năm nữa bố con mình mới được gặp nhau đấy con à”… Thế nhưng con tôi nó vẫn cứ đòi đi sang nhà cậu nó để dự đám cưới. Bởi vì nó đã quá quen thuộc với cảnh công an mật vụ bắt giữ và canh gác ở nhà của bố nó quá nhiều lần rồi lại thả ra như hơn 11 lần bắt giữ tôi kể từ khi tôi tham gia công khai tên tuổi đấu tranh trong Phong trào dân chủ Việt Nam và Khối 8406 từ năm ngoái đến nay còn lần này nó cũng nghĩ sẽ như vậy.
Khi toán công an thực hiện lệnh bắt giam và khám xét nhà tôi, họ còng tay tôi dẫn ra xe, tôi đã giơ cao hai tay bị còng số 8 lên vẫy chào tạm biệt bà con lối xóm và hẹn gặp lại sau 2-3 năm nữa sẽ trở về với thái độ đàng hoàng không chút run sợ.
Lên xe ra tới đồn công an Phù Lỗ thì họ tháo còng tay cho tôi và đưa tôi thẳng về trại giam Hoả Lò ở Cầu Diễn, huyện Từ Liêm, ngoại vi Hà Nội vào lúc này khoảng 16 h 30 ngày 08/11/2008. Tại đây trung tá Nguyễn Văn Xuyền lập biên bản và hỏi cung tôi và làm mọi thủ tục nhập trại cho đến 17 h 00 thì kết thúc và đưa tôi vào trại giam với lệnh tạm giữ 3 ngày.
Tôi hỏi lại viên trung tá an ninh : Thế tại sao công an các anh không tạm giam 3 tháng mà chỉ có tạm giữ có 3 ngày thôi à ?
Tôi liền nghe thấy một thượng tá (tôi không nhớ tên) trả lời : Nghe tội trạng thì nó ghê gớm thế nhưng nếu tốt thì ra ngay thôi mà…
Tôi hiểu được hàm ý tốt ở đây có nghĩa là cơ quan an ninh của sở công an Hà Nội mong tôi nhận tội và đầu hàng thì họ thả ngay nhưng tôi chẳng thà đi tù mấy năm chứ cương quyết dứt khoát không nhận tội và dứt khoát không đầu hàng. Tôi nghĩ đã có bao tấm gương tranh đấu của phái nữ như Lê Thị Công Nhân, Hồ Thị Bích Khương, Phạm Thanh Nghiên…oanh liệt như thế thì tại sao tôi là đàn ông lại thua kém các nữ anh thư này được ! Đ ảng, nhà nước và công an đừng bao giờ hy vọng được ở tôi sự đầu hàng và khiếp sợ như những kẻ khác.
Vào tới buồng tạm giữ số 12A do cán bộ thượng uý Lê Văn Kỳ phụ trách người quản giáo này nói : “Anh đã bị tạm giữ vào đây tội trạng của anh thế nào thì là do cơ quan bắt giữ và điều tra giải quyết. Còn chúng tôi không có quyền hạn định tội hay giải quyết xử lý gì cả. Chúng tôi chỉ có nhiệm vụ trông giữ anh. Mong anh hãy thực hiện tốt nội quy của trại c ó thế thôi”.
- Vâng anh yên tâm tôi là người có văn hóa, biết phép lịch sự nên tất nhiên tôi sẽ chấp hành nội quy của trại thôi. Tôi đáp.
Vào được một lát thì được thượng uý Lê Văn Kỳ mở khoá cửa và gọi tôi ra gặp thượng tá Tiến cán bộ giám thị trại giam.
- Anh tên là gì ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Tôi tên Lê Thanh Tùng. Tôi đáp.
- Phải nói là báo cáo cán bộ. Viên thượng tá Tiến nói.
- Số giam của anh bao nhiêu ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Báo cáo cán bộ số giam của tôi 5109Z. Tôi đáp.
- Anh quê ở đâu ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Báo cáo cán bộ tôi quê ở xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Tôi hiện trú quán tại khối 13, thị trấn Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tôi đáp như vậy với viên sĩ quan cán bộ giám thị trại Hỏa Lò, một trại tù khét tiếng chỉ mới nghe đã rợn tóc gáy rồi.
- Anh bị tội gì ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Báo cáo cán bộ, tôi là nhà bất đồng chính kiến. Tôi tham gia đấu tranh đòi tự do dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam trong đó có cán bộ. Nếu đất nước được dân chủ tự do và giàu có thì lương của cán bộ cũng được tăng lên, còn nếu đất nước mà nghèo nàn lạc hậu thì ngược lại. Nhưng họ lại gán cho tôi cái tội tuyên truyền chống phá nhà nước CH XHCNVN theo điều 88 bộ luật hình sự (BLHS). Tôi biết trong ngành tư pháp những công an gác trại tù là những người thiệt thòi nhất. Bởi từ trách nhiệm thì nhiều, chính sách hậu đãi thì có, nhưng lương bổng chẳng được bao nhiêu. Tôi đã đáp lại thượng tá Tiến như vậy.
- Anh có hút thuốc không ? Thượng tá Tiến hỏi tôi.
- Vâng có, cám ơn cán bộ cho tôi một điếu. Tôi đáp
- Thôi được tội trạng hay không thì để cơ quan điều tra và toà án xét còn anh đã vào đây thì phải chấp hành nội quy của trại giam. Chúng tôi mong anh thực hiện cho tốt, nếu có gì khó khăn thì cứ đề nghị chúng tôi giúp đỡ. Thượng tá Tiến nói.
Sau đó cán bộ giám thị Tiến bảo tôi vào trong phòng tạm giữ nghỉ và ông ta còn bồi thêm cho một điếu thuốc nữa để dự trữ hút trong buồng giam.
Đêm vô tù đầu tiên không mấy gì ngủ được bởi vì tôi không quen ngủ để đèn sáng chứ còn nếu mà không có bật điện thì tôi vẫn ngủ vô tư không có gì phải suy nghĩ cả. Thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp cán bộ họ lén trộm nhìn theo dõi tôi rất kín đáo để xem thái độ của tôi như thế nào.
Đến sáng hôm sau ngày 09/11/2008 tôi dậy lúc khoảng 7h nhưng vẫn chưa thấy cán bộ mở cửa. Tôi tự an ủi mình là phải cố gắng giữ sức khoẻ để còn chiến đấu lâu dài với môi trường tù đầy ác liệt. Tôi chạy thể dục vòng quanh phòng rộng khoảng 60 mét vuông mà chỉ có một mình tôi nên tha hồ chạy.
Khoảng 8 h 00 thì có 1 cán bộ mở cửa phòng nên tôi hỏi cán bộ trại :
- Thế không có cơm sáng hay sao cán bộ. Tôi hỏi anh ta.
- Ở đây chỉ có ngày hai bữa cơm chứ không có cơm sáng. Anh đói lắm phải không ? Cán bộ trại nói và hỏi lại tôi như thế.
- Đói chứ, từ trưa hôm qua tới giờ tôi có được ăn gì đâu. Tôi đáp.
Lần đầu tiên vào trại tù giam tôi đâu có biết luật lệ thế nào. Hồi tháng 7/2000 tôi bị giam giữ ở đồn biên phòng Mộc Bài và sở chỉ huy biên phòng tỉnh đội Tây Ninh cả tháng 14 ngày liền. Khi đó tôi được ăn cơm thịt cá ngày 3 bữa và có sách báo để đọc đầy đủ, đồng thời thỉnh thoảng được ra ngoài làm ở xung quanh sở chỉ huy của đơn vị quân đội này.
Một hồi sau thì cán bộ Lê Văn Kỳ xin được một gói lương khô của một tù nhân và đưa cho tôi ăn cho đỡ đói.
Thế rồi đến 9 h 30’ thì có cơm. Xuất cơm của tù thì rất nhiều, thức ăn chỉ có duy nhất món bí xanh hoặc bí đỏ luộc cũng lắm, nhưng có điều bí xanh sắt với miếng to bằng bàn tay. Tôi nghĩ có lẽ món “đặc sản” trong nhà tù CSVN này họ chỉ trần qua nước sôi cho nên cứng lắm như cục đá, nếu cắn thì gẫy răng hoặc sẽ ít nhất là răng phải bị mẻ và nếu dùng để ném gà, vịt, chim chóc thì chắc chắn chúng sẽ bị chết hoặc bị thương rất nặng… Tôi nhìn kỹ chẳng thấy muối mắm gì cả cho nên rất khó nuốt, có nghĩa là họ cho tù nhân ăn nhạt chăng ? Cán bộ Kỳ thấy thế và đi xin cho tôi được một gói muối bột canh để dùng làm nước mắm chấm món bí xanh cứng như đá kia ăn cho xong bữa cơm tù đầu tiên.
Ăn xong tôi đi ngủ ngay vì là đã mấy đêm liền mất ngủ sức khỏe rất kém, nhưng tinh thần thì rất tốt không chút sờn lòng vì tôi tin công cuộc đấu tranh mình đã lựa chọn là đúng đắn và chính nghĩa. Tôi ngủ đến 13 h 30 thì cán bộ quản giáo mở cửa kêu tôi dậy mang các đồ đựng như bát, ca nhựa ra để lấy cơm + nước uống vì ở trại giam Hỏa Lò thì cứ đến 15h thì đã cho tù ăn cơm chiều. Mà ăn cơm trong tù với muối lại không có nước canh quả là khó nuốt. Khi tôi ăn cơm thì cán bộ cũng thường trộm lén theo dõi xem thái độ của tôi như thế nào.
Theo quy định của trại thì không được đem cơm và thức ăn vào trong phòng giam. Tôi nghĩ ngày đầu chưa thích nghỉ cho nên không ăn được là bao. Mà bây giờ mới có 15h mà đổ cơm đi thì bao giờ cho đến 9 h 30 sáng ngày mai mới có cơm ăn. Thế là tôi nghĩ phải giấu cơm thừa ăn không hết và để sát song cửa sắt để 9 h tối đói còn có mà ăn, đã vào đây rồi thì không ai thương ta bằng ta thương mình.
Đêm đến, đói cồn cào ruột gan tôi lại thò tay bốc cơm nguội cố nuốt để lấy sức. Tôi thấy tuy là cuộc sống trong chốn lao tù đọa đầy có gian khổ thật, nhưng tôi nghĩ ngày xưa khi mình đã là học viên của Trường sỹ quan chỉ huy kỹ thuật công binh c ủa QĐNDVN, khi ấy cơm rau còn không dủ ăn mà còn chẳng buồn nữa là. Còn bây giờ cơm ăn chẳng hết thì không có lý do gì phải buồn phiền cả.
Sáng hôm sau mồng 10/11/2008 tôi dậy sớm thể dục thể thao và giặt rũ quần áo xong xuôi thì tôi ngồi ca môt bản nhạc bằng tiếng Anh vang lên khắp mấy phòng liền. Bài hát này có tựa đề “My heart Will go on” tạm dịch là “ Trái tim hồi sinh” khi nghe được tôi hát vang lên như vậy thì cán bộ đến mở cửa và hỏi tôi : “Anh đã vào tù rồi, anh còn vui lắm sao mà vẫn còn ca hát thế hả ? ”.
Tôi đáp: Ai mà thích ngồi tù đâu, nhưng buồn thì có giúp được gì cho ta chứ ? Thất bại lớn nhất của con nguoi là đánh mất niềm tin và hy vọng. Nói như những người theo Chúa là không có đức tin. Tôi phải hát để xua tan nỗi buồn lo cán bộ à.
Thề rồi bữa cơm 9 h sáng lại đến, hôm nay thứ hai thì có thêm được một ít nước mắm. Lúc này nước mắm tuy nó cũng chẳng có chất lượng gì đâu nhưng rất quý, ăn không hết nên tôi để dành đến ba ngày sau đó chút ít nước mắm chất lượng dù chẳng ra gì. Ăn xong tôi lại ngủ đến chiều, dậy ăn cơm chiều rồi cũng chẳng hiểu tại sao chẳng thấy đi hỏi cung gì cả.
Thỉnh thoảng lại thấy cán bộ đến bên cửa buồng giam để hỏi thăm là tôi đã nhận được quà của gia đình chưa và có vấn đề gì cần đề nghị không ? Tôi trả lời là có lẽ gia đình tôi chưa biết tôi bị giam giữ ở đây cho nên chưa thể gửi quà được ngay cho tôi. Nhưng thực ra thì tôi biết gia đình tôi rất khó khăn, cộng với mới đầu tháng vợ tôi phải lo đóng tiền học cho hai cháu được ưu tiên hàng đầu. Rồi thì nào là tiền điện, tiền thuế má. tiền đóng hụi, tiền lãi xuất ngân hàng vv và.. .v.v.. cho nên chưa thể có tiền để đi thăm nuôi tôi được. Còn tôi có đề nghị cán bộ cho tôi một ít sách báo tiếng Anh cũ để tôi đọc nhằm nâng cao trình độ tiếng Anh ngữ của tôi nhưng bị cán bộ từ chối và nói: “Chúng tôi làm gì biết tiếng Anh, hơn nữa báo tiếng Việt còn chẳng có để mà đọc huóng hồ là tiếng Anh ”.
Hôm công an đọc lệnh khám nhà, vợ tôi chỉ vẻn vẹn có ba trăm ngàn đồng trong nhà và một công an hỏi vợ tôi “Chị có cần tiền thôi à. Nó viết nhiều bài như thế, hoạt động chống đối đảng và nhà nước mạnh như thế mà bọn phản động lưu vong hải ngoại không gửi tiền về cho sao ? ”.
Vợ tôi trả lời: “Thế các anh tưởng chồng tôi hoạt động dân chủ, yêu nước thương dân thì nhiều tiền lắm hay sao ? Các anh cũng thừa biết chỉ có bọn có chức quyền thì mới có điều kiện ăn cắp, ăn cướp, tham nhũng được nhiều tiền bạc của dân của nước chứ làm dân đen như chúng tôi lấy đâu ra những thứ đó. Các anh chẳng hiểu gì cả, buồn cho mấy anh quá đi mất !!!”.
Có những cán bộ trại giam Hỏa Lò này, họ hiểu rằng tôi là người đấu tranh đòi lại quyền tự quýêt của dân tộc và đòi sự công bằng, bình đẳng cho xã hội cho nên họ đối xử tỏ ra chu đáo ân cần và có vẻ rất tốt. Vì họ biết rằng nếu tôi được ra tù dù sớm hay muộn sẽ là cái loa tuyên truyền tốt nhất cho họ. Điều đó hoàn toàn trái ngược với trước đây, khi tôi bị liên tục an ninh mật vụ bắt giữ, đánh đập tàn bạo 11 lần trong vòng hơn 1 năm trời, bị tịch thu 11 điện thoại, 5 USB, hơn 1 triệu đồng, bị đánh gãy 1 răng hàm và còn bị dọa giết bằng cách ném xuống sông Hồng trên đoạn cầu Chương Dương….!!!
Sáng thứ 3 ngày 11/11/2008 vẫn như thường lệ tôi dậy sớm tập thể dục và làm vệ sinh xong xuôi đâu đấy thì cán bộ trại mở cửa cho tôi lấy phần cơm nước của mỗi tù nhân. Thế nhưng chưa kịp ăn thì phải đi cung, trong lúc ngồi xếp hàng chờ đợi đọc tên thì tôi cũng tranh thủ hỏi thăm và giải thích cho những bạn tù hiểu biết thế nào là dân chủ, nhân quyền và thế nào là quyền tự quyết của dân tộc. Được nhiều người yêu thích và xin địa chỉ của tôi và hứa hẹn đến ngày ra tù họ sẽ đến nhà tôi và xin được tham gia phong trào đấu tranh đòi nhân quyền, tự do dân chủ cho đất nước.
Hôm đó tôi được trung tá điều tra viên PA- 24 của sở công an TP Hà Nội trích xuất khỏi trại giam Hỏa Lò để xin được đưa về trụ sở 87 phố Trần Hưng Đạo. Chính nơi đây là trụ sở của công an TP Hà Nội, sở dĩ họ phải làm như vậy là để tôi chứng kiến việc mở niêm phong các thùng tài liệu khi họ khám xét nhà tôi chiều hôm mồng 8/11/2008.
Trong buổi làm việc tiến hành thủ tục mở niêm phong 2 thùng tài liệu của tôi gồm ngoài có tôi còn có một phụ nữ là chị Võ Hồng Vân đại diện cho viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội cô này mặc quần áo xanh thẫm quân phục của viện như dân chúng Hà Nội vẫn gặp tại các phiên tòa hoặc trong các cơ quan của ngành kiểm sát. Tất nhiên không thể thiếu sự có mặt của trung tá điều tra viên Nguyễn Văn Xuyền và thượng tá điều tra viên mà tôi quên mất tên ông ta.
Khi mở niêm phong các thùng tài liệu của tôi thì họ thấy chủ yếu là các tập đơn khiếu kiện của dân oan họ gửi nhờ tôi xem và viết giúp đơn kêu oan cho họ + 4 cuốn băng cát sét học tiếng Anh cùng 4 địa VCD ca nhạc và 1 USB của tôi đã bị hư.
Cánh an ninh và các lãnh đạo của phòng PA – 24, họ kêu mấy nữ chuyên gia Anh ngữ đến kiểm tra thì tôi cũng nói ngay với các chuyên gia Anh ngữ rằng : “Việc nghe tiếng Anh không phải đơn giản. Trên thế giới hiện nay có 206 nước nhưng có đến 26 ngàn giọng nói tiếng Anh khác nhau. Tôi đã từng chứng kiến người Anh với người Mỹ nói chuyện với nhau còn khối từ không hiểu nhau chứ nói gì đến người Việt Nam ta…”. Thế là mấy cô chuyên gia Anh ngữ tuổi còn khá trẻ vội vàng nói: “Không, không, chúng cháu không phải là chuyên gia gì đâu…”
Các cô chuyên gia nghe xong và kết luận : “Đây là những băng cát sét học tiếng Anh chứ không có nội dung gì đâu”. Còn 4 đĩa VCD của tôi họ kiểm tra thì thấy cũng chỉ có nội dung ca nhạc bình thường thôi. Thế là họ bảo tôi là lấy bút xoá để ghi tên tôi vào băng đĩa để trả lại cho tôi nhưng trung tá Xuyền nói : “Không được phải lấy bút phớt, mực không xoá được để cho ông ấy ký và ghi rõ họ tên vào, chứ ông này giỏi cãi lắm ! ”.
Họ bảo tôi ký vào tất cả các tài liệu kể cả của tôi viết và các tập đơn từ khiếu kiện của dân oan các tỉnh. Đến 11 h 30 trưa thì họ mua cơm hộp mang vào phòng cùng ăn trưa với tôi. Ăn xong tôi và họ làm việc thông tầm cho đến 18 h 00 mới ký xong việc mở niêm phong các thùng tài liệu đã khám xét thu giữ tại nhà tôi. Sau đó họ đưa tôi về bàn giao lại cho trại giam Hoả Lò lúc đó là đúng 20 h 00 tối, kết thúc 1 ngày mệt nhọc bị tra vấn căng thẳng với công an tôi mới được về tới phòng tạm giữ để nghỉ ngơi. Đêm hôm đó tôi ngủ rất ngon lành từ hôm bị bắt giữ vào tù, bởi vì làm việc suốt cả ngày liên tục quá mệt mỏi.
Cùng ngày 17 h 30 ngày 11/11/2008 cơ quan an ninh điều tra PA - 24 TP Hà Nội ra hạn tạm giữ 3 ngày, còn lần thứ nhất lệnh tạm giữ được viện kiểm sát TP Hà Nội ký phê chuẩn. Cả ngày 12/11/2008 không phải đi cung và cũng không thấy động tĩnh gì. Đến bữa cơm một trung tá cán bộ của trại thấy tôi mấy ngày toàn ăn muối mắm và gia đình chưa kịp gửi quà thăm nuôi mà tôi cũng không hề ca thán một câu. Trước thái độ hết sức bình thường của tôi có lẽ người cán bộ đó cũng phải rung động con tim cho nên đã xin ba gói lạc rang, mỗi gói khoảng 100 gam và sai bảo một tù nhân tự giác cầm đưa cho tôi. Trước hành động đó, tôi đã gửi lời cảm ơn tới cán bộ đó về tình người mà ông ta đã dành cho. Tôi cứ nghĩ tại sao tất cả số an ninh mật vụ của sở công an TP Hà Nội trong hơn 1 năm qua đã bắt giam giữ và đánh đập tôi nhiều lần rất vô nhân đạo không học tập một số quản giáo cai tù trong trại Hỏa Lò trông nom các chính trị phạm như thế nhỉ, được như vậy thì tốt biết bao ?!
Mỗi bữa tôi chỉ dám ăn 1/3 gói lạc do người quản giáo tốt bụng kia xin cho, bởi vì cuộc chiến này còn phải kéo dài chứ không phải ngày một, ngày hai tôi đã xác định là như vậy.
Đến bữa sáng 13/11/2008 thì cậu tù nhân tự giác này lại đưa cho tôi hai gói lạc nữa và nói với tôi : “Anh cứ ăn thoả mái đi, hết em lại xin cho. Chứ ăn uống thiếu chất thế này mà chỉ có tí lạc mà anh cũng không dám ăn thì không thể đủ sức để chống chọi trong tù lâu dài được anh ạ ”. Tôi rất cảm động trước những tấm lòng nhân hậu của cán bộ trại và người bạn tù và ghi nhận những tấm lòng tỏ ra nhân ái, tình người của họ trong những ngày tôi bị bỏ tù.
Chiều hôm đó tôi phải đi cung. Tôi thấy một cán bộ trại cấp bậc đại uý tôi không biết tên, dẫn chúng tôi đi cung. Một cậu tù nhân hình sự chỉ có hỏi chuyện một tù nhân ở trong phòng tạm giam thôi mà bị cán bộ ấy chửi rủa thậm tệ và suýt nữa thì bị ăn đòn. Thế mới biết họ đối xử tử tế với mình là để mình khỏi phê phán về sự đối xử của họ với các tù chính trị của chế độ.
Cũng như lần trước trong lúc chờ đợi tôi lại tranh thủ tuyên truyền dân chủ, nhân quyền cho các tù nhân. Có lẽ họ đã phát hiện lần trước về sự tuyên truyền này cho nên gọi tên tôi vào làm việc đầu tiên để khỏi tuyên truyền dân chủ cho các tù nhân hình sự, vì thế làm cho anh em tù nhân phân bì và nói rằng tù nhân chính trị có khác nên được ưu tiên trước.
Hôm đó tôi lại tiếp tục làm việc với trung tá Nguyễn Văn Xuyền, cán bộ điều tra PA-24 công an TP Hà Nội với nội dung xung quanh chủ đề bài viết của tôi mà hôm 11/11/2008 ký ra giấy viết tay, hôm nay thì ký vào bản đánh máy.
Sau đó một trung tá tôi không biết tên đã đến hỏi tôi là : “ Cô dân oan Lê Thị Kim Thu làm việc với tôi ở phòng bên, Kim Thu biết tin anh cũng bị bắt giam vào tù nên muốn được gặp Lê Thanh Tùng anh có muốn cho gặp không ? ”
Tôi đáp : “Chuyện đó được thôi, có gì đâu mà ngại ”. Thế là tay trung tá đó xin phép trung tá Xuyền cho Kim Thu gặp tôi.
Trung tá khi trở về phòng để dẫn Kim Thu sang còn nói thêm một câu “Anh Tùng đánh Kim Thu dã man quá, bài viết đó anh viết, tôi công nhận là ác liệt, mạnh mẽ !!!”.
Tôi trả lời : “ Các anh chưa biết đấy thôi tại vì cô đánh tôi trước. Cô ta đã lén lút chụp ảnh tôi rồi đưa lên mạng nói vu cáo xuyên tạc xấu tôi cho nên tôi mới đánh chứ không thì tôi đâu có đánh phụ nữ làm gì….Hôm đó tôi vào các nhà trọ trong ngõ Ngọc Hà để lên danh sách cứu trợ gửi cho Hoà thượng Thích Không Tánh và chị Bảo Khánh để các vị ấy giúp đỡ dân oan trực tiếp và do các vị ấy nhờ giúp đỡ. Chứ tôi đâu có tự đi làm việc ấy vì còn rất nhiều việc bận rộn hơn mà nhà thì xa xôi, nhưng cô ta hiểu lầm do tôi làm mất mối làm ăn nên bịa đặt vu cáo như vậy thôi ”.
Ít phút sau trung tá ấy dẫn Kim Thu đến gặp tôi thấy cô ta xanh yếu do thiếu nắng và lo nghĩ nhiều có vẻ dè dặt rồi cất tiếng hỏi chào tôi : “Chào anh, anh có được khoẻ không ?”.
Tôi trả lời : Chào cô, cám ơn tôi vẫn khoẻ. Còn cô sức khỏe thế nào ?
Kim Thu trả lời : Em cũng bình thường. Em bị bắt ba tháng nay rồi. Anh có hay không?
Tôi trả lời: Sao lại không, tôi ở ngoài bị bắt sau nên biết hết, thế còn cô có hay anh chị em dân chủ ở ngoài miền Bắc bị bắt nhiều lắm không ?
Kim Thu hỏi: Ai hả anh ?
Tôi nói: Ở Hải Phòng có Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa và Nguyễn Văn Tính. Tỉnh Bắc Giang có Ngô Quỳnh và dân oan Nguyễn Kim Nhàn. Ở Thái Bình có sinh viên Bùi Văn Toản và dân oan Nguyễn Văn Túc. Ở Hà Tây có thầy giáo Vũ Hùng và Phạm Văn Trội. Ở Nghệ An có nhà thơ Trần Đức Thạch, Long An có dân oan Nguyễn Thị Cẩm Hồng…Tất cả những người này đều bị bắt vào tù từ ngày 11/9/2008, riêng có sinh viên Bùi Văn Toản là mới được tạm tha thôi. Còn tôi thì mới bị bắt ngày 9/11 (sở dĩ tôi nói thế với Kim Thu để đọc cho có vẻ xuôi thôi vì nó ngược với số ngày tháng anh chị em bị bắt hàng loạt hôm 11/9 là 9/11 chứ thực tế tôi bị bắt ngày 6 và 8/11/ 2008).
Kim Thu nói : Anh nói có một số mà đã như thế, thì họ đã bị bắt gần hết rồi còn gì nữa.
Tôi nói : Hết làm sao được, tre già thì măng mọc lại, còn cô thì bao giờ bị xử án ?
Kim Thu trả lời : Em bị xử án rồi 18 tháng tù giam, nhưng hôm nay em lại đây viết đơn kháng án để xử phúc thẩm đó.
Tôi nói: Vậy là tốt khi đã rơi vào tay địch rồi thì có chết cũng phải chết một cách dũng cảm và đây còn là quyền lợi của mọi tù nhân khi bị xử sơ thẩm.
Kim Thu nói : Dạ, em cám ơn anh.
Kim Thu ngồi một hồi lâu như muốn nói điều gì nhưng có lẽ ngại và có vẻ ngượng ngập, tôi quan sát thấy cô ta mặt cúi xuống có vẻ gì mắc cỡ và hẫng hụt, bàng hoàng cho nên không nói gì thêm nữa. Sau đó Kim Thu vội vàng xin phép ra về mặc dù mấy công an ngồi cạnh không giục giã hay hạn chế thời gian cuộc gặp hiếm có này và cô ấy chào tôi : “Chúc anh luôn mạnh giỏi, em về phòng đây". Tôi cũng tươi cười đáp lại : “Chúc cô có thừa bản lĩnh nhé”…
Cuộc gặp có một không hai diễn ra trong trại giam Hỏa Lò do công an chính trị Hà Nội cố tình bố trí cho tôi gặp lại Kim Thu gần 10 phút đồng hồ là có mục đích chứ không phải do lòng tốt của họ. Sở dĩ họ tính toán như vậy là muốn qua cuộc tiếp xúc ngắn ngủi ấy để tôi thông tin cho cô ta việc rất nhiều anh chị em dân chủ và một số dân oan đã bị bắt nhằm đánh gục nốt ý chí của cô ta còn sót lại hoặc mất hết sự tin tưởng số người còn lại bên ngoài sẽ lên tiếng gì đó cho mình chăng ? Họ quả là cao thủ, nhưng đối với tôi thì vô ích, vì họ thừa biết không gì có thể lay chuyển được tinh thần tranh đấu của tôi trong nhà tù của họ. Đối với Kim Thu và nhiều người khác thì họ đã làm được nhưng với tôi thì không thể, không bao giờ làm được !
Sau đó tôi tiếp tục ký vào biên bản mở niêm phong thùng tài liệu của tôi bữa trước ký bằng biên bản viết tay. Hôm nay họ bảo tôi ký vào biên bản đánh máy. Sau đó họ bảo tôi ký vào giấy gia hạn tạm giữ lần 2 từ 18 h ngày 14/11/2008 đến 18h ngày 17/11/2008 xong họ cho tôi về phòng tạm giữ nghỉ ngơi.
Cả ngày 14/11/2008 không thấy động tĩnh gì.
Đến 9h sáng, ngày 15/11/2008 khi tôi đã ăn cơm xong thì được cán bộ trại kêu tôi đi cung. Trong lúc chờ đợi tôi lại tranh thủ truyền bá tư tưởng dân chủ cho anh em tù nhân hình sự mà mình đã gặp. Lần này thì làm việc với hai cán bộ điều tra PA-24 công an TP Hà Nội là Nguyễn Duy Ngọc và Đỗ Minh Hải, nội dung xoay quanh vấn đề bài viết với tựa đề “Phương pháp xây dựng cơ sở và phát triển phong trào cách mạng dân chủ Việt Nam trong công cuộc chống chế độ độc tài CSVN ” của tôi.
Điều tra viên Nguyễn Duy Ngọc hỏi : Anh cho biết là anh đã gửi phát tán bài này cho ai chưa ?
Tôi trả lời: Tôi chưa hề gửi cho ai cả.
Điều tra viên (ĐTV) Nguyễn Duy Ngọc hỏi tiếp: Anh cho biết trong tài liệu anh viết này từ ngày 7/10/2008, thì tại sao anh lại chưa gửi và phát tán cho ai là lý do tại sao ?
Tôi trả lời: Tài liệu này tôi viết với mục đích để lưu hành nội bộ chứ không phải là để đăng báo. Nhưng do tôi đánh máy và coppy vào USB chưa kịp gửi cho một số nhà dân chủ thì USB của tôi đã bị hỏng. Thế rồi công việc bận mà tôi quên mất cho nên chưa gửi cho ai cả.
ĐTV Ngọc hỏi: Anh cho biết, anh dự định gửi tài liệu này cho những ai ?
Tôi đáp: Tôi dự định gửi tài liệu này cho anh Nguyễn Khắc Toàn, kỹ sư Đỗ Nam Hải, các vị khác như anh Nguyễn Chính Kết, ông Trần Khuê và Linh mục Phan Văn Lợi…
ĐTV Ngọc hỏi : Anh cho biết, anh có nghiên cứu cương lĩnh của khối 8406 không ? Tài liệu này có ai hướng dẫn hay gợi ý không, hay là anh tự viết ra ? Mà bài viết của anh được chúng tôi đánh giá là ngang ngửa với cương lĩnh chính trị của khối 8406 đó.
Tôi trả lời: Các anh cứ có cái tật coi thường tôi. Các anh có biết các ông Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười… đều là các tổng bí thư của ĐCSVN và họ chỉ học có lớp 3 trường làng, mà còn làm được Tổng bí thư của cả một ĐCS không ? Tuy nhiên tôi có đọc lướt qua cương lĩnh khối 8406, chứ không hề có in ra để nghiên cứu. Tôi hoàn toàn tự nghĩ, tự viết chữ không hề có sự chỉ đạo hay hỏi ý kiến của ai cả. Chắc các anh không tin sau một năm hoạt động đấu tranh đòi tự do dân chủ của tôi mà tôi đã trưởng thành đến thế phải không ???
Nhân đây tôi cũng xin nói để các anh biết, quan niệm của người phương Tây là : “ Tuổi thơ đến tuổi 20 chỉ là vừa học vừa chơi thôi. Tuổi từ 20 đến 40 là tuổi học tập và tích luỹ kinh nghiệm. Còn tuổi từ 40 đến 60 là tuổi lý tưởng để cống hiến. Chính vì thế cho nên ở các nước dân chủ người ta thường bỏ phiếu bầu cử tổng thống cho những người tuổi từ 40 đến 60 thôi. Các anh có thấy không ? Tôi sẽ tiếp tục chứng minh năng lực của tôi cho các anh phải tâm phục, khẩu phục…”.
Thế rồi điều tra viên Nguyễn Duy Ngọc xoay sang đề tài với nội dung đại loại là ép tôi phải thừa nhận những việc làm của tôi là sai trái với pháp luật hiện hành. Nhưng tôi cương quyết khẳng định rằng những việc làm của tôi là đúng hiến pháp Việt Nam và Công ước nhân quyền của quốc tế hiện nay. Còn tất cả các luật, các văn bản hướng dẫn dưới luật đi ngược lại với hiến pháp thì đều là vì hiến mà tôi luôn sẵn sàng ra vành móng ngựa tranh luận trước toà mà không cần quan tâm tới mức án của đảng và nhà nước gán buộc cho mình, và tôi có thể không cần luật sư baò chữa. Khi bị vào tù thì tôi lại tuyên truyền đấu tranh dân chủ ở trong tù. Tôi cũng đã học được những phương pháp đấu tranh trong tù của cụ Hoàng Minh Chính, của Cha Lý, của Hòa thượng Thích Quảng Độ, của chú Trần Khuê, của anh Nguyễn Khắc Toàn, của chị Hồ Thị Bích Khương và rất nhiều người khác nữa… Thế rồi hết giờ hỏi cung (giờ hỏi cung buổi chiều từ 2h00 – 4 h00) và họ trả lại cho tôi về phòng tạm giữ 12A.
01 h 00 sáng ngày 16/11/2008 thì nghe tiếng cạch một cái, tôi giật mình thức dậy thì thấy cán bộ trại dẫn một người đàn ông trung niên vào phòng tạm giam với tôi. Sau đó tôi trò chuyện với anh ta thì được biết anh ta tên là Chí sinh 1971 hiện cư trú tại quận Bình Tân - TP Sài Gòn. Vợ chồng anh bị bắt tại Sài Gòn vì liên quan tới vụ án trộm cắp vàng tại Hà Nội. Vợ chồng anh đã bị giữ 2 ngày tại khám Chí Hoà và mới đưa ra ngoài này bằng máy bay. Chúng tôi nói chuyện qua loa, tôi đi ngủ.
Sáng ngày 16/11/2008 hai chúng tôi dậy lúc khoảng 7h00 và tập thể dục. Sau đó suốt cả ngày hôm đó tôi truyền bá tư tưởng dân chủ cho anh Chí và anh đã xin địa chỉ của tôi và Email của tôi. Anh Chí hứa với tôi rằng: “Nhất định ngày nào đó tôi khi được ra tù tôi sẽ tới thăm anh và tôi sẽ theo anh để đấu tranh dân chủ cho đất nước. Bởi vì tôi thấy cái chế độ này nó vô cùng bất công và tàn bạo. Tôi cũng muốn đứng lên để đấu tranh từ lâu rồi nhưng tôi không biết tìm đến ai để được hướng dẫn cho các phương pháp đấu tranh. Hôm nay tôi hết sức vui mừng gặp được anh ở đây…”
Tối hôm đó sân vận động quốc gia Mỹ Đình sáng trưng và nghe thấy tiếng reo hò vang dội của khán giả trong sân thể thao này (Nhà tù Hoả Lò đối diện với sân VĐQG Mỹ Đình tính theo đường chim bay chỉ khoảng gần 1 km). Tôi hỏi cán bộ trại thì được hay là đội tuyển Việt Nam đang thi đấu với đội tuyển Thái Lan. Tôi nói với cán bộ trại là mở to Tivi lên cho chúng tôi nghe với những tiếng la hét của khán giả ở trên sân còn to hơn tiếng ti vi.
Cả đêm đó lẫn ngày hôm sau tôi không buồn ngủ. Sáng ngày 17/11/2008 tôi cũng không thấy gọi đi cung. Chiều hôm đó tôi có nói với anh Chí là “Tôi có linh cảm là hôm nay tôi được thả vì là cứ mỗi lần chuẩn bị đi xa là tôi rất thèm ngủ”.
Đến 13h thì cán bộ trại đưa giấy phát quà cho tôi. Tôi ra nhận quà mang vào hai anh em cùng ăn. Đến khoảng 14 h 30 thì chúng tôi ăn cơm. Chúng tôi ăn cơm với thịt kho do vợ tôi gửi vào, nhưng tôi nhìn những miếng thịt kho toàn là mỡ thì tôi biết chắc chắn đây không phải là do tự tay vợ tôi nấu bởi vì vợ tôi biết tính tôi không bao giờ ăn thịt mỡ. Mặc dù đã bị giam tổng cộng 11 ngày rồi và rất thèm thịt, nhưng những miếng thịt mỡ đối với tôi vẫn rất khó nuốt.
Ăn xong tôi đi tắm, vừa tắm xong thì cán bộ trại giam kêu tôi đi cung lúc đó khoảng hơn 15 h 00.
Tôi ra gặp hai cán bộ điều tra an ninh PA- 24 TP Hà Nội là Nguyễn Duy Ngọc và Đỗ Văn Hải đến làm việc. Hôm nay xoay quanh chủ đề về mối quan hệ của tôi với nông dân Dương Văn Nam và cuối cùng thì họ muốn tôi nhận tội nhưng tôi vẫn khẳng định mình là vô tội.
Cuối cùng thì họ thông báo cho tôi biết là có quyết định khởi tố tôi và hỏi tôi có kiến nghị gì không ? Tôi kiến nghị là tôi phản đối quyết định khởi tố của cơ quan an ninh điều tra TP Hà Nội, bời vì tôi góp phần đấu tranh nền tự do dân chủ của đất nước và cho dân tộc Việt Nam và hoàn toàn hợp pháp, chính nghĩa và không hề vi phạm hiến pháp, luật pháp của nước CHXHCNVN cũng như công ước Quốc tế về quyền Con người. Do đó tôi nghĩ nhất định sẽ phải có ngày phải vào tù, rồi ra trước toà án của nhà nước các anh là chuyện đương nhiên không có gì là bất ngờ cả !
Cuối cùng là họ cho biết là họ vẫn quyết định khởi tố tôi, nhưng vì lý do nhân đạo và bởi sức khoẻ của tôi kém cho nên họ quyết định cho tôi tại ngoại với điều kiện là phải cam kết là về không được viết bài đưa lên mạng, không trả lời phỏng vấn các báo đài quốc tế + hải ngoại và cấm không được đi khỏi nơi cư trú, khi đi phải xin phép chính quyền địa phương trong suốt thời gian đã bị áp dụng quyết định khởi tố. Sau đó, họ cho tôi về phòng tạm giữ đến gần 18 h 00 thì mới được cán bộ kêu thu xếp quần áo để ra chuẩn bị ra khỏi trại giam Hỏa Lò. Tất cả số quà hơn 300 ngàn đồng VN tôi để lại cho anh Chí, một người tù không may rất khốn khổ đã ở với tôi mấy ngày cuối cùng trong buồng giam và chắc cũng giúp anh vơi bớt đi nỗi khổ cực được ít ngày.
Nhân đây tôi cũng cực lực phê phán lối bán sẵn đồ tiếp tế cho người tù trong trại Hoả Lò đang tiếp tục diễn ra, vì dư luận rộng rãi đã biết quá nhiều tiêu cực, điều xấu không lành mạnh, minh bạch qua kiểu cách ép buộc mua bán các đồ tiếp tế thăm nuôi do trại tổ chức chế biến sẵn từ bao năm qua, mà ai ai đi từ trại giam này ra đều ghê sợ. Chẳng hạn như việc trại giam Hoả Lò đã bắt buộc thân nhân các tù nhân khi đến đây tiếp tế phải mua các thức ăn hay đồ dùng sinh hoạt khác của trại mang rất nặng tính độc quyền kinh doanh với giá đắt cắt cổ hơn ngoài thị trường nhiều lần và nhiều khi lại bị hư thối nữa và tù thân nhân người tù vẫn phải cắn răng bỏ tiền ra mua cho người nhà của mình dùng. Trại Hoả Lò và sở công an Hà Nội không nên lấy lý do chỉ vì vài vụ phát hiện ra kẻ xấu đã lợi dụng chà trộn ma tuý hay vật cấm vào đồ tiếp tế của gia đình các tù nhân mang vào mà sinh ra cái phương cách quái đản như hiện nay để tiếp tục kinh doanh trục lợi làm giàu trên sự đau khổ, khốn cùng của các tù nhân nhất là các chính trị phạm bị giam giữ ở đây...
Chính vợ tôi hôm đi tiếp tế đã cho biết, phần lớn các hàng hoá ở đây đắt đều gấp từ 3 đến 3,5 lần so với giá ngoài thị trường của xã hội hiện nay. Hôm đó vợ tôi mang sẵn đồ mua ở nhà thì quản giáo trại đã bắt mang về và họ buộc vợ tôi phải mua các đồ chế biến sẵn của cưả hàng trại giam nơi gần cổng ra vào. Tôi xin hỏi thế những gia đình tù nhân nghèo sẽ ra sao, họ có chịu được các “cỗ máy chém” của trại giam Hoả Lò giương sẵn để chặt vào cổ, vào đầu họ không ? Vậy lãnh đạo sở công an Hà Nội nghĩ gì khi bất chấp dư luận để nhẫn tâm cố tình làm giàu, hút xương máu, bòn rút công sức lao động chân chính của thân nhân các gia đình họ ngoài xã hội ? Với việc đó trại giam Hoả Lò - nơi mang tiếng là để cải tạo tội lỗi hình sự cho các phạm nhân, thì đây chính họ đã và đang là địa điểm phạm pháp, phạm tội bóc lột nặng nề nhất lại được pháp luật của nhà nước XHCN mà trực tiếp là sở công an Hà Nội, ban giám thị trại Hoả Lò che chở tinh vi và như thế thì còn đâu mang ý nghĩa giáo dục con người trở về bản chất lương thiện, hay nhân bản đây ? Tôi mong các quý vị có thẩm quyền nên đọc bài viết này của tôi mà hãy mau mau loại bỏ hình thức kinh doanh vô nhân đạo hiện nay đi để cải tiến văn minh, tiến bộ lên cho xã hội và nhân dân được nhờ kẻo không cứ kéo dài tình trạng bất nhân này là có tội với dân tộc đấy !!!
Tối hôm đó hai cán bộ cùng một lái xe vượt hơn 30 km để đưa tôi về tới UBND xã Phù Lỗ, thì tôi đã thấy các công an xã Phù Lỗ và công an huyện Sóc Sơn đã có mặt tại đó. Tiếp đó họ đón vợ tôi ra UBND xã để làm thủ tục nhận chồng về. Vợ tôi không tin vì sợ bị họ lừa nhưng cuối cùng vợ tôi cũng ra xem sao. Họ cho vợ tôi cùng mọi người biết quyết định khởi tố của cơ quan an ninh điều tra PA-24 TP Hà Nội và quyết định phê chuẩn của viện kiểm sát NDTP Hà Nội về việc khởi tố tôi tội danh như trên đã nói.
Như vậy là đảng CSVN và nhà nước độc tài XHCN đã treo thanh gươm lên cổ tôi cũng như trường hợp quyết định xử phạt hành chính 12,5 triệu đồng đối với anh Phan Văn Phong ở số nhà 12 Tràng Tiền – Hà Nội hàng xóm của nhà anh Nguyễn Khắc Toàn đây. Dù anh Phong này chỉ là người ủng hộ dân chủ hoá đất nước và có quan hệ thân tình với anh em dân chủ thôi. Tất nhiên là nơi nhà anh đang ở và làm nghề photocoppi + đóng sổ sách thuê cũng là địa điểm anh Nguyễn Khắc Toàn thường hay lui tới vì hoàn cảnh đang bị quản chế tại phường rất chặt chẽ thì anh Toàn chỉ có duy nhất người hàng xóm này dám to gan giao du trò chuyện mà thôi. Bản thân anh Phan Văn Phong cũng đã bị đại tá Ngô Thái Chung đến thăm hỏi tận nhà khi anh đang làm việc nhằm sờ gáy, nắn gân anh trong gần 1 giờ để cảnh cáo đe doạ không được quan hệ với anh Nguyễn Khắc Toàn hàng xóm nữa nếu không muốn bị phiền phức, hệ luỵ. Bởi vì ông ta cho biết anh Toàn đang là thành phần chống đảng CSVN, chống chế độ và chống nhà nước VN XHCN khá nguy hiểm ở thành phố này mà cơ quan an ninh đã, đang đặt trong diện phải quản lý nghiêm ngặt. Hay trường hợp của anh Vũ Hùng trước kia khi họ bắt giữ 9 ngày trong trại B 14 Hà Nội vậy…vv… và vv…
Làm mọi thủ tục xong thì anh Bộ - chức vụ phó công an xã Phù Lỗ lấy xe máy chở 2 vợ chồng tôi ra về, còn công an xã, huyện và thành phố còn ở lại họp bàn về vấn đề gì thì tôi không rõ. Tôi thấy đáng ngờ là ở điểm, hai an ninh của sở công an TP Hà Nội khi áp giải tôi từ trại giam Hoả Lò về địa phương trước khi trả tôi về nhà thì họ chỉ có đọc một số văn bản viết nghe có vẻ rất hoành tráng y như rất đúng pháp luật của nhà nước XHCN này. Tôi xin lấy ví dụ, như việc họ đã đọc lệnh huỷ bỏ tạm giữ hành chính 9 ngày, đọc lệnh cấm không được đi khỏi nơi cứ trú và các biện pháp ngăn chặn khác...Thế nhưng tất cả các văn bản trên, họ đều phát ngôn từ miệng ra như vậy thôi, chứ đâu có giao cho tôi một mảnh giấy nào về các việc quan trọng này. Tôi cứ phân vân mãi là tại sao họ không giao các văn bản có nội dung đã đóng dấu quốc huy đỏ chói của cơ quan công an và viện kiểm sát như vậy cho mình nhỉ, hay là họ lo ngại tôi lại công bố mấy cái của nợ ấy cho cả thế giới biết và nếu thế thì đấy sẽ là những bằng chứng hùng hồn nhất về việc ở Việt Nam có đàn áp bất đồng chính kiến, đàn áp chính trị chăng ? Tôi mong tất cả ai biết hãy giải đáp dùm tôi với cho rõ ngọn ngành !!!
Vợ chồng tôi về tới nhà thì đã 20 h 45’ tối ngày 17/11/2008, sau đó cả gia đình tôi cùng bà con hàng xóm hết sức vui mừng. Tôi kể chuyện cho mọi người nghe rồi gọi điện cho anh Đỗ Nam Hải, anh Nguyễn Khắc Toàn…để thông tin, mọi người cũng mừng vui lắm.
Con đường dẫn đất nước và dân tộc ta đến dân chủ, tự do, đa nguyên đa đảng xóa bỏ vĩnh viễn độc tài toàn trị chắc chắn còn dài lâu, nhưng sẽ tất thắng hoàn toàn. Đảng CSVN có thể chỉ đạo công an, cảnh sát, mật vụ mở các chiến dịch bắt bớ đàn áp tống giam vào tù nhiều người yêu nước, nhưng không bao giờ bằng những việc ấy có thể giúp cho họ kéo dài vĩnh viễn ngai vàng quyền lực chuyên quyền độc đoán cho mình. Tôi có thể trở lại nhà tù và ở trong đó nhiều năm nhưng không bao giờ công an và đảng CSVN có thể thấy tôi đầu hàng và từ bỏ con đường tranh đấu sáng ngời chính nghĩa cao cả mà cuộc đời mình đã lựa chọn.
Đó là toàn bộ tường thuật 11 ngày tôi bị bắt giữ trong đó có 9 ngày tù giam mang biển số 5109Z của tôi. Và tôi cũng xin lỗi bạn Dương Văn Nam vì đã làm mất bức thư khá dài tới 8 trang khổ giấy A - 3 anh viết gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nên nhân đây tôi cố lục tìm trí nhớ để viết lại và công bố giúp nhằm bạn đọc xa gần biết nội dung thư này. Có thể trong nội dung bức thư có điều gì chưa được chính xác so với bản gốc viết tay của Nam, nên mong tác giả cùng bạn đọc bỏ qua, còn cơ bản là hoàn toàn đúng với lá thư đã bị công an Hà Nội bắt giữ tôi rồi tịch thu mất.
Tôi cũng rất tiếc việc đã bị công an Hà Nội tịch thu gần 10 trang viết tay ghi chép đầy đủ các tư liệu l ịch sử quý giá về cuộc gặp của tôi với 2 cựu tù nhân chính trị đã từng sống với thi sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tù hơn 10 năm trơì dài đằng đẵng ở miền Bắc VN sau năm 1954. Đó là các ông : đại uý Kiều Duy Vĩnh và Lê Gia Khánh, các vị cựu chính trị phạm này đã bị tù đầy khốc liệt lần lượt là 16 năm và 12 năm chỉ vì họ là cựu sĩ quan quân đội quốc gia dưới chế độ cũ thời thuộc Pháp mà thôi. Tôi sẽ cố nhớ lại để viết bài báo về cuộc gặp gỡ định mệnh với họ trong buổi chiều ngày 05/11/2008 và sáng hôm sau thì tôi đã bị bắt giam như trên đã tường trình với quý vị.
Khi trở được tạm trở về nhà tôi còn được biết anh Nam đã bị công an Hà Nội triệu tập lên để làm việc tới mấy ngày liền và họ đã in ra bức thư gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ bản chính viết tay của anh để thẩm vấn khá gay gắt. Thế mới buồn làm sao, ở Việt Nam hiện nay, người dân chỉ cần có suy nghĩ và nhận thức khác với tuyên truyền của đảng và nhà nước CSVN hay của bộ máy công an, cảnh sát, an ninh chính trị là đều bị phiền nhiễu và đều bị coi là phạm tội hình sự nghiêm trọng. Vậy mà ông Lê Dũng - người phát ngôn bộ ngoại giao của chính phủ CSVN và cả đích thân ông chủ tịch nước CHXHCN VN Nguyễn Minh Triết đã chính thức nói ở trong nước hay khi đi sang Hoa Kỳ đều oang oang trước báo giới quốc tế... Nào là : " Ở Việt Nam không có ai bị đàn áp vì bất đồng chính kiến, không có ai là tù nhân vì chính kiến hay lý do chính trị, tôn giáo mà chỉ có những người vi phạm luật pháp ...!!!??? ", rồi nào là : "Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường..." !!!??? ...vv …và … vv...
Thế thì qua trường hợp của tôi và nông dân Dương Văn Nam mới rồi và liên tục hơn 1 năm qua đã bị lực lượng công an của đảng CSVN bắt giam, bỏ tù, đánh đập tàn nhẫn hay lập hồ sơ đưa vào sổ đen để theo dõi hay sách nhiễu rất cụ thể như trên đã trình bày rõ ràng. Thì các vị lãnh đạo của đảng CSVN và nhà nước này nên trả lời ra sao với công luận trong, ngoài nước và Quốc tế đây ? Tôi rất mong chờ và đợi câu trả lời của các vị, nếu được như vậy tôi trân trọng cám ơn quý vị nhiều lắm !!!
Viết từ ngày 18/11/2008 đến 25/11/2008
Cựu quân nhân, cựu bộ đội tình nguyện QĐNDVN
Công dân Lê Thanh Tùng bút danh Lê Ái Quốc
Địa chỉ nhà ở hiện nay : Khối 13, phố Chợ, thị trấn Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội
Địên thoại để bàn : 04 – 22189 - 645
Email liên lạc : aiquocle@gmail.com
Tường thuật của Lê Thanh Tùng
Viết từ ngày 18/11/2008 đến 25/11/2008
http://www.doi-thoai.com/baimoi1108_419.html
Vào hồi 8 h 00 sáng ngày 06/11/2008, tôi vào tiệm Internet của anh Lê Văn Đức ở thôn Đông Đoài, xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn – ngoại thành Hà Nội, nơi quê hương tôi đang sinh sống hiện nay để xem thư và những bài viết mới được đăng trên các trang Web. Sau đó tôi dùng máy tính trong tiệm dịch vụ này để đánh máy bài “Thư ngỏ gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng” của nông dân Bắc Giang là Dương Văn Nam.
Bởi vì anh Dương Văn Nam chưa biết sử dụng máy vi tính, mặc dù tôi đã đôi lần tập huấn cho anh sử dụng Internet và cách vượt tường lửa để anh tự vào mạng Internet đọc báo và gửi bài lên mạng.
Bài viết của nông dân Dương Văn Nam gồm có 8 trang viết tay, tôi đã đánh được một nửa quãng độ 4 trang thì bất ngờ một toán công an và an ninh chính trị huyện Sóc Sơn cùng công an xã Phù Lỗ ập đến bắt giữ tôi.
Gã trung tá Lê Ngọc Ly đội trưởng an ninh công an huyện Sóc Sơn phát vào vai tôi và nói lớn : “Lê Thanh Tùng mày đã bị bắt quả tang…!!!”.
Sau đó thượng uý Nguyễn Sỹ Dũng và thiếu uý Nguyễn Sơn Tùng là hai công an đã trực tiếp xông vào khoá hai tay tôi và lôi ra khỏi ghế, lúc đó là vào đúng 10h00 trưa ngày 06/11/2008. Nữ thiếu uý tên là Lan thì xông vào máy vi tính mà tôi đang sử dụng và cóppi toàn bộ phần tôi đang đánh máy và cả bài thơ “Thực trạng lỗi lầm của đảng cộng sản Việt Nam ” của Dương Văn Nam cùng bài “Việt Nam, đất nước tôi của kỹ sư Đỗ Nam Hải” ở trong hộp thư của tôi mà tôi chưa kịp đóng hộp thư lại.
Tôi nghe thấy trung tá an ninh Lê Ngọc Ly nói lớn với vẻ mặt hớn hở, phấn khởi lắm, y nói với mọi người trong tiệm Internet :
“Thằng này nó chuyên môn đi tuyên truyền phản động, phản bội đất nước đấy bà con ạ ! ”.
Tôi trả lời ngay tại đấy trước đám an ninh và quần chúng đang hướng mắt vào theo dõi tôi và bọn họ như thế này :
“Việc định tội trạng ra sao là việc của toà án các ông không có quyền phán xét. Nếu các ông thấy việc làm của tôi là sai trái với pháp luật thì các ông cứ việc đọc lệnh mà bắt giam chứ các ông đừng cậy chức cậy quyền mà ăn nói hàm hồ như vậy…”.
Tiếp đó Lê Ngọc Ly lệnh cho Nguyễn Sỹ Dũng lập biên bản và bảo tôi ký vào tất cả các biên bản và bài viết của Dương Văn Nam nhưng tôi không ký cót gì hết với họ.
Sau đó họ đưa tôi lên xe cảnh sát chở về đồn công an huyện Sóc Sơn thuộc khu vực thị trấn Phù Lỗ. Tại đây thượng uý Nguyễn Sỹ Dũng lại tiếp tục lập biên bản hỏi cung tôi nhưng tôi kiên quyết không làm việc.
Tôi nói : Nếu các ông đọc lệnh bắt giữ thì tôi sẵn sàng làm việc còn các ông bắt giữ người trái phép thì tôi nhất định không làm việc.
Thượng uý Dũng nói: Đây là việc chúng tôi mời anh về đây để làm việc chứ không phải là bắt giữ.
Tôi trả lời : Chính vì là “mời” cho nên tôi có quyền từ chối làm việc. Tôi chỉ có trách nhiệm làm việc khi bắt giữ một cách hợp pháp.
Do đó họ không ép được tôi làm việc thế là họ sử dụng chiêu không cho tôi ăn uống gì nếu như không làm việc xong.
Tôi hỏi: Bây giờ đã là 11 h 30 rồi sao các ông chưa cho được nghỉ để đi tôi ăn trưa ?
Ngô Sỹ Dũng trả lời : Không ăn uống gì cả, lúc nào làm việc xong thì mới được ăn. Anh cứ làm việc xong lúc nào thì tôi sẽ thả anh về lúc đó.
Tôi nói : Công an không cho tôi ăn thì lấy tiền của tôi đây đi mua cơm trưa giùm tôi v ì bây giờ đến bữa trưa rồi. Các anh nói là mời tôi vào làm việc chứ không phải bị bắt giữ nên tôi vẫn còn đầy đủ các quyền công dân .
Nguyễn Sỹ Dũng trả lời : Không có mua với bán gì hết. Không ăn uống gì hết, Anh cứ ngồi yên đấy. Không hợp tác làm việc thì đừng có nghĩ gì đến ăn mới chả uống hiểu chưa ?!
Tôi nói: Thế thì tôi cũng cương quyết không làm việc. Tôi biết thừa các anh dùng thủ đoạn bắt tôi nhịn đói nhịn khát để ép cung tôi chứ gì !
Thế là từ đó tôi cũng không thèm kêu ca gì nữa và tìm cách tranh thủ ngủ trưa lấy lại sức để dành cho cuộc đấu tranh cân não còn lâu dài với cánh công an này rất lắm mưu ma chước quỷ.
Đến khoảng 17 h 30 cùng ngày thì tôi thấy có hai cán bộ của phòng điều tra xét hỏi sở công an Hà Nội đơn vị PA -24 bên thành phố Hà Nội đến và vào phòng bên cạnh bàn bạc việc gì thì tôi không biết, nhưng tôi nghĩ “Có lẽ lần này thì họ đọc lệnh bắt giam mình đây…”.
Sau một hồi bàn bạc thì hai công an của thành phố kia sang phòng tôi đang bị tạm giữ và giới thiệu : “Chào anh Tùng, tôi là Nguyễn Văn Xuyền – công an PA-24 thành phố Hà Nội, còn người kia là Kiều tức “Tuấn Anh nhỏ”. Đây chính là kẻ mà đã từng đe doạ là ném tôi xuống sông Hồng ở đoạn cầu Chương Dương ngày 15/5/2008 vừa qua khi tôi bị bắt giữ vừa rời nhà anh Nguyễn Khắc Toàn ra.
Một lúc sau thì Lê Ngọc Ly bảo Nguyễn Sơn Tùng đưa tôi sang một phòng khác. Tôi nghĩ có lẽ họ chờ cho tối rồi đưa tôi về nhà để đọc lệnh bắt giữ và khám xét vào đêm nay như những trường hợp của anh chị em dân chủ và một số dân oan trong chiến dịch đàn áp từ ngày 11/9/2008 vừa rồi. Thế nhưng sau đó 2 công an TP Hà Nội về lúc nào tôi cũng không hay.
Đêm đó có thượng uý Hoàng Văn Thìn và thiếu uý Nguyễn Sơn Tùng công an huyện Sóc Sơn cùng tôi ngủ ở ghế dài của phòng trực ban đồn công an thị trấn Phù Lỗ ngay ven đường quốc lộ.
8 h 00 sáng ngày 7/11/2008 thì Lê Ngọc Ly sai cấp dưới mua cho tôi một ổ bánh mì để ăn lót dạ. Ăn xong thì cũng chẳng có làm gì và cũng không cho tôi về nhà. Đến 11h30 thì họ cho tôi ăn cơm xong rồi đi nghỉ trưa, chiều đến cũng không làm gì. Tôi đoán là họ đang chờ đợi lệnh của cơ quan an ninh bên sở công an TP Hà Nội, còn họ thì chỉ có nhiệm vụ canh giữ tôi thôi ngoài ra không có trách nhiệm gi hết.
Tôi hỏi Lê Ngọc Ly : Thế các ông bắt giữ tôi vào đây mà không làm gì thì các anh phải thả cho tôi về chứ sao anh cứ giam tôi mãi ở đây thế này để làm gì ? Các anh nói mời tôi vào đây làm việc, nghe thì có vẻ lịch sự nhưng thật ra đã bắt giữ tôi hơn 1 ngày rồi còn gì nữa.
Lê Ngọc Ly trả lời : Anh cứ từ từ, anh cứ ngồi đấy chờ đợi rồi sẽ được giải quyết có lý có tình và rất đúng pháp luật.
Tối hôm ấy Lê Ngọc Ly nằm ghế dài ngủ với tôi ở phòng trực ban với tôi. Khoảng 10 h 00 trưa thì Lê Ngọc Ly đưa ông Nguyệt - chủ tịch huyện Sóc Sơn, nguyên trước đây tay này là trưởng công an huyện Sóc Sơn đến giới thiệu với tôi : “Đây là anh Nguyệt - Chủ tịch huyện Sóc Sơn…”.
- Chào anh, cám ơn chủ tịch đã đến thăm tôi. Tôi chào hỏi lại như vậy.
Tôi nghe rõ thấy tay chủ tịch huyện này lên tiếng : Huyện ta là huyện anh hùng, tại sao lại sinh ra đứa con lạc loài như anh nhỉ ? Chủ tịch Nguyệt nói.
- Ở Việt Nam thì huỵện nào chẳng là huyện anh hùng ? Mà đã là huyện anh hùng thì phải đẻ ra những người con anh hùng chứ chủ tịch. Tôi cũng nói để chủ tịch biết, dòng họ nhà tôi biết được đến 7 đời. Còn từ đơì thứ 8 trở về trước thì dòng tộc nhà tôi bị mất gia phả thì không biết thế nào, chứ còn 7 đời nhà tôi thì có 6 đời là nhà Nho. Có 2 cụ của tôi làm tướng trong triều đại đời hậu Nguyễn. Dòng họ nhà tôi chỉ còn hy vọng ở tôi liệu có làm nên lịch sử vẻ vang cho lịch sử của dòng tộc hay không ? Tôi mong chủ tịch đừng nên nhìn tôi bằng nửa con mắt như vậy. Tôi đã nói thẳng trước mặt tay “tri huyện cộng sản” có tên là Nguyệt như vậy đấy.
Đáp lại tay “tri huyện cộng sản” này cũng nói cứng rắn luôn với tôi có cả mấy an ninh vây xung quanh :
- Anh mà là em trai của tao thì tôi đập chết từ lâu rồi – tay chủ tịch huyện Nguyệt nói.
- Thế cho nên chúng tôi mới gọi các anh là độc tài, độc đoán, chuyên chế, phong kiến đời mới….Chứ tôi mà là em của anh mà anh không đánh chết, thì ngược lại anh lại tôn trọng ý tưởng của em anh thì anh lại là người dân chủ mất rồi. Tôi nói.
Sau câu đốp chát thẳng thắn như vậy của tôi thế là chủ tịch huyện có tên Nguyệt không nói gì nữa và lặng lặng đi ra ngoài. Đến đây thì tôi đoán được ông ta không dám ở lại đấu khẩu với tôi nữa nếu không muốn mình bị hớ và dại mặt với tôi - một anh chàng dân đen, thấp cổ bé miệng chẳng chức quyền gì !
Đến trưa ngày 8/11/2008, ăn cơm xong Lê Ngọc Ly có dặn Nguyễn Sĩ Dũng là:
“Nếu 3 giờ chiều mà không thấy anh xuống thì cho Tùng về nhà để ăn cưới anh vợ Tùng nhé ” !
Tôi và Dũng ngủ trưa đến 13 h 30 thì Lê Ngọc Ly đến bào tôi là đi ra về. Tôi ra tới cửa thì thấy ô tô đậu sẵn trước cửa rồi và đầy đủ các loại công an xóm, thôn, xã, huyện rồi cả công an PA - 24 của thành phố Hà Nội nữa. Tôi đếm sơ bộ được hơn 20 người và lúc này thì tôi đã hiểu điều gì sẽ xảy ra đến với mình. Tôi cũng nghĩ luôn phải nói rằng, khi đã rơi vào tay họ thì không được phép tin bất cứ gì từ miệng họ phát ra. Phải nhớ rằng họ thấm nhuần sâu sắc ông tổ ngành công an cộng sản Việt Nam chính là ông Hồ Chí Minh đã căn dặn họ : “Đối với chính phủ thì tuyệt đối trung thành…Đối với địch phải cương quyết khôn khéo…”. Cho nên xung quanh cuộc sống trong nước hiện nay đầy rẫy các mưu gian kế xảo lọc lừa là vậy. Thật khủng khiếp quá và luôn luôn nhớ không được tin bất cứ điều gì họ phát ngôn trước mặt mình mà phải coi đó tất cả đều là cạm bẫy rất nguy hiểm ! Lời dặn của Lê Ngọc Ly trước mặt tôi với Nguyễn Sĩ Dũng như trên là một ví dụ rất điển hình đó thôi.
Họ đưa tôi ra xe và đưa về nhà và bắt tôi mở cửa nhà ra. Tôi nói đã với họ : “Các ông phải đợi vợ tôi về tôi mới mở cửa được. Các ông muốn đọc lệnh bắt và khám xét nhà tôi thì cũng phải chờ vợ tôi về đã vì vợ tôi cầm chìa khóa và việc này cần phải có người nhà tôi làm chứng mới đúng các thủ tục pháp lý ! ”
Vợ tôi đang nấu cỗ cưới cậu em ở ông chú ở sát nhà thấy thế thì chạy hớt haỉ về nhà. Tôi mở cửa ra và hàng chục công an tràn vào nhà, sau đó họ đọc lệnh bắt giữ khẩn cấp đối với tôi và đọc lệnh khám xét nhà tôi. Họ quy tội tôi đã phạm vào điều 88 bộ luật hình sự nước CHXHCNVN : “Tội tôi đã làm ra tài liệu để tuyên truyền chống phá Nhà nước CHXHCN VN…”
Họ thu giữ hết tài liệu viết tay cho đến những bài tôi lấy ở trên mạng xuống, rồi tất cả những đơn thư khiếu kiện của các dân oan. Thậm chí cả đĩa hát VCD và băng cát sét học tiếng Anh cùng ảnh thẻ của tôi và vợ tôi cũng bị thu hết tuốt tuồn tuột. Họ còn định thu cả giấy đăng ký kết hôn của vợ chồng tôi và giấy khai sinh của các con tôi nữa thế mới kỳ cục làm sao. Sau tôi nói mãi họ mới trả lại các thứ đó cho vợ tôi. Toán công an khám xét nhà còn thu giữ tất cả ảnh gia đình tôi chụp kỷ niệm cùng cả nhà và họ tộc, họ còn thu giữ cả tấm thẻ ngày trước tôi làm việc trong cơ quan nữa thế mới kỳ cục chứ !
Cuộc khám xét diễn ra khoảng hơn 1,5 giờ đồng hồ thì kết thúc. Tôi dặn lại vợ tôi rằng trước khi lên xe của họ để vào nhà tù :
“Những năm 1978 – 1979 anh phải ăn củ chuối và cháo cám heo mà còn chưa chết thì bây giờ không thể chết được đâu em. Tuy nhiên no' khổ hơn lúc anh ở ngoài x ã hội, song anh chịu đựng được mà. Em khỏi phải lo cho anh, em hãy lo cho con ăn học giỏi và ngoan là được rồi. Em không được buồn, em phải tự hào về chồng mình đã bị công an của đảng và nhà nước bắt giam phải đi tù là vì dân vì nước, chứ có phải anh ăn cắp, giết người cướp của hay là bán nước mà phải đi tù đâu mà em buồn… !!!”.
Vợ tôi cũng nói trước rất đông số công an đã thực hiện lệnh khám nhà và bắt giam tôi rằng : “Anh cứ yên tâm mà thụ án tù cho hết hạn anh không phải lo cho ba mẹ con em đâu. Em tin là anh chị em dân chủ trong nước cũng như anh chị em ở hải ngoại không bao giờ bỏ rơi anh và ba mẹ em con bơ vơ, dứt khoát là như thế …!!!”.
Tội nghiệp cho các con tôi, chúng nó ngây thơ quá. Trong lúc hàng chục công an, mật vụ đang khám xét và lập biên bản không khi căng thẳng ngột ngạt bao trùm cả gian nhà chật hẹp của gia đình tôi, thì con gái tôi cứ đòi đi sang dám cưới cậu nó rất vô tư như chẳng có chuyện gì xảy ra sất. Trước tình hình đó, tôi đành nói với các con tôi :
“ Ở nhà với bố ít phút nữa thôi, bố đã bị công an bắt đi tù rồi, ít cũng phải vài năm nữa bố con mình mới được gặp nhau đấy con à”… Thế nhưng con tôi nó vẫn cứ đòi đi sang nhà cậu nó để dự đám cưới. Bởi vì nó đã quá quen thuộc với cảnh công an mật vụ bắt giữ và canh gác ở nhà của bố nó quá nhiều lần rồi lại thả ra như hơn 11 lần bắt giữ tôi kể từ khi tôi tham gia công khai tên tuổi đấu tranh trong Phong trào dân chủ Việt Nam và Khối 8406 từ năm ngoái đến nay còn lần này nó cũng nghĩ sẽ như vậy.
Khi toán công an thực hiện lệnh bắt giam và khám xét nhà tôi, họ còng tay tôi dẫn ra xe, tôi đã giơ cao hai tay bị còng số 8 lên vẫy chào tạm biệt bà con lối xóm và hẹn gặp lại sau 2-3 năm nữa sẽ trở về với thái độ đàng hoàng không chút run sợ.
Lên xe ra tới đồn công an Phù Lỗ thì họ tháo còng tay cho tôi và đưa tôi thẳng về trại giam Hoả Lò ở Cầu Diễn, huyện Từ Liêm, ngoại vi Hà Nội vào lúc này khoảng 16 h 30 ngày 08/11/2008. Tại đây trung tá Nguyễn Văn Xuyền lập biên bản và hỏi cung tôi và làm mọi thủ tục nhập trại cho đến 17 h 00 thì kết thúc và đưa tôi vào trại giam với lệnh tạm giữ 3 ngày.
Tôi hỏi lại viên trung tá an ninh : Thế tại sao công an các anh không tạm giam 3 tháng mà chỉ có tạm giữ có 3 ngày thôi à ?
Tôi liền nghe thấy một thượng tá (tôi không nhớ tên) trả lời : Nghe tội trạng thì nó ghê gớm thế nhưng nếu tốt thì ra ngay thôi mà…
Tôi hiểu được hàm ý tốt ở đây có nghĩa là cơ quan an ninh của sở công an Hà Nội mong tôi nhận tội và đầu hàng thì họ thả ngay nhưng tôi chẳng thà đi tù mấy năm chứ cương quyết dứt khoát không nhận tội và dứt khoát không đầu hàng. Tôi nghĩ đã có bao tấm gương tranh đấu của phái nữ như Lê Thị Công Nhân, Hồ Thị Bích Khương, Phạm Thanh Nghiên…oanh liệt như thế thì tại sao tôi là đàn ông lại thua kém các nữ anh thư này được ! Đ ảng, nhà nước và công an đừng bao giờ hy vọng được ở tôi sự đầu hàng và khiếp sợ như những kẻ khác.
Vào tới buồng tạm giữ số 12A do cán bộ thượng uý Lê Văn Kỳ phụ trách người quản giáo này nói : “Anh đã bị tạm giữ vào đây tội trạng của anh thế nào thì là do cơ quan bắt giữ và điều tra giải quyết. Còn chúng tôi không có quyền hạn định tội hay giải quyết xử lý gì cả. Chúng tôi chỉ có nhiệm vụ trông giữ anh. Mong anh hãy thực hiện tốt nội quy của trại c ó thế thôi”.
- Vâng anh yên tâm tôi là người có văn hóa, biết phép lịch sự nên tất nhiên tôi sẽ chấp hành nội quy của trại thôi. Tôi đáp.
Vào được một lát thì được thượng uý Lê Văn Kỳ mở khoá cửa và gọi tôi ra gặp thượng tá Tiến cán bộ giám thị trại giam.
- Anh tên là gì ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Tôi tên Lê Thanh Tùng. Tôi đáp.
- Phải nói là báo cáo cán bộ. Viên thượng tá Tiến nói.
- Số giam của anh bao nhiêu ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Báo cáo cán bộ số giam của tôi 5109Z. Tôi đáp.
- Anh quê ở đâu ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Báo cáo cán bộ tôi quê ở xã Mai Đình, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Tôi hiện trú quán tại khối 13, thị trấn Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tôi đáp như vậy với viên sĩ quan cán bộ giám thị trại Hỏa Lò, một trại tù khét tiếng chỉ mới nghe đã rợn tóc gáy rồi.
- Anh bị tội gì ? Thượng tá Tiến hỏi.
- Báo cáo cán bộ, tôi là nhà bất đồng chính kiến. Tôi tham gia đấu tranh đòi tự do dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam trong đó có cán bộ. Nếu đất nước được dân chủ tự do và giàu có thì lương của cán bộ cũng được tăng lên, còn nếu đất nước mà nghèo nàn lạc hậu thì ngược lại. Nhưng họ lại gán cho tôi cái tội tuyên truyền chống phá nhà nước CH XHCNVN theo điều 88 bộ luật hình sự (BLHS). Tôi biết trong ngành tư pháp những công an gác trại tù là những người thiệt thòi nhất. Bởi từ trách nhiệm thì nhiều, chính sách hậu đãi thì có, nhưng lương bổng chẳng được bao nhiêu. Tôi đã đáp lại thượng tá Tiến như vậy.
- Anh có hút thuốc không ? Thượng tá Tiến hỏi tôi.
- Vâng có, cám ơn cán bộ cho tôi một điếu. Tôi đáp
- Thôi được tội trạng hay không thì để cơ quan điều tra và toà án xét còn anh đã vào đây thì phải chấp hành nội quy của trại giam. Chúng tôi mong anh thực hiện cho tốt, nếu có gì khó khăn thì cứ đề nghị chúng tôi giúp đỡ. Thượng tá Tiến nói.
Sau đó cán bộ giám thị Tiến bảo tôi vào trong phòng tạm giữ nghỉ và ông ta còn bồi thêm cho một điếu thuốc nữa để dự trữ hút trong buồng giam.
Đêm vô tù đầu tiên không mấy gì ngủ được bởi vì tôi không quen ngủ để đèn sáng chứ còn nếu mà không có bật điện thì tôi vẫn ngủ vô tư không có gì phải suy nghĩ cả. Thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp cán bộ họ lén trộm nhìn theo dõi tôi rất kín đáo để xem thái độ của tôi như thế nào.
Đến sáng hôm sau ngày 09/11/2008 tôi dậy lúc khoảng 7h nhưng vẫn chưa thấy cán bộ mở cửa. Tôi tự an ủi mình là phải cố gắng giữ sức khoẻ để còn chiến đấu lâu dài với môi trường tù đầy ác liệt. Tôi chạy thể dục vòng quanh phòng rộng khoảng 60 mét vuông mà chỉ có một mình tôi nên tha hồ chạy.
Khoảng 8 h 00 thì có 1 cán bộ mở cửa phòng nên tôi hỏi cán bộ trại :
- Thế không có cơm sáng hay sao cán bộ. Tôi hỏi anh ta.
- Ở đây chỉ có ngày hai bữa cơm chứ không có cơm sáng. Anh đói lắm phải không ? Cán bộ trại nói và hỏi lại tôi như thế.
- Đói chứ, từ trưa hôm qua tới giờ tôi có được ăn gì đâu. Tôi đáp.
Lần đầu tiên vào trại tù giam tôi đâu có biết luật lệ thế nào. Hồi tháng 7/2000 tôi bị giam giữ ở đồn biên phòng Mộc Bài và sở chỉ huy biên phòng tỉnh đội Tây Ninh cả tháng 14 ngày liền. Khi đó tôi được ăn cơm thịt cá ngày 3 bữa và có sách báo để đọc đầy đủ, đồng thời thỉnh thoảng được ra ngoài làm ở xung quanh sở chỉ huy của đơn vị quân đội này.
Một hồi sau thì cán bộ Lê Văn Kỳ xin được một gói lương khô của một tù nhân và đưa cho tôi ăn cho đỡ đói.
Thế rồi đến 9 h 30’ thì có cơm. Xuất cơm của tù thì rất nhiều, thức ăn chỉ có duy nhất món bí xanh hoặc bí đỏ luộc cũng lắm, nhưng có điều bí xanh sắt với miếng to bằng bàn tay. Tôi nghĩ có lẽ món “đặc sản” trong nhà tù CSVN này họ chỉ trần qua nước sôi cho nên cứng lắm như cục đá, nếu cắn thì gẫy răng hoặc sẽ ít nhất là răng phải bị mẻ và nếu dùng để ném gà, vịt, chim chóc thì chắc chắn chúng sẽ bị chết hoặc bị thương rất nặng… Tôi nhìn kỹ chẳng thấy muối mắm gì cả cho nên rất khó nuốt, có nghĩa là họ cho tù nhân ăn nhạt chăng ? Cán bộ Kỳ thấy thế và đi xin cho tôi được một gói muối bột canh để dùng làm nước mắm chấm món bí xanh cứng như đá kia ăn cho xong bữa cơm tù đầu tiên.
Ăn xong tôi đi ngủ ngay vì là đã mấy đêm liền mất ngủ sức khỏe rất kém, nhưng tinh thần thì rất tốt không chút sờn lòng vì tôi tin công cuộc đấu tranh mình đã lựa chọn là đúng đắn và chính nghĩa. Tôi ngủ đến 13 h 30 thì cán bộ quản giáo mở cửa kêu tôi dậy mang các đồ đựng như bát, ca nhựa ra để lấy cơm + nước uống vì ở trại giam Hỏa Lò thì cứ đến 15h thì đã cho tù ăn cơm chiều. Mà ăn cơm trong tù với muối lại không có nước canh quả là khó nuốt. Khi tôi ăn cơm thì cán bộ cũng thường trộm lén theo dõi xem thái độ của tôi như thế nào.
Theo quy định của trại thì không được đem cơm và thức ăn vào trong phòng giam. Tôi nghĩ ngày đầu chưa thích nghỉ cho nên không ăn được là bao. Mà bây giờ mới có 15h mà đổ cơm đi thì bao giờ cho đến 9 h 30 sáng ngày mai mới có cơm ăn. Thế là tôi nghĩ phải giấu cơm thừa ăn không hết và để sát song cửa sắt để 9 h tối đói còn có mà ăn, đã vào đây rồi thì không ai thương ta bằng ta thương mình.
Đêm đến, đói cồn cào ruột gan tôi lại thò tay bốc cơm nguội cố nuốt để lấy sức. Tôi thấy tuy là cuộc sống trong chốn lao tù đọa đầy có gian khổ thật, nhưng tôi nghĩ ngày xưa khi mình đã là học viên của Trường sỹ quan chỉ huy kỹ thuật công binh c ủa QĐNDVN, khi ấy cơm rau còn không dủ ăn mà còn chẳng buồn nữa là. Còn bây giờ cơm ăn chẳng hết thì không có lý do gì phải buồn phiền cả.
Sáng hôm sau mồng 10/11/2008 tôi dậy sớm thể dục thể thao và giặt rũ quần áo xong xuôi thì tôi ngồi ca môt bản nhạc bằng tiếng Anh vang lên khắp mấy phòng liền. Bài hát này có tựa đề “My heart Will go on” tạm dịch là “ Trái tim hồi sinh” khi nghe được tôi hát vang lên như vậy thì cán bộ đến mở cửa và hỏi tôi : “Anh đã vào tù rồi, anh còn vui lắm sao mà vẫn còn ca hát thế hả ? ”.
Tôi đáp: Ai mà thích ngồi tù đâu, nhưng buồn thì có giúp được gì cho ta chứ ? Thất bại lớn nhất của con nguoi là đánh mất niềm tin và hy vọng. Nói như những người theo Chúa là không có đức tin. Tôi phải hát để xua tan nỗi buồn lo cán bộ à.
Thề rồi bữa cơm 9 h sáng lại đến, hôm nay thứ hai thì có thêm được một ít nước mắm. Lúc này nước mắm tuy nó cũng chẳng có chất lượng gì đâu nhưng rất quý, ăn không hết nên tôi để dành đến ba ngày sau đó chút ít nước mắm chất lượng dù chẳng ra gì. Ăn xong tôi lại ngủ đến chiều, dậy ăn cơm chiều rồi cũng chẳng hiểu tại sao chẳng thấy đi hỏi cung gì cả.
Thỉnh thoảng lại thấy cán bộ đến bên cửa buồng giam để hỏi thăm là tôi đã nhận được quà của gia đình chưa và có vấn đề gì cần đề nghị không ? Tôi trả lời là có lẽ gia đình tôi chưa biết tôi bị giam giữ ở đây cho nên chưa thể gửi quà được ngay cho tôi. Nhưng thực ra thì tôi biết gia đình tôi rất khó khăn, cộng với mới đầu tháng vợ tôi phải lo đóng tiền học cho hai cháu được ưu tiên hàng đầu. Rồi thì nào là tiền điện, tiền thuế má. tiền đóng hụi, tiền lãi xuất ngân hàng vv và.. .v.v.. cho nên chưa thể có tiền để đi thăm nuôi tôi được. Còn tôi có đề nghị cán bộ cho tôi một ít sách báo tiếng Anh cũ để tôi đọc nhằm nâng cao trình độ tiếng Anh ngữ của tôi nhưng bị cán bộ từ chối và nói: “Chúng tôi làm gì biết tiếng Anh, hơn nữa báo tiếng Việt còn chẳng có để mà đọc huóng hồ là tiếng Anh ”.
Hôm công an đọc lệnh khám nhà, vợ tôi chỉ vẻn vẹn có ba trăm ngàn đồng trong nhà và một công an hỏi vợ tôi “Chị có cần tiền thôi à. Nó viết nhiều bài như thế, hoạt động chống đối đảng và nhà nước mạnh như thế mà bọn phản động lưu vong hải ngoại không gửi tiền về cho sao ? ”.
Vợ tôi trả lời: “Thế các anh tưởng chồng tôi hoạt động dân chủ, yêu nước thương dân thì nhiều tiền lắm hay sao ? Các anh cũng thừa biết chỉ có bọn có chức quyền thì mới có điều kiện ăn cắp, ăn cướp, tham nhũng được nhiều tiền bạc của dân của nước chứ làm dân đen như chúng tôi lấy đâu ra những thứ đó. Các anh chẳng hiểu gì cả, buồn cho mấy anh quá đi mất !!!”.
Có những cán bộ trại giam Hỏa Lò này, họ hiểu rằng tôi là người đấu tranh đòi lại quyền tự quýêt của dân tộc và đòi sự công bằng, bình đẳng cho xã hội cho nên họ đối xử tỏ ra chu đáo ân cần và có vẻ rất tốt. Vì họ biết rằng nếu tôi được ra tù dù sớm hay muộn sẽ là cái loa tuyên truyền tốt nhất cho họ. Điều đó hoàn toàn trái ngược với trước đây, khi tôi bị liên tục an ninh mật vụ bắt giữ, đánh đập tàn bạo 11 lần trong vòng hơn 1 năm trời, bị tịch thu 11 điện thoại, 5 USB, hơn 1 triệu đồng, bị đánh gãy 1 răng hàm và còn bị dọa giết bằng cách ném xuống sông Hồng trên đoạn cầu Chương Dương….!!!
Sáng thứ 3 ngày 11/11/2008 vẫn như thường lệ tôi dậy sớm tập thể dục và làm vệ sinh xong xuôi đâu đấy thì cán bộ trại mở cửa cho tôi lấy phần cơm nước của mỗi tù nhân. Thế nhưng chưa kịp ăn thì phải đi cung, trong lúc ngồi xếp hàng chờ đợi đọc tên thì tôi cũng tranh thủ hỏi thăm và giải thích cho những bạn tù hiểu biết thế nào là dân chủ, nhân quyền và thế nào là quyền tự quyết của dân tộc. Được nhiều người yêu thích và xin địa chỉ của tôi và hứa hẹn đến ngày ra tù họ sẽ đến nhà tôi và xin được tham gia phong trào đấu tranh đòi nhân quyền, tự do dân chủ cho đất nước.
Hôm đó tôi được trung tá điều tra viên PA- 24 của sở công an TP Hà Nội trích xuất khỏi trại giam Hỏa Lò để xin được đưa về trụ sở 87 phố Trần Hưng Đạo. Chính nơi đây là trụ sở của công an TP Hà Nội, sở dĩ họ phải làm như vậy là để tôi chứng kiến việc mở niêm phong các thùng tài liệu khi họ khám xét nhà tôi chiều hôm mồng 8/11/2008.
Trong buổi làm việc tiến hành thủ tục mở niêm phong 2 thùng tài liệu của tôi gồm ngoài có tôi còn có một phụ nữ là chị Võ Hồng Vân đại diện cho viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội cô này mặc quần áo xanh thẫm quân phục của viện như dân chúng Hà Nội vẫn gặp tại các phiên tòa hoặc trong các cơ quan của ngành kiểm sát. Tất nhiên không thể thiếu sự có mặt của trung tá điều tra viên Nguyễn Văn Xuyền và thượng tá điều tra viên mà tôi quên mất tên ông ta.
Khi mở niêm phong các thùng tài liệu của tôi thì họ thấy chủ yếu là các tập đơn khiếu kiện của dân oan họ gửi nhờ tôi xem và viết giúp đơn kêu oan cho họ + 4 cuốn băng cát sét học tiếng Anh cùng 4 địa VCD ca nhạc và 1 USB của tôi đã bị hư.
Cánh an ninh và các lãnh đạo của phòng PA – 24, họ kêu mấy nữ chuyên gia Anh ngữ đến kiểm tra thì tôi cũng nói ngay với các chuyên gia Anh ngữ rằng : “Việc nghe tiếng Anh không phải đơn giản. Trên thế giới hiện nay có 206 nước nhưng có đến 26 ngàn giọng nói tiếng Anh khác nhau. Tôi đã từng chứng kiến người Anh với người Mỹ nói chuyện với nhau còn khối từ không hiểu nhau chứ nói gì đến người Việt Nam ta…”. Thế là mấy cô chuyên gia Anh ngữ tuổi còn khá trẻ vội vàng nói: “Không, không, chúng cháu không phải là chuyên gia gì đâu…”
Các cô chuyên gia nghe xong và kết luận : “Đây là những băng cát sét học tiếng Anh chứ không có nội dung gì đâu”. Còn 4 đĩa VCD của tôi họ kiểm tra thì thấy cũng chỉ có nội dung ca nhạc bình thường thôi. Thế là họ bảo tôi là lấy bút xoá để ghi tên tôi vào băng đĩa để trả lại cho tôi nhưng trung tá Xuyền nói : “Không được phải lấy bút phớt, mực không xoá được để cho ông ấy ký và ghi rõ họ tên vào, chứ ông này giỏi cãi lắm ! ”.
Họ bảo tôi ký vào tất cả các tài liệu kể cả của tôi viết và các tập đơn từ khiếu kiện của dân oan các tỉnh. Đến 11 h 30 trưa thì họ mua cơm hộp mang vào phòng cùng ăn trưa với tôi. Ăn xong tôi và họ làm việc thông tầm cho đến 18 h 00 mới ký xong việc mở niêm phong các thùng tài liệu đã khám xét thu giữ tại nhà tôi. Sau đó họ đưa tôi về bàn giao lại cho trại giam Hoả Lò lúc đó là đúng 20 h 00 tối, kết thúc 1 ngày mệt nhọc bị tra vấn căng thẳng với công an tôi mới được về tới phòng tạm giữ để nghỉ ngơi. Đêm hôm đó tôi ngủ rất ngon lành từ hôm bị bắt giữ vào tù, bởi vì làm việc suốt cả ngày liên tục quá mệt mỏi.
Cùng ngày 17 h 30 ngày 11/11/2008 cơ quan an ninh điều tra PA - 24 TP Hà Nội ra hạn tạm giữ 3 ngày, còn lần thứ nhất lệnh tạm giữ được viện kiểm sát TP Hà Nội ký phê chuẩn. Cả ngày 12/11/2008 không phải đi cung và cũng không thấy động tĩnh gì. Đến bữa cơm một trung tá cán bộ của trại thấy tôi mấy ngày toàn ăn muối mắm và gia đình chưa kịp gửi quà thăm nuôi mà tôi cũng không hề ca thán một câu. Trước thái độ hết sức bình thường của tôi có lẽ người cán bộ đó cũng phải rung động con tim cho nên đã xin ba gói lạc rang, mỗi gói khoảng 100 gam và sai bảo một tù nhân tự giác cầm đưa cho tôi. Trước hành động đó, tôi đã gửi lời cảm ơn tới cán bộ đó về tình người mà ông ta đã dành cho. Tôi cứ nghĩ tại sao tất cả số an ninh mật vụ của sở công an TP Hà Nội trong hơn 1 năm qua đã bắt giam giữ và đánh đập tôi nhiều lần rất vô nhân đạo không học tập một số quản giáo cai tù trong trại Hỏa Lò trông nom các chính trị phạm như thế nhỉ, được như vậy thì tốt biết bao ?!
Mỗi bữa tôi chỉ dám ăn 1/3 gói lạc do người quản giáo tốt bụng kia xin cho, bởi vì cuộc chiến này còn phải kéo dài chứ không phải ngày một, ngày hai tôi đã xác định là như vậy.
Đến bữa sáng 13/11/2008 thì cậu tù nhân tự giác này lại đưa cho tôi hai gói lạc nữa và nói với tôi : “Anh cứ ăn thoả mái đi, hết em lại xin cho. Chứ ăn uống thiếu chất thế này mà chỉ có tí lạc mà anh cũng không dám ăn thì không thể đủ sức để chống chọi trong tù lâu dài được anh ạ ”. Tôi rất cảm động trước những tấm lòng nhân hậu của cán bộ trại và người bạn tù và ghi nhận những tấm lòng tỏ ra nhân ái, tình người của họ trong những ngày tôi bị bỏ tù.
Chiều hôm đó tôi phải đi cung. Tôi thấy một cán bộ trại cấp bậc đại uý tôi không biết tên, dẫn chúng tôi đi cung. Một cậu tù nhân hình sự chỉ có hỏi chuyện một tù nhân ở trong phòng tạm giam thôi mà bị cán bộ ấy chửi rủa thậm tệ và suýt nữa thì bị ăn đòn. Thế mới biết họ đối xử tử tế với mình là để mình khỏi phê phán về sự đối xử của họ với các tù chính trị của chế độ.
Cũng như lần trước trong lúc chờ đợi tôi lại tranh thủ tuyên truyền dân chủ, nhân quyền cho các tù nhân. Có lẽ họ đã phát hiện lần trước về sự tuyên truyền này cho nên gọi tên tôi vào làm việc đầu tiên để khỏi tuyên truyền dân chủ cho các tù nhân hình sự, vì thế làm cho anh em tù nhân phân bì và nói rằng tù nhân chính trị có khác nên được ưu tiên trước.
Hôm đó tôi lại tiếp tục làm việc với trung tá Nguyễn Văn Xuyền, cán bộ điều tra PA-24 công an TP Hà Nội với nội dung xung quanh chủ đề bài viết của tôi mà hôm 11/11/2008 ký ra giấy viết tay, hôm nay thì ký vào bản đánh máy.
Sau đó một trung tá tôi không biết tên đã đến hỏi tôi là : “ Cô dân oan Lê Thị Kim Thu làm việc với tôi ở phòng bên, Kim Thu biết tin anh cũng bị bắt giam vào tù nên muốn được gặp Lê Thanh Tùng anh có muốn cho gặp không ? ”
Tôi đáp : “Chuyện đó được thôi, có gì đâu mà ngại ”. Thế là tay trung tá đó xin phép trung tá Xuyền cho Kim Thu gặp tôi.
Trung tá khi trở về phòng để dẫn Kim Thu sang còn nói thêm một câu “Anh Tùng đánh Kim Thu dã man quá, bài viết đó anh viết, tôi công nhận là ác liệt, mạnh mẽ !!!”.
Tôi trả lời : “ Các anh chưa biết đấy thôi tại vì cô đánh tôi trước. Cô ta đã lén lút chụp ảnh tôi rồi đưa lên mạng nói vu cáo xuyên tạc xấu tôi cho nên tôi mới đánh chứ không thì tôi đâu có đánh phụ nữ làm gì….Hôm đó tôi vào các nhà trọ trong ngõ Ngọc Hà để lên danh sách cứu trợ gửi cho Hoà thượng Thích Không Tánh và chị Bảo Khánh để các vị ấy giúp đỡ dân oan trực tiếp và do các vị ấy nhờ giúp đỡ. Chứ tôi đâu có tự đi làm việc ấy vì còn rất nhiều việc bận rộn hơn mà nhà thì xa xôi, nhưng cô ta hiểu lầm do tôi làm mất mối làm ăn nên bịa đặt vu cáo như vậy thôi ”.
Ít phút sau trung tá ấy dẫn Kim Thu đến gặp tôi thấy cô ta xanh yếu do thiếu nắng và lo nghĩ nhiều có vẻ dè dặt rồi cất tiếng hỏi chào tôi : “Chào anh, anh có được khoẻ không ?”.
Tôi trả lời : Chào cô, cám ơn tôi vẫn khoẻ. Còn cô sức khỏe thế nào ?
Kim Thu trả lời : Em cũng bình thường. Em bị bắt ba tháng nay rồi. Anh có hay không?
Tôi trả lời: Sao lại không, tôi ở ngoài bị bắt sau nên biết hết, thế còn cô có hay anh chị em dân chủ ở ngoài miền Bắc bị bắt nhiều lắm không ?
Kim Thu hỏi: Ai hả anh ?
Tôi nói: Ở Hải Phòng có Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Xuân Nghĩa và Nguyễn Văn Tính. Tỉnh Bắc Giang có Ngô Quỳnh và dân oan Nguyễn Kim Nhàn. Ở Thái Bình có sinh viên Bùi Văn Toản và dân oan Nguyễn Văn Túc. Ở Hà Tây có thầy giáo Vũ Hùng và Phạm Văn Trội. Ở Nghệ An có nhà thơ Trần Đức Thạch, Long An có dân oan Nguyễn Thị Cẩm Hồng…Tất cả những người này đều bị bắt vào tù từ ngày 11/9/2008, riêng có sinh viên Bùi Văn Toản là mới được tạm tha thôi. Còn tôi thì mới bị bắt ngày 9/11 (sở dĩ tôi nói thế với Kim Thu để đọc cho có vẻ xuôi thôi vì nó ngược với số ngày tháng anh chị em bị bắt hàng loạt hôm 11/9 là 9/11 chứ thực tế tôi bị bắt ngày 6 và 8/11/ 2008).
Kim Thu nói : Anh nói có một số mà đã như thế, thì họ đã bị bắt gần hết rồi còn gì nữa.
Tôi nói : Hết làm sao được, tre già thì măng mọc lại, còn cô thì bao giờ bị xử án ?
Kim Thu trả lời : Em bị xử án rồi 18 tháng tù giam, nhưng hôm nay em lại đây viết đơn kháng án để xử phúc thẩm đó.
Tôi nói: Vậy là tốt khi đã rơi vào tay địch rồi thì có chết cũng phải chết một cách dũng cảm và đây còn là quyền lợi của mọi tù nhân khi bị xử sơ thẩm.
Kim Thu nói : Dạ, em cám ơn anh.
Kim Thu ngồi một hồi lâu như muốn nói điều gì nhưng có lẽ ngại và có vẻ ngượng ngập, tôi quan sát thấy cô ta mặt cúi xuống có vẻ gì mắc cỡ và hẫng hụt, bàng hoàng cho nên không nói gì thêm nữa. Sau đó Kim Thu vội vàng xin phép ra về mặc dù mấy công an ngồi cạnh không giục giã hay hạn chế thời gian cuộc gặp hiếm có này và cô ấy chào tôi : “Chúc anh luôn mạnh giỏi, em về phòng đây". Tôi cũng tươi cười đáp lại : “Chúc cô có thừa bản lĩnh nhé”…
Cuộc gặp có một không hai diễn ra trong trại giam Hỏa Lò do công an chính trị Hà Nội cố tình bố trí cho tôi gặp lại Kim Thu gần 10 phút đồng hồ là có mục đích chứ không phải do lòng tốt của họ. Sở dĩ họ tính toán như vậy là muốn qua cuộc tiếp xúc ngắn ngủi ấy để tôi thông tin cho cô ta việc rất nhiều anh chị em dân chủ và một số dân oan đã bị bắt nhằm đánh gục nốt ý chí của cô ta còn sót lại hoặc mất hết sự tin tưởng số người còn lại bên ngoài sẽ lên tiếng gì đó cho mình chăng ? Họ quả là cao thủ, nhưng đối với tôi thì vô ích, vì họ thừa biết không gì có thể lay chuyển được tinh thần tranh đấu của tôi trong nhà tù của họ. Đối với Kim Thu và nhiều người khác thì họ đã làm được nhưng với tôi thì không thể, không bao giờ làm được !
Sau đó tôi tiếp tục ký vào biên bản mở niêm phong thùng tài liệu của tôi bữa trước ký bằng biên bản viết tay. Hôm nay họ bảo tôi ký vào biên bản đánh máy. Sau đó họ bảo tôi ký vào giấy gia hạn tạm giữ lần 2 từ 18 h ngày 14/11/2008 đến 18h ngày 17/11/2008 xong họ cho tôi về phòng tạm giữ nghỉ ngơi.
Cả ngày 14/11/2008 không thấy động tĩnh gì.
Đến 9h sáng, ngày 15/11/2008 khi tôi đã ăn cơm xong thì được cán bộ trại kêu tôi đi cung. Trong lúc chờ đợi tôi lại tranh thủ truyền bá tư tưởng dân chủ cho anh em tù nhân hình sự mà mình đã gặp. Lần này thì làm việc với hai cán bộ điều tra PA-24 công an TP Hà Nội là Nguyễn Duy Ngọc và Đỗ Minh Hải, nội dung xoay quanh vấn đề bài viết với tựa đề “Phương pháp xây dựng cơ sở và phát triển phong trào cách mạng dân chủ Việt Nam trong công cuộc chống chế độ độc tài CSVN ” của tôi.
Điều tra viên Nguyễn Duy Ngọc hỏi : Anh cho biết là anh đã gửi phát tán bài này cho ai chưa ?
Tôi trả lời: Tôi chưa hề gửi cho ai cả.
Điều tra viên (ĐTV) Nguyễn Duy Ngọc hỏi tiếp: Anh cho biết trong tài liệu anh viết này từ ngày 7/10/2008, thì tại sao anh lại chưa gửi và phát tán cho ai là lý do tại sao ?
Tôi trả lời: Tài liệu này tôi viết với mục đích để lưu hành nội bộ chứ không phải là để đăng báo. Nhưng do tôi đánh máy và coppy vào USB chưa kịp gửi cho một số nhà dân chủ thì USB của tôi đã bị hỏng. Thế rồi công việc bận mà tôi quên mất cho nên chưa gửi cho ai cả.
ĐTV Ngọc hỏi: Anh cho biết, anh dự định gửi tài liệu này cho những ai ?
Tôi đáp: Tôi dự định gửi tài liệu này cho anh Nguyễn Khắc Toàn, kỹ sư Đỗ Nam Hải, các vị khác như anh Nguyễn Chính Kết, ông Trần Khuê và Linh mục Phan Văn Lợi…
ĐTV Ngọc hỏi : Anh cho biết, anh có nghiên cứu cương lĩnh của khối 8406 không ? Tài liệu này có ai hướng dẫn hay gợi ý không, hay là anh tự viết ra ? Mà bài viết của anh được chúng tôi đánh giá là ngang ngửa với cương lĩnh chính trị của khối 8406 đó.
Tôi trả lời: Các anh cứ có cái tật coi thường tôi. Các anh có biết các ông Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười… đều là các tổng bí thư của ĐCSVN và họ chỉ học có lớp 3 trường làng, mà còn làm được Tổng bí thư của cả một ĐCS không ? Tuy nhiên tôi có đọc lướt qua cương lĩnh khối 8406, chứ không hề có in ra để nghiên cứu. Tôi hoàn toàn tự nghĩ, tự viết chữ không hề có sự chỉ đạo hay hỏi ý kiến của ai cả. Chắc các anh không tin sau một năm hoạt động đấu tranh đòi tự do dân chủ của tôi mà tôi đã trưởng thành đến thế phải không ???
Nhân đây tôi cũng xin nói để các anh biết, quan niệm của người phương Tây là : “ Tuổi thơ đến tuổi 20 chỉ là vừa học vừa chơi thôi. Tuổi từ 20 đến 40 là tuổi học tập và tích luỹ kinh nghiệm. Còn tuổi từ 40 đến 60 là tuổi lý tưởng để cống hiến. Chính vì thế cho nên ở các nước dân chủ người ta thường bỏ phiếu bầu cử tổng thống cho những người tuổi từ 40 đến 60 thôi. Các anh có thấy không ? Tôi sẽ tiếp tục chứng minh năng lực của tôi cho các anh phải tâm phục, khẩu phục…”.
Thế rồi điều tra viên Nguyễn Duy Ngọc xoay sang đề tài với nội dung đại loại là ép tôi phải thừa nhận những việc làm của tôi là sai trái với pháp luật hiện hành. Nhưng tôi cương quyết khẳng định rằng những việc làm của tôi là đúng hiến pháp Việt Nam và Công ước nhân quyền của quốc tế hiện nay. Còn tất cả các luật, các văn bản hướng dẫn dưới luật đi ngược lại với hiến pháp thì đều là vì hiến mà tôi luôn sẵn sàng ra vành móng ngựa tranh luận trước toà mà không cần quan tâm tới mức án của đảng và nhà nước gán buộc cho mình, và tôi có thể không cần luật sư baò chữa. Khi bị vào tù thì tôi lại tuyên truyền đấu tranh dân chủ ở trong tù. Tôi cũng đã học được những phương pháp đấu tranh trong tù của cụ Hoàng Minh Chính, của Cha Lý, của Hòa thượng Thích Quảng Độ, của chú Trần Khuê, của anh Nguyễn Khắc Toàn, của chị Hồ Thị Bích Khương và rất nhiều người khác nữa… Thế rồi hết giờ hỏi cung (giờ hỏi cung buổi chiều từ 2h00 – 4 h00) và họ trả lại cho tôi về phòng tạm giữ 12A.
01 h 00 sáng ngày 16/11/2008 thì nghe tiếng cạch một cái, tôi giật mình thức dậy thì thấy cán bộ trại dẫn một người đàn ông trung niên vào phòng tạm giam với tôi. Sau đó tôi trò chuyện với anh ta thì được biết anh ta tên là Chí sinh 1971 hiện cư trú tại quận Bình Tân - TP Sài Gòn. Vợ chồng anh bị bắt tại Sài Gòn vì liên quan tới vụ án trộm cắp vàng tại Hà Nội. Vợ chồng anh đã bị giữ 2 ngày tại khám Chí Hoà và mới đưa ra ngoài này bằng máy bay. Chúng tôi nói chuyện qua loa, tôi đi ngủ.
Sáng ngày 16/11/2008 hai chúng tôi dậy lúc khoảng 7h00 và tập thể dục. Sau đó suốt cả ngày hôm đó tôi truyền bá tư tưởng dân chủ cho anh Chí và anh đã xin địa chỉ của tôi và Email của tôi. Anh Chí hứa với tôi rằng: “Nhất định ngày nào đó tôi khi được ra tù tôi sẽ tới thăm anh và tôi sẽ theo anh để đấu tranh dân chủ cho đất nước. Bởi vì tôi thấy cái chế độ này nó vô cùng bất công và tàn bạo. Tôi cũng muốn đứng lên để đấu tranh từ lâu rồi nhưng tôi không biết tìm đến ai để được hướng dẫn cho các phương pháp đấu tranh. Hôm nay tôi hết sức vui mừng gặp được anh ở đây…”
Tối hôm đó sân vận động quốc gia Mỹ Đình sáng trưng và nghe thấy tiếng reo hò vang dội của khán giả trong sân thể thao này (Nhà tù Hoả Lò đối diện với sân VĐQG Mỹ Đình tính theo đường chim bay chỉ khoảng gần 1 km). Tôi hỏi cán bộ trại thì được hay là đội tuyển Việt Nam đang thi đấu với đội tuyển Thái Lan. Tôi nói với cán bộ trại là mở to Tivi lên cho chúng tôi nghe với những tiếng la hét của khán giả ở trên sân còn to hơn tiếng ti vi.
Cả đêm đó lẫn ngày hôm sau tôi không buồn ngủ. Sáng ngày 17/11/2008 tôi cũng không thấy gọi đi cung. Chiều hôm đó tôi có nói với anh Chí là “Tôi có linh cảm là hôm nay tôi được thả vì là cứ mỗi lần chuẩn bị đi xa là tôi rất thèm ngủ”.
Đến 13h thì cán bộ trại đưa giấy phát quà cho tôi. Tôi ra nhận quà mang vào hai anh em cùng ăn. Đến khoảng 14 h 30 thì chúng tôi ăn cơm. Chúng tôi ăn cơm với thịt kho do vợ tôi gửi vào, nhưng tôi nhìn những miếng thịt kho toàn là mỡ thì tôi biết chắc chắn đây không phải là do tự tay vợ tôi nấu bởi vì vợ tôi biết tính tôi không bao giờ ăn thịt mỡ. Mặc dù đã bị giam tổng cộng 11 ngày rồi và rất thèm thịt, nhưng những miếng thịt mỡ đối với tôi vẫn rất khó nuốt.
Ăn xong tôi đi tắm, vừa tắm xong thì cán bộ trại giam kêu tôi đi cung lúc đó khoảng hơn 15 h 00.
Tôi ra gặp hai cán bộ điều tra an ninh PA- 24 TP Hà Nội là Nguyễn Duy Ngọc và Đỗ Văn Hải đến làm việc. Hôm nay xoay quanh chủ đề về mối quan hệ của tôi với nông dân Dương Văn Nam và cuối cùng thì họ muốn tôi nhận tội nhưng tôi vẫn khẳng định mình là vô tội.
Cuối cùng thì họ thông báo cho tôi biết là có quyết định khởi tố tôi và hỏi tôi có kiến nghị gì không ? Tôi kiến nghị là tôi phản đối quyết định khởi tố của cơ quan an ninh điều tra TP Hà Nội, bời vì tôi góp phần đấu tranh nền tự do dân chủ của đất nước và cho dân tộc Việt Nam và hoàn toàn hợp pháp, chính nghĩa và không hề vi phạm hiến pháp, luật pháp của nước CHXHCNVN cũng như công ước Quốc tế về quyền Con người. Do đó tôi nghĩ nhất định sẽ phải có ngày phải vào tù, rồi ra trước toà án của nhà nước các anh là chuyện đương nhiên không có gì là bất ngờ cả !
Cuối cùng là họ cho biết là họ vẫn quyết định khởi tố tôi, nhưng vì lý do nhân đạo và bởi sức khoẻ của tôi kém cho nên họ quyết định cho tôi tại ngoại với điều kiện là phải cam kết là về không được viết bài đưa lên mạng, không trả lời phỏng vấn các báo đài quốc tế + hải ngoại và cấm không được đi khỏi nơi cư trú, khi đi phải xin phép chính quyền địa phương trong suốt thời gian đã bị áp dụng quyết định khởi tố. Sau đó, họ cho tôi về phòng tạm giữ đến gần 18 h 00 thì mới được cán bộ kêu thu xếp quần áo để ra chuẩn bị ra khỏi trại giam Hỏa Lò. Tất cả số quà hơn 300 ngàn đồng VN tôi để lại cho anh Chí, một người tù không may rất khốn khổ đã ở với tôi mấy ngày cuối cùng trong buồng giam và chắc cũng giúp anh vơi bớt đi nỗi khổ cực được ít ngày.
Nhân đây tôi cũng cực lực phê phán lối bán sẵn đồ tiếp tế cho người tù trong trại Hoả Lò đang tiếp tục diễn ra, vì dư luận rộng rãi đã biết quá nhiều tiêu cực, điều xấu không lành mạnh, minh bạch qua kiểu cách ép buộc mua bán các đồ tiếp tế thăm nuôi do trại tổ chức chế biến sẵn từ bao năm qua, mà ai ai đi từ trại giam này ra đều ghê sợ. Chẳng hạn như việc trại giam Hoả Lò đã bắt buộc thân nhân các tù nhân khi đến đây tiếp tế phải mua các thức ăn hay đồ dùng sinh hoạt khác của trại mang rất nặng tính độc quyền kinh doanh với giá đắt cắt cổ hơn ngoài thị trường nhiều lần và nhiều khi lại bị hư thối nữa và tù thân nhân người tù vẫn phải cắn răng bỏ tiền ra mua cho người nhà của mình dùng. Trại Hoả Lò và sở công an Hà Nội không nên lấy lý do chỉ vì vài vụ phát hiện ra kẻ xấu đã lợi dụng chà trộn ma tuý hay vật cấm vào đồ tiếp tế của gia đình các tù nhân mang vào mà sinh ra cái phương cách quái đản như hiện nay để tiếp tục kinh doanh trục lợi làm giàu trên sự đau khổ, khốn cùng của các tù nhân nhất là các chính trị phạm bị giam giữ ở đây...
Chính vợ tôi hôm đi tiếp tế đã cho biết, phần lớn các hàng hoá ở đây đắt đều gấp từ 3 đến 3,5 lần so với giá ngoài thị trường của xã hội hiện nay. Hôm đó vợ tôi mang sẵn đồ mua ở nhà thì quản giáo trại đã bắt mang về và họ buộc vợ tôi phải mua các đồ chế biến sẵn của cưả hàng trại giam nơi gần cổng ra vào. Tôi xin hỏi thế những gia đình tù nhân nghèo sẽ ra sao, họ có chịu được các “cỗ máy chém” của trại giam Hoả Lò giương sẵn để chặt vào cổ, vào đầu họ không ? Vậy lãnh đạo sở công an Hà Nội nghĩ gì khi bất chấp dư luận để nhẫn tâm cố tình làm giàu, hút xương máu, bòn rút công sức lao động chân chính của thân nhân các gia đình họ ngoài xã hội ? Với việc đó trại giam Hoả Lò - nơi mang tiếng là để cải tạo tội lỗi hình sự cho các phạm nhân, thì đây chính họ đã và đang là địa điểm phạm pháp, phạm tội bóc lột nặng nề nhất lại được pháp luật của nhà nước XHCN mà trực tiếp là sở công an Hà Nội, ban giám thị trại Hoả Lò che chở tinh vi và như thế thì còn đâu mang ý nghĩa giáo dục con người trở về bản chất lương thiện, hay nhân bản đây ? Tôi mong các quý vị có thẩm quyền nên đọc bài viết này của tôi mà hãy mau mau loại bỏ hình thức kinh doanh vô nhân đạo hiện nay đi để cải tiến văn minh, tiến bộ lên cho xã hội và nhân dân được nhờ kẻo không cứ kéo dài tình trạng bất nhân này là có tội với dân tộc đấy !!!
Tối hôm đó hai cán bộ cùng một lái xe vượt hơn 30 km để đưa tôi về tới UBND xã Phù Lỗ, thì tôi đã thấy các công an xã Phù Lỗ và công an huyện Sóc Sơn đã có mặt tại đó. Tiếp đó họ đón vợ tôi ra UBND xã để làm thủ tục nhận chồng về. Vợ tôi không tin vì sợ bị họ lừa nhưng cuối cùng vợ tôi cũng ra xem sao. Họ cho vợ tôi cùng mọi người biết quyết định khởi tố của cơ quan an ninh điều tra PA-24 TP Hà Nội và quyết định phê chuẩn của viện kiểm sát NDTP Hà Nội về việc khởi tố tôi tội danh như trên đã nói.
Như vậy là đảng CSVN và nhà nước độc tài XHCN đã treo thanh gươm lên cổ tôi cũng như trường hợp quyết định xử phạt hành chính 12,5 triệu đồng đối với anh Phan Văn Phong ở số nhà 12 Tràng Tiền – Hà Nội hàng xóm của nhà anh Nguyễn Khắc Toàn đây. Dù anh Phong này chỉ là người ủng hộ dân chủ hoá đất nước và có quan hệ thân tình với anh em dân chủ thôi. Tất nhiên là nơi nhà anh đang ở và làm nghề photocoppi + đóng sổ sách thuê cũng là địa điểm anh Nguyễn Khắc Toàn thường hay lui tới vì hoàn cảnh đang bị quản chế tại phường rất chặt chẽ thì anh Toàn chỉ có duy nhất người hàng xóm này dám to gan giao du trò chuyện mà thôi. Bản thân anh Phan Văn Phong cũng đã bị đại tá Ngô Thái Chung đến thăm hỏi tận nhà khi anh đang làm việc nhằm sờ gáy, nắn gân anh trong gần 1 giờ để cảnh cáo đe doạ không được quan hệ với anh Nguyễn Khắc Toàn hàng xóm nữa nếu không muốn bị phiền phức, hệ luỵ. Bởi vì ông ta cho biết anh Toàn đang là thành phần chống đảng CSVN, chống chế độ và chống nhà nước VN XHCN khá nguy hiểm ở thành phố này mà cơ quan an ninh đã, đang đặt trong diện phải quản lý nghiêm ngặt. Hay trường hợp của anh Vũ Hùng trước kia khi họ bắt giữ 9 ngày trong trại B 14 Hà Nội vậy…vv… và vv…
Làm mọi thủ tục xong thì anh Bộ - chức vụ phó công an xã Phù Lỗ lấy xe máy chở 2 vợ chồng tôi ra về, còn công an xã, huyện và thành phố còn ở lại họp bàn về vấn đề gì thì tôi không rõ. Tôi thấy đáng ngờ là ở điểm, hai an ninh của sở công an TP Hà Nội khi áp giải tôi từ trại giam Hoả Lò về địa phương trước khi trả tôi về nhà thì họ chỉ có đọc một số văn bản viết nghe có vẻ rất hoành tráng y như rất đúng pháp luật của nhà nước XHCN này. Tôi xin lấy ví dụ, như việc họ đã đọc lệnh huỷ bỏ tạm giữ hành chính 9 ngày, đọc lệnh cấm không được đi khỏi nơi cứ trú và các biện pháp ngăn chặn khác...Thế nhưng tất cả các văn bản trên, họ đều phát ngôn từ miệng ra như vậy thôi, chứ đâu có giao cho tôi một mảnh giấy nào về các việc quan trọng này. Tôi cứ phân vân mãi là tại sao họ không giao các văn bản có nội dung đã đóng dấu quốc huy đỏ chói của cơ quan công an và viện kiểm sát như vậy cho mình nhỉ, hay là họ lo ngại tôi lại công bố mấy cái của nợ ấy cho cả thế giới biết và nếu thế thì đấy sẽ là những bằng chứng hùng hồn nhất về việc ở Việt Nam có đàn áp bất đồng chính kiến, đàn áp chính trị chăng ? Tôi mong tất cả ai biết hãy giải đáp dùm tôi với cho rõ ngọn ngành !!!
Vợ chồng tôi về tới nhà thì đã 20 h 45’ tối ngày 17/11/2008, sau đó cả gia đình tôi cùng bà con hàng xóm hết sức vui mừng. Tôi kể chuyện cho mọi người nghe rồi gọi điện cho anh Đỗ Nam Hải, anh Nguyễn Khắc Toàn…để thông tin, mọi người cũng mừng vui lắm.
Con đường dẫn đất nước và dân tộc ta đến dân chủ, tự do, đa nguyên đa đảng xóa bỏ vĩnh viễn độc tài toàn trị chắc chắn còn dài lâu, nhưng sẽ tất thắng hoàn toàn. Đảng CSVN có thể chỉ đạo công an, cảnh sát, mật vụ mở các chiến dịch bắt bớ đàn áp tống giam vào tù nhiều người yêu nước, nhưng không bao giờ bằng những việc ấy có thể giúp cho họ kéo dài vĩnh viễn ngai vàng quyền lực chuyên quyền độc đoán cho mình. Tôi có thể trở lại nhà tù và ở trong đó nhiều năm nhưng không bao giờ công an và đảng CSVN có thể thấy tôi đầu hàng và từ bỏ con đường tranh đấu sáng ngời chính nghĩa cao cả mà cuộc đời mình đã lựa chọn.
Đó là toàn bộ tường thuật 11 ngày tôi bị bắt giữ trong đó có 9 ngày tù giam mang biển số 5109Z của tôi. Và tôi cũng xin lỗi bạn Dương Văn Nam vì đã làm mất bức thư khá dài tới 8 trang khổ giấy A - 3 anh viết gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nên nhân đây tôi cố lục tìm trí nhớ để viết lại và công bố giúp nhằm bạn đọc xa gần biết nội dung thư này. Có thể trong nội dung bức thư có điều gì chưa được chính xác so với bản gốc viết tay của Nam, nên mong tác giả cùng bạn đọc bỏ qua, còn cơ bản là hoàn toàn đúng với lá thư đã bị công an Hà Nội bắt giữ tôi rồi tịch thu mất.
Tôi cũng rất tiếc việc đã bị công an Hà Nội tịch thu gần 10 trang viết tay ghi chép đầy đủ các tư liệu l ịch sử quý giá về cuộc gặp của tôi với 2 cựu tù nhân chính trị đã từng sống với thi sĩ Nguyễn Chí Thiện trong tù hơn 10 năm trơì dài đằng đẵng ở miền Bắc VN sau năm 1954. Đó là các ông : đại uý Kiều Duy Vĩnh và Lê Gia Khánh, các vị cựu chính trị phạm này đã bị tù đầy khốc liệt lần lượt là 16 năm và 12 năm chỉ vì họ là cựu sĩ quan quân đội quốc gia dưới chế độ cũ thời thuộc Pháp mà thôi. Tôi sẽ cố nhớ lại để viết bài báo về cuộc gặp gỡ định mệnh với họ trong buổi chiều ngày 05/11/2008 và sáng hôm sau thì tôi đã bị bắt giam như trên đã tường trình với quý vị.
Khi trở được tạm trở về nhà tôi còn được biết anh Nam đã bị công an Hà Nội triệu tập lên để làm việc tới mấy ngày liền và họ đã in ra bức thư gửi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từ bản chính viết tay của anh để thẩm vấn khá gay gắt. Thế mới buồn làm sao, ở Việt Nam hiện nay, người dân chỉ cần có suy nghĩ và nhận thức khác với tuyên truyền của đảng và nhà nước CSVN hay của bộ máy công an, cảnh sát, an ninh chính trị là đều bị phiền nhiễu và đều bị coi là phạm tội hình sự nghiêm trọng. Vậy mà ông Lê Dũng - người phát ngôn bộ ngoại giao của chính phủ CSVN và cả đích thân ông chủ tịch nước CHXHCN VN Nguyễn Minh Triết đã chính thức nói ở trong nước hay khi đi sang Hoa Kỳ đều oang oang trước báo giới quốc tế... Nào là : " Ở Việt Nam không có ai bị đàn áp vì bất đồng chính kiến, không có ai là tù nhân vì chính kiến hay lý do chính trị, tôn giáo mà chỉ có những người vi phạm luật pháp ...!!!??? ", rồi nào là : "Bất đồng chính kiến là chuyện bình thường..." !!!??? ...vv …và … vv...
Thế thì qua trường hợp của tôi và nông dân Dương Văn Nam mới rồi và liên tục hơn 1 năm qua đã bị lực lượng công an của đảng CSVN bắt giam, bỏ tù, đánh đập tàn nhẫn hay lập hồ sơ đưa vào sổ đen để theo dõi hay sách nhiễu rất cụ thể như trên đã trình bày rõ ràng. Thì các vị lãnh đạo của đảng CSVN và nhà nước này nên trả lời ra sao với công luận trong, ngoài nước và Quốc tế đây ? Tôi rất mong chờ và đợi câu trả lời của các vị, nếu được như vậy tôi trân trọng cám ơn quý vị nhiều lắm !!!
Viết từ ngày 18/11/2008 đến 25/11/2008
Cựu quân nhân, cựu bộ đội tình nguyện QĐNDVN
Công dân Lê Thanh Tùng bút danh Lê Ái Quốc
Địa chỉ nhà ở hiện nay : Khối 13, phố Chợ, thị trấn Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội
Địên thoại để bàn : 04 – 22189 - 645
Email liên lạc : aiquocle@gmail.com
THƯ GỬI THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG
THƯ GỬI THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG
Chú Dũng ơi, cháu là một nông dân chất phác, hiền lành nhất thôn 19 xã Tiên Hưng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang này. Gia đình cháu trông vào 15 sào ruộng, quanh năm đầu tắt mặt tối mà vẫn nghèo khổ quá…
Cháu là người thực hiện đầu tiên trong việc dồn điền đổi thửa của thôn 19. Gia đình cháu đã quá nghèo nhưng còn nhiều gia đình trong thôn còn nghèo khổ hơn gia đình cháu nhiều, chú Nguyễn Tấn Dũng ạ.
Quê hương cháu ngoài việc cho vợ đi xuất khẩu lao động đi làm thuê như trong phim Ô sin của Nhật Bản ấy mà, còn không có cách nào khác để thoát khỏi đói nghèo. Việc này có nghĩa là cho vợ đi làm đĩ để kiếm kinh tế và làm giầu mang về cho gia đình trong ở nước. Người ta đi làm gái điếm thì được ăn trắng mặc trơn và không phải làm bất cứ việc gì ngoại trừ việc làm tình, còn đằng này đi làm Ô Sin thì ban ngày phải làm lụng, hầu hạ, phải làm đủ mọi việc trên đời, ban đêm lại phải làm nô lệ tình dục cho ông chủ, nghĩ thật là vô cùng đau lòng và nhục nhã quá chú thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ơi !
Thưa chú ! Vợ chồng cháu cũng cãi nhau hoài vì thiếu thốn kinh tế, vì nghèo khổ túng bấn, đói rách… Vợ chồng cháu cũng nhiều lần phải tính đến chuyện cho vợ đi làm Ô sin ở Đài Loan nhưng do hai bên nội, ngoại không nhất trí như vậy.
Cháu cứ nghĩ mãi tại sao Đảng CSVN thường hay nói, nào là đất nước ta có rừng vàng, biển bạc, đất đai phì nhiêu, con người thì rất là thông minh, cần cù, chịu khó…lãnh đạo của đảng và nhà nước ta thì tài giỏi lắm. Thế mà nước ta lại cứ nghèo hèn mãi thế này và không biết bao giờ nước ta mới thoát khỏi cái cảnh cho phụ nữ đi xuất khẩu lao động hầu hạ bên xứ người khắp thế giới. Cho nên cháu mới viết bài để đóng góp ý kiến với Đảng CSVN để mong “Đảng ta” hiểu được nỗi đau khổ của nhân dân, để “Đảng ta” hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân hơn. Từ đó đảng CSVN có hướng đi đúng đắn hơn cho nhân dân bớt khổ đau, nghèo đói, lam lũ và đất nước ta vươn lên phồn vinh, giầu có và có tự do dân chủ…
Thưa chú Nguyễn Tấn Dũng, cháu chỉ làm có thế thôi mà công an huyện Lục Nam và công an tỉnh Bắc Giang cứ hành hạ cháu à. Họ làm cho cháu không làm ăn được gì chú Dũng ạ, suốt ngày cháu chỉ lo bị bắt giam bị đàn áp, bị khủng bố cuối cùng là sẽ bị tống vào tù giam của chú. Cháu suốt ngày nay bị công an thôn, xã, huyện, tỉnh, bộ trên trung ương và cả công an trên TP - Hà Nội nữa về và cháu liên tục đã bị gọi lên thủ đô để an ninh của chú tra khảo, đe dọa, khủng bố ghê rợn lắm chú Dũng à…. Vì mỗi lần như vậy cháu không thể làm ăn được gì, không đi cày ruộng, gặt lúa, tát nước, phun thuốc trừ sâu, bón phân cho rau màu, lúa, chăm sóc ruộng vườn, ao cá nuôi, không đi gánh gạch thuê được để nuôi vợ con, nên nhà cháu đã nghèo lại càng nghèo khổ hơn, vậy chú có biết cảnh ngộ đáng buồn mà gia đình cháu đang phải cắn răng chịu đựng như vậy không ?
Với 15 sào ruộng hiện nay, gia đình cháu thu nhập bình quân mỗi năm được 6,5 tấn thóc. Nhưng năm nay do thiên tai ngập lụt nặng nề vì mưa bão quá nhiều và sâu bệnh cũng lắm, cho nên mùa màng năm nay gia đình cháu chỉ cho thu nhập có gần 3,5 tấn thóc. Nếu trừ chi phí giống má, thuốc sâu, thuỷ lợi, công sức bỏ ra chăm bón cho các vụ lúa và phân bón, rồi cả công cày, cấy thì chỉ còn lại 0,5 tấn thóc thôi. Vậy thì với sản lượng lúa thu hoạch như thế thì gia đình cháu làm sao đủ nuôi 4 miệng ăn một năm đây hả chú? Còn việc chăn nuôi lợn, gà thì do thức ăn, cám bã, giá quá cao mà giá thịt gà, lợn lại thấp do nhập thực phẩm của Trung Quốc ồ ạt tràn vô tội vạ vào Việt Nam quá nhiều cho nên không có lời lãi gì nhiều chú ạ…
Ruộng của nhà cháu thấp trũng, cho nên cháu tận dụng vừa cấy lúa, vừa thả cá. Cá của cháu nuôi bị người hàng xóm ăn cắp. Cháu bắt được quả tang nhưng chính quyền, công an không giải quýêt, không bênh vực người bị hại, bị mất của. Người ăn cắp cá của cháu còn thách đố là “Tao đố mày lên Trung ương mà kiện đấy, có mà con kiến nó kiện củ khoai ”. Rõ ràng là kẻ ăn cắp cá trong ao của gia đình cháu này được sự che chở của cán bộ cấp xã, cấp huyện và có thể còn ở cấp cao hơn thế nữa…cho nên kẻ ăn cắp cá của gia đình cháu nó mới dám thách đố cháu như thế có phải không thưa chú ? Cháu thiết nghĩ những việc bất công đầy dẫy như thế của xã hội ta hiện nay mà còn chưa giải quyết nổi, huống chi là đảng và nhà nước của chú cứ mơ hồ muốn xây dựng XHCN tại Việt Nam, đây một cái thứ mô hình xã hội hão huyền hàng nghìn năm nữa cũng không thể thực hiện được chú Nguyễn Tấn Dũng ạ…
Cháu nghĩ chú và Trung ương Đảng CSVN, cần phải thực tế và thực dụng hơn một chút chứ đừng ước mơ, ảo tưởng viển vông để rồi nhân dân phải quá đau khổ do bị ăn cao lừa. Mà khi nhân dân đã không chịu đựng được nỗi khổ, nữa thì nhân dân ắt phải đứng lên làm cách mạng để thay đổi chế độ độc tài, độc trị của chú… mà khi nhân dân đã phải đứng lên lật đổ chế độ mang danh XHCN thì chính chú và Trung ương bị đau khổ bị thiệt hại về mọi mặt nhất là quyền lợi. Cho nên cháu viết bài góp ý có tính phê phán để nhằm cho chú và trung ương tránh khỏi những đau khổ mà không ai muốn thấy này.
Cuối cùng cháu chúc chú cùng Trung ương - Đảng CSVN hãy sớm thay đổi thể chế hiện nay để nhân dân và đất nước sớm được nhờ. Kính chúc chú và cả gia đình ta mạnh khỏe và hạnh phúc !
Cháu nông dân Dương Văn Nam
http://www.doi-thoai.com/baimoi1108_420.html
Địa chỉ cư trú hiện nay : Thôn 19, xã Tiên Hưng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
(Điện thoại liên lạc tạm thời hiện nay nếu chú muốn hãy gọi cho vợ cháu theo số công an Hà Nội và tỉnh Bắc Giang đã biết )
Chú Dũng ơi, cháu là một nông dân chất phác, hiền lành nhất thôn 19 xã Tiên Hưng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang này. Gia đình cháu trông vào 15 sào ruộng, quanh năm đầu tắt mặt tối mà vẫn nghèo khổ quá…
Cháu là người thực hiện đầu tiên trong việc dồn điền đổi thửa của thôn 19. Gia đình cháu đã quá nghèo nhưng còn nhiều gia đình trong thôn còn nghèo khổ hơn gia đình cháu nhiều, chú Nguyễn Tấn Dũng ạ.
Quê hương cháu ngoài việc cho vợ đi xuất khẩu lao động đi làm thuê như trong phim Ô sin của Nhật Bản ấy mà, còn không có cách nào khác để thoát khỏi đói nghèo. Việc này có nghĩa là cho vợ đi làm đĩ để kiếm kinh tế và làm giầu mang về cho gia đình trong ở nước. Người ta đi làm gái điếm thì được ăn trắng mặc trơn và không phải làm bất cứ việc gì ngoại trừ việc làm tình, còn đằng này đi làm Ô Sin thì ban ngày phải làm lụng, hầu hạ, phải làm đủ mọi việc trên đời, ban đêm lại phải làm nô lệ tình dục cho ông chủ, nghĩ thật là vô cùng đau lòng và nhục nhã quá chú thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ơi !
Thưa chú ! Vợ chồng cháu cũng cãi nhau hoài vì thiếu thốn kinh tế, vì nghèo khổ túng bấn, đói rách… Vợ chồng cháu cũng nhiều lần phải tính đến chuyện cho vợ đi làm Ô sin ở Đài Loan nhưng do hai bên nội, ngoại không nhất trí như vậy.
Cháu cứ nghĩ mãi tại sao Đảng CSVN thường hay nói, nào là đất nước ta có rừng vàng, biển bạc, đất đai phì nhiêu, con người thì rất là thông minh, cần cù, chịu khó…lãnh đạo của đảng và nhà nước ta thì tài giỏi lắm. Thế mà nước ta lại cứ nghèo hèn mãi thế này và không biết bao giờ nước ta mới thoát khỏi cái cảnh cho phụ nữ đi xuất khẩu lao động hầu hạ bên xứ người khắp thế giới. Cho nên cháu mới viết bài để đóng góp ý kiến với Đảng CSVN để mong “Đảng ta” hiểu được nỗi đau khổ của nhân dân, để “Đảng ta” hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân hơn. Từ đó đảng CSVN có hướng đi đúng đắn hơn cho nhân dân bớt khổ đau, nghèo đói, lam lũ và đất nước ta vươn lên phồn vinh, giầu có và có tự do dân chủ…
Thưa chú Nguyễn Tấn Dũng, cháu chỉ làm có thế thôi mà công an huyện Lục Nam và công an tỉnh Bắc Giang cứ hành hạ cháu à. Họ làm cho cháu không làm ăn được gì chú Dũng ạ, suốt ngày cháu chỉ lo bị bắt giam bị đàn áp, bị khủng bố cuối cùng là sẽ bị tống vào tù giam của chú. Cháu suốt ngày nay bị công an thôn, xã, huyện, tỉnh, bộ trên trung ương và cả công an trên TP - Hà Nội nữa về và cháu liên tục đã bị gọi lên thủ đô để an ninh của chú tra khảo, đe dọa, khủng bố ghê rợn lắm chú Dũng à…. Vì mỗi lần như vậy cháu không thể làm ăn được gì, không đi cày ruộng, gặt lúa, tát nước, phun thuốc trừ sâu, bón phân cho rau màu, lúa, chăm sóc ruộng vườn, ao cá nuôi, không đi gánh gạch thuê được để nuôi vợ con, nên nhà cháu đã nghèo lại càng nghèo khổ hơn, vậy chú có biết cảnh ngộ đáng buồn mà gia đình cháu đang phải cắn răng chịu đựng như vậy không ?
Với 15 sào ruộng hiện nay, gia đình cháu thu nhập bình quân mỗi năm được 6,5 tấn thóc. Nhưng năm nay do thiên tai ngập lụt nặng nề vì mưa bão quá nhiều và sâu bệnh cũng lắm, cho nên mùa màng năm nay gia đình cháu chỉ cho thu nhập có gần 3,5 tấn thóc. Nếu trừ chi phí giống má, thuốc sâu, thuỷ lợi, công sức bỏ ra chăm bón cho các vụ lúa và phân bón, rồi cả công cày, cấy thì chỉ còn lại 0,5 tấn thóc thôi. Vậy thì với sản lượng lúa thu hoạch như thế thì gia đình cháu làm sao đủ nuôi 4 miệng ăn một năm đây hả chú? Còn việc chăn nuôi lợn, gà thì do thức ăn, cám bã, giá quá cao mà giá thịt gà, lợn lại thấp do nhập thực phẩm của Trung Quốc ồ ạt tràn vô tội vạ vào Việt Nam quá nhiều cho nên không có lời lãi gì nhiều chú ạ…
Ruộng của nhà cháu thấp trũng, cho nên cháu tận dụng vừa cấy lúa, vừa thả cá. Cá của cháu nuôi bị người hàng xóm ăn cắp. Cháu bắt được quả tang nhưng chính quyền, công an không giải quýêt, không bênh vực người bị hại, bị mất của. Người ăn cắp cá của cháu còn thách đố là “Tao đố mày lên Trung ương mà kiện đấy, có mà con kiến nó kiện củ khoai ”. Rõ ràng là kẻ ăn cắp cá trong ao của gia đình cháu này được sự che chở của cán bộ cấp xã, cấp huyện và có thể còn ở cấp cao hơn thế nữa…cho nên kẻ ăn cắp cá của gia đình cháu nó mới dám thách đố cháu như thế có phải không thưa chú ? Cháu thiết nghĩ những việc bất công đầy dẫy như thế của xã hội ta hiện nay mà còn chưa giải quyết nổi, huống chi là đảng và nhà nước của chú cứ mơ hồ muốn xây dựng XHCN tại Việt Nam, đây một cái thứ mô hình xã hội hão huyền hàng nghìn năm nữa cũng không thể thực hiện được chú Nguyễn Tấn Dũng ạ…
Cháu nghĩ chú và Trung ương Đảng CSVN, cần phải thực tế và thực dụng hơn một chút chứ đừng ước mơ, ảo tưởng viển vông để rồi nhân dân phải quá đau khổ do bị ăn cao lừa. Mà khi nhân dân đã không chịu đựng được nỗi khổ, nữa thì nhân dân ắt phải đứng lên làm cách mạng để thay đổi chế độ độc tài, độc trị của chú… mà khi nhân dân đã phải đứng lên lật đổ chế độ mang danh XHCN thì chính chú và Trung ương bị đau khổ bị thiệt hại về mọi mặt nhất là quyền lợi. Cho nên cháu viết bài góp ý có tính phê phán để nhằm cho chú và trung ương tránh khỏi những đau khổ mà không ai muốn thấy này.
Cuối cùng cháu chúc chú cùng Trung ương - Đảng CSVN hãy sớm thay đổi thể chế hiện nay để nhân dân và đất nước sớm được nhờ. Kính chúc chú và cả gia đình ta mạnh khỏe và hạnh phúc !
Cháu nông dân Dương Văn Nam
http://www.doi-thoai.com/baimoi1108_420.html
Địa chỉ cư trú hiện nay : Thôn 19, xã Tiên Hưng, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
(Điện thoại liên lạc tạm thời hiện nay nếu chú muốn hãy gọi cho vợ cháu theo số công an Hà Nội và tỉnh Bắc Giang đã biết )
ĐÀI LOAN và CỘI NGUỒN BÁCH VIỆT
Đài Loan và cội nguồn Bách Việt
Blacky’s Blog
Friday November 28, 2008 - 04:22pm (ICT)
http://blog.360.yahoo.com/blog-KMd8BGwhaa8mtAF4pgc8Gaj7LfT3vm0Y?p=4384
"người Đài Loan có thể xem mình là người Mân Việt cổ xưa chứ không phải là người Hán từ Trung Quốc, họ quyết tâm giành độc lập, còn tương lai người Việt Nam chúng ta thì sao?"
TG : Nguyễn Đức Hiệp Ph.D
Năm 2000, một sự kiện lịch sử xảy ra ở ven bờ Thái Bình Dương. Sự kiện đó không phải là Thế vận hội 2000 ở Sydney mà thế giới chú ý đến trong vài tuần, mà là một diễn biến í người để ý đến. Một sự kiện sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến chính trị và có thể làm thay đổi cách nhìn của thế giới bên ngoài của nhiều nước trong vùng. Sự kiện đó chính là kết quả bầu cử ở hòn đảo Đài Loan bé nhỏ. Ứng cử viên Trần Thủy Biển (Chen Shui-Bian) của đảng Dân Chủ Tiến Bộ (Democratic Progressive Party) đã thắng Quốc Dân Đảng và trở thành Tổng Thống Đài Loan, một sự thay đổi chính quyền không đổ máu, không bạo động lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc. Lịch sử Trung Quốc ? Thực ra trong tâm của vị tân tổng thống thì hướng đi của chính sách mà ông đã theo đuổi từ nhiều năm trước, mà đại đa số dân đã đồng ý, thì hòn đảo này với dân số hơn 20 triệu sẽ không còn là bộ phận của Trung Quốc nữa. Nó sẽ là một quốc gia khác đứng ngoài quỹ đạo của dân tộc Trung Hoa, nó không còn dính gì trực tiếp đến Trung Quốc hay lịch sử Trung Quốc nữa, cũng như Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đây đã cắt lìa khỏi nước Anh để tạo riêng vận mệnh của mình.
Phản ứng của Trung Quốc that dữ dội và giận dữ, báo chí Trung Quốc dùng những lời lẽ nặng nề chưa từng thấy đối với một cá nhân, không kém những từ ngữ dùng trong cách mạng văn hóa đối với các kẻ thù giai cấp và đế quốc xưa kia trong thập niên 1960. Mấy tuần trước ngày bầu cử, hải quân Trung Quốc đã tập trận bắn tên lửa ở eo biển Đài Loan. Trên đất liền, Trung Quốc dàn tên lửa hướng về Đài Loan đe dọa tinh thần dân chúng, đặt áp lực với chủ ý sẽ làm cho cử tri run sợ chiến tranh mà phải bầu cho ứng cử viên Quốc Dân Đảng ! Oái ăm thay, Quốc Dân Đảng là kẻ thù trước đây của đảng cộng sản Trung Quốc. Lúc này cả hai lại cùng chính sách, cùng quan điểm rút từ một nền tảng tư tưởng trung ương tập quyền Đại Hán truyền thống lâu đời.
Điều gì đã gay ra sự cố động trời như vậy ? Ngoài sự kiện ông Trần Thủy Biển là một người Đài Loan bản xứ chính cống, không phải từ lục địa di đến khi Quốc Dân Đảng thua bỏ chạy sang, thì tư tưởng và hoài bão của ông, đại diện cho hoài bão của đa số người Đài Loan bản xứ, chính là điều mà Trung Quốc sợ hải hơn hết. Thật sự thì không phải mà đột nhiên có sự tự phát, xuất hiện một tư tưởng tự chủ như vậy, mà nó đã có một lịch sử khá lâu dài. Tư tưởng ấy đã bị đè nén, thay thế bởi một tư tưởng khác từ bên ngoài ép đặt trên văn hóa, tư tưởng của dân tộc Đài Loan trong nhiều năm qua.
Tôi đặc biệt lưu ý đến lịch sử Đài Loan và hoài bão của người dân khi tôi viến Đài Loan trong một dịp dự hội nghị khoa học về môi trường khí quyển ở thành phố Đài Trung (Taitung), do hai Viện Hàn Lâm Khoa Học Đài Loan và Hàn Lâm Khoa Học Úc tổ chức vào tháng 6/2000. Trước đây tôi chỉ để ý và nghiên cứu chút ít về người bản xứ thổ dân sống ở Đài Loan trước khi người Hoa từ lục địa di dân sang. Bài này có mục đích tìm hiểu những diễn biến về sự thay đổi trong xã hội, văn hóa và tư tưởng của người dân Đài Loan trong vòng 20 năm nay. Nó gợi lại trong lịch sử và trong tiềm thức của người Việt những gì tương tự mà dân tộc Việt Nam đã trải qua cách đây hơn 1.000 năm.
Cách Mạng Văn Hóa Hay Tuyên Ngôn Độc Lập ?
Buổi lễ nhậm chức tổng thống ngày 20/5/2000 ở Đài Bắc được tổ chức tại sân trước cửa dinh Tổng Thống, một kiến trúc thời Minh Trị xây trước đây làm dinh cho viên toàn quyền của Nhật khi họ còn cai trị Đài Loan. Dinh này cũng biểu trưng quyền lực của Quốc Dân Đảng trong bao năm trước đây khi họ nắm quyền hơn nửa thế kỷ. Những sự kiện xảy ra ở buổi lễ mang nay những biểu tượng đáng kể, mà một nhà nghiên cứu ở Viện Xã Hội học, thuộc Hàn Lâm Trung Hoa (Academia Sinica) ở Đài Bắc đã viết lại như sau trên diễn đàn điện tử về Đông Nam Á (Southeast Asia Discussion List, SEASIA-L) (1).
Buổi lễ bắt đầu 9:50 sáng, quan khác trong và ngoài nước tưởng sẽ nghe bài quốc ca Cộng Hòa Trung Quốc (Republic of China) đầu tiên, nhưng tất cả đều ngạc nhiên khi một nhóm nhạc sĩ thổ dân của bộ lạc Bunum bản xứ (thuộc tộc Austronesian) đứng lên hát bài ca dân tộc truyền thống “Báo tin vui”. Sau đó là phần trình diễn của các bộ laic bản xứ Austronesian khác, tiếp theo là bài hát dân ca của người Hakka (Khách trú) và dân ca người Hoklo. Chỉ khi Tổng Thống Trần Thủy Biển và Phó Tổng Thống, bà Annette Lu bước ra từ dinh Tổng Thống thì bài quốc ca mới được hát sau cùng. Người hát quốc ca là cô ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan (và Trung Quốc) Cheng Hui-Mei (Amei), gốc người thổ dân bộ lạc Puyma. Cô rất được thính giả ái mộ, không những ở Đài Loan mà còn ở Trung Hoa lục địa. Trước kia không bao giờ có sự có mặt của văn hóa địa phương trong những nghi lễ trịnh trọng. Nay thì ngay cả bài quốc ca cũng xuống hàng thứ yếu. Sự phá vỡ nghi thức này rất có ý nghĩa. Nó có chủ đích cho thấy là chính phủ mới từ đây về sau sẽ theo đuổi chính sách đứng trên quan điểm của người địa phương (Hoklo, Hakka, Austronesian) chứ không như chính phủ Quốc Dân Đảng trước kia đứng trên quan điểm trọng Hán.
Hiểu được hậu ý của chính phủ Trần Thủy Biển, Trung Quốc đã giận dữ, ngay cả Amei cũng không thoát khỏi sự tức giận ấy. Sauk hi cô tham dự và hát bài quốc ca Đài Loan (Cộng Hòa Trung Hoa) ở lễ nhậm chức của Tổng Thống Trần Thủy Biển, chính phủ Trung Quốc ra lệnh tẩy chay Amei. Đài truyền hình, truyền thanh từ ngày đó không được trình chiếu, phát hành các bài hát của ca sĩ Amei. Báo chí bị cấm đề cập đến co, ngay cả các biểu ngữ quảng cáo cũng không được đăng các hình ảnh ca sĩ Amei. Ở Bắc Kinh và Thượng Hải, hình Amei trên các bảng quảng cáo nước ngọt Sprite của công ty Coca-Cola bị bôi xóa đi. Tuy vậy các đĩa CD của cô, người ta vẫn còn có thể tìm thấy được ở một số các cửa hàng nếu chịu khó lùng kiếm. Wu Bai, một nam ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan và Trung Quốc, cũng chịu chung số phận, khi ông hát và ủng hộ Trần Thủy Biển.
Bài diễn văn của Trần Thủy Biển rất ít đề cập đến sự quan hệ với Trung Quốc, một vấn đề thời sự nóng bỏng lúc đó, mà hầu hết là về lịch sử và văn hóa Đài Loan, về cải tổ chính trị và chính sách đối nội. Trần Thủy Biển nói tới Đài Loan 40 lần. Cộng Hòa Trung Quốc (ROC) 9 lần. Trung Quốc chỉ có 1 lần nhưng Formosa (tên cũ của đảo Đài Loan) 2 lần và 4 lần nhấn mạnh nói lớn “Đài Loan đứng lên !”.
Đài Loan đã thực sự đứng day về văn hóa và chính trị. Trần Thủy Biển nêu lên những sự áp bức, xâm lược bởi đế quốc mà dân chúng ở cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đã là nạn nhân trong thế kỷ 20. Thật sự Đài Loan còn khổ sở nặng hơn dưới chế độ thực dân Nhật. Những kinh nghiệm lịch sử tương tự như thế đáng ra đã mang lại sự thông cảm giữa hai dân tộc ở hai bên eo biển Đài Loan để từ đó đặt nền tảng cho việc thiết lập tự do, dân chủ và nhân quyền cùng với nhau. Tuy nhiên, do sự phân ly lâu dài trong lịch sử, hai vùng đã phát triển theo hai hướng khác nhau, đi đến sự khác biệt tột độ về nhiều phương diện, từ hệ thống chính trị đến văn hóa và phong cách sống. Điều này đã cản trở sự thông cảm và thiết lập tình hữu nghị giữa hai nước.
Bài diễn văn này là một tuyên bố chính trị quan trọng. Ông phân biệt rõ sự khác biệt giữa lịch sử Trung Quốc và lịch sử Đài Loan. Đài Loan đã trải qua thời kỳ bị Nhật đô hộ lâu dài và đã có lịch sử riêng chứ không phải chỉ có lịch sử mới đây mới đây tách ra khỏi Trung Quốc bắt đầu từ 1949, với nhãn quan của người Hán đặt trọng tâ vào cuộc nội chiến quốc – cộng. Ông nói là cách đây 400 năm, Đài Loan được gọi là Formosa, hòn đảo xinh đẹp, nay Đài Loan còn là một hòn đảo của một nền dân chủ trưởng thành. Ông cho rằng lịch sử Đài Loan tiếp diễn cách đây 400 năm từ di sản của thổ dân Austronesian, cư dân đầu tiên, chứ không phải xuất phát từ 5.000 năm của lịch sử Trung Quốc. Ông là vị Tổng thống Đài Loan đầu tiên đã đặt trọng tâm của vũ trụ quan vào lịch sử đảo và vào di sản Austronesian. Ông đặc biệt nói về văn hóa địa phương, các tổ chức cộng đồng phi chính phủ đã được thành lập để phát triển, bảo tồn lịch sử, văn hóa ở mọi địa phương, làng xã. Tất cả đó là một phần của văn hóa Đài Loan. Đài Loan là một xã hội đa văn hóa, trong đó mọi người dân chấp nhận sự đa dạng và giao lưu với nhau giữa các người Austronesian, Hoklo, Hakka và người Hoa ở lục địa sang. Ông nói về văn hóa Hoa kiều và đặt cộng đồng người Hoa ở Đài Loan giống như cộng đồng người Hoa trên thế giới như ở Singapore, Sydney hay San Francisco trong môi trường đa văn hóa, chứ không phải người Hoa giữa dân số của một nước Trung Quốc thống nhất.
Ông nhấn mạnh đến cuộc sống “văn hóa” thường ngày của người dân bình thường và nói về bản thân ông xuất thân là con của một tá điền trong một gia đình nghèo và đã vươn lên để trở thành tổng thống của một nước được sự tín nhiệm của dân Formosa, những người con của Đài Loan như ông. Tinh thần bài diễn văn giống như tinh thần của một bản tuyê bố độc lập hơn là một bài diễn văn nhậm chức bình thường.
Các Dân Tộc ở Đài Loan.
Vì đâu mà ông Trần Thủy Biển đã “tuyên bố độc lập” như vậy ? Bài ông nói đã phán ảnh được những gì sâu xa xảy ra trong tư tưởng của xã hội Đài Loan trong nhiều năm vừa qua ở nhiều lãnh vực. Một hiện tượng xã hội đáng chú ý gần đây là một số vấn đề nghiên cứu trong phạm vi khoa học có liên hệ đến các dân tộc ở Đài Loan đã lan ra khỏi phạm vi hạn hẹp và đã trở thành một đề tài nóng bỏng trong xã hội mà trước đây ít xảy ra.
Giáo sư Lâm Mã Lý, nhà di truyền học ở bệnh viện Mckay Memorial ở Đài Bắc, đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về nguồn gốc di truyền của các bộ tộc thổ dân sống lâu đời từ thời tiền sử ở Đài Loan. Một đề tài hầu như lúc đó không ai ở Đài Loan để ý. Sau khi công bố kết quả trên tạp chí khoa học vào năm 2000 (2), bà đã nhận được rất nhiều thư, điện thư từ những người “Đài Loan” không phải thổ dân (Mân Nam và Hakka) muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc của họ, họ không cho rằng họ có nguồn gốc từ người Hán. Giáo sư Lâm Mã Lý từ đó chuyển trọng tâm nghiên cứu của bà sang người Mân Nam (Minnan) và Hakka. Sau hơn một năm nghiên cứu di truyền trên hệ thống miễn nhiễm (Human Leucocyte Antigen, HLA) ở nhiễm sắc thể 6 (chromosome 6) qua máu của các dân Mân Nam (Hoklo), Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước kết hợp được trong tổ chức hoạt động quốc tế về HLA (International Histocompatibility Workshop) ở Nhật năm 1998, giáo sư Lâm Mã Lý đã công bố kết quả (3) về sự liên hệ và khoảng cách của các nhóm dân trên sơ đồ cây di truyền. Kết quả cho thấy người Mân Nam và Hakka rất gần với người Việt, Thái và các dân thuộc chủng Mongoloid Nam Á, khác xa với người Hán thuộc chủng Mongoloid Bắc Á. Giáo sư Lâm Mã Lý cho rằng người “Đài Loan” thuộc dân Mân Việt (Min Yeuh) chứ không phải dân tộc Hán, mặc dù đã có sự pha trộn trong lịch sử với người Hán di cư đến từ phương Bắc.
Trong cuộc phỏng vấn trên báo Taipei Times (Đài Bắc thời báo) (4), có câu hỏi là có phải ngiên cứu của bà đã gay chú ý và bàn luận rất nhiều là vì nó đã thách thức chủ nghĩa ‘Hán trung tâm’ cho rằng người Hán và văn minh Hán Hoa là cội nguồn của tất cả, do đó đã gây nên cuộc tranh luận chính trị về sự thống nhất với Trung Quốc. Bà trả lời là bà đã biết trước kết quả nghiên cứu di truyền sẽ khơi động cuộc tranh cãi, nhưng bà cũng nói rằng kết luận của nghiên cứu cũng không phải là điều gì mới lạ, vì trước đây hai nhà nhân chủng học nổi tiếng đã công bố lâu rồi về dân tộc và văn minh của người Mân Việt, Hakka và Bách Việt. Kết quả nghiên cứu của bà chỉ chứng minh một cách khoa học thêm mà thôi. Cả hai công trình nghiên cứu này đã được biết từ lâu trước khi có chủ đề bàn luận về về thống nhất hay độc lập ở Đài Loan. Đó là công trình nghiên cứu của Lin Hui Shaing, “The Ethnology of Chine”, xuất bản năm 1937 và W. Meacham, “Origins and development of Yeuh coastal Neolithic : A microcosm of cultural change on the mainland of East Asia”, công bố vào năm 1981. Cả hai đã có cùng kết luận về nguồn gốc của dân Bách Việt.
Cũng trong cuộc phỏng vấn này, có câu hỏi là có phải nghiên cứu của bà có mục đích chính trị không, vì hiện nay có rất nhiều người đã dùng nghiên cứu của bà trong chính trường. Bà nói rằng mọi người nên hiểu biết về nguồn gốc của mình. Và bà chỉ muốn tìm ra nguồn gốc của người địa phương sống lâu đời ở Đài Loan. Bà không hiểu tại sao người Mỹ gốc Phi châu lại có thể đi tìm được nguồn gốc của họ, mà người Đài Loan lại không thể nói được “Chúng tôi là người Mân Việt cổ xưa”. Bà muốn rằng người Đài Loan nên xem mình là người địa phương Mân Việt chứ không phải là Hán từ bắc Trung Quốc. Bà nói : “Bài nghiên cứu của tôi đơn giản là chỉ để hiểu biết về nguồn gốc. Tôi không biết gì về chính trị và không thuộc tổ chức chính trị nào”.
Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình Đài Loan và hiểu thêm về các dân tộc và văn hóa ở hòn đảo này, chúng ta phải bắt đầu từ các dữ kiện lịch sử và dân tộc học mà tôi cố gắng tóm lược như sau.
Bộ tộc Austronesian
Những người bản xứ thuộc dòng ngôn ngữ Austronesian là những dân đã sống lâu đời ở Đài Loan từ trước thế kỷ 17 khi các người ngoại quốc, như Hoà Lan, Tây Ban Nha và sau này từ Trung quốc bắt đầu đến chiếm đóng và định cư. Ngôn ngữ của các bộ tộc bản sứ cũng rất đa dạng và khác nhau, nhưng tất cả đều thuộc họ ngôn ngữ Austronesian, cùng họ với ngôn ngữ Phi Luật Tân, Indonesia, Mã Lai và ở nhiều đảo khác trong Thái Bình Dương. Hiện nay người thổ dân Austronesian chỉ còn có khoảng dưới 2% dân số Đài Loan và gồm các bộ tộc sau (theo thứ tự dân số) : Amis (130,000), Paiwan (60,000), Tayal (50,000), Bunun (38,000), Taroko (30,000), Puyuma (8,000), Rukai (8,000), Tsu (6,000), Yami (4,000), Saisiat (4,000), Thao (250). Một số bộ tộc khác ở đồng bằng và bờ biển trước đây đã biến mất, qua sự đồng hoá trong cộng đồng các người Hoklo, Hakka di dân từ Trung quốc trong các thế kỷ trước. Ngôn ngữ của các bộ tộc này chỉ còn giữ lại trong các tự điển và bài viết về họ của người Hoà Lan, Nhật và Đài Loan sau này, và một số từ còn sót lại trong tiếng Hoklo.
Trong suốt lịch sử từ 1624, khi người Hoà Lan đến chiếm, cho đến thời kỳ thuộc nhà Thanh, rồi thuộc Nhật Bản và gần đây dưới chế độ Quốc dân đảng, người thổ dân thường bị phân biệt, chèn ép trong xã hội. Có lúc họ đã nổi dậy, như năm 1930, một bộ lạc đã nổi lên chống Nhật nhưng họ đã bị đàn áp đẫm máu. Đất đai của họ đã bị lấn chiếm và mất dần (cách đây không lâu, có nơi đất của họ đã được dùng để chôn các chất thải nguyên tử nguy hiểm). Năm 1984, Liên minh thổ dân Đài Loan đã được thành lập bởi một số trí thức và các lãnh đạo các bộ tộc để bảo vệ quyền lợi và văn hoá thổ dân. Họ đã tranh đấu trong nhiều năm cùng với đảng Dân chủ tiến bộ đối lập chống lại các chính sách văn hóa và bất công của chính quyền. Ngày nay, quyền lợi và văn hoá thổ dân đã được khuyến khích phát triển nhất là từ khi chính phủ Trần Thuỷ Biển nắm quyền từ năm 2000.
Như các người Austronesian khác ở Đông Nam Á (Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương), các bộ tộc thổ dân đều có tục ăn trầu và xâm mình. Đặc biệt người Atayal còn xâm hình rất nhiều lên mặt. Theo truyền thuyết của họ, lúc khởi thủy chỉ có hai anh em. Vì muốn sinh sản con người, người em gái đã xâm hình lên mặt để che dấu gạt anh và sinh sản con cháu. Người Rukai, trong lễ hội xuân, còn có phong tục chơi đu xích đu. Người con gái đu xích đu, trong khi người con trai đẩy và bắt lấy. Trò chơi ở lệ hội xuân này tương tự như trò chơi của lễ hội người Việt và chúng có nguồn gốc phồn thực.
Vì là thiểu số, hiện nay văn hoá người thổ dân có nguy cơ biến mất khi đa số thanh niên cố gắng hoà nhập vào xã hội Đài Loan. Trước đây vì bị phân biệt, nên đa số đã cố gắng dấu đi đặc tính thổ dân để hoà nhập. Ngày nay với chính sách bảo vệ và phát triển văn hoá bản sứ trong giáo dục, chính trị và kinh tế, họ đã có mặt ở mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội Đài Loan và hảnh diện là người có gốc tích thổ dân, dân cư đầu tiên của nước Đài Loan. Cuối năm 2001, ở Đài Trung, nơi có nhiều thổ dân thuộc các bộ tộc khác nhau, đã có tổ chức lễ hội về văn hóa Austronesian, với sự hiện diện của nhiều học giả thế giới đến dự hội nghị nghiên cứu Austronesian tổ chức cùng thời gian. Chang Hui-mei (Amei), ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan, là một người gốc thổ dân bộ lạc Puyuma bản xứ đã trình diễn nhiều bài dân ca Austronesian khai mạc liên hoan văn hoá này. Viện hàn lâm Academia Sinica cũng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và con người Austronesian. Cùng với “Hiệp hội nghiên cứu tiền sử ấn và Thái Bình dương”, Academia Sinica đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế về người Austronesian, như ở Đài Trung và Đài bắc vừa rồi.
Nguồn gốc người Austronesian ở Đài Loan
Có nhiều giả thuyết (9) về nguồn gốc của người Austronesian trên đảo Đài Loan: (a) họ là hậu duệ của người từ đảo Ryukyu ở nam Nhật Bản đến cách đây hơn 2,000 năm (b) họ là những người Mã Lai đi từ các đảo phương Nam lên (c) họ là hậu duệ của các dân tộc từ đất liền vùng Quế châu (Miao, Thai,..) gần biên giới hiện nay giữa Trung quốc và Việt Nam. Những người này cũng là tổ tiên của người Việt (yueh) ở Quảng Đông hiện nay.
Các địa điểm khảo cổ thời kỳ đá mới ở Tapenkeng (gần Đài Bắc) và Fengpitou (gần Cao Hùng) cho thấy các vật tìm thấy (rìu, tên đá, đồ gốm với trang trí hình thừng..) thuộc vào một nền văn hoá thời đại đá mới cách đây khoảng hơn 5,000 năm. Các nền văn hoá này có liên hệ với các di chỉ văn hoá ở đất liền phía nam Trung quốc và bắc Việt Nam. Các gốm ở các di chỉ văn hoá trên cũng có sự liên hệ với các gốm tìm thấy ở các di chỉ ở Phi Luật Tân và ở Sa Huỳnh. Điều này cho thấy giả thuyết thứ hai và ba ở trên về nguồn gốc của dân Austronesian có thể là có cơ sở. Tuy khảo cổ học cho ta thấy sự liên hệ ở thời kỳ đá mới giữa cư dân đảo Đài Loan và đất liền, nhưng về phương diện ngôn ngữ hiện nay ta không còn tìm được cư dân nào còn lại trên đất liền ở nam Trung quốc và bắc Việt Nam dùng tiếng nói thuộc họ ngôn ngữ Austronesian.
Nhà khảo cổ P. Bellwood cho rằng xưa kia ngôn ngữ Austronesian có thể đã được dùng bởi các bộ tộc ở nam Trung quốc nhưng đã bị biến mất khi người Hán tràn xuống phía nam. Vết tích của ngôn ngữ Austronesian có thể tìm được ở tiếng Mân Nam (Hoklo). Nhà ngôn ngữ học Benedict cho rằng họ ngôn ngữ Austronesian và ngôn ngữ Thai-Kadai (hiện vẫn còn ở nam Trung quốc và bắc Việt nam) có liên hệ và cùng chung một gốc. Gần đây một số các nhà ngôn ngữ học cũng cho thấy có sự liên hệ giữa ngôn ngữ Austronesian và Austroasiatics (như Mon-Khmer, Việt-Mường). Họ gọi gốc chung của hai họ ngôn ngữ này là Austric và dùng phương pháp ngôn ngữ học để cấu tạo lại các từ gốc tiền-Austric. Ngoài phương diện ngôn ngữ, ta cũng thấy có sự liên hệ trong lịch sử của các dân tộc nói các thứ tiếng trên ở nam Trung quốc và Việt Nam.
Từ các dữ kiện ngôn ngữ, lịch sử và khảo cổ, nhà ngôn ngữ học R. Blust và khảo cổ học P. Bellwood đã cho rằng, bắt nguồn từ Vân Nam, nơi xuất phát nhiều sắc tộc nói nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, và nhiều di chỉ văn hóa, người Austronesian xuống đến bờ biển rồi từ đó qua Đài Loan. Họ sau này, cũng như nhiều sắc tộ khác, bị Hán hóa, chỉ để lại vàI dấu vết ngôn ngữ trong các dân ở nam Trung quốc hiện nay.
Tuy vậy, qua sự nghiên cứu về các từ cổ Trung hoa về các sản phẩm canh nông như kê, lúa gạo, nhà ngôn ngữ L. Sagart (10) cho rằng nguồn gốc của người Austronesian là ở phía bắc sông Dương Tử. Những từ này có liên hệ đến các từ gốc Austronesian. Thuyết của ông đặt cơ sở là các di chỉ trồng lúa cổ nhất tìm được hiện nay là dọc phía nam sông Dương Tử như Hemudu, Caoxieshan (tỉnh Triết Giang) cách đây khoảng 6,500 năm và Pentoushan (Hồ Nam) cách đây khoảng 8,000 năm.
Trái với hai thuyết trên là thuyết của Meacham, Terrel và Soldheim (11) cho rằng người Austronesian chính là bắt nguồn từ các đảo trong khu vực tam giác bắc Phi Luật Tân, Indonesia đến tây New Guinea (vùng Wallacea). Họ tỏa ra các hướng khác nhau: bắc đến Đài Loan và các đảo nam Nhật bản (Ryukyu), tây đến bờ biển Việt nam, đông về Melanesia và các đảo ở Thái bình dương (Polynesia). Meacham cho rằng hiện nay khó có thể xác định là nguồn gốc người Austronesian ở nam Trung quốc qua ngôn ngữ học và khảo cổ học. Sự định tuổi về sự phát xuất các họ ngôn ngữ qua ngôn ngữ học như Blust đã làm là không chính xác và di chỉ khảo cổ ở Đài Loan chưa đủ để kết luận là người Austronesian từ nam Trung quốc đến Đài Loan. Soldheim cho rằng thật sự người Austronesian đi đến bờ biển Trung quốc, Đài Loan từ phương nam (Phi Luật Tân) và họ cũng đến bờ biển Việt Nam như ở Sa Huỳnh.
Khi kỷ thuật di truyền được bắt đầu sử dụng vào địa hạt nhân chủng học, một số các nghiên cứu về di truyền dùng các mẫu DNA và mitochondria DNA từ các bộ tộc Austronesian và các dân cư ở bắc, nam Trung quốc, các đảo ở Đông Nam Á và Thái Bình dương cho thấy có sự liên hệ rất nhiều giữa người Austronesian ở Đài Loan và các dân ở Phi Luật Tân và các cư dân tộc phía nam Trung quốc nhiều hơn ở bắc Trung quốc (9). Tuy vậy điều này chưa cho phép ta khẳng định hướng di dân đi từ hướng nào.
Nguồn gốc của người Austronesian vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà nghiên cứu.
Đọc thêm :
Nguồn gốc Bách Việt
http://knol.google.com/k/du-ngoc-nguyen/ngun-gc-bch-vit/dr56byye4zsx/2#
Văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam
http://vietsciences.free.fr/vietnam/sudia/vanminhco_nguongocdanvn.htm
Xem thêm kho tài liệu cổ sử VN tại : http://www.mevietnam.org/index-a.html
Blacky’s Blog
Friday November 28, 2008 - 04:22pm (ICT)
http://blog.360.yahoo.com/blog-KMd8BGwhaa8mtAF4pgc8Gaj7LfT3vm0Y?p=4384
"người Đài Loan có thể xem mình là người Mân Việt cổ xưa chứ không phải là người Hán từ Trung Quốc, họ quyết tâm giành độc lập, còn tương lai người Việt Nam chúng ta thì sao?"
TG : Nguyễn Đức Hiệp Ph.D
Năm 2000, một sự kiện lịch sử xảy ra ở ven bờ Thái Bình Dương. Sự kiện đó không phải là Thế vận hội 2000 ở Sydney mà thế giới chú ý đến trong vài tuần, mà là một diễn biến í người để ý đến. Một sự kiện sẽ có ảnh hưởng lâu dài đến chính trị và có thể làm thay đổi cách nhìn của thế giới bên ngoài của nhiều nước trong vùng. Sự kiện đó chính là kết quả bầu cử ở hòn đảo Đài Loan bé nhỏ. Ứng cử viên Trần Thủy Biển (Chen Shui-Bian) của đảng Dân Chủ Tiến Bộ (Democratic Progressive Party) đã thắng Quốc Dân Đảng và trở thành Tổng Thống Đài Loan, một sự thay đổi chính quyền không đổ máu, không bạo động lần đầu tiên trong lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc. Lịch sử Trung Quốc ? Thực ra trong tâm của vị tân tổng thống thì hướng đi của chính sách mà ông đã theo đuổi từ nhiều năm trước, mà đại đa số dân đã đồng ý, thì hòn đảo này với dân số hơn 20 triệu sẽ không còn là bộ phận của Trung Quốc nữa. Nó sẽ là một quốc gia khác đứng ngoài quỹ đạo của dân tộc Trung Hoa, nó không còn dính gì trực tiếp đến Trung Quốc hay lịch sử Trung Quốc nữa, cũng như Hoa Kỳ hơn 200 năm trước đây đã cắt lìa khỏi nước Anh để tạo riêng vận mệnh của mình.
Phản ứng của Trung Quốc that dữ dội và giận dữ, báo chí Trung Quốc dùng những lời lẽ nặng nề chưa từng thấy đối với một cá nhân, không kém những từ ngữ dùng trong cách mạng văn hóa đối với các kẻ thù giai cấp và đế quốc xưa kia trong thập niên 1960. Mấy tuần trước ngày bầu cử, hải quân Trung Quốc đã tập trận bắn tên lửa ở eo biển Đài Loan. Trên đất liền, Trung Quốc dàn tên lửa hướng về Đài Loan đe dọa tinh thần dân chúng, đặt áp lực với chủ ý sẽ làm cho cử tri run sợ chiến tranh mà phải bầu cho ứng cử viên Quốc Dân Đảng ! Oái ăm thay, Quốc Dân Đảng là kẻ thù trước đây của đảng cộng sản Trung Quốc. Lúc này cả hai lại cùng chính sách, cùng quan điểm rút từ một nền tảng tư tưởng trung ương tập quyền Đại Hán truyền thống lâu đời.
Điều gì đã gay ra sự cố động trời như vậy ? Ngoài sự kiện ông Trần Thủy Biển là một người Đài Loan bản xứ chính cống, không phải từ lục địa di đến khi Quốc Dân Đảng thua bỏ chạy sang, thì tư tưởng và hoài bão của ông, đại diện cho hoài bão của đa số người Đài Loan bản xứ, chính là điều mà Trung Quốc sợ hải hơn hết. Thật sự thì không phải mà đột nhiên có sự tự phát, xuất hiện một tư tưởng tự chủ như vậy, mà nó đã có một lịch sử khá lâu dài. Tư tưởng ấy đã bị đè nén, thay thế bởi một tư tưởng khác từ bên ngoài ép đặt trên văn hóa, tư tưởng của dân tộc Đài Loan trong nhiều năm qua.
Tôi đặc biệt lưu ý đến lịch sử Đài Loan và hoài bão của người dân khi tôi viến Đài Loan trong một dịp dự hội nghị khoa học về môi trường khí quyển ở thành phố Đài Trung (Taitung), do hai Viện Hàn Lâm Khoa Học Đài Loan và Hàn Lâm Khoa Học Úc tổ chức vào tháng 6/2000. Trước đây tôi chỉ để ý và nghiên cứu chút ít về người bản xứ thổ dân sống ở Đài Loan trước khi người Hoa từ lục địa di dân sang. Bài này có mục đích tìm hiểu những diễn biến về sự thay đổi trong xã hội, văn hóa và tư tưởng của người dân Đài Loan trong vòng 20 năm nay. Nó gợi lại trong lịch sử và trong tiềm thức của người Việt những gì tương tự mà dân tộc Việt Nam đã trải qua cách đây hơn 1.000 năm.
Cách Mạng Văn Hóa Hay Tuyên Ngôn Độc Lập ?
Buổi lễ nhậm chức tổng thống ngày 20/5/2000 ở Đài Bắc được tổ chức tại sân trước cửa dinh Tổng Thống, một kiến trúc thời Minh Trị xây trước đây làm dinh cho viên toàn quyền của Nhật khi họ còn cai trị Đài Loan. Dinh này cũng biểu trưng quyền lực của Quốc Dân Đảng trong bao năm trước đây khi họ nắm quyền hơn nửa thế kỷ. Những sự kiện xảy ra ở buổi lễ mang nay những biểu tượng đáng kể, mà một nhà nghiên cứu ở Viện Xã Hội học, thuộc Hàn Lâm Trung Hoa (Academia Sinica) ở Đài Bắc đã viết lại như sau trên diễn đàn điện tử về Đông Nam Á (Southeast Asia Discussion List, SEASIA-L) (1).
Buổi lễ bắt đầu 9:50 sáng, quan khác trong và ngoài nước tưởng sẽ nghe bài quốc ca Cộng Hòa Trung Quốc (Republic of China) đầu tiên, nhưng tất cả đều ngạc nhiên khi một nhóm nhạc sĩ thổ dân của bộ lạc Bunum bản xứ (thuộc tộc Austronesian) đứng lên hát bài ca dân tộc truyền thống “Báo tin vui”. Sau đó là phần trình diễn của các bộ laic bản xứ Austronesian khác, tiếp theo là bài hát dân ca của người Hakka (Khách trú) và dân ca người Hoklo. Chỉ khi Tổng Thống Trần Thủy Biển và Phó Tổng Thống, bà Annette Lu bước ra từ dinh Tổng Thống thì bài quốc ca mới được hát sau cùng. Người hát quốc ca là cô ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan (và Trung Quốc) Cheng Hui-Mei (Amei), gốc người thổ dân bộ lạc Puyma. Cô rất được thính giả ái mộ, không những ở Đài Loan mà còn ở Trung Hoa lục địa. Trước kia không bao giờ có sự có mặt của văn hóa địa phương trong những nghi lễ trịnh trọng. Nay thì ngay cả bài quốc ca cũng xuống hàng thứ yếu. Sự phá vỡ nghi thức này rất có ý nghĩa. Nó có chủ đích cho thấy là chính phủ mới từ đây về sau sẽ theo đuổi chính sách đứng trên quan điểm của người địa phương (Hoklo, Hakka, Austronesian) chứ không như chính phủ Quốc Dân Đảng trước kia đứng trên quan điểm trọng Hán.
Hiểu được hậu ý của chính phủ Trần Thủy Biển, Trung Quốc đã giận dữ, ngay cả Amei cũng không thoát khỏi sự tức giận ấy. Sauk hi cô tham dự và hát bài quốc ca Đài Loan (Cộng Hòa Trung Hoa) ở lễ nhậm chức của Tổng Thống Trần Thủy Biển, chính phủ Trung Quốc ra lệnh tẩy chay Amei. Đài truyền hình, truyền thanh từ ngày đó không được trình chiếu, phát hành các bài hát của ca sĩ Amei. Báo chí bị cấm đề cập đến co, ngay cả các biểu ngữ quảng cáo cũng không được đăng các hình ảnh ca sĩ Amei. Ở Bắc Kinh và Thượng Hải, hình Amei trên các bảng quảng cáo nước ngọt Sprite của công ty Coca-Cola bị bôi xóa đi. Tuy vậy các đĩa CD của cô, người ta vẫn còn có thể tìm thấy được ở một số các cửa hàng nếu chịu khó lùng kiếm. Wu Bai, một nam ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan và Trung Quốc, cũng chịu chung số phận, khi ông hát và ủng hộ Trần Thủy Biển.
Bài diễn văn của Trần Thủy Biển rất ít đề cập đến sự quan hệ với Trung Quốc, một vấn đề thời sự nóng bỏng lúc đó, mà hầu hết là về lịch sử và văn hóa Đài Loan, về cải tổ chính trị và chính sách đối nội. Trần Thủy Biển nói tới Đài Loan 40 lần. Cộng Hòa Trung Quốc (ROC) 9 lần. Trung Quốc chỉ có 1 lần nhưng Formosa (tên cũ của đảo Đài Loan) 2 lần và 4 lần nhấn mạnh nói lớn “Đài Loan đứng lên !”.
Đài Loan đã thực sự đứng day về văn hóa và chính trị. Trần Thủy Biển nêu lên những sự áp bức, xâm lược bởi đế quốc mà dân chúng ở cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đã là nạn nhân trong thế kỷ 20. Thật sự Đài Loan còn khổ sở nặng hơn dưới chế độ thực dân Nhật. Những kinh nghiệm lịch sử tương tự như thế đáng ra đã mang lại sự thông cảm giữa hai dân tộc ở hai bên eo biển Đài Loan để từ đó đặt nền tảng cho việc thiết lập tự do, dân chủ và nhân quyền cùng với nhau. Tuy nhiên, do sự phân ly lâu dài trong lịch sử, hai vùng đã phát triển theo hai hướng khác nhau, đi đến sự khác biệt tột độ về nhiều phương diện, từ hệ thống chính trị đến văn hóa và phong cách sống. Điều này đã cản trở sự thông cảm và thiết lập tình hữu nghị giữa hai nước.
Bài diễn văn này là một tuyên bố chính trị quan trọng. Ông phân biệt rõ sự khác biệt giữa lịch sử Trung Quốc và lịch sử Đài Loan. Đài Loan đã trải qua thời kỳ bị Nhật đô hộ lâu dài và đã có lịch sử riêng chứ không phải chỉ có lịch sử mới đây mới đây tách ra khỏi Trung Quốc bắt đầu từ 1949, với nhãn quan của người Hán đặt trọng tâ vào cuộc nội chiến quốc – cộng. Ông nói là cách đây 400 năm, Đài Loan được gọi là Formosa, hòn đảo xinh đẹp, nay Đài Loan còn là một hòn đảo của một nền dân chủ trưởng thành. Ông cho rằng lịch sử Đài Loan tiếp diễn cách đây 400 năm từ di sản của thổ dân Austronesian, cư dân đầu tiên, chứ không phải xuất phát từ 5.000 năm của lịch sử Trung Quốc. Ông là vị Tổng thống Đài Loan đầu tiên đã đặt trọng tâm của vũ trụ quan vào lịch sử đảo và vào di sản Austronesian. Ông đặc biệt nói về văn hóa địa phương, các tổ chức cộng đồng phi chính phủ đã được thành lập để phát triển, bảo tồn lịch sử, văn hóa ở mọi địa phương, làng xã. Tất cả đó là một phần của văn hóa Đài Loan. Đài Loan là một xã hội đa văn hóa, trong đó mọi người dân chấp nhận sự đa dạng và giao lưu với nhau giữa các người Austronesian, Hoklo, Hakka và người Hoa ở lục địa sang. Ông nói về văn hóa Hoa kiều và đặt cộng đồng người Hoa ở Đài Loan giống như cộng đồng người Hoa trên thế giới như ở Singapore, Sydney hay San Francisco trong môi trường đa văn hóa, chứ không phải người Hoa giữa dân số của một nước Trung Quốc thống nhất.
Ông nhấn mạnh đến cuộc sống “văn hóa” thường ngày của người dân bình thường và nói về bản thân ông xuất thân là con của một tá điền trong một gia đình nghèo và đã vươn lên để trở thành tổng thống của một nước được sự tín nhiệm của dân Formosa, những người con của Đài Loan như ông. Tinh thần bài diễn văn giống như tinh thần của một bản tuyê bố độc lập hơn là một bài diễn văn nhậm chức bình thường.
Các Dân Tộc ở Đài Loan.
Vì đâu mà ông Trần Thủy Biển đã “tuyên bố độc lập” như vậy ? Bài ông nói đã phán ảnh được những gì sâu xa xảy ra trong tư tưởng của xã hội Đài Loan trong nhiều năm vừa qua ở nhiều lãnh vực. Một hiện tượng xã hội đáng chú ý gần đây là một số vấn đề nghiên cứu trong phạm vi khoa học có liên hệ đến các dân tộc ở Đài Loan đã lan ra khỏi phạm vi hạn hẹp và đã trở thành một đề tài nóng bỏng trong xã hội mà trước đây ít xảy ra.
Giáo sư Lâm Mã Lý, nhà di truyền học ở bệnh viện Mckay Memorial ở Đài Bắc, đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu về nguồn gốc di truyền của các bộ tộc thổ dân sống lâu đời từ thời tiền sử ở Đài Loan. Một đề tài hầu như lúc đó không ai ở Đài Loan để ý. Sau khi công bố kết quả trên tạp chí khoa học vào năm 2000 (2), bà đã nhận được rất nhiều thư, điện thư từ những người “Đài Loan” không phải thổ dân (Mân Nam và Hakka) muốn tìm hiểu thêm về nguồn gốc của họ, họ không cho rằng họ có nguồn gốc từ người Hán. Giáo sư Lâm Mã Lý từ đó chuyển trọng tâm nghiên cứu của bà sang người Mân Nam (Minnan) và Hakka. Sau hơn một năm nghiên cứu di truyền trên hệ thống miễn nhiễm (Human Leucocyte Antigen, HLA) ở nhiễm sắc thể 6 (chromosome 6) qua máu của các dân Mân Nam (Hoklo), Hakka và các mẫu máu từ nhiều nước kết hợp được trong tổ chức hoạt động quốc tế về HLA (International Histocompatibility Workshop) ở Nhật năm 1998, giáo sư Lâm Mã Lý đã công bố kết quả (3) về sự liên hệ và khoảng cách của các nhóm dân trên sơ đồ cây di truyền. Kết quả cho thấy người Mân Nam và Hakka rất gần với người Việt, Thái và các dân thuộc chủng Mongoloid Nam Á, khác xa với người Hán thuộc chủng Mongoloid Bắc Á. Giáo sư Lâm Mã Lý cho rằng người “Đài Loan” thuộc dân Mân Việt (Min Yeuh) chứ không phải dân tộc Hán, mặc dù đã có sự pha trộn trong lịch sử với người Hán di cư đến từ phương Bắc.
Trong cuộc phỏng vấn trên báo Taipei Times (Đài Bắc thời báo) (4), có câu hỏi là có phải ngiên cứu của bà đã gay chú ý và bàn luận rất nhiều là vì nó đã thách thức chủ nghĩa ‘Hán trung tâm’ cho rằng người Hán và văn minh Hán Hoa là cội nguồn của tất cả, do đó đã gây nên cuộc tranh luận chính trị về sự thống nhất với Trung Quốc. Bà trả lời là bà đã biết trước kết quả nghiên cứu di truyền sẽ khơi động cuộc tranh cãi, nhưng bà cũng nói rằng kết luận của nghiên cứu cũng không phải là điều gì mới lạ, vì trước đây hai nhà nhân chủng học nổi tiếng đã công bố lâu rồi về dân tộc và văn minh của người Mân Việt, Hakka và Bách Việt. Kết quả nghiên cứu của bà chỉ chứng minh một cách khoa học thêm mà thôi. Cả hai công trình nghiên cứu này đã được biết từ lâu trước khi có chủ đề bàn luận về về thống nhất hay độc lập ở Đài Loan. Đó là công trình nghiên cứu của Lin Hui Shaing, “The Ethnology of Chine”, xuất bản năm 1937 và W. Meacham, “Origins and development of Yeuh coastal Neolithic : A microcosm of cultural change on the mainland of East Asia”, công bố vào năm 1981. Cả hai đã có cùng kết luận về nguồn gốc của dân Bách Việt.
Cũng trong cuộc phỏng vấn này, có câu hỏi là có phải nghiên cứu của bà có mục đích chính trị không, vì hiện nay có rất nhiều người đã dùng nghiên cứu của bà trong chính trường. Bà nói rằng mọi người nên hiểu biết về nguồn gốc của mình. Và bà chỉ muốn tìm ra nguồn gốc của người địa phương sống lâu đời ở Đài Loan. Bà không hiểu tại sao người Mỹ gốc Phi châu lại có thể đi tìm được nguồn gốc của họ, mà người Đài Loan lại không thể nói được “Chúng tôi là người Mân Việt cổ xưa”. Bà muốn rằng người Đài Loan nên xem mình là người địa phương Mân Việt chứ không phải là Hán từ bắc Trung Quốc. Bà nói : “Bài nghiên cứu của tôi đơn giản là chỉ để hiểu biết về nguồn gốc. Tôi không biết gì về chính trị và không thuộc tổ chức chính trị nào”.
Để có một cái nhìn tổng quát về tình hình Đài Loan và hiểu thêm về các dân tộc và văn hóa ở hòn đảo này, chúng ta phải bắt đầu từ các dữ kiện lịch sử và dân tộc học mà tôi cố gắng tóm lược như sau.
Bộ tộc Austronesian
Những người bản xứ thuộc dòng ngôn ngữ Austronesian là những dân đã sống lâu đời ở Đài Loan từ trước thế kỷ 17 khi các người ngoại quốc, như Hoà Lan, Tây Ban Nha và sau này từ Trung quốc bắt đầu đến chiếm đóng và định cư. Ngôn ngữ của các bộ tộc bản sứ cũng rất đa dạng và khác nhau, nhưng tất cả đều thuộc họ ngôn ngữ Austronesian, cùng họ với ngôn ngữ Phi Luật Tân, Indonesia, Mã Lai và ở nhiều đảo khác trong Thái Bình Dương. Hiện nay người thổ dân Austronesian chỉ còn có khoảng dưới 2% dân số Đài Loan và gồm các bộ tộc sau (theo thứ tự dân số) : Amis (130,000), Paiwan (60,000), Tayal (50,000), Bunun (38,000), Taroko (30,000), Puyuma (8,000), Rukai (8,000), Tsu (6,000), Yami (4,000), Saisiat (4,000), Thao (250). Một số bộ tộc khác ở đồng bằng và bờ biển trước đây đã biến mất, qua sự đồng hoá trong cộng đồng các người Hoklo, Hakka di dân từ Trung quốc trong các thế kỷ trước. Ngôn ngữ của các bộ tộc này chỉ còn giữ lại trong các tự điển và bài viết về họ của người Hoà Lan, Nhật và Đài Loan sau này, và một số từ còn sót lại trong tiếng Hoklo.
Trong suốt lịch sử từ 1624, khi người Hoà Lan đến chiếm, cho đến thời kỳ thuộc nhà Thanh, rồi thuộc Nhật Bản và gần đây dưới chế độ Quốc dân đảng, người thổ dân thường bị phân biệt, chèn ép trong xã hội. Có lúc họ đã nổi dậy, như năm 1930, một bộ lạc đã nổi lên chống Nhật nhưng họ đã bị đàn áp đẫm máu. Đất đai của họ đã bị lấn chiếm và mất dần (cách đây không lâu, có nơi đất của họ đã được dùng để chôn các chất thải nguyên tử nguy hiểm). Năm 1984, Liên minh thổ dân Đài Loan đã được thành lập bởi một số trí thức và các lãnh đạo các bộ tộc để bảo vệ quyền lợi và văn hoá thổ dân. Họ đã tranh đấu trong nhiều năm cùng với đảng Dân chủ tiến bộ đối lập chống lại các chính sách văn hóa và bất công của chính quyền. Ngày nay, quyền lợi và văn hoá thổ dân đã được khuyến khích phát triển nhất là từ khi chính phủ Trần Thuỷ Biển nắm quyền từ năm 2000.
Như các người Austronesian khác ở Đông Nam Á (Mã Lai, Phi Luật Tân, Nam Dương), các bộ tộc thổ dân đều có tục ăn trầu và xâm mình. Đặc biệt người Atayal còn xâm hình rất nhiều lên mặt. Theo truyền thuyết của họ, lúc khởi thủy chỉ có hai anh em. Vì muốn sinh sản con người, người em gái đã xâm hình lên mặt để che dấu gạt anh và sinh sản con cháu. Người Rukai, trong lễ hội xuân, còn có phong tục chơi đu xích đu. Người con gái đu xích đu, trong khi người con trai đẩy và bắt lấy. Trò chơi ở lệ hội xuân này tương tự như trò chơi của lễ hội người Việt và chúng có nguồn gốc phồn thực.
Vì là thiểu số, hiện nay văn hoá người thổ dân có nguy cơ biến mất khi đa số thanh niên cố gắng hoà nhập vào xã hội Đài Loan. Trước đây vì bị phân biệt, nên đa số đã cố gắng dấu đi đặc tính thổ dân để hoà nhập. Ngày nay với chính sách bảo vệ và phát triển văn hoá bản sứ trong giáo dục, chính trị và kinh tế, họ đã có mặt ở mọi thành phần, tầng lớp trong xã hội Đài Loan và hảnh diện là người có gốc tích thổ dân, dân cư đầu tiên của nước Đài Loan. Cuối năm 2001, ở Đài Trung, nơi có nhiều thổ dân thuộc các bộ tộc khác nhau, đã có tổ chức lễ hội về văn hóa Austronesian, với sự hiện diện của nhiều học giả thế giới đến dự hội nghị nghiên cứu Austronesian tổ chức cùng thời gian. Chang Hui-mei (Amei), ca sĩ nổi tiếng ở Đài Loan, là một người gốc thổ dân bộ lạc Puyuma bản xứ đã trình diễn nhiều bài dân ca Austronesian khai mạc liên hoan văn hoá này. Viện hàn lâm Academia Sinica cũng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và con người Austronesian. Cùng với “Hiệp hội nghiên cứu tiền sử ấn và Thái Bình dương”, Academia Sinica đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế về người Austronesian, như ở Đài Trung và Đài bắc vừa rồi.
Nguồn gốc người Austronesian ở Đài Loan
Có nhiều giả thuyết (9) về nguồn gốc của người Austronesian trên đảo Đài Loan: (a) họ là hậu duệ của người từ đảo Ryukyu ở nam Nhật Bản đến cách đây hơn 2,000 năm (b) họ là những người Mã Lai đi từ các đảo phương Nam lên (c) họ là hậu duệ của các dân tộc từ đất liền vùng Quế châu (Miao, Thai,..) gần biên giới hiện nay giữa Trung quốc và Việt Nam. Những người này cũng là tổ tiên của người Việt (yueh) ở Quảng Đông hiện nay.
Các địa điểm khảo cổ thời kỳ đá mới ở Tapenkeng (gần Đài Bắc) và Fengpitou (gần Cao Hùng) cho thấy các vật tìm thấy (rìu, tên đá, đồ gốm với trang trí hình thừng..) thuộc vào một nền văn hoá thời đại đá mới cách đây khoảng hơn 5,000 năm. Các nền văn hoá này có liên hệ với các di chỉ văn hoá ở đất liền phía nam Trung quốc và bắc Việt Nam. Các gốm ở các di chỉ văn hoá trên cũng có sự liên hệ với các gốm tìm thấy ở các di chỉ ở Phi Luật Tân và ở Sa Huỳnh. Điều này cho thấy giả thuyết thứ hai và ba ở trên về nguồn gốc của dân Austronesian có thể là có cơ sở. Tuy khảo cổ học cho ta thấy sự liên hệ ở thời kỳ đá mới giữa cư dân đảo Đài Loan và đất liền, nhưng về phương diện ngôn ngữ hiện nay ta không còn tìm được cư dân nào còn lại trên đất liền ở nam Trung quốc và bắc Việt Nam dùng tiếng nói thuộc họ ngôn ngữ Austronesian.
Nhà khảo cổ P. Bellwood cho rằng xưa kia ngôn ngữ Austronesian có thể đã được dùng bởi các bộ tộc ở nam Trung quốc nhưng đã bị biến mất khi người Hán tràn xuống phía nam. Vết tích của ngôn ngữ Austronesian có thể tìm được ở tiếng Mân Nam (Hoklo). Nhà ngôn ngữ học Benedict cho rằng họ ngôn ngữ Austronesian và ngôn ngữ Thai-Kadai (hiện vẫn còn ở nam Trung quốc và bắc Việt nam) có liên hệ và cùng chung một gốc. Gần đây một số các nhà ngôn ngữ học cũng cho thấy có sự liên hệ giữa ngôn ngữ Austronesian và Austroasiatics (như Mon-Khmer, Việt-Mường). Họ gọi gốc chung của hai họ ngôn ngữ này là Austric và dùng phương pháp ngôn ngữ học để cấu tạo lại các từ gốc tiền-Austric. Ngoài phương diện ngôn ngữ, ta cũng thấy có sự liên hệ trong lịch sử của các dân tộc nói các thứ tiếng trên ở nam Trung quốc và Việt Nam.
Từ các dữ kiện ngôn ngữ, lịch sử và khảo cổ, nhà ngôn ngữ học R. Blust và khảo cổ học P. Bellwood đã cho rằng, bắt nguồn từ Vân Nam, nơi xuất phát nhiều sắc tộc nói nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, và nhiều di chỉ văn hóa, người Austronesian xuống đến bờ biển rồi từ đó qua Đài Loan. Họ sau này, cũng như nhiều sắc tộ khác, bị Hán hóa, chỉ để lại vàI dấu vết ngôn ngữ trong các dân ở nam Trung quốc hiện nay.
Tuy vậy, qua sự nghiên cứu về các từ cổ Trung hoa về các sản phẩm canh nông như kê, lúa gạo, nhà ngôn ngữ L. Sagart (10) cho rằng nguồn gốc của người Austronesian là ở phía bắc sông Dương Tử. Những từ này có liên hệ đến các từ gốc Austronesian. Thuyết của ông đặt cơ sở là các di chỉ trồng lúa cổ nhất tìm được hiện nay là dọc phía nam sông Dương Tử như Hemudu, Caoxieshan (tỉnh Triết Giang) cách đây khoảng 6,500 năm và Pentoushan (Hồ Nam) cách đây khoảng 8,000 năm.
Trái với hai thuyết trên là thuyết của Meacham, Terrel và Soldheim (11) cho rằng người Austronesian chính là bắt nguồn từ các đảo trong khu vực tam giác bắc Phi Luật Tân, Indonesia đến tây New Guinea (vùng Wallacea). Họ tỏa ra các hướng khác nhau: bắc đến Đài Loan và các đảo nam Nhật bản (Ryukyu), tây đến bờ biển Việt nam, đông về Melanesia và các đảo ở Thái bình dương (Polynesia). Meacham cho rằng hiện nay khó có thể xác định là nguồn gốc người Austronesian ở nam Trung quốc qua ngôn ngữ học và khảo cổ học. Sự định tuổi về sự phát xuất các họ ngôn ngữ qua ngôn ngữ học như Blust đã làm là không chính xác và di chỉ khảo cổ ở Đài Loan chưa đủ để kết luận là người Austronesian từ nam Trung quốc đến Đài Loan. Soldheim cho rằng thật sự người Austronesian đi đến bờ biển Trung quốc, Đài Loan từ phương nam (Phi Luật Tân) và họ cũng đến bờ biển Việt Nam như ở Sa Huỳnh.
Khi kỷ thuật di truyền được bắt đầu sử dụng vào địa hạt nhân chủng học, một số các nghiên cứu về di truyền dùng các mẫu DNA và mitochondria DNA từ các bộ tộc Austronesian và các dân cư ở bắc, nam Trung quốc, các đảo ở Đông Nam Á và Thái Bình dương cho thấy có sự liên hệ rất nhiều giữa người Austronesian ở Đài Loan và các dân ở Phi Luật Tân và các cư dân tộc phía nam Trung quốc nhiều hơn ở bắc Trung quốc (9). Tuy vậy điều này chưa cho phép ta khẳng định hướng di dân đi từ hướng nào.
Nguồn gốc của người Austronesian vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà nghiên cứu.
Đọc thêm :
Nguồn gốc Bách Việt
http://knol.google.com/k/du-ngoc-nguyen/ngun-gc-bch-vit/dr56byye4zsx/2#
Văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam
http://vietsciences.free.fr/vietnam/sudia/vanminhco_nguongocdanvn.htm
Xem thêm kho tài liệu cổ sử VN tại : http://www.mevietnam.org/index-a.html
THÔNG ĐIỆP CỦA NHỮNG NGƯỜI ANH
The Elder Brothers' Warning
THÔNG ÐIỆP CỦA NHỮNG NGƯỜI ANH
Blacky’s Blog
Saturday November 29, 2008 - 09:11pm (ICT)
http://blog.360.yahoo.com/blog-KMd8BGwhaa8mtAF4pgc8Gaj7LfT3vm0Y?p=4444
Tháng 10-1993, đài BBC tại Luân Đôn và PBS tại Hoa Kỳ đã cho phát hình một tài liệu đặc biệt ghi nhận nếp sống của một bộ lạc thiểu số tại Nam Mỹ. Cuốn phim nầy đã gây chấn động dư luận thế giới và hiện là một đề tài được bàn cãi rất nhiều trong giới khảo cổ, môi sinh và nhân chủng học. Lần đầu tiên được trình chiếu trong kỳ đại hội Tôn Giáo hoàn cầu tổ chức tại Chicago, nó đã gây một xúc động lớn cho toàn thể cử tọa. Chúng tôi ghi nhận lại đây bài thuyết trình “Elder Brother's Warning” của ký giả Alan Ereira để bạn đọc cùng suy ngẫm.
Đầu năm (1993), ký giả Alan Ereira, phóng viên của đài BBC tại Columbia, nhận được tin bộ lạc Kogi từ lâu không tiếp xúc với ai, đã chấp thuận cho anh được phỏng vấn với điều kiện là anh phải đến tham dự buổi đại hội Tôn Giáo thế giới tổ chức tại Chicago vào tháng 9 năm 1993 và công bố một thông điệp của họ. Ký giả Ereira đã viết: “Đây là một biến cố đặc biệt. Tại sao bao năm nay không giao thiệp tiếp xúc với ai mà tự nhiên họ lại cho phép tôi được đến phỏng vấn, quay phim? Họ muốn gì đây? Tại sao một bộ lạc sống biệt lập trong vùng rừng sâu núi thẳm, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, lại biết có một đại hội Tôn Giáo nhóm họp tại Hoa Kỳ để gửi một thông điệp? Một điều may mắn là tuy người Kogi không liên lạc với ai, rất ít người biết đến ngôn ngữ của họ, nhưng vì họ tiếp xúc giới hạn với vài bộ lạc gần đó, nên chúng tôi đã tìm được một người dân bộ lạc này có thể nói được tiếng Kogi để làm công việc thông dịch”.
<... >
Chính giữa làng có một căn nhà rất lớn cất bằng lá cây. Đây là nơi hội họp của dân làng mỗi khi có việc quan trọng. Khác hẳn với những bộ lạc khác, chúng tôi không hề nhìn thấy các biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng gì cả. Căn nhà hoàn toàn trống trơn và rất sạch sẽ. Một vị Trưởng Lão cho biết đây là trung tâm sinh hoạt của làng, mọi việc quan trọng như cưới hỏi, chôn cất, trồng trọt, cày cấy, tiên đoán thời tiết đều được mang ra thảo luận tại đây để lấy quyết định chung. Tất cả mọi người đều có quyền phát biểu ý kiến, không có Tù Trưởng hay một ai nắm quyền hành cả.
Ký giả Ereira ghi nhận: “Thật là một điều lạ lùng chưa từng thấy. Một bộ lạc không có Tù Trưởng, không có người lãnh đạo, mọi quyết định đều là quyết định chung. Phải chăng đây là một hình thức dân chủ thô sơ nhất và chân chính nhất đã có từ ngàn xưa? Theo chỗ chúng tôi dò hỏi thì không có một điều gì được làm nếu không có sự đồng ý chung, nhưng quyết định chung ở đây không có nghĩa là đa số trên thiểu số mà là quyết định của toàn thể mọi người (Concensus). Thật khó có thể tưởng tượng một bộ lạc sống biệt lập lại có một truyền thống dân chủ đặc biệt như vậy! Phải chăng nền văn minh cổ xưa ngày trước là một nền văn minh dựa trên căn bản dân chủ?”
<...>
Một điểm rất đặc biệt là người Kogi không hề ăn thịt cá. Khác hẳn với những bộ lạc khác, họ không hề săn bắn hay có võ khí. Truyền thống của họ không hề có vấn đề giết hại bất cứ một sinh vật nào, dù lớn hay nhỏ. Đây là một chi tiết đang làm nhức đầu nhiều nhà nhân chủng học và xã hội học. Từ trước đến nay, các lý thuyết đều cho rằng những bộ lạc dã man đều sinh sống bằng săn bắn và ăn cây trái trong rừng. Việc một bộ lạc không hề có tập tục ăn thịt cá là một sự kiện độc đáo, lạ lùng hiếm có và khó giải thích. Người Kogi cho rằng giết hại sinh vật là trái với luật thiên nhiên. Có lẽ vì lý do đó trong thời gian quay phim, phái đoàn đài BBC đã thấy rất nhiều hươu, nai, thỏ rừng, chồn cáo đi qua đi lại trong làng như những gia súc mà không hề sợ hãi.
Đối với người Kogi, việc chết cũng rất giản dị. Khi cảm thấy đã đến lúc phải ra đi, một người già thường tìm vào một hang đá sâu và ngồi yên trong đó chờ chết. Họ không làm đám tang, gia đình than khóc như những bộ lạc khác, mà họ cho rằng đó là một việc bình thường, không có gì đáng quan tâm. Một điểm hết sức đặc biệt nữa của người Kogi là họ không hề có một tín ngưỡng thờ thần linh hay vật tổ như các bộ lạc khác. Truyền thống nơi đây chú trọng trên căn bản tĩnh tâm suy gẫm nên họ đã có những quan niệm hết sức đặc biệt, khác hẳn với những nền văn minh khác tại Nam Mỹ.
Theo quan niệm của người Kogi truyền từ đời này qua đời khác thì thuở ban sơ, vũ trụ hoàn toàn trống rỗng, không có mặt trời, mặt trăng, tinh tú hay bất cứ một cái gì và chính cái trống rỗng uyên nguyên đó được gọi là “Mẹ Vũ Trụ” hay Kaluna. Danh từ “Mẹ Vũ Trụ” không phải một đấng Hóa Công (Creator) mà chỉ là một tâm thức (Mind), một trạng thái tuyệt đối hoàn hảo của tâm thức.
<...>
Vị Trưởng Lão lên tiếng:
“Chúng tôi đã thảo luận rất kỹ về điều chúng tôi muốn nói. Chúng tôi muốn gửi một thông điệp cho các em trong gia đình nhân loại. Chúng tôi nói bằng trái tim, những lời nói chân thành nhất rằng hiện nay nhân loại sắp bước vào một thảm họa rất lớn mà từ trước đến nay chưa hề xảy ra.
Thứ nhất, nhân loại cần biết rằng tất cả chúng ta đều là anh em một nhà, đều là con cùng một Mẹ. Dù chúng ta có màu da khác nhau, mặc quần áo khác nhau, có những truyền thống khác nhau, tuân theo những quan niệm khác nhau, sống trong những điều kiện khác nhau nhưng tất cả chỉ là bề ngoài mà thôi. Bên trong chúng ta đâu hề khác biệt. Khi đói chúng ta đều đói như nhau, lúc khát chúng ta đều khát như nhau, chúng ta đều có cảm giác vui buồn đau khổ như nhau.
Hiển nhiên phải như vậy rồi vì chúng ta đều là con cùng một Mẹ, nhưng tiếc là các em đã không chú ý đến điều này vì các em đã quên mất nguồn gốc thiêng liêng của các em rồi! Sống xa Mẹ đã lâu, các em đã quên hẳn người Mẹ sinh ra các em, săn sóc, che chở, nuôi dưỡng các em. Vì thiếu ý thức, các em đã phá nát gia tài Mẹ Cha để lại, phá hoại một cách không thương tiếc, không một mảy may thương tiếc!
Các anh đây sinh trước, gần Cha Mẹ hơn nên hiểu được lòng Mẹ Cha đang tan nát, đau khổ. Mẹ đã buồn vì các con sinh sau nở muộn đã không biết thương yêu nhau mà trái lại cứ chém giết, hận thù nhau, làm hại lẫn nhau khiến Mẹ Cha khổ sở vô cùng. Không những thế, các em còn dày xéo lên thân thể Mẹ Cha mà không biết rằng các em đang giết hại chính đấng đã sinh ra các em. Các anh biết rõ việc này nên chỉ muốn khuyên các em hãy dừng lại, quan sát và ý thức việc làm hiện nay của các em vì giết hại đấng sinh thành ra mình chính là giết hại chính mình đó.
Mẹ của các em là ai? Chính là trái đất này. Lòng Mẹ chính là biển cả và trái tim của Mẹ chính là những dãy núi cao có mặt khắp nơi.
Này các em! đốt rừng, phá núi, đổ đồ ô uế xuống biển chính là chà đạp lên thân thể của Mẹ đó.
Mẹ là nguồn sống chung và con người không thể sống mà không có Mẹ.
Nếu trái đất bị hủy hoại thì chúng ta sẽ sống ở đâu?
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng và cần xét đoán một cách nghiêm chỉnh. Các anh không biết trong vòng vài năm nữa thế giới sẽ biến đổi như thế nào?
Chắc không lấy gì tốt đẹp lắm đâu nếu các em cứ tiếp tục phá hoại mà không biết bảo trì môi trường sinh sống. Tại sao được thừa hưởng một gia tài tốt đẹp như thế mà chúng ta lại phá hoại nó đi vậy?
Tại sao các em không nghĩ rằng trải qua mấy ngàn năm nay, thế hệ trước đã giữ gìn cẩn thận, đã trân trọng từng tấc đất, từng ngọn suối, từng khóm cây, ngọn cỏ mà ngày nay các em lại phá nát không hề thương tiếc?
Làm sao các em có thể tự hào rằng mình “văn minh” khi nhân loại và mọi sinh vật mỗi ngày một khổ đau nhiều hơn xưa?
Làm sao có thể nói rằng nhân loại đã “tiến bộ” khi con người ngày càng gia tăng thù hận, chỉ thích gây chiến tranh khắp nơi?
Các anh biết vậy nhưng phải làm sao đây? Làm sao có thể nói cho các em biết rằng vũ trụ có những định luật vô cùng lớn lao, không thể vi phạm được? Lòng các anh vô cùng đau đớn vì các anh thấy rằng trái đất đã khô kiệt rồi, mọi sự sống đang lâm nguy và thảm họa diệt vong chỉ còn trong giây lát. Do đó các anh muốn kêu gọi khẩn thiết rằng hãy thức tỉnh, ngưng ngay những việc có tính cách phá hoại đó lại, nếu không thì trễ quá mất rồi!
<...>
Người ta đã tiên đoán rằng chỉ vài năm nữa thế giới sẽ lâm vào tình trạng suy kiệt dinh dưỡng. Nạn đói kém sẽ xảy ra khắp nơi, và những quốc gia làm chủ được thực phẩm sẽ là những quốc gia có quyền lực mạnh nhất. Biết rõ nguy nan này, các quốc gia tân tiến đang phát động những căn bản kinh tế, kỹ nghệ mới đặt trên vấn đề môi sinh mà nạn nhân đầu tiên sẽ là các quốc gia kém mở mang, chậm tiến. Chính những quốc gia này sẽ trở thành miếng mồi ngon để các quốc gia tân tiến kéo đến mở mang kỹ nghệ, phóng uế bừa bãi các chất cặn bã, và phá hoại môi sinh.
Nhân danh khoa học kỹ thuật, các quốc gia tân tiến đang cho thuyên chuyển những nhà máy, kỹ nghệ từ xứ họ qua những quốc gia khác dưới những danh nghĩa rất tốt đẹp như hợp tác, phát triển kỹ thuật. Hiển nhiên họ đã ý thức tình trạng phá hoại môi sinh và hậu quả của nó trong quốc gia của họ và quyết định nếu kỹ nghệ là cần thiết thì hậu quả của nó phải xảy ra một nơi nào khác chứ không phải trên lãnh thổ của họ.
Nói một cách khác, chính sách “thực dân mới” sẽ không xây dựng trên tình trạng chiếm đất, nhưng sẽ đặt trên căn bản phá hoại môi sinh tại những nơi khác, vì đây là một sự phá hoại có tính cách vĩnh viễn, không thể phục hồi.
Những quốc gia mà môi sinh bị phá hoại sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được khi tình trạng thực phẩm thiếu sót vì đất mầu bị phá hoại, rừng rậm bị phá hủy, biển cả và đất đai chứa đựng toàn những chất ô nhiễm. Dĩ nhiên dân chúng sẽ bị những bệnh tật kỳ dị không thể chữa, những thứ bệnh có thể gây tổn thương đến yếu tố di truyền và hoàn toàn suy kiệt nhân lực (Oligarchy) bởi các hóa chất kỹ nghệ.
***
29/11/2008 Lê Trung Thành :
Riêng tại Việt Nam , không những giờ đây chúng ta đang phải đối đấu với những vấn nạn về môi sinh mà các quốc gia nghèo nàn lạc hậu phải gánh chịu , mà dân tộc của chúng ta còn phải oằn mình dưới đời sống đạo đức và tâm linh đã tha hóa đến cùng cực bởi chính tà quyền cộng sản đã bòn rút và hủy diệt trong suốt mấy chục năm qua .
Hỡi người anh em, chúng ta lại tiếp tục thờ ơ ?
Chúng ta phải dũng cảm thừa nhận rằng Việt Nam là một quốc gia kém mở mang và chậm tiến mà nguyên nhân chính yếu đó là chúng ta chọn nhầm một tư tưởng một chủ nghĩa để xây dựng nên một quốc gia, càng tệ hại hơn khi chính tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ Nghĩa Cộng Sản lại là một lực lượng phản vũ trụ, phản lại những định luật không thể vi phạm được , đó là quy luật tiến hóa của loài người, đó là con đường mà loài người phải hướng đến để hợp nhất với thượng đế, đó là một quá trình 1000 năm hay 3000 năm tới, và hiện nay tại thời điểm chúng ta đang sống , hình mẫu xã hội tự do dân chủ là đúng theo ý chí và nguyện vọng của con người tại thời điểm này .
Chúng ta không thể sống hay duy trì nòi giống nếu không tiến theo quy luật tiến hóa đó, vì thế nên việc phải tiêu diệt tà quyền cộng sản không đơn thuần chỉ là việc của 1 nhóm người, không chỉ là làn ranh Quốc - Cộng , không chỉ là cuộc chiến ý thức hệ , không chỉ là đấu tranh chống độc tài ....
mà đó là cuộc chiến sinh tử giữa HỮU THẦN và VÔ THẦN , giữa TIẾN HÓA và DIỆT VONG .
( đó là quan điểm lập trường rất rõ ràng của tôi, ai có chung rung cảm như thấy được hiểm họa dân tộc đang bị diệt vong thì chúng ta đã cùng đi trên con đường khó khăn sắp tới . Thân ái )
Mời bạn vào đây nghe - Thông điệp của những người anh ( mp3)
http://www.4shared.com/file/73662977/4733772c/Thongdiep_nguoianh.html
Phim tại đây : http://video.google.ca/videoplay?docid=-521537373096312859&hl=en
THÔNG ÐIỆP CỦA NHỮNG NGƯỜI ANH
Blacky’s Blog
Saturday November 29, 2008 - 09:11pm (ICT)
http://blog.360.yahoo.com/blog-KMd8BGwhaa8mtAF4pgc8Gaj7LfT3vm0Y?p=4444
Tháng 10-1993, đài BBC tại Luân Đôn và PBS tại Hoa Kỳ đã cho phát hình một tài liệu đặc biệt ghi nhận nếp sống của một bộ lạc thiểu số tại Nam Mỹ. Cuốn phim nầy đã gây chấn động dư luận thế giới và hiện là một đề tài được bàn cãi rất nhiều trong giới khảo cổ, môi sinh và nhân chủng học. Lần đầu tiên được trình chiếu trong kỳ đại hội Tôn Giáo hoàn cầu tổ chức tại Chicago, nó đã gây một xúc động lớn cho toàn thể cử tọa. Chúng tôi ghi nhận lại đây bài thuyết trình “Elder Brother's Warning” của ký giả Alan Ereira để bạn đọc cùng suy ngẫm.
Đầu năm (1993), ký giả Alan Ereira, phóng viên của đài BBC tại Columbia, nhận được tin bộ lạc Kogi từ lâu không tiếp xúc với ai, đã chấp thuận cho anh được phỏng vấn với điều kiện là anh phải đến tham dự buổi đại hội Tôn Giáo thế giới tổ chức tại Chicago vào tháng 9 năm 1993 và công bố một thông điệp của họ. Ký giả Ereira đã viết: “Đây là một biến cố đặc biệt. Tại sao bao năm nay không giao thiệp tiếp xúc với ai mà tự nhiên họ lại cho phép tôi được đến phỏng vấn, quay phim? Họ muốn gì đây? Tại sao một bộ lạc sống biệt lập trong vùng rừng sâu núi thẳm, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, lại biết có một đại hội Tôn Giáo nhóm họp tại Hoa Kỳ để gửi một thông điệp? Một điều may mắn là tuy người Kogi không liên lạc với ai, rất ít người biết đến ngôn ngữ của họ, nhưng vì họ tiếp xúc giới hạn với vài bộ lạc gần đó, nên chúng tôi đã tìm được một người dân bộ lạc này có thể nói được tiếng Kogi để làm công việc thông dịch”.
<... >
Chính giữa làng có một căn nhà rất lớn cất bằng lá cây. Đây là nơi hội họp của dân làng mỗi khi có việc quan trọng. Khác hẳn với những bộ lạc khác, chúng tôi không hề nhìn thấy các biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng gì cả. Căn nhà hoàn toàn trống trơn và rất sạch sẽ. Một vị Trưởng Lão cho biết đây là trung tâm sinh hoạt của làng, mọi việc quan trọng như cưới hỏi, chôn cất, trồng trọt, cày cấy, tiên đoán thời tiết đều được mang ra thảo luận tại đây để lấy quyết định chung. Tất cả mọi người đều có quyền phát biểu ý kiến, không có Tù Trưởng hay một ai nắm quyền hành cả.
Ký giả Ereira ghi nhận: “Thật là một điều lạ lùng chưa từng thấy. Một bộ lạc không có Tù Trưởng, không có người lãnh đạo, mọi quyết định đều là quyết định chung. Phải chăng đây là một hình thức dân chủ thô sơ nhất và chân chính nhất đã có từ ngàn xưa? Theo chỗ chúng tôi dò hỏi thì không có một điều gì được làm nếu không có sự đồng ý chung, nhưng quyết định chung ở đây không có nghĩa là đa số trên thiểu số mà là quyết định của toàn thể mọi người (Concensus). Thật khó có thể tưởng tượng một bộ lạc sống biệt lập lại có một truyền thống dân chủ đặc biệt như vậy! Phải chăng nền văn minh cổ xưa ngày trước là một nền văn minh dựa trên căn bản dân chủ?”
<...>
Một điểm rất đặc biệt là người Kogi không hề ăn thịt cá. Khác hẳn với những bộ lạc khác, họ không hề săn bắn hay có võ khí. Truyền thống của họ không hề có vấn đề giết hại bất cứ một sinh vật nào, dù lớn hay nhỏ. Đây là một chi tiết đang làm nhức đầu nhiều nhà nhân chủng học và xã hội học. Từ trước đến nay, các lý thuyết đều cho rằng những bộ lạc dã man đều sinh sống bằng săn bắn và ăn cây trái trong rừng. Việc một bộ lạc không hề có tập tục ăn thịt cá là một sự kiện độc đáo, lạ lùng hiếm có và khó giải thích. Người Kogi cho rằng giết hại sinh vật là trái với luật thiên nhiên. Có lẽ vì lý do đó trong thời gian quay phim, phái đoàn đài BBC đã thấy rất nhiều hươu, nai, thỏ rừng, chồn cáo đi qua đi lại trong làng như những gia súc mà không hề sợ hãi.
Đối với người Kogi, việc chết cũng rất giản dị. Khi cảm thấy đã đến lúc phải ra đi, một người già thường tìm vào một hang đá sâu và ngồi yên trong đó chờ chết. Họ không làm đám tang, gia đình than khóc như những bộ lạc khác, mà họ cho rằng đó là một việc bình thường, không có gì đáng quan tâm. Một điểm hết sức đặc biệt nữa của người Kogi là họ không hề có một tín ngưỡng thờ thần linh hay vật tổ như các bộ lạc khác. Truyền thống nơi đây chú trọng trên căn bản tĩnh tâm suy gẫm nên họ đã có những quan niệm hết sức đặc biệt, khác hẳn với những nền văn minh khác tại Nam Mỹ.
Theo quan niệm của người Kogi truyền từ đời này qua đời khác thì thuở ban sơ, vũ trụ hoàn toàn trống rỗng, không có mặt trời, mặt trăng, tinh tú hay bất cứ một cái gì và chính cái trống rỗng uyên nguyên đó được gọi là “Mẹ Vũ Trụ” hay Kaluna. Danh từ “Mẹ Vũ Trụ” không phải một đấng Hóa Công (Creator) mà chỉ là một tâm thức (Mind), một trạng thái tuyệt đối hoàn hảo của tâm thức.
<...>
Vị Trưởng Lão lên tiếng:
“Chúng tôi đã thảo luận rất kỹ về điều chúng tôi muốn nói. Chúng tôi muốn gửi một thông điệp cho các em trong gia đình nhân loại. Chúng tôi nói bằng trái tim, những lời nói chân thành nhất rằng hiện nay nhân loại sắp bước vào một thảm họa rất lớn mà từ trước đến nay chưa hề xảy ra.
Thứ nhất, nhân loại cần biết rằng tất cả chúng ta đều là anh em một nhà, đều là con cùng một Mẹ. Dù chúng ta có màu da khác nhau, mặc quần áo khác nhau, có những truyền thống khác nhau, tuân theo những quan niệm khác nhau, sống trong những điều kiện khác nhau nhưng tất cả chỉ là bề ngoài mà thôi. Bên trong chúng ta đâu hề khác biệt. Khi đói chúng ta đều đói như nhau, lúc khát chúng ta đều khát như nhau, chúng ta đều có cảm giác vui buồn đau khổ như nhau.
Hiển nhiên phải như vậy rồi vì chúng ta đều là con cùng một Mẹ, nhưng tiếc là các em đã không chú ý đến điều này vì các em đã quên mất nguồn gốc thiêng liêng của các em rồi! Sống xa Mẹ đã lâu, các em đã quên hẳn người Mẹ sinh ra các em, săn sóc, che chở, nuôi dưỡng các em. Vì thiếu ý thức, các em đã phá nát gia tài Mẹ Cha để lại, phá hoại một cách không thương tiếc, không một mảy may thương tiếc!
Các anh đây sinh trước, gần Cha Mẹ hơn nên hiểu được lòng Mẹ Cha đang tan nát, đau khổ. Mẹ đã buồn vì các con sinh sau nở muộn đã không biết thương yêu nhau mà trái lại cứ chém giết, hận thù nhau, làm hại lẫn nhau khiến Mẹ Cha khổ sở vô cùng. Không những thế, các em còn dày xéo lên thân thể Mẹ Cha mà không biết rằng các em đang giết hại chính đấng đã sinh ra các em. Các anh biết rõ việc này nên chỉ muốn khuyên các em hãy dừng lại, quan sát và ý thức việc làm hiện nay của các em vì giết hại đấng sinh thành ra mình chính là giết hại chính mình đó.
Mẹ của các em là ai? Chính là trái đất này. Lòng Mẹ chính là biển cả và trái tim của Mẹ chính là những dãy núi cao có mặt khắp nơi.
Này các em! đốt rừng, phá núi, đổ đồ ô uế xuống biển chính là chà đạp lên thân thể của Mẹ đó.
Mẹ là nguồn sống chung và con người không thể sống mà không có Mẹ.
Nếu trái đất bị hủy hoại thì chúng ta sẽ sống ở đâu?
Đây là một vấn đề hết sức quan trọng và cần xét đoán một cách nghiêm chỉnh. Các anh không biết trong vòng vài năm nữa thế giới sẽ biến đổi như thế nào?
Chắc không lấy gì tốt đẹp lắm đâu nếu các em cứ tiếp tục phá hoại mà không biết bảo trì môi trường sinh sống. Tại sao được thừa hưởng một gia tài tốt đẹp như thế mà chúng ta lại phá hoại nó đi vậy?
Tại sao các em không nghĩ rằng trải qua mấy ngàn năm nay, thế hệ trước đã giữ gìn cẩn thận, đã trân trọng từng tấc đất, từng ngọn suối, từng khóm cây, ngọn cỏ mà ngày nay các em lại phá nát không hề thương tiếc?
Làm sao các em có thể tự hào rằng mình “văn minh” khi nhân loại và mọi sinh vật mỗi ngày một khổ đau nhiều hơn xưa?
Làm sao có thể nói rằng nhân loại đã “tiến bộ” khi con người ngày càng gia tăng thù hận, chỉ thích gây chiến tranh khắp nơi?
Các anh biết vậy nhưng phải làm sao đây? Làm sao có thể nói cho các em biết rằng vũ trụ có những định luật vô cùng lớn lao, không thể vi phạm được? Lòng các anh vô cùng đau đớn vì các anh thấy rằng trái đất đã khô kiệt rồi, mọi sự sống đang lâm nguy và thảm họa diệt vong chỉ còn trong giây lát. Do đó các anh muốn kêu gọi khẩn thiết rằng hãy thức tỉnh, ngưng ngay những việc có tính cách phá hoại đó lại, nếu không thì trễ quá mất rồi!
<...>
Người ta đã tiên đoán rằng chỉ vài năm nữa thế giới sẽ lâm vào tình trạng suy kiệt dinh dưỡng. Nạn đói kém sẽ xảy ra khắp nơi, và những quốc gia làm chủ được thực phẩm sẽ là những quốc gia có quyền lực mạnh nhất. Biết rõ nguy nan này, các quốc gia tân tiến đang phát động những căn bản kinh tế, kỹ nghệ mới đặt trên vấn đề môi sinh mà nạn nhân đầu tiên sẽ là các quốc gia kém mở mang, chậm tiến. Chính những quốc gia này sẽ trở thành miếng mồi ngon để các quốc gia tân tiến kéo đến mở mang kỹ nghệ, phóng uế bừa bãi các chất cặn bã, và phá hoại môi sinh.
Nhân danh khoa học kỹ thuật, các quốc gia tân tiến đang cho thuyên chuyển những nhà máy, kỹ nghệ từ xứ họ qua những quốc gia khác dưới những danh nghĩa rất tốt đẹp như hợp tác, phát triển kỹ thuật. Hiển nhiên họ đã ý thức tình trạng phá hoại môi sinh và hậu quả của nó trong quốc gia của họ và quyết định nếu kỹ nghệ là cần thiết thì hậu quả của nó phải xảy ra một nơi nào khác chứ không phải trên lãnh thổ của họ.
Nói một cách khác, chính sách “thực dân mới” sẽ không xây dựng trên tình trạng chiếm đất, nhưng sẽ đặt trên căn bản phá hoại môi sinh tại những nơi khác, vì đây là một sự phá hoại có tính cách vĩnh viễn, không thể phục hồi.
Những quốc gia mà môi sinh bị phá hoại sẽ không bao giờ ngóc đầu lên được khi tình trạng thực phẩm thiếu sót vì đất mầu bị phá hoại, rừng rậm bị phá hủy, biển cả và đất đai chứa đựng toàn những chất ô nhiễm. Dĩ nhiên dân chúng sẽ bị những bệnh tật kỳ dị không thể chữa, những thứ bệnh có thể gây tổn thương đến yếu tố di truyền và hoàn toàn suy kiệt nhân lực (Oligarchy) bởi các hóa chất kỹ nghệ.
***
29/11/2008 Lê Trung Thành :
Riêng tại Việt Nam , không những giờ đây chúng ta đang phải đối đấu với những vấn nạn về môi sinh mà các quốc gia nghèo nàn lạc hậu phải gánh chịu , mà dân tộc của chúng ta còn phải oằn mình dưới đời sống đạo đức và tâm linh đã tha hóa đến cùng cực bởi chính tà quyền cộng sản đã bòn rút và hủy diệt trong suốt mấy chục năm qua .
Hỡi người anh em, chúng ta lại tiếp tục thờ ơ ?
Chúng ta phải dũng cảm thừa nhận rằng Việt Nam là một quốc gia kém mở mang và chậm tiến mà nguyên nhân chính yếu đó là chúng ta chọn nhầm một tư tưởng một chủ nghĩa để xây dựng nên một quốc gia, càng tệ hại hơn khi chính tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ Nghĩa Cộng Sản lại là một lực lượng phản vũ trụ, phản lại những định luật không thể vi phạm được , đó là quy luật tiến hóa của loài người, đó là con đường mà loài người phải hướng đến để hợp nhất với thượng đế, đó là một quá trình 1000 năm hay 3000 năm tới, và hiện nay tại thời điểm chúng ta đang sống , hình mẫu xã hội tự do dân chủ là đúng theo ý chí và nguyện vọng của con người tại thời điểm này .
Chúng ta không thể sống hay duy trì nòi giống nếu không tiến theo quy luật tiến hóa đó, vì thế nên việc phải tiêu diệt tà quyền cộng sản không đơn thuần chỉ là việc của 1 nhóm người, không chỉ là làn ranh Quốc - Cộng , không chỉ là cuộc chiến ý thức hệ , không chỉ là đấu tranh chống độc tài ....
mà đó là cuộc chiến sinh tử giữa HỮU THẦN và VÔ THẦN , giữa TIẾN HÓA và DIỆT VONG .
( đó là quan điểm lập trường rất rõ ràng của tôi, ai có chung rung cảm như thấy được hiểm họa dân tộc đang bị diệt vong thì chúng ta đã cùng đi trên con đường khó khăn sắp tới . Thân ái )
Mời bạn vào đây nghe - Thông điệp của những người anh ( mp3)
http://www.4shared.com/file/73662977/4733772c/Thongdiep_nguoianh.html
Phim tại đây : http://video.google.ca/videoplay?docid=-521537373096312859&hl=en
Subscribe to:
Posts (Atom)