Tuesday, September 1, 2026

TRUNG QUỐC ĐANG CHỜ MỸ CẠN KIỆT PHI ĐẠN (Thomas O. Falk / Nikkei Asia)

 



Trung Quốc đang chờ Mỹ cạn kiệt tên lửa

Thomas O. Falk   -   Nikkei Asia  

Phạm Ánh Minh, biên dịch   -   NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ   

30/08/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/08/30/trung-quoc-dang-cho-my-can-kiet-ten-lua/

 

Xung đột ở Trung Đông đang phơi bày những giới hạn trong khả năng của Washington khi phải đồng thời bảo vệ hai chiến trường.

 

Ngày 1/8, The Washington Post đưa tin Tướng Alexus Grynkewich – Tư lệnh Bộ Chỉ huy châu Âu của Mỹ, đồng thời là Tư lệnh Tối cao Đồng minh NATO tại châu Âu – đã gửi một văn bản tới các quan chức cấp cao của Lầu Năm Góc, cảnh báo rằng nếu không được bổ sung thêm một tàu khu trục của Hải quân, ông sẽ buộc phải ưu tiên bảo vệ lãnh thổ Mỹ thay vì Israel. Một quan chức quốc phòng cho rằng đây chỉ là sự cạnh tranh thông thường đối với các nguồn lực hữu hạn, và xét về bản chất, nhận định này không sai. Tuy nhiên, sự việc cũng đã biến những tranh luận kéo dài hàng thập kỷ trong giới hoạch định chính sách về bài toán “hai chiến trường” thành một cảnh báo chính thức bằng văn bản.

 

Tuy nhiên, bên quan tâm nhất đến bản ghi nhớ này không phải Israel, mà là Bắc Kinh. Và kể từ đó, Trung Quốc đã nhận được thêm nhiều tín hiệu tương tự. Mười hai ngày sau, vào ngày 13/8, tàu USS George Washington – tàu sân bay duy nhất của Mỹ được triển khai thường trực ở tiền phương – rời Yokosuka, Nhật Bản, để tới Trung Đông thay thế tàu USS Abraham Lincoln. Trước đó, thời gian triển khai của tàu Lincoln đã hai lần được gia hạn so với kế hoạch trở về ban đầu vào tháng 5. Điều này khiến khu vực phía tây San Diego không còn bất kỳ nhóm tác chiến tàu sân bay nào.

 

Ngoài ra, còn hai chi tiết khác trong báo cáo mà chắc chắn sẽ được đưa vào bất kỳ đánh giá nào của Trung Quốc: quyết định vào phút chót của Tổng thống Donald Trump cắt giảm quy mô các cuộc tập trận chung với Hàn Quốc, và việc Mỹ chuyển một lượng lớn tên lửa tầm xa cùng tên lửa đánh chặn ra khỏi châu Á. Tàu USS Theodore Roosevelt dự kiến được triển khai vào tháng 9. Viện Hudson dự báo con tàu này có thể sẽ đi xuyên Thái Bình Dương để tới Trung Đông thay vì ở lại khu vực.

 

Các số liệu định lượng càng củng cố những gì việc triển khai lực lượng trên thực tế đã cho thấy. Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tính toán rằng Mỹ sẽ cần ít nhất ba năm để khôi phục kho dự trữ tên lửa Tomahawk, hệ thống phòng thủ tên lửa tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) và tên lửa Patriot về mức trước chiến tranh. Trung tâm này cũng ước tính rằng đối với ít nhất bốn trong số bảy loại đạn dược trọng yếu, hơn một nửa lượng dự trữ có từ trước cuộc chiến với Iran có thể đã được sử dụng hết.

 

Trong khi đó, CNN dẫn các nguồn tin am hiểu báo cáo kiểm kê nội bộ mới nhất cho biết một số kho dự trữ đã xuống mức “thấp đến mức nguy hiểm”, trong đó lượng tên lửa THAAD giảm gần 80%. Các hợp đồng mở rộng sản xuất được ký trong tháng này dự kiến chỉ hoàn tất việc bàn giao vào khoảng năm 2029. Đóng góp của Iran vào lịch sử quân sự có lẽ sẽ nằm ở một bài học về phương thức tác chiến: một cường quốc tầm trung, bằng cách sử dụng máy bay không người lái giá rẻ và tên lửa đạn đạo tầm trung, đã khiến một siêu cường tiêu hao những loại vũ khí đắt đỏ nhất của mình nhanh hơn tốc độ có thể sản xuất để bù đắp.

 

Việc Mỹ có đang bị dàn trải quá mức hay không giờ không còn là câu hỏi cần tranh luận, bởi rõ ràng nước này đang ở trong tình trạng đó. Câu hỏi thực sự là Bắc Kinh sẽ rút ra bài học gì về cách Washington có thể hành xử. Có thể đồng thời rút ra hai kết luận.

 

Thứ nhất, tình trạng khan hiếm nguồn lực buộc Washington phải hành động thận trọng hơn ở châu Á, nhằm bảo toàn những năng lực còn lại cho cuộc đối đầu mà họ coi là quan trọng nhất. Học thuyết của Mỹ cũng củng cố cách nhìn này. Chiến lược Quốc phòng năm 2026 xếp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ở vị trí ưu tiên chỉ sau nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ Mỹ, cam kết “tránh xung đột và giảm leo thang” với Trung Quốc, nhưng lại hoàn toàn không đề cập đến Đài Loan. Khi buộc phải cân nhắc từng tên lửa đánh chặn, Washington sẽ càng nhận thấy lợi ích của sự kiềm chế. Và sự kiềm chế từ một siêu cường đang phải thắt lưng buộc bụng chính là điều Bắc Kinh mong muốn.

 

Thứ hai, một cường quốc nhận thấy cánh cửa cơ hội của mình đang dần khép lại cũng có động lực để hành động trước khi quá muộn. Logic này vận hành theo cả hai chiều, và đây chính là điểm cho thấy cách diễn giải phổ biến về bản ghi nhớ của Tướng Grynkewich có thể chưa đầy đủ. Các nhà hoạch định chiến lược Trung Quốc có thể xác định năm 2029 là thời điểm Mỹ hoàn tất việc tái bổ sung kho vũ khí. Giới chức Mỹ cũng hiểu rõ điều này. Do đó, trong ba năm tới, Washington có thể trở nên quyết liệt hơn chứ không phải mềm mỏng hơn, sẵn sàng hành động phủ đầu nhanh hơn và ít có khả năng chấp nhận để một cuộc khủng hoảng kéo dài, leo thang trong lúc kho vũ khí của mình đang cạn dần. Nguy cơ tính toán sai lầm sẽ gia tăng khi chính bên có lợi thế mong manh nhất lại là bên quyết định nhịp độ hành động.

Cả hai kịch bản đều có thể xảy ra. Không nhà hoạch định chính sách nào tại Đài Bắc hay Tokyo có thể hoàn toàn bác bỏ một trong hai khả năng, và đó mới là điều thực sự đáng lo ngại: các chính phủ châu Á giờ đây buộc phải chuẩn bị cho cả hai tình huống.

 

Viện Brookings chỉ ra rằng những hành động gây hấn mang tính cơ hội thường xuất hiện trong bối cảnh các cuộc chiến tranh kéo dài, trong khi các cuộc thanh trừng sĩ quan cấp cao của Tập Cận Bình có thể giúp lý giải phần lớn những diễn biến còn lại. Tuy nhiên, vào tháng 6, các tàu hải cảnh Trung Quốc đã chất vấn các tàu thương mại ở phía đông Đài Loan và tuyên bố quyền tài phán đối với các tàu này – một hình thức cưỡng ép đòi hỏi tàu chiến thực sự hiện diện và tuần tra trên biển, chứ không phải các tên lửa đánh chặn nằm trong kho. Khả năng tiến hành một cuộc xâm lược không trở nên dễ dàng hơn trong năm nay. Nhưng các biện pháp cưỡng ép lại trở nên hấp dẫn hơn đáng kể – và sức hấp dẫn đó vẫn tồn tại bất kể Washington lựa chọn hướng đi nào.

 

Châu Á từng chứng kiến một tiền lệ tương tự. Từ cuối những năm 1930, Anh cam kết với Australia, New Zealand và Malaya rằng nếu Nhật Bản tiến hành hành động quân sự, một hạm đội chủ lực sẽ được điều sang phía đông. “Chiến lược Singapore” là một cam kết nghiêm túc, tốn kém và được tái khẳng định tại mọi hội nghị đế quốc. Tuy nhiên, chiến lược này thất bại không phải vì Anh tính sai số lượng tàu chiến, mà vì cách phân bổ lực lượng: Hải quân Hoàng gia Anh có tàu, nhưng châu Âu mới là nơi được ưu tiên sử dụng chúng. Và lời cam kết đó chỉ bị thử thách một lần. Lực lượng Z tới nơi vào tháng 12/1941 với hai tàu chiến chủ lực nhưng không có yểm trợ trên không, và chỉ tồn tại được ba ngày. Vấn đề hiện nay không phải là Hải quân Mỹ có đủ năng lực hay không, mà là họ sẽ ưu tiên ứng phó với cuộc khủng hoảng nào trước.

 

Điều này cũng gợi mở hướng phân bổ ngân sách quốc phòng cho các chính phủ châu Á. Ngày 20/8, cơ quan hành pháp Đài Loan đề xuất tăng 18% ngân sách quốc phòng cho năm 2027, đưa chi tiêu quốc phòng lên trên 3% GDP, trong khi Nhật Bản cũng dự kiến sửa đổi ba văn kiện an ninh cốt lõi vào tháng 12. Cả hai nên tận dụng cơ hội này để đầu tư khắc phục những hạn chế hiện tại, thay vì chỉ than phiền về chúng.

 

Đã có tiền lệ cho cách tiếp cận này. Ngày 7/8, Cơ quan Phòng thủ Tên lửa Hoa Kỳ ký hợp đồng trị giá 745,4 triệu USD với Raytheon để mua tên lửa SM-3 Block IIA, trong đó Tokyo tài trợ 277,7 triệu USD cho loại tên lửa đánh chặn được phát triển với sự tham gia của Mitsubishi Heavy Industries. Nếu mô hình này được áp dụng cho các hệ thống như PAC-3, SM-6 và năng lực tấn công tầm xa, nguồn vốn từ các đồng minh có thể giúp tạo ra kho dự trữ tên lửa thực sự, thay vì chỉ giúp họ có được một vị trí trong danh sách chờ mua sắm.

 

Đổi lại, Washington cần đưa ra một tuyên bố rõ ràng: xác định mức hiện diện quân sự tối thiểu tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương mà ngay cả các tình huống khẩn cấp tại khu vực phụ trách của Bộ Chỉ huy Trung tâm Hoa Kỳ cũng không được phép làm suy giảm. Bộ Quốc phòng dưới thời Pete Hegseth hiện vẫn xếp khu vực này ở vị trí ưu tiên thứ hai, nhưng đồng thời lại coi lực lượng tại đây là nguồn dự bị có thể điều sang các khu vực khác. Hai quan điểm này mâu thuẫn với nhau, và Bắc Kinh đã có sáu tháng để quan sát xem đâu mới là thực tế.

 

Kỷ nguyên mà năng lực quân sự vượt trội của Mỹ được coi là điều hiển nhiên không kết thúc bởi một cuộc khủng hoảng ở Đài Loan, mà bởi tình trạng thiếu tàu khu trục ở Địa Trung Hải.

 

--------------------

Thomas O. Falk là nhà phân tích chính trị và nhà báo chuyên viết về chính trị châu Âu, quan hệ xuyên Đại Tây Dương và an ninh địa chính trị toàn cầu.

 

Nguồn: Thomas O. Falk, “China is watching America run out of missiles”, Nikkei Asia, 27/08/2026

 

--------------------------

Có thể bạn quan tâm:

1.   Đài Loan không cần phải lựa chọn giữa Đại lục và Hoa Kỳ

2.   Trung Quốc tìm cách bẻ gãy luận điệu của Mỹ về Đài Loan

3.   Quốc–Cộng lại hợp tác, lần này là để chống lại chủ quyền Đài Loan

4.   Quan hệ Mỹ – Trung và chiếc Bẫy Thucydides thực thụ

5.   Chiến tranh Iran là một chiến thắng cho Trung Quốc

6.   Tại sao Mỹ và Trung Quốc vẫn cần ASEAN?

7.   Nửa thế kỷ thượng đỉnh tiết lộ điều gì về quan hệ Mỹ – Trung?

8.   Quan hệ đồng minh Mỹ – Philippines được thắt chặt dưới thời Trump

 





UKRAINE ĐỐI MẶT VỚI NẠN THAM NHŨNG và HỖN LOẠN CHÍNH TRỊ GIỮA LỬA ĐẠN (The Economist)

 



Ukraine đối mặt với nạn tham nhũng và hỗn loạn chính trị giữa lửa đạn

The Economist     

Viên Đăng Huy, biên dịch    -    NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ   

28/08/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/08/28/ukraine-doi-mat-voi-nan-tham-nhung-va-hon-loan-chinh-tri-giua-lua-dan/

 

Khi các điều tra viên chống tham nhũng Ukraine công bố loạt băng ghi âm mới nhất về các quan chức cấp cao vào ngày 19/8, điều gây sốc nhất lại chính là mức độ trắng trợn trong những cuộc trao đổi. “Hắn nói rằng đánh bại tham nhũng là một cách tiếp cận sai lầm”, giọng của Iryna Mudra, Phó Chánh Văn phòng Tổng thống Volodymyr Zelensky, vang lên khi nhắc đến một người đàn ông giấu tên. “Cần phải hệ thống hóa và kiểm soát nó.” Những kế hoạch bất chính được thúc đẩy gấp gáp vì “ai đó ở cấp trên đang dậm chân thúc giục”. Các chủ ngân hàng ban đầu tỏ ra dè dặt trước ý tưởng phá luật bỗng trở thành những “đứa con cưng… bò tới như những chú mèo con” sau khi được các quan chức cấp cao nói chuyện. Tham nhũng không được xem như một scandal ngoại lệ mà như một phần của quy trình làm việc thường ngày. Những đoạn ghi âm khó có thể xuất hiện vào một thời điểm tồi tệ hơn: Nga đang leo thang chiến dịch không kích tàn khốc, trong khi ông Zelensky phải đối mặt với thách thức trực diện nhất từ trước tới nay đối với vị thế lãnh đạo của mình — đến từ một người từng là thành viên nội các.

 

Mykhailo Fedorov, cựu Bộ trưởng Quốc phòng bị cách chức vào tháng 7 sau xung đột với các tướng lĩnh cấp cao nhất, đã tung ra một video thách thức Zelensky tổ chức bầu cử vào tối trước khi cuộc điều tra mới được công bố. Có lẽ đây không phải sự trùng hợp. Cả hai sự việc đều diễn ra ngay trước khi quốc hội dự kiến bỏ phiếu phê chuẩn người kế nhiệm Fedorov, Yevhenii Khmara. Cuộc bỏ phiếu sau đó diễn ra suôn sẻ với tỷ lệ 312-2. Trong bài phát biểu dài chín phút, Fedorov chế giễu giới lãnh đạo đất nước vì sự yếu kém và tham nhũng, đồng thời kêu gọi tổ chức bầu cử để “khởi động lại” hệ thống. Cho tới nay, lời kêu gọi này nhận được phản ứng lạnh nhạt từ công chúng Ukraine, vốn phần lớn đồng tình với Zelensky rằng một cuộc bầu cử trong thời chiến sẽ là một “cơn sóng thần”. Tuy nhiên, Fedorov đã phá vỡ một điều cấm kỵ và làm nổi bật cảm giác đang lan rộng trong một bộ phận chính quyền rằng một cuộc thanh trừng chính trị lớn có thể sắp diễn ra.

 

Cuộc điều tra tập trung vào hai chiến dịch có liên quan, mang mật danh “Forrest Gump” và “Femida”. Các điều tra viên cho rằng một số thành viên Văn phòng Tổng thống đã điều hành một đường dây rửa tiền nhằm huy động 150 triệu hryvnia, tương đương khoảng 3,4 triệu USD, để đóng tiền bảo lãnh cho Herman Haluschenko, cựu Bộ trưởng Tư pháp từng bị truy tố trong một vụ án tham nhũng trước đó. Các quan chức bị cáo buộc đã xâm nhập hệ thống đăng ký nhà nước để chiếm quyền sở hữu một số công ty, rồi sử dụng chúng để huy động vốn. Theo các nguồn tin từ Ngân hàng Quốc gia Ukraine, lãnh đạo cấp cao tại Sense Bank — ngân hàng trước đây thuộc sở hữu của Nga và được quốc hữu hóa năm 2023 — đã tắt phần mềm chống rửa tiền để các giao dịch có thể hoàn tất. Các cuộc điều tra này khiến Kyrylo Budanov, Chánh Văn phòng Tổng thống và là cấp trên trực tiếp của Mudra, rơi vào tình thế khó xử. Cả Budanov lẫn Mudra đều không phải những người rõ ràng được hưởng lợi từ việc Haluschenko được tại ngoại; trên thực tế, Haluschenko được cho là đối thủ không đội trời chung của Budanov. Ông này đã bị giam nhiều tháng, và các báo cáo cho thấy có thể đang chuẩn bị hợp tác với cơ quan điều tra.

 

Các cơ quan chống tham nhũng của Ukraine — gồm Cục Chống Tham nhũng Quốc gia (NABU), Viện Công tố Chống Tham nhũng Chuyên trách (SAPO) và Tòa án Chống Tham nhũng Cấp cao (VAKS) — trong những năm gần đây đã trở thành một trung tâm quyền lực độc lập đáng gờm. Tháng 7/2025, họ đã sống sót sau nỗ lực của tổng thống nhằm sáp nhập họ vào những thể chế dễ kiểm soát hơn, đúng lúc các cơ quan này đang điều tra những người gần gũi nhất với Zelensky. Các cuộc biểu tình đã buộc tổng thống phải đảo ngược quyết định. Nhưng áp lực chưa bao giờ chấm dứt, đặc biệt đè nặng lên Oleksandr Klymenko, người đứng đầu SAPO và nổi tiếng cứng rắn. Các băng ghi âm cho thấy giới chức đặc biệt e ngại Klymenko, khi Mudra tỏ ra lo lắng trước khả năng ông tái đắc cử: “Tôi nói cho anh biết, ông ta sẽ ở lại thêm một nhiệm kỳ, thêm bảy năm nữa, và tất cả chúng ta sẽ tiêu đời.”

 

Những người ủng hộ cho rằng các cơ quan chống tham nhũng đã trở thành đối trọng cần thiết trước quyền lực ngày càng tập trung của Zelensky, trong bối cảnh quốc hội, nội các và phe đối lập đều suy yếu. Nhưng những người khác lo rằng các cơ quan này đã tự biến mình thành một quyền lực đứng trên luật pháp, có thể tự quyết định thời điểm và cách thức làm chao đảo chính phủ. “Về cơ bản, họ là một chính phủ song song”, một quan chức cấp cao phàn nàn. Ngay cả những người gần gũi với NABU cũng thừa nhận cơ quan này ngày càng mang màu sắc chính trị, và lưu ý rằng không có lý do thủ tục nào buộc các băng ghi âm phải được công bố đúng ngày quốc hội bỏ phiếu cho người kế nhiệm Fedorov. “Luật pháp trao cho họ quyền tiếp cận những khoảnh khắc riêng tư nhất của chính trị và đời sống con người,” một cựu điều tra viên nói. “Nguy hiểm nằm ở chỗ nó có thể trở thành một vũ khí chính trị.”

 

Các cuộc đấu đá chính trị có thể sẽ trở nên dữ dội hơn trong những tuần tới. “Một khi bước sang tháng 10, trời sẽ lạnh hơn và mọi thứ sẽ đồng loạt chệch hướng,” một quan chức cấp cao nhận định. “Một số nhân vật chủ chốt ở đây là những kẻ ngốc, và rất nhiều người hiểu điều đó.” Theo vị quan chức này, Zelensky vẫn tỏ ra lạc quan đến mức khó hiểu, nhưng “đã bắt đầu nhận ra” rằng tình hình đang trở nên xấu đi. Ukraine sẽ bước vào mùa đông thời chiến thứ năm với mức độ dễ tổn thương lớn hơn hẳn những năm trước, trong bối cảnh thiếu hụt tên lửa phòng không và phải đối mặt với chiến dịch leo thang của Nga nhằm phá hủy cơ sở hạ tầng cũng như các mục tiêu kinh tế dân sự.

 

Việc Nga gần đây chuyển sang nhắm vào tàu dân sự đã gần như làm tê liệt các cảng nước sâu của Ukraine đúng thời điểm vụ mùa cần được xuất khẩu. Nếu các nỗ lực ngoại giao không thể mở lại tuyến hàng hải, thiệt hại kinh tế có thể lên tới 10-12 tỷ USD, tương đương gần 5% GDP. Tại cuộc họp báo ngày 22/8, Zelensky tiết lộ ngân sách quốc phòng đang thiếu hụt 27 tỷ USD do những khoản chi ngoài dự kiến. Khoản thiếu hụt này khó có thể là điều hoàn toàn bất ngờ đối với tổng thống. Việc ông công bố nó vào thời điểm này có thể nhằm làm suy giảm uy tín của Fedorov trong thời gian ông này giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng.

 

Cho đến khi bị cách chức, Fedorov vẫn là một người trung thành với tổng thống. Đoạn video vừa qua cho thấy ông giờ đây đã trở thành một đối thủ. Văn phòng Tổng thống đang nhìn nhận ông rất nghiêm túc. Một cuộc thăm dò chưa công bố mà The Economist tiếp cận được, thực hiện ngay trước khi cuộc điều tra mới và video của Fedorov xuất hiện, cho thấy nhân vật 35 tuổi này đứng thứ ba trong một cuộc bầu cử tổng thống giả định với 16% lựa chọn đầu tiên. Zelensky dẫn đầu với 21%, cựu Tổng tư lệnh Valery Zaluzhny đứng thứ hai với 18%, còn Budanov xếp thứ tư với 8%. Những con số này hiện hoàn toàn mang tính giả định: tổ chức bầu cử dưới tình trạng thiết quân luật là bất hợp pháp và người dân Ukraine hiện cũng không muốn bầu cử. Nhưng điều đó có thể thay đổi nếu hỗn loạn chính trị kéo dài.

 

Fedorov vẫn chưa chính thức tuyên bố tranh cử. Các đồng minh của ông cho biết ông dự định chia thời gian giữa chính trị và lĩnh vực kinh doanh quốc phòng, có thể thông qua việc thành lập một quỹ đầu tư quốc phòng. Trong buổi gặp báo chí hôm thứ Bảy, cựu cấp trên của ông tỏ ra đầy suy tư. “Tôi thực sự đã và vẫn có thái độ rất tích cực đối với Mykhailo,” Zelensky nói, rồi bổ sung rằng ông cho rằng Fedorov đang dính líu tới “những thứ không hợp pháp”. Nhiều người Ukraine có lẽ cũng sẽ nói điều tương tự về một phần không nhỏ tầng lớp chính trị của họ.

 

---------------------------------

Có thể bạn quan tâm:

1.   Volodymyr Zelensky: Từ diễn viên hài thành tổng thống thời chiến

2.   Tổng thống Zelensky: Mỗi chúng tôi là một chiến binh, chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng!

3.   Công thức hòa bình khiếm khuyết cho cuộc chiến tại Ukraine

4.   Chiến lược chiến tranh mới của Ukraine đang phát huy tác dụng

5.   Hội nghị G7 hé mở cánh cửa ngoại giao tại Ukraine

6.   Chiến lược đằng sau trận chiến giành Crimea

7.   Bộ chỉ huy mới của Ukraine đối mặt với ba thử thách đầu tiên

8.   Thành công của Ukraine có ý nghĩa gì đối với phương Tây?

 

 

 

 


RẤT KHÓ ĐỂ TỪ BỎ ĐẤT HIẾM TRUNG QUỐC (Christina Lu / Foreign Policy)

 



Rất khó để từ bỏ đất hiếm Trung Quốc

Christina Lu  -  Foreign Policy

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch   -  NGHIÊN CỨU QUỐC TẾ   

 https://nghiencuuquocte.org/2026/08/31/rat-kho-de-tu-bo-dat-hiem-trung-quoc/

 

Bài học nhãn tiền cho nỗ lực đa dạng hóa của Washington.

 

Thời gian đang cạn dần trước khi thỏa thuận đình chiến thương mại mong manh giữa Mỹ và Trung Quốc hết hạn vào mùa thu năm nay, và việc đếm ngược chỉ càng khiến Tổng thống Mỹ Donald Trump khao khát từ bỏ hoàn toàn đất hiếm của Trung Quốc.

 

Có lẽ ít có cường quốc nào trên thế giới thấu hiểu cảm giác đó như Nhật Bản. Suy cho cùng, họ từng ở trong hoàn cảnh của Washington: năm 2010, Trung Quốc từng gây chấn động thế giới khi ngừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản do một tranh chấp địa chính trị, buộc Tokyo phải đánh giá lại toàn bộ chuỗi cung ứng của mình.

 

Mười sáu năm sau, Nhật Bản thường được ca ngợi là quốc gia đa dạng hóa thành công nhất để thoát khỏi đất hiếm Trung Quốc. Nhưng thật ra, họ vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi khó khăn.

Trong một động thái rõ ràng là để trả đũa những phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản Sanae Takaichi về Đài Loan hồi năm ngoái, Bắc Kinh lại một lần nữa dùng sức mạnh chuỗi cung ứng của mình để chống lại Nhật Bản. Chiến dịch gây sức ép này vẫn đang tiếp diễn: Dữ liệu hải quan công bố tháng trước cho thấy Bắc Kinh tiếp tục bóp nghẹt dòng chảy đất hiếm quan trọng sang Nhật Bản trong tháng 6, khiến các công ty và nhà sản xuất trên khắp nước Nhật điêu đứng.

 

Trong lúc Washington chuẩn bị nối gót Tokyo, Nhật Bản cho thấy rõ việc thoát khỏi sự kìm kẹp của Bắc Kinh khó khăn đến mức nào – để lại những bài học sâu sắc cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ.

 

“Nhật Bản là một bài học nhãn tiền,” Gracelin Baskaran, nhà kinh tế chuyên về khai khoáng tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) nhận định.

 

Một trong những vũ khí đáng gờm nhất trong kho vũ khí thương mại của Trung Quốc là khả năng kìm kẹp chuỗi cung ứng đất hiếm toàn cầu, bao gồm những nguyên tố nền tảng cho các công nghệ tiên tiến từ máy bay chiến đấu đến turbine gió.

 

Trung Quốc hiện thống trị khoảng 85% hoạt động chế biến đất hiếm và 92% hoạt động sản xuất nam châm. Sự kiểm soát của họ đặc biệt rõ rệt trong khâu phân tách công nghiệp một nhóm đất hiếm được gọi là đất hiếm nặng, trao cho họ lợi thế khổng lồ trước các nước khác.

 

Sức mạnh đó đã hiện rõ vào năm 2010, khi Trung Quốc tạm dừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản. Báo động trước tình hình này, Tokyo đã nỗ lực toàn diện nhằm lấp đầy những lỗ hổng trong chuỗi cung ứng, bao gồm xây dựng kho dự trữ, bơm lượng tiền khổng lồ vào lĩnh vực này, đồng thời thúc đẩy quan hệ đối tác công-tư và các thỏa thuận bao tiêu.

 

Những nỗ lực của Tokyo trải rộng khắp toàn cầu. Nhật Bản đã rót hàng trăm triệu USD vào Lynas, công ty Australia gần đây đã trở thành doanh nghiệp đầu tiên sản xuất thành công đất hiếm nặng bên ngoài Trung Quốc. Các nhà sản xuất xe hơi Nhật Bản cũng vươn ra nước ngoài, với hàng loạt thỏa thuận đất hiếm cùng các quốc gia từ Canada đến Australia.

 

“Nhật Bản xem đây là một chiến lược mạng lưới, rằng bạn không thể tự mình giải quyết bài toán này,” Mireya Solís, chuyên gia về chính sách kinh tế đối ngoại Nhật Bản tại Viện Brookings, cho biết.

 

Tính đến năm 2018, Nhật Bản đã giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu đất hiếm của Trung Quốc xuống còn khoảng 58%. Dù vậy, theo một báo cáo của CSIS do Baskaran đồng tác giả, nước này vẫn là nhà nhập khẩu kim loại đất hiếm lớn nhất thế giới. Báo cáo cũng lưu ý rằng ngay cả khi Tokyo giảm phụ thuộc vào Bắc Kinh, nước này vẫn nhập khẩu lượng lớn kim loại đất hiếm từ các quốc gia có nền công nghiệp gắn bó sâu sắc với Trung Quốc, như Việt Nam.

 

Kết luận của báo cáo rất thẳng thắn: “Những tuyên bố cho rằng Nhật Bản đã giảm thiểu rủi ro thành công cho chuỗi cung ứng đất hiếm và giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc là sai lầm.” Trên thực tế, sau khi Trung Quốc áp đặt các biện pháp hạn chế trên diện rộng đối với một số nguyên tố đất hiếm và nam châm vào năm 2025, một số hãng xe Nhật Bản đã buộc phải đình chỉ sản xuất.

Việc tiếp cận đất hiếm vẫn là “gót chân Achilles đối với Nhật Bản,” Jane Nakano, chuyên gia về an ninh năng lượng tại CSIS, nhận định.

 

Hiện vẫn rất khó để Nhật Bản đảm bảo nguồn cung đất hiếm nặng, do việc khai thác và phân tách chúng đặc biệt phức tạp, theo Tom Moerenhout, người đứng đầu Sáng kiến Vật liệu Quan trọng tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu của Đại học Columbia. Vì đất hiếm khoáng hóa cùng nhau trong tự nhiên và có tính chất hóa học tương tự nhau, nên cần phải phân tách để cô lập các nguyên tố riêng lẻ, dù quá trình này tiềm ẩn nhiều rủi ro về môi trường.

 

“Về phần các loại đất hiếm nặng – và cụ thể là dysprosium – họ vẫn phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc,” Moerenhout nói về một loại đất hiếm nặng. “Đối với loại đất hiếm đặc biệt này, Nhật Bản đã thực hiện mọi bước đi đúng đắn để đa dạng hóa, nhưng điều đó chỉ cho thấy phải mất bao nhiêu thời gian để thực sự đạt kết quả trên thực tế.”

 

Bắc Kinh đã tận dụng điều đó làm lợi thế cho mình. Căng thẳng giữa hai nước leo thang vào tháng 11 năm ngoái sau khi Takaichi phát biểu rằng khả năng phong tỏa hoặc xâm lược Đài Loan sẽ tạo thành một “tình huống đe dọa sự sống còn” đối với Nhật Bản – và do đó cho phép nước này có hành động quân sự. Vài tháng sau, Trung Quốc siết chặt xuất khẩu đất hiếm và nam châm sang nước này.

 

Đối với các công ty Nhật Bản, chiến dịch gây sức ép đang diễn ra này đặc biệt gây đau đớn. Dù hàng tồn kho và lượng dự trữ giúp giảm bớt cú sốc, nhưng nhiều tháng gián đoạn đã gây ra những tổn thất nặng nề, đến mức chính quyền Trump được cho là đã yêu cầu Bắc Kinh – dù không thành công – nối lại dòng cung ứng cho Nhật Bản vào tháng 6.

 

Nhiều công ty đang chuyển sang “chế độ dự phòng tuyệt đối,” Moerenhout tiết lộ.

 

Ví dụ là Shin-Etsu, một nhà sản xuất nam châm lớn của Nhật Bản được cho là đã ngừng nhận các đơn đặt hàng mới cho nam châm chứa dysprosium và vừa công bố kế hoạch xây dựng một cơ sở tinh chế mới. Nhà sản xuất xe hơi Nhật Bản Mitsubishi, được cho là chỉ có đủ trữ lượng đất hiếm để sử dụng đến giữa năm 2026, gần đây đã hợp tác với công ty ReElement Technologies của Mỹ để cùng nhau phát triển một chuỗi cung ứng.

 

Ngày càng có nhiều doanh nghiệp gióng lên hồi chuông cảnh báo. Reuters đưa tin: trong số 200 hồ sơ đề cập đến đất hiếm gửi Sàn giao dịch Chứng khoán Tokyo vào tháng 5 và tháng 6, hơn 2/3 đã cảnh báo rằng các biện pháp kiểm soát xuất khẩu của Trung Quốc đang gây ra tác động tiêu cực hoặc có nguy cơ gây tác động tiêu cực.

 

Chính phủ Nhật Bản cũng đẩy mạnh những nỗ lực trên toàn cầu, với việc Takaichi gần đây dẫn đầu một đề xuất trong nhóm G-7 nhằm hợp tác dự trữ các khoáng sản quan trọng để cùng nhau đối phó với Trung Quốc. Tokyo cũng đang ngày càng để mắt đến đại dương, với tham vọng lớn là hợp tác với Mỹ để khai thác đất hiếm dưới biển sâu.

 

Nhưng bất chấp tất cả những nỗ lực đó, thử thách thực sự có lẽ là liệu các công ty Nhật Bản có thể trụ vững trước vòng kìm kẹp không ngừng của Trung Quốc hay không.

 

“Một lần nữa, câu hỏi là liệu họ có thể cầm cự được bao lâu, và câu trả lời vẫn chưa rõ ràng,” Solís nói.

 

Những chông gai và thử thách của Nhật Bản có thể đưa ra một lời cảnh báo cho Washington khi nước này bắt tay vào hành trình từ bỏ đất hiếm Trung Quốc của riêng mình.

 

Sau khi chính quyền Trump áp mức thuế quan cao ngất ngưởng đối với phần lớn thế giới vào năm 2025, Trung Quốc đã đáp trả một phần bằng cách công bố các lệnh hạn chế đất hiếm của riêng mình. Sau nhiều vòng leo thang khác và một loạt đàm phán thương mại cấp cao, hai bên đã nhất trí với một thỏa thuận đình chiến thương mại kéo dài một năm, trong đó Bắc Kinh tạm đình chỉ các biện pháp kiểm soát xuất khẩu đất hiếm.

 

Thỏa thuận đình chiến đó dự kiến sẽ hết hạn vào tháng 11, và Trump và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến sẽ gặp nhau tại Mỹ vào tháng 9. Trước cả hai thời điểm này, đất hiếm vẫn là ưu tiên hàng đầu của các quan chức Mỹ, khi họ liên tục gây áp lực về vấn đề này trong một cuộc gặp với các đối tác Trung Quốc hồi tháng 7.

 

“Trong cuộc thảo luận, tôi đã nhấn mạnh rằng chúng tôi mong đợi Bắc Kinh tuân thủ đầy đủ các cam kết về đất hiếm và các sản phẩm nông nghiệp của Mỹ,” Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent chia sẻ trong một bài đăng trên X.

 

An ninh khoáng sản quan trọng luôn là ưu tiên hàng đầu của chính quyền Trump, ở cả trong và ngoài nước. Bên cạnh nhiều biện pháp khác, Washington đã ra lệnh cho các nhà sản xuất Mỹ ngừng sử dụng nguồn cung đất hiếm, nam châm, và một số khoáng sản khác từ Trung Quốc vào cuối năm nay, dù vẫn chưa rõ liệu họ có thể đáp ứng thời hạn đó hay không.

 

Khát khao đảm bảo chuỗi cung ứng mới, Nhà Trắng đã mua cổ phần trong các công ty khai khoáng; thúc đẩy mạnh mẽ hỗ trợ của liên bang đối với lĩnh vực này; ký các thỏa thuận ở nước ngoài, bao gồm cả với Tokyo; công bố khoản dự trữ trị giá 12 tỷ USD; đề xuất một khối giao dịch khoáng sản toàn cầu; và cố gắng thâu tóm nguồn khoáng sản từ những nơi khác.

 

Chiến dịch của chính quyền Trump đã đạt tầm cao mới trong tháng này, với các khoản đầu tư mới có tổng trị giá 3 tỷ USD nhằm thúc đẩy sản xuất trong nước và hỗ trợ các trường đào tạo khai khoáng của Mỹ. “Chúng ta đang đòi lại vị thế xứng đáng của nước Mỹ như một siêu cường khoáng sản của thế giới,” Trump tuyên bố hồi đầu tháng 8.

 

Tuy nhiên, nếu nhìn vào những gì Nhật Bản đã trải qua, có thể thấy rằng điều đó sẽ không sớm xảy ra.

 

Nguyên nhân là vì đối với đất hiếm, tự chủ là một chặng đường dài và tốn kém vốn liếng, Baskaran cho biết. Một lý do là thời gian cần thiết để xây dựng một mỏ: tại Mỹ, quá trình này mất trung bình 29 năm, dài thứ hai trên thế giới.

 

Ngoài ra, vẫn còn đó thách thức về công nghệ. Quá trình phân tách đất hiếm cực kỳ phức tạp, với tới hơn 50 giai đoạn phân tách, Baskaran nói, và bổ sung thêm rằng đa phần các nỗ lực hiện tại của chính phủ Mỹ đều xoay quanh việc hỗ trợ các công nghệ chế biến đất hiếm mới, mà nhiều trong số đó vẫn đang ở giai đoạn thử nghiệm.

 

“Bạn đang vừa phát triển các mỏ khai thác mới, vừa phát triển công nghệ mới cùng một lúc, và đó không phải là nhiệm vụ có thể hoàn thành trong một sớm một chiều,” Baskaran nhận định.

Đối với cả Tokyo và Washington, cuộc đua đa dạng hóa để thoát khỏi Bắc Kinh đang diễn ra rất sôi động. Nhưng sẽ cần thời gian để thực sự thoát khỏi vòng kìm kẹp này.

 

“Chúng tôi không biết Trung Quốc sẽ thúc đẩy lợi thế của mình như thế nào, hay họ muốn những nhượng bộ gì để tiếp tục việc đình chỉ này,” Solís nói. “Nhưng thực tế là hệ thống đó đã được thiết lập. Và chúng ta không thể giả vờ như không thấy nó.”

 

-------------------------------------------------

Christina Lu là phóng viên tại Foreign Policy.

 

Nguồn: Christina Lu, “Ditching Chinese Rare Earths Is Hard. Just Ask Japan.,” Foreign Policy, 24/08/2026

 

 

 

 


CANADA – MỸ : KHI ‘QUÊ’ THÌ KHÓ ‘HUỀ’ (Trúc Phương / Người Việt)

 



Canada-Mỹ: Khi ‘quê’ thì khó ‘huề’

Trúc Phương/Người Việt

August 27, 2026 : 6:00 PM

https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/canada-my-khi-que-thi-kho-hue/

 

Sự quyết đoán của ông Mark Carney – thủ tướng Canada trong cuộc đối đầu với Tổng Thống Donald Trump có thể diễn dịch bằng ngôn ngữ đại chúng rằng một khi đã “quê” thì đừng nói chuyện “huề.” Đáp trả màn đánh thuế 50% của ông Trump (có hiệu lực ngày 22 Tháng Tám), ông Carney phản công bằng đòn “dollar-for-dollar” – anh đánh tôi “50 cái” thì tôi xử lại anh “50 cái.” Từ ngày 8 Tháng Chín, Canada sẽ áp thuế 50% lên loạt hàng hóa Mỹ, từ thép, sản phẩm sữa đến thiết bị nông nghiệp…

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/08/BL-My-Canada-1920x1280.jpg

Thủ Tướng Mark Carney (trái) và Tổng Thống Donald Trump trao đổi với các phóng viên tại Phòng Bầu Dục thuộc Tòa Bạch Ốc hôm 7 Tháng Mười, 2025. (Hình minh họa: Anna Moneymaker/Getty Images)

 

Nghịch lý buồn cười: Người khổng lồ luôn đóng vai nạn nhân bé nhỏ

 

Canada có sợ Mỹ? Câu trả lời là có. Xuất cảng đóng góp một phần ba GDP Canada, và hơn 75% trong số đó được nhập vào Mỹ. Trong khi đó, xuất cảng chỉ chiếm khoảng một phần mười GDP Mỹ, và chỉ chừng 16% trong số đó được đưa vào Canada. Sự mất cân bằng và tính chất phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nước là rất rõ.

 

Cụ thể, trong khi xuất cảng Canada sang Mỹ chiếm 25% sản lượng kinh tế nước này thì xuất cảng Mỹ sang Canada chỉ chiếm một phần rất nhỏ (khoảng 1.6%) trong GDP Mỹ. Hơn nữa, nhiều ngành công nghiệp lớn nhất của hai nước, trong đó có xe hơi và năng lượng, đang “gắn kết chặt chẽ đến mức gần như không thể tách rời,” như nhận định của Emily Stewart trên tờ Business Insider.

 

Thủ Tướng Mark Carney hẳn hiểu hơn ai hết cú đau từ màn thương chiến. Trước khi cuộc chiến xảy ra, khoảng 85% hoạt động thương mại Canada-Mỹ được miễn thuế theo Hiệp Định Thương Mại Tự Do Mỹ-Mexico-Canada (USMCA). Cần nói thêm, chính ông Trump là người ký USMCA năm 2018, thay thế NAFTA, và hiệp định có hiệu lực từ ngày 1 Tháng Bảy, 2020. Đây được xem là một trong những thành tựu thương mại mà ông Trump rất tự hào trong nhiệm kỳ đầu.

 

Bây giờ, Trump 2.0 đối xử với USMCA theo cách rất khác. Tháng Bảy, 2026, Trump thậm chí nói ông không quan tâm việc gia hạn USMCA, cho rằng Canada và Mexico hưởng lợi nhiều hơn Mỹ. Theo thỏa thuận, USMCA có thời hạn 16 năm và phải được rà soát lại vào cuối năm 2026. Nếu cả ba nước đồng ý, hiệp định có thể kéo dài đến năm 2042. Dù vậy, ông Trump từ chối việc gia hạn 16 năm và yêu cầu USMCA phải được xét lại mỗi năm.

 

Nhận định về cuộc chiến Mỹ-Canada, bà Wendy Cutler – cựu chuyên gia đàm phán thương mại từng làm việc tại Văn Phòng Đại Diện Thương Mại Hoa Kỳ (USTR) và hiện là phó chủ tịch cấp cao Viện Chính Sách Hiệp Hội Châu Á (Asia Society Policy Institute) – nói: “Đây là một bước lùi lớn đối với chính sách thương mại của Trump. Chúng ta đang ở thời điểm mà các quốc gia khác đang theo dõi sát sao diễn biến, bởi họ cũng ngày càng bất bình trước những yêu cầu mà Mỹ đưa ra trong các thỏa thuận thương mại mang tính áp đặt một chiều.” (“U.S.-Canada breakdown shows limits of Trump’s aggressive trade strategy”/The Washington Post).

 

Năm 2025, Mỹ đàm phán 10 thỏa thuận thương mại song phương với Malaysia, Cambodia, Argentina, Liên Minh Châu Âu, Vương Quốc Anh và Nhật; và trong tất cả cuộc đàm phán, Mỹ luôn đến với thái độ hùng hổ nhưng “tâm tư” lại thể hiện tư thế yếu đuối của một kẻ “vốn dĩ là nạn nhân,” rằng chính sách thương mại Mỹ trong nhiều thập niên qua gần như chẳng mang lại gì cho Mỹ, thậm chí còn khiến giới sản xuất trong nước bị thiệt hại. Các nhà đàm phán của ông Trump, cùng lúc, nhắc rằng các ông các bà nên nhớ, chúng tôi có một thị trường khổng lồ với nền kinh tế $32 ngàn tỷ; do vậy, ông bà phải biết điều để có thể tiếp tục làm ăn với chúng tôi.

 

Điều rất bất thường là các nhà đàm phán của ông Trump luôn đổ thừa khói lửa xảy ra là do phía bên kia gây hấn, chứ không phải do Mỹ kiếm chuyện trước. Ông Jamieson Greer, trưởng đoàn đàm phán thương mại của Tổng Thống Trump, lẫn ông Scott Bessent, bộ trưởng Tài Chính, luôn nói rằng các biện pháp trả đũa, như cách Trung Quốc và Canada thực hiện, là “không chính đáng,” bởi việc Mỹ áp thuế là chỉ nhằm khôi phục sự công bằng cho hệ thống thương mại toàn cầu vốn đang mất cân bằng. Nói cách khác, Mỹ muốn đánh thì cứ để bị đánh. Chớ có ăn miếng trả miếng.

 

Tuy nhiên, nếu ai phản đòn thì “ông TACO” lại… tháo găng. Điển hình là Trung Quốc. Khi Bắc Kinh sử dụng lá bài đất hiếm ép Mỹ, ông Trump lập tức giảm mức thuế suất ba con số đối với hàng nhập cảng từ Trung Quốc, thậm chí ông còn đồng ý “ngừng bắn” khi gặp Chủ Tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh. Và ông có thể xuống nước nhiều hơn khi gặp ông Tập vào ngày 24 Tháng Chín tới đây tại Washington.

 

“Võ sĩ hạng trung” chấp nhận thượng đài

 

Hồi Tháng Sáu, ông Trump nói: “Chúng ta không cần bất cứ thứ gì từ Canada, không cần bất cứ thứ gì từ Mexico, nhưng họ lại cần mọi thứ mà chúng ta có… Chúng ta không cần xe hơi của họ, không cần gỗ của họ, không cần năng lượng của họ, không cần bất cứ thứ gì họ có.”

 

Trên thực tế, theo Cơ Quan Khảo Sát Địa Chất Hoa Kỳ, nông dân Mỹ phụ thuộc vào nguồn cung từ Canada cho gần 80% lượng phân bón kali mà họ sử dụng hàng năm. Các tiểu bang giáp biên giới phía Bắc, trong đó có New York, Michigan, Vermont, Minnesota và Maine, hiện sử dụng điện năng từ các nhà máy thủy điện Canada.

 

Chưa hết, theo Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang Kansas City (Federal Reserve Bank of Kansas City), các nhà máy lọc dầu ở vùng Trung Tây được thiết kế chuyên biệt để xử lý dầu thô nặng, nhiều lưu huỳnh của Canada.

 

Sự phụ thuộc này khiến dầu Canada trở thành nguồn cung khó thay thế, đồng thời giúp các nhà máy duy trì chi phí đầu vào và giá xăng dầu ở mức thấp hơn so với việc phải tìm nguồn dầu nặng thay thế từ những khu vực xa hơn. Năm 2024, các nhà máy lọc dầu Trung Tây xử lý khoảng 2.8 triệu thùng dầu Canada/ngày, tương đương 73% tổng lượng dầu thô đầu vào của khu vực. Tổng cộng, hơn 70% dầu thô Canada xuất sang Mỹ được lọc tại vùng Trung Tây.

 

Từ khi ông Trump giương “tariff” bắn phá loạn xạ, giới phân tích nói đi nói lại rằng chính dân Mỹ là người gánh chịu trực tiếp đòn hồi mã thương. Yale Budget Lab cho biết, thuế quan của ông Trump đang khiến mỗi hộ gia đình Mỹ tốn thêm trung bình $1,100 mỗi năm, bởi những chi phí trực tiếp lẫn gián tiếp do giá cả hàng hóa tăng.

 

Lấy ví dụ giá nhôm. Năm 2024, khoảng ¼ lượng nhôm tiêu thụ tại Mỹ có nguồn gốc từ Canada, nơi cung cấp nhôm nhập cảng lớn nhất cho Mỹ. Bởi chính sách áp thuế 50% vào nhôm Canada, Mỹ phải gánh hậu quả nhãn tiền. Trong khi người tiêu dùng Châu Âu và Nhật hiện trả khoảng $3,000 cho mỗi tấn nhôm thì Mỹ phải trả gần $5,000. Điều này đẩy chi phí mọi thứ lên cao, từ những sản phẩm nhỏ nhặt như lon bia đến những việc lớn hơn như xây bệnh viện (“How to Lose a Trade War”/The Atlantic).

 

Chưa hết, xuất cảng đồ uống có cồn của Mỹ sang Canada giảm tới 80%. Việc tẩy chay rượu bia Mỹ bắt đầu bùng nổ từ khi dân Canada “quê độ” và phản ứng bài Mỹ trước việc ông Trump sỉ nhục đất nước họ bằng cách nói Canada là tiểu bang thứ 51. Hiện có hơn một triệu chai rượu vang dành cho thị trường Canada đang nằm “đắp chiếu” trong các kho hàng Mỹ. Điều khiến dân kinh doanh rượu Mỹ méo mặt là họ không thể bán lô hàng này cho bất kỳ thị trường nào nếu không trải qua quy trình tái đóng gói rất tốn kém. Hơn 30% hàng xuất cảng của Ohio và gần 40% của Michigan cũng cần thị trường Canada…

 

Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos ngày 20 Tháng Giêng, Thủ Tướng Mark Carney đề cập cái gọi là “cường quốc tầm trung” khi nói về những quốc gia không đủ mạnh để áp đặt luật chơi, nhưng cũng không phải là nước nhỏ đến mức hoàn toàn bị động và để những “bạn” to xác ăn hiếp. Bài phát biểu đầy uy lực thuyết phục của ông Carney có thể được xem là một trong những diễn văn hay nhất thập niên đầy hỗn loạn chính trị này, đặc biệt trong thời mà vô số nguyên thủ thế giới khúm núm trước ông Trump.

 

Quan trọng hơn, ông Carney phác thảo con đường mới cho các “cường quốc tầm trung” như Canada thoát khỏi cái bóng thống trị Mỹ thông qua việc xây dựng các liên minh và quan hệ thương mại. Ông lập luận: “Các cường quốc tầm trung như Canada không hề bất lực. Họ có khả năng xây dựng một trật tự mới bao hàm các giá trị, chẳng hạn tôn trọng quyền con người, phát triển bền vững, tinh thần đoàn kết, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.”

 

Trong thực tế, ông Mark Carney thực hiện nhiều động thái cụ thể. Ông cam kết nâng chi tiêu quân sự lên mức cao chưa từng có kể từ thời Chiến Tranh Triều Tiên, tuyên bố không nhập cảng 70% đến 75% vũ khí từ Mỹ như trước đây, 70% ngân sách quốc phòng sẽ dành cho các công ty trong nước và có kế hoạch tăng 50% kim ngạch xuất cảng vũ khí. Cùng lúc, ông Carney bắt tay xây dựng khối liên minh thương mại với EU và các nước thuộc Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương…

 

Tất nhiên không thể nói cuộc chiến “dollar-for-dollar” chỉ gây thiệt hại cho một phía. “Một nửa doanh nghiệp của tôi sẽ tan thành mây khói” là tựa bài viết trên BBC ngày 24 Tháng Tám, khi đề cập bức tranh xám xịt của dân làm ăn tại Canada. Tuy nhiên, ông Mark Carney đang có thứ mà ông Trump không có: Sự đoàn kết nhất mực của gần như toàn bộ đất nước, từ người dân đến các thủ hiến. Họ “chấp nhận thương đau” để không gục ngã như một quốc gia hèn nhược. Thậm chí lãnh đạo phe đối lập thuộc đảng Bảo Thủ, Pierre Poilievre, cũng sát cánh bên ông Carney. Mức độ tín nhiệm Thủ Tướng Carney hiện hơn 60% – một tỷ lệ rất cao ở một quốc gia đa đảng. [dt]

 

=======================================

MỚI CẬP NHẬT


Chính quyền Trump muốn ‘bán’ một phần Vườn Quốc Gia Yosemite cho tư nhân, dư luận phản đối

August 30, 2026 : 4:59 PM

 

Lũ quét tràn qua nơi hẻo lánh ở Grand Canyon, ít nhất 15 người mất tích

August 30, 2026 : 4:39 PM

 

Lật phà ở Northern Cyprus, ít nhất 7 người chết, 23 mất tích

August 30, 2026 : 4:12 PM

 

Thanh niên California gốc Á, bị 16 đại học từ chối, được tòa cho kiện kỳ thị chủng tộc

August 30, 2026 : 4:12 PM

 

 





NASA PHÓNG KÍNH VIỄN VỌNG KHÔNG GIAN THẾ HỆ MỚI, MỞ RỘNG KHẢ NĂNG KHÁM PHÁ VŨ TRỤ (BBC News Tiếng Việt)

 



NASA PHÓNG KÍNH VIỄN VỌNG KHÔNG GIAN THẾ HỆ MỚI, MỞ RỘNG KHẢ NĂNG KHÁM PHÁ VŨ TRỤ   

BBC News Tiếng Việt

31/8/2026  ͏0͏3͏:͏0͏0͏ 

https://www.facebook.com/BBCnewsVietnamese/posts/pfbid02EY4nzJ733pjAYETa7qoMR7zuRsGHVvnhgpQSaHnW7N7TzDSKri7RJtdFtpLtn3vzl

 

Cơ quan Hàng không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) đã phóng thành công Kính viễn vọng Không gian Nancy Grace Roman vào sáng 30/8 từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy, Florida, trên tên lửa Falcon Heavy của SpaceX.

 

Khoảng 30 phút sau khi cất cánh, kính viễn vọng tách khỏi tên lửa và bắt đầu hành trình kéo dài khoảng 100 ngày tới vị trí cách Trái Đất gần một triệu dặm.

 

Được NASA mô tả là kính viễn vọng thế hệ mới có khả năng quan sát vượt trội, Roman sẽ có trường nhìn rộng hơn khoảng 100 lần so với Hubble và James Webb.

 

Khả năng quan sát trên diện rộng này sẽ giúp các nhà khoa học lập bản đồ hàng tỷ thiên hà, nghiên cứu vật chất tối và năng lượng tối, khảo sát các hố đen và tìm kiếm các hành tinh ngoài hệ Mặt Trời.

 

Một trong những mục tiêu quan trọng của sứ mệnh là phát hiện các hành tinh ngoài hệ Mặt Trời.

 

Nicky Fox, nhà quản lý tại NASA, cho biết Roman có thể phát hiện hàng chục ngàn, thậm chí tới 100.000 hành tinh mới ngoài hệ Mặt Trời. Các nhà khoa học hy vọng những quan sát này sẽ giúp tìm hiểu liệu một số thế giới xa xôi có điều kiện phù hợp cho sự sống hay không.

 

Roman cũng sẽ nghiên cứu năng lượng tối – lực được cho là thúc đẩy sự giãn nở của Vũ trụ – và vật chất tối, thành phần vô hình được cho là đóng vai trò như “keo hấp dẫn”. Hai thành phần này được cho là chiếm khoảng 95% vũ trụ nhưng vẫn là những bí ẩn lớn đối với khoa học.

 

Kính viễn vọng được đặt theo tên Nancy Grace Roman, trưởng nhóm nghiên cứu thiên văn đầu tiên của NASA.

 

NASA đặt mục tiêu Roman hoạt động tối thiểu trong 5 năm, tối đa tới 10 năm.

 

#BBCNewsTiengViet

#NASA

 

HÌNH : https://www.facebook.com/photo?fbid=1511818977651041&set=a.634443215388626

 

14 BÌNH LUẬN  

 

 




GIÁO CHỦ MOJTABA KHAMENEI CÒN SỐNG HAY ĐÃ CHẾT? (Trúc Phương / Người Việt)

 



Giáo Chủ Mojtaba Khamenei còn sống hay chết?

Trúc Phương/Người Việt

August 29, 2026 : 3:00 PM

https://www.nguoi-viet.com/binh-luan/giao-chu-mojtaba-khamenei-con-song-hay-chet/

 

Kể từ khi được chọn làm người kế nhiệm, Giáo Chủ Mojtaba Khamenei, lãnh tụ tối cao Iran, hoàn toàn biệt tăm biệt tích. Không có bất kỳ hình chụp, video hay ghi âm giọng nói Mojtaba phát trên hệ thống truyền thông Iran. Mojtaba Khamenei đã chết? Đang sống thực vật? Hay bị phe cứng rắn trong nội bộ Iran giam lỏng?

 

https://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2026/08/BL-Giao-Chu-Iran-1920x1280.jpg

Một người giao hàng đi xe máy gần hình ảnh lãnh tụ tối cao của Iran, Mojtaba Khamenei, tại Quảng Trường Valiasr ở trung tâm Tehran hôm 8 Tháng Tám. (Hình minh họa: ATTA KENARE/AFP via Getty Images)

 

Mojtaba Khamenei đang ở đâu?

 

9 giờ 32 sáng 28 Tháng Hai, Mojtaba Khamenei ra khỏi khu nhà gia đình để “làm một việc gì đó,” theo lời một viên chức Iran. Vài giây sau, khu nhà bị tấn công. Cha của ông, Lãnh Tụ Tối Cao Ali Khamenei, bị giết chết. Vợ, em rể và em dâu Mojtaba cũng thiệt mạng.

 

Ngày 8 Tháng Ba, Mojtaba Khamenei được chọn làm người kế nhiệm. Bài phát biểu nhậm chức của Mojtaba, được phát bốn ngày sau, là một văn bản đọc trên truyền hình. Không âm thanh. Không hình ảnh. Hôm sau, con trai Tổng Thống Masoud Pezeshkian trấn an công chúng rằng Mojtaba “vẫn bình an vô sự.” Gần một tháng sau, Reuters cho biết, dựa vào ba nguồn tin nội bộ, Mojtaba vẫn còn sống. Mặt bị biến dạng.Một chân bị thương nghiêm trọng. Dù vậy, Mojtaba “vẫn minh mẫn” và tham gia các cuộc họp với giới chức cấp cao qua hệ thống điện đàm.

 

Cuối Tháng Tư, bốn nguồn nội bộ cung cấp thêm vài chi tiết cụ thể cho The New York Times. Mojtaba trải qua ba ca phẫu thuật chân và “đang chờ lắp chân giả.” Một cánh tay cũng được giải phẫu và “đang dần hồi phục chức năng vận động.” Sở dĩ Mojtaba không thể nói chuyện vì mặt và miệng bị phỏng nặng và “về lâu dài, ông cần giải phẫu thẩm mỹ.” Để điều hành công việc, Mojtaba liên lạc qua thư từ viết tay, được niêm phong kín và được chuyển đi bằng cách chuyền tay. Nhóm giao thư đi bằng xe hơi, có khi dùng xe gắn máy, luồn lách trong hẻm nhỏ rồi ra đường cái, rồi vào hẻm…

 

Tuy nhiên, ngài giáo chủ vẫn vắng mặt. Đầy bí ẩn. Không chỉ không có mặt tại đám tang cha, Mojtaba cũng không có mặt tại lễ tưởng niệm 40 ngày sau khi cha ông được an táng tổ chức ngày 20 Tháng Tám. Bức ảnh do truyền thông Iran công bố cho thấy các anh em trai của ông – Mostafa, Masoud và Meysam Khamenei – đều hiện diện tại buổi lễ. Lý lẽ đưa ra hoàn toàn thuyết phục: Mối đe dọa ám sát Mojtaba luôn rình rập.

 

Trong bài báo ngày 25 Tháng Tám, tờ The Atlantic thuật, nhiều nhà lãnh đạo chóp bu Iran thú thật rằng cho đến giờ họ vẫn chưa gặp trực tiếp Mojtaba, kể cả Abbas Araghchi, ngoại trưởng kiêm thành viên Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. IranWire, hãng tin đối lập có trụ sở tại London, cho biết thêm, chưa có bất kỳ thành viên nội các nào gặp Mojtaba kể từ khi ông trở thành lãnh tụ tối cao. Ngay cả bạn bè thân thiết và người thân gia đình cũng chưa gặp ông suốt sáu tháng nay.

 

Có người nói Mojtaba hiện trong tình trạng chết não. Hai nguồn tin trong chính quyền Iran gần đây tiết lộ với IranWire rằng tin rò rỉ lan truyền trong giới chức “cấp cao nhất của chế độ” đang xì xầm rằng tình trạng sức khỏe Mojtaba rất nguy kịch và ông có thể qua đời bất cứ lúc nào. Khoảng giữa Tháng Tám, thậm chí xuất hiện một lời kêu gọi phát đi trên một dịch vụ nhắn tin nội địa, nói rằng người dân Iran nên cầu nguyện cho sức khỏe giáo chủ và hãy làm lễ hiến tế cừu để cầu an cho ông theo phong tục Hồi Giáo. Lời kêu gọi còn nói rằng tính mạng Mojtaba đang “bị đe dọa” và một số “giáo sĩ” cảnh báo rằng ông có thể bị ám sát.

 

Thông báo gần đây nhất từ Văn Phòng Giáo Chủ được đưa ra ngày 9 Tháng Tám cho biết Mojtaba vừa có cuộc gặp Tổng Thống Masoud Pezeshkian. Không nêu rõ thời điểm, thông báo chỉ nói rằng sự kiện diễn ra nhân dịp ba năm nhậm chức của tổng thống, tức cuối Tháng Bảy.

 

Phần mình, Tổng Thống Pezeshkian xác nhận với truyền thông Iran rằng ông đã dành bảy tiếng đồng hồ để nói chuyện với Mojtaba về tình hình cuộc chiến và tình trạng kinh tế quốc gia. Tổng Thống Pezeshkian được đưa đến cuộc gặp “mà không hề biết địa điểm.” Cũng trong ngày 9 Tháng Tám, Giáo Chủ Mojtaba ban hành loạt sắc lệnh, bổ nhiệm một số tướng lĩnh vào các vị trí quân sự cấp cao và thay thế một trong những đại diện của ông tại Hội Đồng An Ninh Quốc Gia.

 

Ai đang thật sự kiểm soát Iran?

 

Để trả lời chính xác “ai” đối với tình hình hiện tại Iran, là điều rất khó khăn. Nếu không là Giáo Chủ Khamenei thì không cá nhân đơn lẻ nào có thể toàn quyền định đoạt số phận Iran. Hơn nữa, kể cả khi còn sống, Mojtaba cũng có thể không có quyền lực tuyệt đối theo cách như cha mình.

 

Trên bề mặt, Hội Đồng An Ninh Quốc Gia với 13 thành viên là nơi đang điều hành quốc gia theo cơ chế tập thể. Hội đồng do Tổng Thống Pezeshkian làm chủ tịch. Những nhân vật đáng kể còn lại là Chủ Tịch Quốc Hội Mohammad Bagher Ghalibaf (người dẫn đầu các cuộc đàm phán với Mỹ); và Tướng Ahmad Vahidi – người đứng đầu Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo (IRGC)…

 

Nhìn chung, nhiều nhà quan sát có cùng nhận định rằng IRGC là nơi đang nắm quyền sinh sát, kiểm soát tuyệt đối gần như toàn bộ các quyết định chính trị, kinh tế lẫn đối sách chiến lược với Mỹ. Một số người tin rằng Giáo Chủ Mojtaba có thể chỉ là con rối của IRGC. Ba nhân vật cứng rắn trong IRGC gồm: tổng tư lệnh IRGC – Thiếu Tướng Ahmad Vahidi; tổng thư ký của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Tối Cao – Mohammad Bagher Zolghadr; và cố vấn quân sự cấp cao của Mojtaba – Mohsen Rezaei.

 

Cả ba người đều kiên quyết bác bỏ việc nối lại đàm phán với Mỹ. Người Iran nói chung chẳng bao giờ tin Mỹ và IRGC là những kẻ không tin Mỹ ở mức tuyệt đối. Không chỉ (có thể) gạt Mojtaba ra rìa, IRGC còn đẩy Tổng Thống Pezeshkian ra khỏi phạm vi ảnh hưởng. Một số quyết định bổ nhiệm bộ trưởng của Tổng Thống Pezeshkian bị IRGC ngăn chặn và những tín hiệu muốn hạ nhiệt với Mỹ của ông cũng bị phản bác kịch liệt.

 

Cái chết của Giáo Chủ Ali Khamenei cho đến giờ vẫn để lại một khoảng trống mà các phe phái đang cố tranh giành. Thời điểm này, IRGC vẫn cần hình ảnh Giáo chủ Mojtaba để củng cố tính chính danh cho chế độ cai trị. Đằng sau đó là sự âm ỉ đấu đá. Có một số chi tiết tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng khi đặt trong bức tranh toàn cảnh thì nó có thể giải thích nhiều điều.

 

Tối 30 Tháng Sáu, kênh tin tức nhà nước phát sóng cuộc phỏng vấn được ghi hình trước với Mohammad Bagher Ghalibaf – chủ tịch Quốc Hội kiêm trưởng đoàn đàm phán Iran. Đây là nhân vật được xem là ôn hòa và muốn chấm dứt chiến tranh. Khi khán giả đang xem đến đoạn Ghalibaf nói về các “cuộc đàm phán hậu trường” với Washington, màn hình đột ngột tắt ngúm. Một giây sau, truyền hình được mở lại. Tuy nhiên, khán giả không còn có thể xem phần tiếp theo. Thay vào đó là bài phát biểu cũ của cố Giáo Chủ Ali Khamenei (“Hardliners in Tehran are running the show while the Iran’s supreme leader watches”/The Jerusalem Post).

 

Theo tờ Daily Telegraph, phần bị cắt có thể đề cập việc thanh sát viên quốc tế được phép tiếp cận các cơ sở nguyên tử Iran, việc giải trình của Ghalibaf về quy trình giải tỏa các tài sản bị phong tỏa của Iran, cũng như các chi tiết về quỹ tái thiết hậu chiến trị giá $300 tỷ được đề xuất trong phác thảo thỏa thuận với Mỹ.

 

Quan trọng nhất, Ghalibaf có thể xì ra thông tin cho thấy Giáo Chủ Mojtaba từng nêu ý kiến rằng “về nguyên tắc, tôi có quan điểm khác” nhưng nói chung ông vẫn phê chuẩn thỏa thuận. Với phe cứng rắn, thỏa thuận theo cách như Ghalibaf đàm phán với Mỹ chẳng khác gì đầu hàng. Họ tin rằng Mỹ mới là bên ở thế yếu và cần khai thác tối đa điều này để dồn Mỹ vào đường cùng và thuận theo những yêu cầu mang lại lợi ích lớn nhất có thể cho Teheran.

 

Những tranh cãi sau vụ cắt sóng cho thấy yếu tố đấm đá giữa phe chủ chiến và phe chủ hòa. Trung Tâm Truyền Thông của Quốc Hội Iran phản đối màn “tắt tivi” của IRGC. Theo nguồn The Jerusalem Post, Vahid Jalili – phó giám đốc Đài Truyền Hình Nhà Nước Iran – là em trai của Saeed Jalili mà Saeed Jalili trước đây là nhà đàm phán thuộc Mặt Trận Paydari – khối bảo thủ cứng rắn nhất Iran. Với Mặt Trận Paydari, Mỹ luôn là kẻ thù phải bị tiêu diệt chứ không phải là kẻ đáng tin để đàm phán.

 

Một cách tổng quát, quyền lực ở Iran hiện không tập trung vào một đầu mối mà đan xen giữa ít nhất bốn trung tâm: Lãnh Tụ Tối Cao Mojtaba, IRGC, chính phủ do tổng thống đứng đầu, và một nhóm nhân vật cấp cao có quan hệ chặt chẽ với IRGC. Họ vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để bảo vệ lợi ích phe mình. Dù thế nào, cán cân cũng đang nghiêng về phe cứng rắn.

 

Với Mỹ, điều quan trọng là phải xác định ai thực sự có khả năng quyết định và ai đủ sức buộc hệ thống Iran thực thi một thỏa thuận. Về phía Tehran, dù bên trong có thể tồn tại những cuộc đấu đá và bất đồng về cách ứng phó với Washington, đa số giới lãnh đạo Iran vẫn có khuynh hướng bảo thủ cứng rắn.

 

Sáu tháng qua, họ ngày càng có thêm lý do để tin rằng chiến lược đối đầu với Mỹ đang thành công. Không chỉ Teheran, cả thế giới cũng thấy sức mạnh quân sự Mỹ không hề có khả năng chuyển đổi thành chiến thắng chính trị. Cái gọi là “lẽ đương nhiên” của việc có quyền định đoạt, bởi nắm trong tay sức mạnh, giờ đây chỉ là một thứ ảo tưởng che đậy một “tất yếu” thất bại đầy nhục nhã. [dt]

 

=======================================

 

Có thể bạn quan tâm

 

Bệnh sởi bùng phát mạnh ở Pennsylvania, Wisconsin, Georgia

.

Chính quyền Trump muốn ‘bán’ một phần Vườn Quốc Gia Yosemite cho tư nhân, dư luận phản đối

.

Lũ quét tràn qua nơi hẻo lánh ở Grand Canyon, ít nhất 15 người mất tích

.

Lật phà ở Northern Cyprus, ít nhất 7 người chết, 23 mất tích

.

Thanh niên California gốc Á, bị 16 đại học từ chối, được tòa cho kiện kỳ thị chủng tộc

.

NASA phóng kính viễn vọng trị giá $4.3 tỷ, khám phá vật thể trên vũ trụ