Sunday, February 1, 2026

MỸ CÓ ĐANG TRƯỢT DÀI VỀ PHÍA CHỦ NGHĨA ĐỘC TÀI HIẾN PHÁP? (Alejandro Reyes  -  Foreign Policy)

 



Mỹ có đang trượt dài về phía chủ nghĩa độc tài hiến pháp?

Alejandro Reyes  -  Foreign Policy 

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch  -   Nghiên Cứu Quốc Tế    

29/01/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/01/29/my-co-dang-truot-dai-ve-phia-chu-nghia-doc-tai-hien-phap/

 

Trump đã chứng minh làm thế nào nền dân chủ có thể bị vô hiệu hóa mà không cần bị phá hủy.

 

Một năm sau nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Donald Trump, nền dân chủ Mỹ vẫn chưa sụp đổ. Các cuộc bầu cử vẫn diễn ra. Các tòa án vẫn xét xử. Quốc hội vẫn ban hành luật, dù với tốc độ chậm chạp. Và Hiến pháp Mỹ vẫn còn vẹn nguyên. Tuy nhiên, hệ thống hiện nay vận hành theo một cách khác – không phải thông qua sự đổ vỡ, mà thông qua sự điều chỉnh lại. Quyền lực được tập trung hóa, các chuẩn mực chỉ còn vẻ bề ngoài, và các cơ chế kiềm chế bị định nghĩa lại. Điều đáng ngạc nhiên không phải là những gì đã bị bãi bỏ, mà là những gì đã bị hấp thụ, đàn áp, hoặc âm thầm gạt sang bên lề.

 

Trong năm qua, chính quyền Trump đã thể hiện một logic cai trị đặc trưng: Dân chủ không cần phải bị phá hủy để bị vô hiệu hóa. Nó có thể được giữ nguyên về hình thức nhưng bị thay đổi về chức năng. Quyền lực được thực thi thông qua các thể chế hiện có thay vì chống lại chúng; tính hợp pháp được diễn giải lại thay vì bị vứt bỏ; quyền hạn khẩn cấp được bình thường hóa thay vì phải tuyên bố. Kết quả là một hệ thống trông vẫn có vẻ hợp hiến nhưng ngày càng vận hành dựa trên đặc quyền của nhánh hành pháp.

 

Mô hình này hiện diện trên khắp các lĩnh vực. Ở trong nước, các cơ quan liên bang đã được tổ chức lại dựa trên lòng trung thành thay vì sự tự chủ về chuyên môn. Các tổng thanh tra và quan chức sự nghiệp đã bị sa thải hoặc cho ra rìa. Quyền lực pháp lý được triển khai một cách có chọn lọc chống lại các đối thủ chính trị hoặc các quan chức bị cho là không ‘vâng lời,’ bao gồm cả các nhân vật thuộc thể chế độc lập như Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Jerome Powell. Việc thực thi luật nhập cư đã được quân sự hóa cả về tư thế lẫn thực tiễn, đỉnh điểm là những cuộc chạm trán chết người như vụ các đặc vụ Cục Di trú và Hải quan (ICE) giết chết Renee Nicole Good – một sự cố được các quan chức mô tả là hợp pháp, đúng quy trình, và bi thảm, nhưng qua đó minh họa cách bạo lực nhà nước có thể trở thành chuyện thường ngày trong khuôn khổ quy chuẩn hành chính thay vì được xem là ngoại lệ.

 

Ở nước ngoài, logic tương tự cũng xuất hiện và thậm chí còn ít bị kiềm chế hơn. Chính quyền Trump đã theo đuổi việc cưỡng chế phế truất Tổng thống Venezuela, tấn công các cơ sở hạt nhân của Iran trong khi công khai xem xét can thiệp để hỗ trợ tình trạng bất ổn trong nước tại đây, đồng thời khôi phục tham vọng lãnh thổ đối với Greenland, vùng đất thuộc về một đồng minh NATO. Những hành động này không phải là sự bất thường, mà là biểu hiện của ý chí hành pháp được vận hành với sự xem trọng tối thiểu dành cho luật pháp quốc tế, thứ mà Trump đã công khai bác bỏ. Khi ông nói với tờ New York Times rằng giới hạn duy nhất đối với quyền lực của ông là đạo đức và trí tuệ của chính ông, ông không nói theo nghĩa ẩn dụ. Ông đang nêu rõ một học thuyết cai trị.

 

Điều liên kết các sự kiện này không chỉ là ý thức hệ mà là phương pháp. Trump đã cai trị như thể chủ quyền không nằm ở các thể chế, luật pháp, hay liên minh, mà tùy thuộc vào ý thích cá nhân của người đứng đầu nhánh hành pháp. Các khuôn khổ pháp lý trở thành công cụ thay vì cơ chế ràng buộc. Sự giám sát trong nước trở thành có điều kiện. Quyền lực được thực thi công khai, rồi biện minh khi mọi sự đã rồi, và được bình thường hóa thông qua việc lặp đi lặp lại.

 

Đây không phải là một chế độ độc tài theo nghĩa cổ điển. Nó là một cái gì đó khó nắm bắt hơn – và, theo nhiều cách, bền vững hơn và khó đảo ngược hơn. Chủ nghĩa độc tài hiện đại không xuất hiện với xe tăng trên đường phố hay việc đình chỉ hiến pháp. Nó phát triển thông qua luật pháp, thủ tục, và kiểm soát hành chính. Nó giữ lại các cuộc bầu cử nhưng thu hẹp mức độ cạnh tranh, duy trì tòa án trong khi khuyến khích sự phục tùng, và viện dẫn dân chủ ngay cả khi nó rút cạn tính đa nguyên của dân chủ.

 

Chính trong bối cảnh này, Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) năm 2025 của chính quyền Trump cần phải được đọc – không phải như một tài liệu chính sách đối ngoại thông thường, mà là biểu hiện học thuyết rõ ràng nhất của một sự chuyển đổi sâu sắc hơn đang diễn ra.

 

Các tài liệu chiến lược hiếm khi là khúc dạo đầu cho thay đổi chính trị, mà thường giúp hợp thức hóa thay đổi. Chúng lấy các thực tiễn đã được ứng biến, bình thường hóa, và kiểm nghiệm qua các thể chế rồi nâng chúng lên thành nguyên tắc. Theo nghĩa này, NSS không hẳn đánh dấu một sự chuyển hướng trong nghệ thuật quản lý nhà nước của Mỹ, mà là một khoảnh khắc tự nhận thức. Nó đã chuyển một năm cai trị bằng sự tùy ý của nhánh hành pháp – ở cả trong và ngoài nước – thành một lý thuyết quyền lực rõ ràng.

 

Được trình bày như một học thuyết về sự đổi mới quốc gia, chiến lược này sử dụng ngôn ngữ của sức mạnh, chủ quyền, và sự phục hồi. Nó mô tả một thế giới bị rạn nứt bởi sự cạnh tranh giữa các cường quốc, sự tranh chấp văn hóa, và tính dễ bị tổn thương của hệ thống, và nó lập luận rằng Mỹ phải giành lại quyền tự chủ chiến lược, khả năng phục hồi kinh tế, và sự tự tin về văn minh để chiến thắng.

 

Nhìn bề ngoài, nó giống như một nỗ lực quyết đoán nhằm sắp xếp lại sự can dự của Mỹ với một hệ thống quốc tế đầy bất ổn. Tuy nhiên, nếu đọc kỹ hơn – và dưới ánh sáng của các thực tiễn cai trị trước đó – NSS mới tiết lộ một điều còn hệ trọng hơn. Nó không chỉ liệt kê các mối đe dọa ở nước ngoài; nó đóng khung gần như mọi lĩnh vực của đời sống công cộng Mỹ – chính sách kinh tế, di cư, năng lực công nghiệp, công nghệ, văn hóa, và bản sắc – như phần nối dài của địa hạt an ninh quốc gia. Khi làm như vậy, nó mở rộng sự tùy ý của nhánh hành pháp sang các lĩnh vực trước đây từng được cách ly khỏi logic an ninh quốc gia. Điều nổi lên không chỉ là tầm nhìn về vị trí của Mỹ trên thế giới, mà còn là một lý thuyết về quyền lực trong nước – một lý thuyết đặt chủ quyền lên trên sự đa nguyên, thống nhất lên trên bất đồng, và an ninh lên trên sự kiềm chế dân chủ.

 

https://foreignpolicy.com/wp-content/uploads/2026/01/Minnesota-ICE-crackdown-shooting-car-Minneapolis-GettyImages-2255534209.jpg

Các đặc vụ Thực thi Di trú và Hải quan Mỹ bắt giữ một người ở Minneapolis, Minnesota, vào ngày 13/01. © Ảnh: Stephen Maturen/Getty Images

 

NSS kết tinh một quỹ đạo vốn đã hiển hiện trong chính trị Mỹ: sự trỗi dậy của một hình thức chủ nghĩa độc tài hiến pháp (constitutional authoritarianism). Hình thức cai trị này không loại bỏ các cuộc bầu cử, tòa án, hay cơ quan lập pháp. Nó bắt chúng phải phục tùng. Kiến trúc vẫn còn đó, nhưng ý nghĩa đã thay đổi. Các chuẩn mực dân chủ được giữ lại chính xác là để chúng có thể được viện dẫn, ngay cả khi việc vận dụng chúng đang dần bị biến đổi và quyền kiểm soát đối với chúng ngày càng bị tập trung hóa.

 

Để hiểu quá trình này, nước Mỹ phải được đặt trong một mô hình toàn cầu rộng lớn hơn. Chủ nghĩa độc tài hiện đại hiếm khi xuất hiện nhờ đổ vỡ. Nó phát triển thông qua luật pháp, sự đều đặn của thủ tục, và sự diễn giải lại đầy sáng tạo các quyền hạn hiến định. Nó lan truyền theo hình mẫu, với các nhà lãnh đạo học hỏi lẫn nhau. Và nó phát triển mạnh trong các hệ thống nơi các thể chế dân chủ chính thức vẫn còn nguyên vẹn, ngay cả khi khả năng kiềm chế quyền lực của chúng dần xói mòn. Nhìn từ bên ngoài, nó trông như một trật tự hiến pháp quen thuộc, nhưng ở bên trong, mọi thứ đang dần bị đấu nối lại.

 

Khuôn khổ sáng tỏ nhất giúp chúng ta hiểu được hiện tượng này vẫn là khuôn khổ được nhà lý thuyết pháp lý Ernst Fraenkel đề xuất trong phân tích của ông về Đức Quốc xã: “nhà nước kép” (dual state). Trong mô tả của Fraenkel, một hệ thống độc tài có thể bảo tồn một nhà nước quy chuẩn (tòa án, thủ tục, tính hợp pháp) trong khi đồng thời xây dựng một nhà nước đặc quyền sẵn sàng đè bẹp hoặc lách qua những cơ chế đó nhân danh sự cần thiết, tình trạng khẩn cấp, hoặc sự sống còn của quốc gia. Quan trọng là, hai nhà nước này cùng tồn tại. Sự tồn tại của tính hợp pháp che đậy sự xói mòn của chủ nghĩa tự do.

 

Đây là bản chất của chủ nghĩa độc tài hiến pháp hiện đại. Quyền lực không được thực thi bên ngoài pháp luật mà thông qua nó. Sự đàn áp mang hình thức hành chính hơn là tàn bạo công khai. Các cuộc bầu cử vẫn tiếp diễn nhưng đã bị tước bỏ sự cạnh tranh thực sự. Báo chí hoạt động dưới áp lực kinh tế, quy định, hoặc áp lực không chính thức. Các tòa án ra phán quyết nhưng ngày càng nhân nhượng. Theo thời gian, nhà nước đặc quyền lớn dần bên trong lớp vỏ của nhà nước quy chuẩn cho đến khi sự phân biệt giữa chúng không còn mang ý nghĩa nào nữa.

 

Vì thế, sự suy thoái của nền dân chủ trở nên khó phát hiện khi nó còn đang diễn ra. Các công dân được bảo rằng hệ thống vẫn đang hoạt động – luật được thông qua, thẩm phán chủ tọa, phiếu bầu được đếm. Nhưng sau mỗi thay đổi pháp lý, không gian cho phe đối lập lại bị thu hẹp, còn sự tùy ý của nhánh hành pháp thì mở rộng thêm. Nhà nước kép không xuất hiện trong một khoảnh khắc; nó tích tụ qua một loạt các quyết định nhỏ – các quyết định bổ nhiệm mang tính chính trị, các cuộc điều tra có chủ đích, và các ngoại lệ một lần dần trở thành tiền lệ. Khi các hệ quả trở nên không thể phủ nhận, thì quá trình chuyển đổi về cơ bản đã hoàn tất.

 

https://foreignpolicy.com/wp-content/uploads/2026/01/Philippines-Ferdinand-Marcos-repression-1970-GettyImages-1692667034.jpg

Cảnh sát chống bạo động đứng phía trên những sinh viên biểu tình đang tham gia cuộc tấn công vào Dinh Tổng thống ở Manila, Philippines, vào ngày 30/01/1970. © Ảnh: Bettmann Archive qua Getty Images

 

Philippines dưới thời Tổng thống Ferdinand Marcos Sr. vẫn là một trong những trường hợp ban đầu tiêu biểu nhất của mô hình này. Sau khi đắc cử tổng thống năm 1965 và tái đắc cử năm 1969, Marcos đối mặt với bất ổn xã hội gia tăng, giới tinh hoa phân mảnh, và áp lực kinh tế chất chồng. Ông phản ứng không phải bằng sự chiếm đoạt độc tài công khai mà thông qua các thủ đoạn hiến pháp, đáng chú ý nhất là việc tuyên bố thiết quân luật năm 1972, được biện minh như một biện pháp khẩn cấp để bảo vệ trật tự quốc gia.

 

Thiết quân luật không xóa bỏ nền dân chủ Philippines mà làm rỗng ruột nó. Quốc hội bị gạt sang bên lề, truyền thông độc lập bị đàn áp, và các đối thủ bị giam giữ, tất cả đều dưới lớp vỏ bọc của quyền lực pháp lý. Các tòa án tiếp tục hoạt động, dù trong những ranh giới bị thu hẹp đáng kể. Các cuộc bầu cử được dàn dựng và quản lý cẩn thận. Hiến pháp vẫn là lá chắn của chế độ ngay cả khi tinh thần của nó đã bốc hơi.

 

Marcos thao túng chính hệ điều hành chính trị. Ông xây dựng một mạng lưới bảo trợ tập trung, trong đó lòng trung thành và huyết thống, thay vì năng lực, quyết định quyền tiếp cận các nguồn lực nhà nước. Chủ nghĩa tư bản thân hữu cứ thế nở rộ. Tăng trưởng kinh tế được thúc đẩy bởi vay nợ nước ngoài tạo ra ảo tưởng về sự ổn định, che giấu sự mục nát cấu trúc ngày càng sâu rộng. Quyền lực của Marcos đạt đỉnh khi sự đàn áp, sự thỏa hiệp của giới tinh hoa, và sự hỗ trợ quốc tế hội tụ. Nó tan rã khi những trụ cột đó suy yếu – khi khủng hoảng nợ ập đến, giới tinh hoa trốn chạy còn quần chúng thì bắt đầu huy động.

 

Tính liên quan của trường hợp Marcos không nằm ở sự tương đồng mà ở phương pháp: sử dụng tính hợp pháp như một công cụ, thao túng thủ tục hiến pháp, diễn các màn kịch xoay quanh tính chính danh, và củng cố mạng lưới tinh hoa dưới ngọn cờ đoàn kết dân tộc. Marcos đã chứng minh làm thế nào đàn áp, bảo trợ, và tham nhũng có thể được khoác lên tấm áo ngôn ngữ hiến pháp, với các cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức để khẳng định rằng ông là người bảo vệ dân chủ chứ không phải kẻ đào mồ chôn nó.

 

Việc con trai ông, Ferdinand Marcos Jr., đắc cử tổng thống năm 2022 không báo hiệu sự trở lại của chế độ độc tài mà là sự trỗi dậy của nỗi hoài niệm độc tài. Đối với nhiều người Philippines, đặc biệt là các cử tri trẻ tuổi, cái tên Marcos gợi lên trật tự, ổn định, và niềm tự hào dân tộc. Các cuộc biểu tình gần đây giữa bối cảnh bê bối tham nhũng, rạn nứt giữa các gia tộc tinh hoa, và thất bại trong quản trị cho thấy nỗi hoài niệm, một lần nữa, lại va chạm với thực tế. Hậu quả của sự cố thủ của giới tinh hoa và thao túng hiến pháp đã tái xuất, ngay cả khi không có thiết quân luật.

 

https://foreignpolicy.com/wp-content/uploads/2026/01/Hungary-LGBTQ-protests-Orban-constitutionality-GettyImages-2209692977.jpg

Cảnh sát Hungary đưa một người biểu tình ra ngoài trong một cuộc tuần hành chặn lối vào tòa nhà quốc hội ở Budapest vào ngày 14/04/2025. ©Ảnh: Peter Kohalmi/AFP qua Getty Images

 

Nếu Philippines dưới thời Ferdinand Marcos Sr. đại diện cho hình mẫu ban đầu, thì Hungary dưới thời Thủ tướng Viktor Orban cung cấp mô hình đương đại dưới dạng đầy đủ nhất. Kể từ năm 2010, Orban đã viết lại trật tự hiến pháp của Hungary thông qua một chuỗi các biện pháp hợp pháp về mặt hình thức: tái cấu trúc hệ thống tư pháp, củng cố quyền sở hữu truyền thông, chính trị hóa bộ máy công chức, định hình lại các quy tắc bầu cử, và xây dựng một nền kinh tế dựa trên sự bảo trợ. Các cuộc bầu cử vẫn tồn tại và các đảng đối lập vẫn hiện diện, nhưng họ hoạt động trên một sân chơi đã bị làm cho bất lợi cho họ. Hungary vẫn là một nền dân chủ trên danh nghĩa, nhưng là một nền dân chủ phi tự do về bản chất.

 

Thổ Nhĩ Kỳ dưới thời Tổng thống Recep Tayyip Erdogan cũng đi theo một quỹ đạo tương tự. Quyền hạn khẩn cấp được viện dẫn sau nỗ lực đảo chính thất bại năm 2016 đã bình thường hóa quyền lực ngoại lệ. Các cuộc thanh trừng đã định hình lại hệ thống tư pháp, bộ máy hành chính, và quân đội. Cải cách hiến pháp mở rộng quyền lực tổng thống. Các cuộc bầu cử tiếp tục nhưng ngày càng hoạt động như công cụ phê chuẩn thay vì cạnh tranh thực sự. Theo thời gian, nhà nước đặc quyền trở thành vĩnh viễn. Gần đây, Erdogan còn tiếp tục củng cố quyền cai trị của mình.

 

Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Narendra Modi minh họa cách chủ nghĩa độc tài hiến pháp có thể được kết hợp với bản sắc đa số thay vì chỉ dựa vào đặc quyền của nhánh hành pháp. Việc gây sức ép truyền thông, dùng quy định pháp lý để gây khó cho xã hội dân sự, thực thi pháp luật bị chính trị hóa, và kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc với bản sắc văn hóa đã thu hẹp không gian cho những ý kiến bất đồng và định hình lại hành vi của các thể chế. Các tòa án tiếp tục xét xử nhưng ngày càng tỏ ra dè dặt hơn đối với những vấn đề chạm đến cốt lõi tư tưởng của chế độ.

 

Argentina dưới thời Tổng thống Javier Milei đại diện cho một biến thể khác. Milei cầm quyền trong khuôn khổ hiến pháp, đàm phán luật pháp, và tuân thủ các thủ tục dân chủ chính thức. Tuy nhiên, những lời lẽ theo kiểu “đốt sạch,” phi chính danh hóa đối thủ, và đề cao sứ mệnh cá nhân của ông phản ánh một phong cách cai trị độc tài có thể bén rễ ngay cả khi các thể chế vẫn còn nguyên vẹn về mặt hình thức. Việc ông đón nhận Trump và các lãnh đạo cứng rắn khác nhấn mạnh cách các chuẩn mực phi tự do hiện đang lan truyền vượt qua biên giới quốc gia.

 

Cuộc tổng tuyển cử năm 2025 của Chile có thể xem như một biến thể nữa. Chiến thắng quyết định của José Antonio Kast, được thúc đẩy bởi lo ngại về tội phạm và di cư, đã đến mà không có sự thách thức thể chế công khai nào. Việc ông nhấn mạnh văn minh và trật tự đã trấn an nhiều cử tri. Tuy nhiên, dòng dõi, các liên minh, và cương lĩnh của ông không bác bỏ sự cai trị của phe cực hữu mà là cho thấy sự thích ứng chiến lược của nó – bảo tồn hình thức dân chủ trong khi điều chỉnh lại bản chất của nó.

 

Các trường hợp này khác nhau về bối cảnh và mức độ, nhưng chúng chia sẻ một logic chung. Tính hợp pháp đã trở thành một công cụ để củng cố quyền lực. Tính đa nguyên dần bị thắt chặt. Chủ quyền và bản sắc quốc gia được nâng lên trên các cơ chế kiềm chế của thể chế. Sự xói mòn dân chủ diễn ra như một chuỗi các điều chỉnh chiến thuật thay vì một lần đổ vỡ mang tính quyết định duy nhất.

 

https://foreignpolicy.com/wp-content/uploads/2026/01/Jan-6-2021-insurrection-US-capitol-GettyImages-1241111950.jpg

Hơi cay được bắn vào đám đông những người đang tấn công Điện Capitol Mỹ ở Washington vào ngày 06/01/2021. © Ảnh: Evelyn Hockstein/The Washington Post qua Getty Images

 

Mỹ không miễn nhiễm với những động lực này. Phiên bản của Mỹ được định hình bởi chủ nghĩa liên bang, sự phân cực, và một hệ thống hiến pháp phân tán quyền lực. Nhưng nó thuộc cùng một “gia đình” tan rã dân chủ.

 

Nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của Trump đã làm căng thẳng các chuẩn mực dân chủ. Nhiệm kỳ thứ hai của ông thay đổi nền quản trị Mỹ một cách cơ bản hơn. Như nhà sử học Ruth Ben-Ghiat đã quan sát, phương pháp của Trump không giống sự xói mòn chậm chạp điển hình của các nhà lãnh đạo cứng rắn do dân cử, mà là sự củng cố nhanh chóng gắn liền với môi trường hậu đảo chính. Cuộc bạo loạn ngày 06/01/2021 – một nỗ lực đảo chính mà Trump chưa phải chịu trách nhiệm – vẫn là trung tâm của quỹ đạo này.

 

Sự chuyển đổi mang tính pháp lý, hành chính, và thể chế hơn là đàn áp công khai. Các biện pháp bảo vệ công chức đã bị làm suy yếu. Các tổng thanh tra bị gạt sang bên lề. Sự độc lập của các công tố viên bị tổn hại qua các bài kiểm tra lòng trung thành và các bổ nhiệm chiến lược. Các cơ quan quản lý được chuyển hướng sang các mục tiêu ý thức hệ. Áp lực truyền thông giờ đây mang hình thức ép buộc kinh tế thay vì kiểm duyệt. Các trường đại học và viện nghiên cứu đối mặt với sự giám sát mang tính thẩm tra. Các tòa án không bị thay thế mà được điều chỉnh lại.

 

Các sáng kiến như Dự án 2025 nêu rõ một nỗ lực rộng lớn hơn nhằm tái tạo bộ máy hành chính liên bang thành một công cụ của lòng trung thành cá nhân và đảng phái thay vì sự trung lập về chuyên môn. Ngay cả khi chưa hoàn tất, những thiết kế này đã định hình lại các động lực khuyến khích. Các quan chức dần học được rằng sự tồn tại của họ phụ thuộc vào năng lực ít hơn so với lòng trung thành.

 

Hệ quả tích lũy là một sự tái cấu trúc nhà nước Mỹ bên trong hình thức hiến pháp. Nhà nước quy chuẩn vẫn hiển hiện. Nhà nước đặc quyền đang lớn dần bên cạnh nó. Sự diễn giải của nhánh hành pháp ngày càng thay thế cho ý định của nhánh lập pháp. Tình trạng khẩn cấp trở thành lý do thường trực cho sự tập trung quyền lực. Tính hợp pháp trở thành công cụ thay vì giới hạn.

 

https://foreignpolicy.com/wp-content/uploads/2026/01/US-oil-tanker-siezure-scotland-marinera-GettyImages-2255651674.jpg

Mọi người nhìn ra một tàu chở dầu từ Cảng Hopeman ở Hopeman, Scotland, vào ngày 14/01. © Ảnh: Andy Buchanan/AFP via Getty Images

 

NSS đã làm nhiều hơn việc định nghĩa lại quyền lực Mỹ ở nước ngoài. Nó hợp thức hóa một tầm nhìn về quản trị, trong đó an ninh quốc gia không còn là một lĩnh vực riêng biệt mà trở thành lăng kính qua đó đời sống kinh tế, công nghệ, di cư, văn hóa, và sự gắn kết xã hội được thấu hiểu. Nó đại diện cho một hành động an ninh hóa toàn diện.

 

Sự an ninh hóa này mở rộng quyền hạn được diễn giải là thuộc về tổng thống, tập trung vào sự tùy ý, và thu hẹp không gian cho sự bất đồng bằng cách đóng khung sự bất đồng là điểm yếu dễ bị tổn thương. Khi gần như mọi thứ đều trở thành an ninh, thì chúng cũng trở thành đối tượng của đặc quyền của nhánh hành pháp.

 

Chiến lược đối với Châu Âu đặc biệt tiết lộ nhiều điều. NSS miêu tả các xã hội Châu Âu là yếu kém về chính trị, mong manh về văn hóa, bị áp đảo bởi di cư, và bị hạn chế bởi các chuẩn mực ngôn luận ngăn cản sự đối đầu với các mối đe dọa văn minh. Quan hệ đối tác được điều chỉnh lại không phải xoay quanh các giá trị dân chủ tự do mà quanh sự tương thích về ý thức hệ – chủ quyền, sự gắn kết văn hóa, và sự đổi mới quốc gia.

 

Cách đóng khung này đánh dấu sự rời bỏ cam kết truyền thống của Mỹ đối với dân chủ tự do như là nguyên tắc nền tảng của các quan hệ xuyên Đại Tây Dương. Thay vào đó, NSS nâng cao sự tương thích về ý thức hệ – chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa chủ quyền, đa số văn hóa – làm cơ sở cho quan hệ đối tác. Sự thay đổi này được củng cố bởi lời lẽ từ các quan chức cấp cao như Phó Tổng thống Mỹ J.D. Vance, người đã lập luận rằng những thất bại an ninh của Châu Âu bắt nguồn từ sự gắn bó với các chuẩn mực toàn cầu hóa thay vì sự yếu kém về vật chất. Trong bối cảnh này, ngôn ngữ của NSS về việc hỗ trợ các nhà lãnh đạo cam kết với chủ quyền, sự gắn kết văn hóa, và sự đổi mới quốc gia hoạt động như một kiểu “đèn xanh ngoại giao” cho sự liên kết chặt chẽ hơn với các lực lượng cực hữu của Châu Âu.

Hàm ý rất rõ ràng. Mỹ dường như sẵn sàng ve vãn hoặc hỗ trợ các phong trào chính trị Châu Âu chấp nhận các tầm nhìn phi tự do, miễn là họ phù hợp với các ưu tiên địa chính trị của Washington. Thúc đẩy dân chủ trở thành thứ yếu, thậm chí có thể hy sinh, để ưu tiên cho việc thúc đẩy liên kết phù hợp. Tính chất của liên minh phương Tây đang thay đổi – ít đa nguyên hơn, ít tự do hơn, phân cấp bậc hơn, mang tính đa số hơn. Một dự án “văn minh” chung thay thế ngôn ngữ cũ về các giá trị dân chủ chung.

 

Các nhà phê bình như nhà kinh tế học Jeffrey Sachs cảnh báo rằng NSS dựa trên sự vĩ cuồng và chủ nghĩa Machiavelli, thay thế hợp tác bằng cưỡng chế và thay thế tính chính danh bằng sự thống trị. Các vụ bắt giữ tàu chở dầu gần đây của Mỹ trên biển quốc tế – được biện minh bằng các lệnh trừng phạt đơn phương nhưng thiếu cơ sở rõ ràng trong luật pháp quốc tế – minh họa cho học thuyết này trong thực tế. Dù người ta đánh giá thế nào về lời phê bình rộng hơn của Sachs, thì vẫn khó để bỏ qua mô hình cơ bản: Chủ quyền được định nghĩa là sự tự do không bị ràng buộc, và luật pháp quốc tế bị xem như trở ngại hoặc không liên quan thay vì là một khuôn khổ.

 

Dù hướng ra ngoài hay vào trong, quan niệm chủ quyền này đặt đặc quyền của nhánh hành pháp lên trên các cơ chế kiềm chế của thể chế. Đó là bản chất của chủ nghĩa độc tài hiến pháp.

 

https://foreignpolicy.com/wp-content/uploads/2026/01/Washington-DC-national-guard-deployment-Trump-GettyImages-2232255536.jpg

Các thành viên Vệ binh Quốc gia Mỹ đi tuần tại National Mall ở Washington vào ngày 26/08/2025. © Ảnh: Anna Moneymaker/Getty Images

 

Không điều nào trong số này có nghĩa là Mỹ đang trở thành một chế độ độc tài. Nước này vẫn duy trì các cuộc bầu cử cạnh tranh, một hệ thống tư pháp độc lập, và một xã hội dân sự sôi động như được chứng minh bởi các cuộc huy động quần chúng như các cuộc biểu tình “No Kings” (Không Vua) và các cuộc tuần hành sau vụ giết hại Good.

 

Như triết gia Hannah Arendt đã chỉ ra, chủ nghĩa độc tài không đòi hỏi sự bãi bỏ các thể chế, chỉ cần làm xói mòn các nguyên tắc vận hành của chúng là đủ. Tòa án có thể hoạt động trong khi tránh đối đầu. Bầu cử có thể diễn ra giữa những bất đối xứng về cấu trúc. Các cơ quan lập pháp có thể hoạt động trong khi dần nhượng lại quyền lực. Hình thức còn đó, nhưng bản chất phai nhạt.

 

Nhà sử học Timothy Snyder đã cảnh báo rằng các nền dân chủ thường chết thông qua sự bình thường hóa những điều ngoại lệ – tình huống khẩn cấp trở thành quản trị, lòng trung thành là tiêu chuẩn năng lực, thông tin sai lệch là công cụ chính trị. Nhà báo Anne Applebaum đã ghi lại cách giới tinh hoa thích nghi với chủ nghĩa phi tự do, tìm kiếm lợi thế khi ở gần quyền lực ngay cả trong lúc các thể chế mục nát. Giáo sư triết học Jason Stanley đã giải thích làm thế nào sự xói mòn của thực tế chung và sự đạo đức hóa bản sắc chính trị lại trở thành nền tảng cho sự củng cố độc tài đáng tin cậy hơn so với chỉ riêng thay đổi pháp lý.

 

Nước Mỹ đang thể hiện các dấu hiệu của mỗi điều trên. Các thể chế dân chủ vẫn đủ mạnh để ngăn chặn sự sụp đổ hoàn toàn, nhưng đã đủ suy yếu để cho phép sự xói mòn dần dần. NSS không tạo ra điều kiện này; nó chỉ thể hiện điều kiện đó. Nó phản ánh một thế giới quan trong đó chủ quyền vượt lên trên đa nguyên, sự thống nhất thay thế sự bất đồng, và an ninh đè bẹp tự do.

 

Mỹ có thể sẽ không phải đối mặt với sự sụp đổ đột ngột đã khiến Marcos đánh mất quyền lực hay sự đổ vỡ hiến pháp kịch tính đánh dấu sự chuyển đổi Thổ Nhĩ Kỳ của Erdogan. Sự xói mòn dân chủ có thể chậm chạp, không đồng đều, và trong một số trường hợp, có thể đảo ngược. Nhưng nó không thể tự sửa chữa.

 

Sự tan rã của nền dân chủ mang tính tích lũy. Nó diễn ra khi các chuẩn mực được viết lại, ranh giới thể chế bị làm mờ, tính hợp pháp bị vũ khí hóa, tình trạng khẩn cấp được bình thường hóa, và sự bất đồng bị đóng khung thành sự yếu kém. NSS là một tài liệu chính sách đối ngoại, nhưng nó cũng là một tấm gương. Nó phản chiếu không chỉ cách Mỹ nhìn thế giới mà còn cách nước này đang làm mới chính thể của mình. Quan ngại không phải là chiến lược này tuyên bố bảo vệ cái gì, mà là nó tiết lộ đất nước đang trở thành cái gì.

 

---------------------------------

Alejandro Reyes là giáo sư và nghiên cứu viên cấp cao tại Trung tâm Trung Quốc Đương đại và Thế giới tại Đại học Hong Kong. Ông cũng là học giả lưu trú tại Trung tâm Hiệp hội Châu Á tại Hong Kong.

 

Nguồn: Alejandro Reyes, “America’s Drift Toward Constitutional Authoritarianism,” Foreign Policy, 19/01/2026

 

 

 




TẠI SAO TRẬT TỰ THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI NÊN ĐƯỢC THIẾT KẾ LẠI? (Peter E. Harrell  -  Foreign Affairs)

 



Tại sao trật tự thương mại thế giới nên được thiết kế lại?

Peter E. Harrell  -  Foreign Affairs

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch  -  Nghiên Cứu Quốc Tế    

31/01/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/01/31/tai-sao-trat-tu-thuong-mai-the-gioi-nen-duoc-thiet-ke-lai/

 

Tầm nhìn của Trump gợi nhớ cách tiếp cận truyền thống của Mỹ như thế nào?

 

Suốt một năm qua, chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump đã trở thành thế lực gây xáo trộn nhất trong thương mại toàn cầu kể từ những năm 1930. Tuy nhiên, sự phá hủy trật tự thương mại hậu Chiến tranh Lạnh – một hệ thống thương mại quốc tế dựa trên luật lệ nhằm thiết lập các nguyên tắc kinh tế cho các chính phủ tham gia – lại mang đến một cơ hội cần thiết để điều chỉnh thái độ cứng nhắc thái quá đối với thương mại.

 

Từ khi kết thúc Thế chiến II đến đầu những năm 1990, các tổng thống Mỹ thường ủng hộ thương mại tự do và khuyến khích các quốc gia khác hạ thấp rào cản thương mại thông qua các sáng kiến như Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) năm 1947, vốn khuyến khích các nước (chủ yếu nằm ngoài khối Xô-viết) cùng cắt giảm thuế quan. Nhưng các chính quyền Mỹ đã cân bằng ưu tiên này nhờ chủ nghĩa thực dụng, áp dụng một cách tiếp cận linh hoạt đối với chính sách, xem xét từng thách thức riêng biệt một cách cụ thể.

Khi cần thiết, các tổng thống Mỹ sẵn sàng sử dụng các công cụ như thuế quan, các thỏa thuận riêng cho từng ngành đối với các sản phẩm nhạy cảm về chính trị như dệt may, và các cuộc đàm phán cứng rắn để giải quyết những căng thẳng thương mại cụ thể. Ý tưởng rằng quản lý thương mại quốc tế chỉ bằng một bộ quy tắc phổ quát sẽ mang lại lợi ích kinh tế và địa chính trị cho mọi quốc gia là một điều bất thường về mặt lịch sử.

 

Hơn nữa, các quy tắc thương mại toàn diện và phổ quát đang dần trở nên vô lý trong lúc cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc gia tăng, và nhiều quốc gia, bao gồm cả Mỹ, đang bắt đầu đánh giá lại các mô hình kinh tế trong nước của mình. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều cuộc tranh luận dữ dội đã nổ ra ngay tại Mỹ về việc liệu hệ thống dựa trên luật lệ có thực sự mang lại lợi ích cho nền kinh tế Mỹ hay không: sự giáo điều xoay quanh các quy tắc thương mại tự do mà Washington thiết lập vào những năm 1990 sẽ kìm hãm khả năng của một tổng thống trong việc theo đuổi các sáng kiến chính sách như trợ cấp cho ngành năng lượng xanh (như Tổng thống Joe Biden đã làm), hoặc chính phủ nắm giữ cổ phần trong các công ty Mỹ (như Trump đã tìm cách thực hiện). Mỹ không ở vị thế để đặt ra các quy tắc thương mại toàn cầu lâu dài khi chính mô hình kinh tế trong nước của họ đang là chủ đề của các cuộc tranh luận nội bộ gay gắt. Và một sân chơi bình đẳng với các quy tắc được chung thống nhất không phải là điều Mỹ nên theo đuổi khi đối mặt với Trung Quốc: trong thời điểm địa chính trị được định hình bởi cuộc cạnh tranh chiến lược của Mỹ với Bắc Kinh, Washington nên hành động để tạo lợi thế cho mình trên sân chơi so với Bắc Kinh.

 

Chính sách thương mại của Trump quá hỗn loạn, do sự yêu thích lâu nay của ông đối với thuế quan và thói quen đưa ra những lời đe dọa ngông cuồng, và mức thuế suất quá cao của ông đang làm suy yếu các mục tiêu kinh tế của Mỹ. Tuy nhiên, những nhà lãnh đạo kế nhiệm ông có thể và nên xây dựng dựa trên một số yếu tố trong cách tiếp cận gây xáo trộn của ông, những yếu tố thực sự đại diện cho những bước lùi về phía hoạch định chính sách thương mại thực dụng hơn, ít tập trung vào quy tắc hơn, vốn đã ngự trị trong phần lớn lịch sử Mỹ. Họ nên mở rộng các loại thỏa thuận mà chính quyền Trump đang xúc tiến với Nhật Bản, các nước châu Âu, và các đối tác thương mại khác để tái tập trung chúng vào việc giải quyết các thách thức chung về kinh tế và an ninh quốc gia. Họ nên rút ra bài học từ các tổng thống trong quá khứ như Ronald Reagan, người đã khuyến khích thương mại “tự do và công bằng” hơn bằng cách theo đuổi nhiều chính sách đa dạng. Và họ nên mở rộng nỗ lực của Trump trong việc tích hợp thương mại với an ninh quốc gia và sáng tạo các công cụ chính sách mới, đồng thời loại bỏ những khía cạnh thái quá tồi tệ nhất trong chế độ thuế quan của ông.

 

“TỰ DO VÀ CÔNG BẰNG”

 

Quan điểm cho rằng mục tiêu chính của chính sách thương mại Mỹ là hỗ trợ một bộ quy tắc ràng buộc phổ quát là tương đối mới. Lần đầu tiên một tài liệu cấp cao của chính phủ Mỹ xác định trật tự thương mại dựa trên luật lệ là mục tiêu chính sách bao trùm của Washington dường như là vào năm 1991, khi Báo cáo Kinh tế của Tổng thống – một bản đánh giá hàng năm về nền kinh tế Mỹ và các ưu tiên của tổng thống – tuyên bố rằng “mũi nhọn chính của chính sách thương mại Mỹ là sử dụng các cuộc thảo luận và diễn đàn đa phương… để thúc đẩy thương mại tự do, dựa trên luật lệ.” Các tổng thống trước những năm 1990 cũng theo đuổi các trật tự thương mại quốc tế như GATT hoặc Tổ chức Thương mại Quốc tế (ITO, một ý tưởng chết yểu mà Tổng thống Harry Truman ủng hộ, nhưng Thượng viện không thông qua). Nhưng những nỗ lực này chủ yếu nhằm áp đặt kỷ luật lên các khía cạnh cụ thể của thương mại toàn cầu như thuế quan và trợ cấp định hướng xuất khẩu. Nhìn chung, trong Chiến tranh Lạnh, chính sách thương mại của Mỹ được định hình bởi chủ nghĩa thực dụng: Washington tìm cách giải quyết các vấn đề riêng lẻ và đảm bảo rằng các thỏa thuận mà họ tham gia luôn có sự linh hoạt. Ví dụ, GATT ban đầu bao gồm nhiều trường hợp ngoại lệ cho các quy tắc của nó, cho phép các quốc gia có không gian để quản lý các vấn đề tiền tệ, đối phó với các cú sốc nhập khẩu, và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế trong nước. Cơ chế giải quyết tranh chấp trong GATT về cơ bản cũng không mang tính ràng buộc, theo đó khuyến khích các quốc gia giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường ngoại giao thay vì kiện tụng xoay quanh các quy tắc.

 

Reagan có lẽ là ví dụ rõ ràng nhất trong lịch sư gần đây về một tổng thống theo đuổi cách tiếp cận thương mại cơ bản là thực dụng. Năm 1982, ông nhấn mạnh rằng thương mại toàn cầu “tự do và công bằng” sẽ phục vụ “sự nghiệp tiến bộ kinh tế.” Ông cắt giảm thuế quan khi có thể, ký hiệp định thương mại tự do hiện đại đầu tiên của Mỹ (với Israel, năm 1985), và ủng hộ khởi động Vòng đàm phán Uruguay đa phương, mà cuối cùng đã giúp chuyển đổi GATT thành Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nhưng ông cũng thường xuyên sử dụng các công cụ thương mại theo cách bảo hộ hơn để mở cửa thị trường nước ngoài cho các công ty Mỹ và bảo vệ họ khỏi cạnh tranh.

 

Khi Reagan nhậm chức vào năm 1981, ngành sản xuất xe hơi của Mỹ đang chịu sức ép lớn: chính phủ đã phải giải cứu Chrysler vào năm 1979, và hàng nhập khẩu từ Nhật Bản bắt đầu tràn ngập thị trường Mỹ. Trong vài tháng đầu nhiệm kỳ, Reagan đã đạt được một thỏa thuận với Nhật Bản, trong đó Tokyo cam kết “tự nguyện” hạn chế xuất khẩu xe hơi sang Mỹ để đổi lấy việc tránh bị áp thuế cao hơn lên xe hơi của họ. Thỏa thuận này không nhằm thiết lập một tiền lệ dài hạn về cách mà các quốc gia có thể trợ cấp sản xuất xe hơi. Nó cũng không cố gắng tăng chi phí tương đối của xe Nhật bằng cách thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động cao hơn trong các nhà máy Nhật Bản. Nó chỉ đơn thuần tìm cách mua thêm thời gian để ngành xe hơi Mỹ trở nên cạnh tranh hơn. Các hạn ngạch xuất khẩu này cuối cùng đã góp phần vào quyết định đầu tư vào sản xuất tại Mỹ của Honda, Toyota, và nhiều công ty xe hơi Nhật Bản khác.

 

Cách tiếp cận của Reagan đối với chất bán dẫn cũng cụ thể và thực dụng tương tự. Đến giữa những năm 1980, Mỹ đã phải đối mặt với làn sóng nhập khẩu chất bán dẫn, cũng từ Nhật Bản. Năm 1985, để đáp lại đơn kiến nghị của ngành công nghiệp bán dẫn Mỹ, chính quyền Reagan cho mở một cuộc điều tra về chất bán dẫn của Nhật Bản theo Mục 301 của Đạo luật Thương mại Mỹ năm 1974, vốn cho phép nhánh hành pháp trả đũa các hành vi thương mại không công bằng, bao gồm cả việc áp thuế. Sang năm 1986, chính phủ Mỹ và Nhật Bản đạt được một thỏa thuận: Nhật Bản sẽ giảm xuất khẩu và đồng ý cho phép các công ty bán dẫn Mỹ tiếp cận nhiều hơn vào thị trường của mình. Khi Reagan cho rằng người Nhật không giữ đúng cam kết, ông đã áp thuế 100% lên nhiều mặt hàng bán dẫn nhập khẩu của Nhật Bản. Mục tiêu của Reagan, một lần nữa, không phải là tạo ra các quy tắc rộng lớn cho ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu, mà là đảm bảo sự tồn tại liên tục của một lĩnh vực thương mại cụ thể của Mỹ.

 

Chiến lược của Reagan đối với đồng đô la có lẽ là chính sách thương mại quan trọng nhất về mặt kinh tế của ông. Vào tháng 09/1985, quan ngại về giá trị cao của đồng đô la – vốn gây bất lợi cho xuất khẩu của Mỹ – đã thúc đẩy Bộ trưởng Tài chính Donald Regan và các đối tác của ông ở Pháp, Nhật Bản, Tây Đức, và Anh đồng ý thực hiện hành động tập thể nhằm giảm giá trị tương đối của đồng đô la, bao gồm cả việc can thiệp vào thị trường ngoại hối, để đổi lấy lời hứa không áp thuế trừng phạt từ Mỹ. Cái gọi là Hiệp định Plaza này không phải là nỗ lực thiết lập các quy tắc vĩnh viễn cho giá trị tiền tệ, mà là một thỏa thuận thực dụng để điều chỉnh giá trị tương đối của đồng đô la nhằm tái cân bằng thương mại. Và nó đã phát huy tác dụng: trong hai năm tiếp theo, giá trị của đồng đô la so với các loại tiền tệ của các quốc gia khác trong Hiệp định Plaza đã giảm 40%, và đến cuối những năm 1980, thâm hụt thương mại của Mỹ cũng đã giảm.

 

Việc Reagan tiếp cận các thách thức thương mại một cách riêng biệt và linh hoạt phản ánh cách tiếp cận thương mại của các đời chính quyền Mỹ trước đó. Chẳng hạn, sau Thế chiến II, Mỹ – cũng như nhiều quốc gia khác – đã quản lý thương mại hàng dệt may, một lĩnh vực nhạy cảm về chính trị quan trọng đối với cả các nền kinh tế đang phát triển lẫn phát triển, không phải bằng cách thiết lập các quy tắc sâu rộng mà bằng cách soạn thảo các hiệp định cụ thể cho ngành dệt may sử dụng thuế quan và hạn ngạch. (Các hiệp định này đã dần được bãi bỏ trong thập kỷ sau khi WTO thành lập năm 1994). Ngay cả Tổng thống Jimmy Carter, người thường được nhớ đến như một nhân vật ủng hộ thương mại tự do, trên thực tế cũng đã thực hiện một số hành động để bảo vệ các nhà sản xuất giày dép và các ngành công nghiệp khác của Mỹ khỏi cạnh tranh từ nước ngoài.

 

ĐIỀU BẤT THƯỜNG VỀ MẶT LỊCH SỬ

 

Tuy nhiên, vào đầu những năm 1990, Washington đã chuyển sang một mô hình dựa trên luật lệ rõ ràng hơn. Quyết định thay đổi cách tiếp cận này phản ánh một thời điểm lịch sử cụ thể. Sau sự sụp đổ của Liên Xô, các nhà kinh tế và chính trị gia Mỹ đều đi đến một sự đồng thuận: hầu hết đều tin rằng tư nhân hóa, bãi bỏ quy định, thị trường tự do, hạn chế trợ cấp, và quyền sở hữu trí tuệ mạnh là những chính sách kinh tế tốt nhất. Trong những thập niên trước, những ý tưởng này đã bị tranh cãi ở cả trong và ngoài nước. Vào những năm 1970, các nhà lãnh đạo và nhà kinh tế Mỹ đã tranh luận về việc có nên tiếp tục theo đuổi các chính sách kiểu Keynes, hay nắm lấy các ý tưởng thị trường tự do của các nhà tư tưởng như Milton Friedman, và các doanh nghiệp nhà nước vẫn phổ biến ở châu Âu. Nhưng đến cuối những năm 1980, khi các nhà lãnh đạo Mỹ và các quan chức ở các nước đồng minh chủ chốt cùng chia sẻ quan điểm về nền kinh tế “đúng đắn” – thứ được gọi là “chủ nghĩa tân tự do” hay “Đồng thuận Washington” – lần đầu tiên các nhà hoạch định chính sách Mỹ có thể nghĩ đến việc thiết lập các quy tắc cho một trật tự thương mại thực sự mang tính toàn cầu.

 

Khoảnh khắc đơn cực của Mỹ cũng mang lại cho các nhà hoạch định chính sách Mỹ khả năng đặc biệt để thuyết phục các chính phủ nước ngoài đồng ý với một hệ thống luật lệ. Vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990, vẫn chưa thể chắc chắn liệu Washington có đủ đòn bẩy để thúc đẩy các cuộc đàm phán Vòng Uruguay đi đến hồi kết hay không. Nhưng sự sụp đổ của Bức tường Berlin, chiến thắng của Mỹ trong chiến tranh Iraq năm 1991, và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của Mỹ sau năm 1992 đã giúp khẳng định bá quyền Mỹ. Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, Washington đã thành công trong việc thuyết phục các quốc gia trên thế giới tham gia WTO, vốn bao gồm một bộ quy tắc sâu rộng hơn nhiều so với GATT. Mỹ cũng sử dụng các thể chế đa phương như Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới để khuyến khích các quốc gia trên toàn thế giới áp dụng các chính sách tân tự do tại quê nhà.

 

Sau này, các Tổng thống George W. Bush và Barack Obama đã cố gắng xây dựng dựa trên cách tiếp cận của Clinton bằng cách mở rộng phạm vi của các hiệp định thương mại để phát triển các quy tắc toàn cầu mới nhằm giải quyết hàng loạt thách thức được nhận thấy. Ví dụ, Obama đã quảng bá Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) bằng cách lập luận rằng nó sẽ thiết lập các quy tắc toàn cầu mới cho nhiều vấn đề bao gồm đầu tư, thương mại điện tử, doanh nghiệp nhà nước, và quyền sở hữu trí tuệ, tất cả đều được hỗ trợ bởi một cơ chế độc lập để xét xử các tranh chấp.

 

SỰ THAY ĐỔI MÔ HÌNH

 

Trump rõ ràng đã phá vỡ mô hình này. Ông không tìm cách tạo ra các nguyên tắc mới chi phối cách các quốc gia thiết lập thuế quan. Ông không cố gắng thiết lập các tiêu chuẩn an toàn chung hoặc các quy tắc hợp tác để quản lý các ngành công nghiệp như dược phẩm hoặc mạng xã hội. Thay vào đó, ông chỉ đơn giản buộc các quốc gia như Argentina và Guatemala chấp nhận xe hơi và dược phẩm của Mỹ, đồng thời sử dụng các mối đe dọa thuế quan để ép buộc châu Âu loại bỏ các quy định đối với các công ty công nghệ Mỹ.

 

Ác cảm đối với trật tự thương mại toàn cầu chắc chắn xuất phát từ tính cách của Trump. Là một doanh nhân và sau đó trở thành một chính trị gia, ông từ lâu đã thích thú với việc phá vỡ các quy tắc. Nhưng bản năng của ông – rằng một cách tiếp cận thực dụng hơn, ít dựa trên quy tắc hơn phù hợp với thời điểm hiện tại – là hợp lý.

 

Sự thật là cả hai yếu tố dẫn đến sự trỗi dậy của trật tự thương mại dựa trên luật lệ đều không còn tồn tại. Các nhà kinh tế và hoạch định chính sách Mỹ không còn thống nhất về việc chính sách kinh tế nào là tốt nhất. Các cuộc thảo luận trong nước đang bị khuấy động bởi những tranh luận gay gắt về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế và mức độ mà chính phủ nên kiềm chế quyền lực của các doanh nghiệp. Những bất đồng đang âm ỉ xoay quanh cách quản lý các nền tảng công nghệ số, cách luật sở hữu trí tuệ nên thay đổi trước sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo, và mức độ quyết liệt mà các quan chức chống độc quyền nên thể hiện khi khởi kiện các hành vi bị cáo buộc là độc quyền.

 

Ngay cả khi Mỹ có thể thiết lập các quy tắc thương mại trên toàn thế giới, nhiều thách thức lớn trong nền kinh tế toàn cầu ngày nay – như sự mất cân bằng cấu trúc do thặng dư thương mại khổng lồ của Trung Quốc tạo ra – không phải là những vấn đề mà các quy tắc chi tiết có thể giải quyết được. Vấn đề mất cân bằng cấu trúc rất nghiêm trọng: tháng 11 năm ngoái, thặng dư thương mại của Trung Quốc lần đầu tiên đạt 1 nghìn tỷ đô la. Cùng tháng đó, Goldman Sachs ước tính rằng quy mô mất cân bằng thương mại của Trung Quốc có thể bắt đầu làm giảm đáng kể mức tăng trưởng chung ở các nền kinh tế công nghiệp hóa như Đức và Nhật Bản, khi thiệt hại đối với sản xuất từ hàng xuất khẩu của Trung Quốc lớn hơn những lợi thế kinh tế mà hàng hóa giá rẻ trước đây mang lại cho người tiêu dùng.

 

Các nhà hoạch định chính sách của Mỹ và đồng minh đã cố gắng suốt nhiều năm để thuyết phục Trung Quốc chơi theo luật của WTO. Những nỗ lực đó không chỉ thất bại, mà giờ đây, Mỹ và các đồng minh còn phải đối mặt với tình huống mà ngay cả khi Trung Quốc tuân thủ các quy tắc, thì các nền kinh tế khác cũng sẽ phải vi phạm chúng để cạnh tranh.

 

Washington đơn giản là không thể đa dạng hóa chuỗi cung ứng khoáng sản quan trọng của mình nếu không triển khai các khoản trợ cấp, thuế quan, và các công cụ chính sách công nghiệp đáng kể khác. Mỹ cũng cần tránh phụ thuộc hoàn toàn vào Trung Quốc về các công nghệ quan trọng và hàng hóa sản xuất vì lý do an ninh quốc gia. Điều tương tự cũng đúng đối với các sản phẩm mà Mỹ bán cho Trung Quốc. Để bảo vệ an ninh quốc gia Mỹ, Washington cần hạn chế bán các công nghệ tốt nhất của mình, chẳng hạn như chip máy tính tiên tiến, cho Bắc Kinh, dù hai thủ đô có thể bằng cách nào đó đồng ý về các quy tắc để quản lý thương mại chip.

 

THỰC DỤNG HƠN LÀ Ý THỨC HỆ

 

Các nhà hoạch định chính sách ở Washington và các thủ đô đồng minh cần quay trở lại cách tiếp cận linh hoạt hơn đối với thương mại. Một số chính sách của Trump không mang tính thực dụng, đặc biệt là thuế quan của ông. Nếu các quan chức thương mại trước đây quá giáo điều về thương mại tự do, thì ngược lại, Trump gắn bó với thuế quan một cách quá mức và mang tính ý thức hệ. Thật vô lý khi duy trì mức thuế suất cao nhất mà Mỹ đã áp dụng kể từ những năm 1940 lên các sản phẩm mà đất nước không sản xuất, hoặc các mặt hàng tiêu dùng nhạy cảm về giá như quần áo, và các đầu vào công nghiệp mà thuế quan sẽ làm thu hẹp sản xuất.

 

Tuy nhiên, các yếu tố trong các thỏa thuận thương mại nhiệm kỳ hai của Trump cho thấy lợi ích của một cách tiếp cận thực dụng hơn – và chính quyền Trump nên mở rộng chúng. Báo chí đưa tin về chính sách thương mại của Trump có xu hướng tập trung vào thuế quan, nhưng các thỏa thuận mà ông đạt được chứa đựng nhiều điều khoản khác có lợi cho Mỹ và các công ty Mỹ. Ví dụ, các thỏa thuận mà chính quyền đạt được với Campuchia và Malaysia buộc hai nước này hợp tác với Mỹ về một số loại thuế quan, kiểm soát xuất khẩu, trừng phạt, và sàng lọc đầu tư để tìm rủi ro đối với an ninh quốc gia Mỹ. Nhưng họ sẽ làm vậy theo cách thực dụng thay vì dựa trên quy tắc. Chẳng hạn, thỏa thuận của Washington với Kuala Lumpur quy định rằng nếu Mỹ áp dụng một số loại thuế quan hoặc các biện pháp hạn chế khác đối với Trung Quốc, họ có thể yêu cầu Malaysia “áp dụng hoặc duy trì một biện pháp có hiệu lực hạn chế tương đương,” theo đó tạo sự linh hoạt trong việc thực hiện. Các hiệp định thương mại khác mà Trump đang tìm kiếm với các quốc gia như Argentina và Anh nhiều khả năng cũng bao gồm các điều khoản tương tự. Những loại điều khoản này cung cấp một nền tảng quan trọng cho bất kỳ tổng thống Mỹ nào trong tương lai để xây dựng trong các thỏa thuận với các quốc gia khác trên thế giới.

 

Mỹ cũng nên theo đuổi các thỏa thuận đảm bảo lợi ích của mình trong các lĩnh vực chính như khoáng sản quan trọng. Trump đã đưa các điều khoản về khoáng sản quan trọng vào một số thỏa thuận thương mại, bao gồm với Argentina và Indonesia. Do chuỗi cung ứng khoáng sản quan trọng trải dài qua nhiều quốc gia, ông nên mở rộng các điều khoản song phương như vậy thành các thỏa thuận thương mại ngành với nhiều khu vực pháp lý liên quan.

 

Việc từ bỏ các quy tắc thương mại cũng cho phép Trump tự do sáng tạo các công cụ chính sách mới. Ví dụ, tổng thống đã thuyết phục Nhật Bản và Hàn Quốc thành lập các quỹ đầu tư mới do nhà nước hỗ trợ để đổ tiền vào Mỹ. Trump có thể đã phóng đại quy mô của các khoản đầu tư này, nhưng chúng vẫn đủ sức thúc đẩy tăng trưởng trong các lĩnh vực quan trọng của Mỹ như năng lượng, sản xuất và trung tâm dữ liệu.

 

Thặng dư thương mại của Trung Quốc cũng có thể được đối phó hiệu quả hơn bằng cách tiếp cận vấn đề một cách cụ thể và trực tiếp. Thuế quan của Trump đối với Trung Quốc thực sự giúp bảo vệ ngành công nghiệp Mỹ: Xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ đã giảm đáng kể vào năm 2025, ngay cả khi chúng tăng lên mức kỷ lục ở các nước châu Á và châu Âu vẫn còn bị ràng buộc nhiều hơn với các quy tắc thương mại. Việc thuyết phục Nhật Bản, các nước châu Âu, và các đồng minh công nghiệp hóa khác của Mỹ áp đặt các giới hạn riêng của họ đối với thương mại với Trung Quốc sẽ làm tăng khả năng đạt được kết quả mong muốn là giảm thặng dư của Trung Quốc, so với việc các quốc gia đó cố gắng đàm phán một bộ “quy tắc mới” để quản lý thương mại của họ với Bắc Kinh.

 

Giải quyết sự mất cân bằng thương mại và các vấn đề khác của thế kỷ 21 như biến đổi khí hậu sẽ đòi hỏi sự nhanh nhẹn từ Trump và các tổng thống kế nhiệm ông. Những nhà lãnh đạo này sẽ phải sử dụng kết hợp các loại thuế quan, hạn chế vốn, đe dọa, và can thiệp vào thị trường tiền tệ. Nếu các nhà hoạch định chính sách của Washington và các đối tác thương mại của Mỹ lùi bước trước các khía cạnh trong chính sách thương mại của Trump – những khía cạnh phản ánh chủ nghĩa thực dụng được cân nhắc kỹ lưỡng và mang tính lịch sử của Mỹ – chỉ vì Trump là người theo đuổi chúng, và khăng khăng quay trở lại một trật tự thương mại ràng buộc bởi nguyên tắc mà không thể đảm bảo sự thịnh vượng toàn cầu, họ sẽ bỏ lỡ một cơ hội quý giá.

 

------------------------

Peter E. Harrell là học giả tại Viện Luật Kinh tế Quốc tế của Georgetown. Ông từng là Giám đốc Cấp cao về Kinh tế Quốc tế và Năng lực Cạnh tranh tại Hội đồng An ninh Quốc gia và Hội đồng Kinh tế Quốc gia Mỹ từ năm 2021 đến năm 2022.

FacebookLinkedInEmailMessengerWhatsAppTelegramPrintShare

 

Nguồn: Peter E. Harrell, “The Case for Upending World Trade,” Foreign Affairs, 26/01/2026

 

 

 

 

 

 

 


VIỆC TẬP THANH TRỪNG VỊ TƯỚNG CẤP CAO NHẤT TRUNG QUỐC HÉ LỘ ĐIỀU GÌ? (The Economist)

 



Việc Tập thanh trừng vị tướng cấp cao nhất Trung Quốc hé lộ điều gì?

The Economist 

Nguyễn Thị Kim Phụng, biên dịch  -  Nghiên Cứu Quốc Tế    

27/01/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/01/27/viec-tap-thanh-trung-vi-tuong-cap-cao-nhat-trung-quoc-he-lo-dieu-gi/

 

Chủ tịch Trung Quốc đã loại bỏ các lãnh đạo quân đội ở quy mô chưa từng có kể từ thời Mao Trạch Đông – làm dấy lên những nghi ngại về khả năng sẵn sàng chiến đấu của quốc gia này.

 

Trong số các tướng lĩnh Trung Quốc, có một nhân vật từ lâu dường như “miễn nhiễm” với những cuộc thanh trừng quy mô lớn trong giới lãnh đạo cấp cao suốt hai năm qua. Trương Hựu Hiệp, sĩ quan tại ngũ cấp cao nhất (ảnh dưới), không chỉ là bạn thân của nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình. Ông còn là một trong số ít chỉ huy quân sự dày dạn kinh nghiệm thực chiến, từng tham gia chiến đấu trong chiến tranh biên giới với Việt Nam năm 1979. Điều đó đã củng cố uy quyền của ông với tư cách là Phó Chủ tịch thứ nhất của Quân ủy Trung ương, cơ quan chỉ huy các lực lượng vũ trang (do Tập đứng đầu). Một số nhà phân tích từng cho rằng Trương là người đứng sau một số vụ thanh trừng gần đây. Giờ đây, ngay cả ông cũng đã bị lật đổ trong một đòn giáng vô cùng kịch tính.

 

Vào ngày 24/01 vừa qua, Bộ Quốc phòng Trung Quốc thông báo rằng Tướng Trương, 75 tuổi, và một thành viên khác của Quân ủy Trung ương, Tướng Lưu Chấn Lập, đã bị điều tra vì “nghi ngờ vi phạm kỷ luật và pháp luật nghiêm trọng.” Thông báo không đưa ra thêm chi tiết nào. Tướng Lưu, 61 tuổi, là người đứng đầu Bộ Tham mưu Liên hợp, cơ quan giám sát các hoạt động tác chiến, tình báo, và huấn luyện. Có lẽ đáng chú ý hơn cả là việc ông được cho là có quan hệ cá nhân mật thiết với Tướng Trương, khi cũng là một cựu binh trong chiến tranh biên giới với Việt Nam.

 

Các cuộc điều tra này đồng nghĩa là Tập, trên thực tế, đã loại bỏ toàn bộ ban lãnh đạo quân đội trong một cuộc thanh trừng chưa từng có kể từ khi Mao Trạch Đông qua đời năm 1976. Dù Trương Hựu Hiệp và Lưu Chấn Lập vẫn chưa chính thức bị loại khỏi Quân ủy Trung ương, nhưng những cuộc điều tra như thế này thường đi kèm với việc bị giam giữ và theo sau là quyết định cách chức chính thức. Bốn sĩ quan cấp cao khác của Quân ủy Trung ương cũng đã bị bãi nhiệm khỏi các chức vụ trong đảng và quân đội. Kết quả là, cơ quan giám sát lực lượng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc hùng hậu với khoảng 2 triệu quân hiện chỉ còn đúng hai thành viên còn hoạt động – Tập Cận Bình, với tư cách là Chủ tịch và người đứng đầu ủy ban kiểm tra kỷ luật của Quân Giải phóng Nhân dân, và Tướng Trương Thăng Dân, người vừa được thăng chức thành Phó Chủ tịch vào tháng 10.

 

Các cuộc điều tra mới nhất này là bằng chứng rõ ràng nhất về quy mô của những vấn đề mà Tập đang phải đối mặt trong nỗ lực biến Quân Giải phóng Nhân dân thành một lực lượng chiến đấu hiện đại toàn diện. Không lâu sau khi lên nắm quyền, ông đã bắt đầu giải quyết nạn tham nhũng tràn lan và tình trạng lơ là nhiệm vụ thực chiến bằng cách sa thải hàng chục tướng lĩnh, đồng thời tiến hành một cuộc cải tổ lớn đối với cơ cấu của Quân Giải phóng Nhân dân. Một làn sóng thanh trừng mới bắt đầu vào khoảng năm 2023 với Quân chủng Tên lửa, đơn vị quản lý kho vũ khí hạt nhân của Trung Quốc, và sau đó lan sang các quân chủng khác cũng như các bộ phận phát triển trang bị và chính trị của Quân Giải phóng Nhân dân. Tuy nhiên, tham nhũng vẫn tồn tại và các cải cách cơ cấu của Tập vẫn chưa hoàn tất. Giờ đây ông có lẽ đang thể hiện sự thất vọng trước việc Tướng Trương không đạt được kết quả tốt hơn trước thời hạn năm 2027 – do Tập đặt ra – để Quân Giải phóng Nhân dân có đủ khả năng thu hồi Đài Loan.

 

Một khả năng khác là Trương hoặc người thân trong gia đình ông đã dính líu đến tham nhũng trong quá khứ, có lẽ là trong giai đoạn 2012-2017, khi ông đứng đầu bộ phận chịu trách nhiệm phát triển và mua sắm vũ khí vốn dễ nảy sinh tham nhũng. Những cáo buộc cũ có thể đã bị khơi lại hoặc những cáo buộc mới xuất hiện khi các điều tra viên của Tập mở rộng phạm vi hoạt động hoặc được cung cấp thông tin bởi các đối thủ của Trương. Một số sĩ quan bị nhắm đến trước đó được cho là những người được ông bảo trợ.

 

https://www.economist.com/cdn-cgi/image/width=1096,quality=80,format=auto/content-assets/images/20260124_DOP902.jpg

Tướng Trương Hựu Hiệp

 

Nhưng làn sóng thanh trừng mới nhất này cũng có thể bắt nguồn một phần từ sự lo ngại của Tập về quyền lực ngày càng mở rộng của Trương. “Đây là diễn biến gây chấn động nhất trên chính trường Trung Quốc kể từ những ngày đầu Tập lên nắm quyền,” Dennis Wilder thuộc Đại học Georgetown ở Washington, cựu chuyên gia phân tích về Trung Quốc tại CIA, nhận định. Ông tin rằng nhiều vụ thanh trừng gần đây là do sự kình địch giữa một phe do Tướng Trương dẫn đầu và một nhóm khác chủ yếu gây dựng sự nghiệp ở miền đông Trung Quốc, những người đã làm việc khi Tập còn là quan chức tại khu vực này. Phe của Trương, bao gồm một số con trai của các nhà cách mạng nổi tiếng, đã chiếm ưu thế, theo đó mang lại cho ông quyền lực chưa từng có tiền lệ. Nhưng nó cũng biến ông thành một mối đe dọa tiềm tàng đối với Tập. Wilder nhận xét về Tướng Trương rằng: “Ông ấy là một lão tướng cứng rắn, ngang tàng, và dù là đồng minh của Tập, nhưng ông ấy chưa bao giờ thực sự là cấp dưới của Tập.”

 

Quan hệ giữa Trương và Tập bắt nguồn từ thời cha của họ cùng chiến đấu trong cuộc nội chiến. Cha của Trương sau này trở thành thượng tướng, còn cha của Tập trở thành lãnh đạo dân sự. Tập đã thể hiện sự tin tưởng đối với Trương vào năm 2017 khi bổ nhiệm ông vào Bộ Chính trị, cơ quan gồm khoảng 20 nhà lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng sản, và trao cho ông chức Phó Chủ tịch thứ hai của Quân ủy Trung ương, đưa ông trở thành vị tướng quyền lực thứ hai Trung Quốc. Sau đó, vào năm 2022, khi Tập giành được nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là người đứng đầu đảng, Trương cũng trở thành Phó Chủ tịch cấp cao nhất của Quân ủy Trung ương dù đã 72 tuổi, độ tuổi lẽ ra phải nghỉ hưu theo các quy định trước đó.

 

Nếu Tướng Trương chính thức bị cách chức, ông sẽ là sĩ quan quân đội tại ngũ cấp cao nhất bị Tập loại bỏ. Và nếu ông cũng mất ghế trong Bộ Chính trị, đây sẽ là lần đầu tiên hai thành viên của cơ quan này bị thanh trừng trong cùng một nhiệm kỳ 5 năm kể từ khi Quân Giải phóng Nhân dân trấn áp các cuộc biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn năm 1989. Điều đó sẽ gửi đi một thông điệp mạnh mẽ đến các thành viên khác trong lực lượng vũ trang và giới tinh hoa dân sự, đặc biệt là những người xuất thân từ các gia đình cách mạng danh giá: quan hệ với Tập không phải là tấm kim bài miễn tử. Nhưng điều này cũng đặt ra cho Tập một bài toán khó: ông nên chọn ai để thay thế tất cả những vị tướng mà ông đã thanh trừng?

 

Kể từ khi lên nắm quyền vào năm 2012, Tập đã cố gắng thăng chức cho những vị tướng vừa trung thành về mặt chính trị vừa đủ năng lực để lãnh đạo quá trình chuyển đổi Quân Giải phóng Nhân dân thành một lực lượng tinh nhuệ hơn, có khả năng kết hợp các hoạt động trên không, trên bộ, trên biển, không gian mạng, và vũ trụ. Ông bắt đầu bằng việc thay thế các tướng lĩnh do những người tiền nhiệm bổ nhiệm, nhưng gần đây đã chuyển sang nhắm vào chính những người do mình bổ nhiệm. Trong số các vị tướng còn lại, phần lớn hoặc là quá thiếu kinh nghiệm hoặc đã bị “vấy bẩn” do có liên hệ với một hoặc nhiều chỉ huy quân sự bị thất sủng. Theo một số đánh giá của phương Tây, cuộc biến động này cũng đang bắt đầu ảnh hưởng đến khả năng chiến đấu của Quân Giải phóng Nhân dân.

 

Báo cáo thường niên gần đây nhất của Lầu Năm Góc về các lực lượng vũ trang Trung Quốc, công bố vào tháng 12 vừa qua, ghi nhận rằng việc loại bỏ các sĩ quan cấp cao của Quân Giải phóng Nhân dân đã “gây ra sự bất ổn về các ưu tiên tổ chức” và “gây chấn động trong toàn quân Quân Giải phóng Nhân dân.” Báo cáo cho biết tham nhũng trong mua sắm quốc phòng đã dẫn đến những thiếu hụt năng lực có thể “quan sát được,” chẳng hạn như các nắp hầm chứa tên lửa bị trục trặc. “Những cuộc điều tra này rất có thể gây ra rủi ro gián đoạn ngắn hạn trong hiệu quả tác chiến của Quân Giải phóng Nhân dân,” báo cáo nhận định. “Mặt khác, Quân Giải phóng Nhân dân có thể trỗi dậy như một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ hơn trong tương lai nếu họ tận dụng chiến dịch hiện tại để loại bỏ các vấn đề mang tính hệ thống đang dung túng cho tham nhũng.” Chí ít thì ở điểm này, Tập hẳn sẽ hy vọng rằng Lầu Năm Góc nói đúng.

 

-----------------------

Nguồn: “What Xi Jinping’s purge of China’s most senior general reveals,” The Economist, 24/01/2026

 




CHIẾN DỊCH CHỐNG THAM NHŨNG CỦA TẬP CẬN BÌNH ĐANG PHẢN TÁC DỤNG? (Đặng Duật Văn / Deng Yuwen – Foreign Policy)

 



Chiến dịch chống tham nhũng của Tập Cận Bình đang phản tác dụng?

Đặng Duật Văn (Deng Yuwen)  -  Foreign Policy

Viên Đăng Huy, biên dịch   -   Nghiên Cứu Quốc Tế    

30/01/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/01/30/chien-dich-chong-tham-nhung-cua-tap-can-binh-dang-phan-tac-dung/

 

Trương Hựu Hiệp và Lưu Chấn Lập, hai trong số những lãnh đạo quân sự quyền lực nhất Trung Quốc, hiện đã chính thức bị bắt giam. Những lời đồn đoán đã râm ran trong cộng đồng người Hoa hải ngoại suốt nhiều ngày qua, nhưng tốc độ xử lý vụ việc vẫn gây ra một cú sốc lớn; bởi lẽ thông thường, luôn có một khoảng lặng rất dài kể từ khi các lãnh đạo bị giam giữ cho đến lúc số phận của họ được công bố chính thức.

 

Điểm mấu chốt trong ngôn ngữ chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc không nằm ở nội dung phát ngôn, mà ở thời điểm phát ngôn và đối tượng được nhắm tới. Các cơ quan ngôn luận của Quân đội Trung Quốc (PLA) đã cáo buộc Trương và Lưu “chà đạp nghiêm trọng và hủy hoại cơ chế trách nhiệm tối cao của Chủ tịch Quân ủy Trung ương”, đồng thời đe dọa đến “sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội”. Những cáo buộc này thực chất ít liên quan trực tiếp đến tham nhũng theo nghĩa thông thường, và cũng không chỉ đơn thuần là chuyện nội bộ binh nghiệp. Đây là những tội danh mang tính chính trị thuần túy, gần giống với những lời kết tội nhắm vào cựu Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Hà Vệ Đông, người đã bị thanh trừng vào năm ngoái.

 

Những vụ bắt giữ này, trước hết và trên hết, mang tính chất chính trị; chống tham nhũng chỉ là chiếc áo khoác dùng để che đậy các toan tính quyền lực bên trong. Trong chính trường Trung Quốc, chống tham nhũng đã trở thành một cái cớ quá đỗi thuận tiện, nhưng một khi mọi cáo buộc nhắm vào quan chức đều bị ép vào cái khung này, nó sẽ tất yếu va chạm với chính cộng đồng quyền lực nơi tham nhũng đã ăn sâu. Điều này không nhằm phủ nhận việc những người bị điều tra thường thực sự có hành vi tham ô; mà là để chỉ ra rằng, một khi chống tham nhũng biến thành công cụ để củng cố tính chính danh chính trị, nó mang một định mệnh tất yếu về mặt logic là sẽ xé toạc chính khối liên minh quyền lực đó. Tham nhũng trong hệ thống Đảng – Nhà nước của Trung Quốc là một tác dụng phụ từ cách thức triển khai quyền lực: giấy phép, phê duyệt, đất đai, tài chính, dự án, quy định — gần như mọi thứ đều có thể quy đổi thành tiền. Khi quyền lực tập trung cực độ, nằm ngoài sự giám sát độc lập, và tài nguyên phần lớn được phân phối bởi bộ máy hành chính, thì quyền lực sẽ bị thúc đẩy để chuyển hóa thành tiền.

 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tin rằng nếu ông tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng một cách không khoan nhượng, ông có thể biến một bộ máy quan liêu và quân đội bị vấy bẩn bởi tham nhũng thành một đội ngũ gương mẫu về đạo đức, với mọi quan chức thực thi quyền lực đúng đắn và làm việc theo quy tắc.

 

Những đòi hỏi về việc mọi quan chức phải sạch không tì vết này có thể là một lập trường chính trị không thể bàn cãi, nhưng trên thực tế, chúng gần như không tưởng. Và bởi vì những mục tiêu đó không thể đạt được, hệ quả là người ta buộc phải liên tục thực hiện các vụ bắt bớ. Khi đó, chống tham nhũng trở thành một quá trình tái cấu trúc liên tục ngay trong lòng khối liên minh cầm quyền, mà theo thời gian điều này chắc chắn sẽ làm suy yếu — và cuối cùng là xé toạc — nền móng cấu trúc trong chế độ cai trị của Tập.

 

Tôi từng đưa ra ba giả định cốt yếu về các cuộc thanh trừng của Tập: Các ủy viên Bộ Chính trị thường sẽ không bị động đến; các “thái tử đảng” — con cái của các nhà lãnh đạo tiền bối, giống như chính Tập — đang giữ chức vụ cao thường được an toàn; và các cựu ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị cũng thường được miễn trừ. Những giả định ngầm này, trên thực tế, đóng vai trò như một hàng rào giữ cho hệ thống ổn định. Nhưng giờ đây, những quy tắc này đang sụp đổ. Điều đó chẳng khác nào gửi đi một thông điệp tới toàn bộ bộ máy rằng những luật bất thành văn cũ — như “chức càng cao càng an toàn” hay “quan hệ càng thân thiết càng được bảo vệ” — đã không còn giá trị. Điều này khiến các quan chức rơi vào cảnh không còn cách nào để tự trấn an bản thân rằng  dù người khác có ngã ngựa, mình vẫn sẽ an toàn.

 

Đối với Tập, việc ra tay với những nhân vật cốt cán nhất trong quân đội — đặc biệt khi Trương cũng là con trai của một trong những khai quốc công thần của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, lại còn là bạn nối khố từ thuở thiếu thời và gia đình hai bên có mối thâm tình kéo dài hàng thập kỷ — trông rất giống một màn phô trương quyền lực. Hành động này phủ nhận sự tồn tại của bất kỳ “ngoại lệ” nào trong công cuộc chống tham nhũng, đồng thời là lời tuyên cáo đanh thép gửi tới Đảng và PLA: Nếu ngay cả những người thân cận nhất với tôi cũng có thể xử lý, thì còn ai dám thách thức tôi?

 

Nhưng sức mạnh của Tập cũng chính là điểm yếu chí mạng có thể dẫn đến sự sụp đổ của ông. Sau ngần ấy năm ròng rã thực hiện các cuộc thanh trừng chống tham nhũng, những lãnh đạo cấp cao nhất vẫn cứ ngã ngựa hàng loạt. Điều này không hề khiến chiến dịch trông có vẻ thành công; trái lại, nó làm cho sự tham nhũng thâm căn cố đế trông như một phần không thể tách rời của hệ thống, và cho thấy Tập đang bất lực trong việc loại bỏ một loại độc tố đã ngấm tận xương tủy.

 

Sau hơn 12 năm nắm quyền, những mục tiêu của chiến dịch chống tham nhũng giờ đây lại chính là những người do đích thân Tập chọn lựa. Họ từng là những người được ông tin tưởng suốt nhiều năm và được cất nhắc vào những vị trí trọng yếu nhất. Nếu Tập thực sự tận tâm với công cuộc chống tham nhũng đến thế, tại sao ông lại liên tục giao phó những trọng trách sống còn cho các quan chức tham nhũng? Điều này đã hủy hoại hình ảnh một nhà lãnh đạo sáng suốt mà Tập bấy lâu nay dày công xây dựng. Các quan chức không còn tin rằng lòng trung thành đồng nghĩa với sự an toàn nữa. Thay vào đó, họ bắt đầu run rẩy lo sợ về nhát dao tiếp theo; và chất keo gắn kết nội bộ Đảng cũng chuyển dần từ sự tin tưởng sang nỗi sợ hãi, từ sự hợp tác sang sự nghi kỵ lẫn nhau.

 

Một khi nỗi sợ hãi trở thành bầu không khí tâm lý chung, cấu trúc quyền lực sẽ thay đổi theo những cách tinh vi nhưng sâu sắc, dẫn đến sự rạn nứt và chia cắt rời rạc. Nguyên tắc chưa bao giờ là thứ gắn kết hệ thống này; chất keo cơ bản vốn là sự trao đổi lợi ích, nguồn lực và một sự thấu hiểu chung về việc đâu là những “lằn ranh đỏ”. Yếu tố thứ nhất tạo ra sự gắn kết cho hệ thống; yếu tố thứ hai mang lại tính dự báo. Khi công cuộc chống tham nhũng chạm đến cấp độ Ủy viên Bộ Chính trị, các “thái tử đảng” và cả những người bạn nối khố của Tập, những quy tắc đó đang dần sụp đổ. Khi các ranh giới không còn nữa, các quan chức sẽ chuyển sang cơ chế tự vệ theo bản năng: Không ký duyệt bất cứ thứ gì nếu không bắt buộc, không nhận trách nhiệm nếu có thể né tránh, và tuyệt đối không xung phong trừ khi không còn lựa chọn nào khác.

 

Những gì Tập có thể nhìn thấy là những tràng pháo tay giòn giã hơn, những thông điệp nhất quán hơn và những lời thề thốt trung thành vang dội hơn. Nhưng những gì ông không thể nhìn thấy chính là sự do dự trong suốt chuỗi mắt xích ra quyết định, sự trì trệ trong khâu thực thi, sự biến mất của những thông tin trung thực, và một bộ máy quan liêu đang cùng nhau “giả chết”. Các quan chức thừa hiểu một logic lạnh lùng rằng: Vấn đề giờ đây không còn là việc liệu bạn có làm điều gì sai trái hay không, mà là liệu vào một thời điểm nào đó, người ta có cần bạn trở thành “vật tế thần” đúng lúc, đúng chỗ hay không. Những kẻ sống sót cuối cùng sẽ không phải là những người trong sạch nhất, mà là những kẻ giỏi ẩn mình nhất.

 

Năng lực quản trị quốc gia đang bị rỗng hóa dần bởi chính sự né tránh rủi ro tập thể này: Khi kinh tế tăng trưởng chậm lại, không ai dám tiến hành cải cách; khi các vấn đề xã hội bùng phát, không ai dám đứng ra chịu trách nhiệm; dưới áp lực từ bên ngoài, không ai dám đưa ra quyết sách; và trong quá trình hiện đại hóa quân đội, không ai dám đổi mới sáng tạo. Bộ máy nhìn bên ngoài có vẻ ổn định, nhưng thực chất nó đang trở nên chậm chạp và giòn yếu hơn bao giờ hết. Đây chính là kết cục hoàn toàn trái ngược với những gì Tập mong đợi khi bắt đầu chiến dịch bài trừ tham nhũng sâu rộng của mình.

 

Hệ quả từ quyết định của Tập đối với Trương và Lưu có lẽ sẽ lộ diện rõ nét nhất trong công tác nhân sự tại Đại hội Đảng lần thứ 21, dự kiến diễn ra vào cuối năm sau. Đây sẽ không đơn thuần là một cuộc chuyển giao quyền lực thông thường, mà là một cuộc tái thiết toàn bộ “bản đồ chịu lực” của cấu trúc quyền lực này.

 

Sự “an toàn” sẽ trở thành nguyên tắc cốt lõi trong việc lựa chọn quan chức, bao gồm cả các lãnh đạo quân sự. Điều đó đồng nghĩa với việc xem xét liệu lý lịch của một quan chức có phức tạp hay không, các mối quan hệ của họ có quá độc lập không, nguồn lực của họ có quá vững chãi không, gia đình họ có dễ kiểm soát không, và liệu họ có khả năng hình thành một vây cánh riêng hay không. Chính điều này khiến những quan chức năng nổ nhất lại trở thành những kẻ rủi ro nhất; ngược lại, những kẻ kém cỏi, dễ thay thế và thiếu sức hút lại trở nên an toàn hơn. Khi đó, chính sách sẽ ngày càng trở nên bảo thủ, khâu thực thi thì máy móc, trong khi giới lãnh đạo ngày càng bị cô lập và khả năng nắm bắt thực tế cũng dần suy giảm.

 

Một lằn ranh cuối cùng vẫn chưa bị bước qua, và tôi thiên về khả năng nó sẽ vẫn được giữ vững. Các cựu ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị thường sẽ không bị động đến (trừ những sự cố bí ẩn), và đây chính là lằn ranh biểu tượng cuối cùng cho sự ổn định. Tuy nhiên, việc quy tắc này còn tồn tại lại càng làm nổi bật sự sụp đổ của những quy tắc khác: Ranh giới thực sự của sự an toàn hiện đã được phân định lại dựa trên việc liệu một người có gây ảnh hưởng đến cấu trúc quyền lực đương thời hay không.

 

Sự thận trọng đã trở thành một chuẩn mực. Thế nhưng, trong bối cảnh chịu áp lực chính trị cực độ, người ta thậm chí không thể loại trừ những lựa chọn sinh tồn quyết liệt hơn — chẳng hạn như một quan chức cấp cao, khi dự cảm được mình sắp bị bắt, sẽ chọn cách xin tị nạn ở nước ngoài trong một chuyến công du thay vì trở về nước. Việc điều này có xảy ra hay không còn phụ thuộc vào nhiều rào cản kỹ thuật. Tuy nhiên, một khi khả năng này lọt vào suy tính của tầng lớp tinh hoa, nó đã đủ để làm gia tăng sự nghi kỵ lẫn nhau và khiến các biện pháp kiểm soát bị siết chặt hơn nữa. Nếu viễn cảnh đó thực sự xảy ra, cú sốc này sẽ châm ngòi cho một cuộc truy quét vật tế thần dọc theo hệ thống an ninh và tạo ra một chuỗi dư chấn liên hoàn — một cơn địa chấn chính trị thực thụ.

 

Công cuộc chống tham nhũng hiện đã chạm đến ngưỡng mà câu hỏi thực sự không còn là “Ai sẽ là kẻ tiếp theo bị hạ bệ?”, mà là “Sau khi đã thanh trừng đến mức độ này, hệ thống sẽ còn vận hành bằng cách nào?”. Nếu câu trả lời duy nhất chỉ là siết chặt kiểm soát hơn nữa, thêm những đợt trảm quan chức thường xuyên hơn, và kéo dài mãi cái bầu không khí bất an bao trùm lên tất cả, thì Đại hội 21 sắp tới sẽ không chỉ quyết định sự sắp xếp nhân sự tiếp theo của Tập; nó sẽ quyết định xem khối quyền lực đang bị căng nén cực độ này còn sót lại bao nhiêu khả năng chống chịu.

 

Việc tìm kiếm những người vừa đảm bảo an toàn, vừa có năng lực, lại vẫn sẵn lòng gánh vác trách nhiệm đang trở nên ngày một khó khăn đối với Tập. Và như thế, thách thức mà ông phải đối mặt có lẽ không còn là việc ai sẽ dám đứng lên phản kháng mình, mà là một điều gì đó còn nan giải hơn nhiều: Cỗ máy vẫn còn đó — nhưng liệu ai sẽ là người dám giữ cho nó tiếp tục tiến về phía trước?

 

----------------------

Đặng Duật Văn là một nhà văn và học giả người Trung Quốc.

 

Nguồn: Đặng Duật Văn (Deng Yuwen), “As Generals Fall, Xi Jinping’s Anti-Corruption Campaign Is Eating Itself”, Foreign Policy, 26/01/2026