5.000 giáo dân Công Giáo Sài Gòn cầu nguyện cho 8 giáo dân ra tòa
Sunday, November 30, 2008
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=87484&z=1
SÀI GÒN 30-11 (TH).- Hơn 5,000 giáo dân Công giáo ở Sài Gòn đã tham dự cuộc cầu nguyện hiệp thông tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn chiều tối ngày Chủ Nhật 30/11/2008 để phản đối phiên tòa vào ngày 8/12/2008 tới đây mà nhà cầm quyền CSVN sẽ xử 8 giáo dân tham gia tích cực vào cuộc vận động đòi chế độ Hà Nội trả lại tài sản cho nhà dòng đã bị họ cướp đoạt suốt nhiều chục năm qua.
5,000 giáo dân Công giáo ở Sài Gòn đã tập hợp về nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế hôm Chủ Nhật 30/11/2008 dự thánh lễ và cầu nguyện hiệp thông với giáo xứ Thái Hà.
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/articlefiles/87484-big_VN_SG_CandleVigil_113008.JPG
Phiên tòa trước đây dự trù ngày mùng 5 rồi dời lại ba ngày sau với cáo buộc “hủy hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng”.
Các giáo dân bị bắt từ hồi Tháng Tám vừa qua sau khi giáo dân phá kẽm gai và tường rào vào trong khu đất của Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà mà chế độ Hà Nội cưỡng đoạt suốt nhiều chục năm qua. Diện tích chung của cả khu hơn 6ha đã bị nhà cầm quyền cưa làm nhiều miếng, sử dụng làm cơ quan hành chính công quyền, bệnh viện và cả khai thác thương mại. Một phần của tài sản này được giao cho “công ty may Chiến Thắng” sử dụng nhưng họ làm ăn thua lỗ, bỏ hoang. Khi hay tin khu đất và phần tài sản này đang được bán sang tay để cưa nhỏ và phân lô xây nhà bán cho cán bộ, giáo xứ và nhà dòng Thái Hà đã phản đối kịch liệt bằng các cuộc cầu nguyện cùng với văn thư đòi trả lại tài sản mà nhà dòng từng đòi nhiều năm qua. Giáo xứ và Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà đã trưng dẫn các tài liệu địa chính và văn bản pháp lý để yêu cầu nhà nước trả lại phần đất đang bỏ hoang.
Mất kiên nhẫn trước thái độ ngang ngạnh của nhà cầm quyền, một số giáo dân, vào giữa tháng 8/2008 đã cắt kẽm gai, phá tường rào để vào bên trong khu đất, rước tượng Ðức Mẹ, Thánh Giá đến để cầu nguyện hàng ngày.
Phản ứng lại, sau khi đã bắt giữ một số giáo dân, nhà cầm quyền CSVN đã vội vã biến khu đất thành “công viên”, một cách xác định cướp được thì cướp luôn chứ không trả lại.
Dù khu đất đã được biến thành công viên, mọi dấu vết cũ đều đã bị phá bỏ và san ủi không còn gì, 8 giáo dân Công giáo vẫn bị lôi ra tòa với cáo buộc “hủy hoại tài sản và gây rối trật tự công cộng”.
“Hơn ai hết, chúng ta biết những anh chị em này vô tội, vô tội theo lương tâm của mỗi người và vô tội kể cả về mặt pháp lý, nhưng vẫn bị truy tố và xét xử.
Cách đây hơn hai ngàn năm, cũng có một “tội nhân” bị xét xử trong tình trạng vô tội, nhưng đã bị kết án và bị giết đi chỉ vì “tội nhân” đó cương quyết bảo vệ sự thật.” Linh mục Phạm Trung Thành, giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, viết trong bức thư gửi anh em Dòng Chúa Cứu Thế hôm Thứ Bảy 29/11/2008. “Trong thời điểm này, chúng ta cùng hiệp thông và cầu nguyện cho những anh chị em phải chịu oan sai. Tám Mối Phúc là lời mời gọi chúng ta cùng với các anh chị em đó chấp nhận mọi nghịch cảnh và phó thác cho Thiên Chúa để Người làm cho mọi sự nên ích lợi cho những ai yêu mến Người.”
LM Thành kêu gọi “Mỗi cộng đoàn anh em hãy thiết tha cầu nguyện cho các anh chị em này, cầu nguyện cho các nhà cầm quyền đất nước, cầu nguyện cho Giáo Hội Việt Nam thân yêu của chúng ta.”
Hôm Thứ Bảy 29/11/2008, hàng ngàn sinh viên đại học ở Hà Nội cũng đã tham dự một buổi thắp nến cầu nguyện hiệp thông dưới sự giám sát chặt chẽ của hệ thống công an CSVN. Theo bản tin trên VietCatholic News, trong buổi thắp nến, sinh viên đã trình diễn một vở kịch diễn tả lại những khổ nạn mà các thánh tử đạo tại Việt Nam đã phải chịu đựng trong cuộc cấm đạo hồi các thế kỷ trước.
Tuy chỉ là những vi phạm có tính cách hành chính và rất nhỏ nhưng đã bị chế độ Hà Nội làm lớn chuyện cho thấy CSVN đi từ hình sự hóa đến chính trị hóa vụ việc không ngoài mục đích khủng bố tinh thần giáo dân Công giáo Việt Nam.
“Tất cả các tòa án của Việt Nam đều do Ðảng nắm gọn trong tay và chi phối hoàn toàn. Vì thế, cho dù luật sư có giỏi đến đâu cũng không thể vượt qua được quyền lực mafia này để bảo vệ cho công lý và sự thật”. Một lời bình luận trên VietCatholic News ngày 27/10/2008 viết. “Có thể nói phiên tòa xử các giáo dân Thái Hà sắp tới sẽ không có công lý, không có sự thật. Chắc chắn sẽ có nhiều trò cười ra nước mắt của hệ thống tòa án CSVN khi xử vụ án này.”
Ngày 28/11/2008 vừa qua, 13 linh mục và tu sĩ ở Hà Nội đã gửi “đơn đề nghị” tới “tòa án nhân dân” quận Ðống Ða cho hay họ muốn được tham dự phiên tòa xét xử 8 giáo dân, căn cứ trên điều 18 của Bộ luật Hình Sự Tố Tụng CSVN về “nguyên tắc xét xử công khai”.
Monday, December 1, 2008
TÔI ĐI LƯỢM LÁ BỒ ĐỀ
Tôi đi lượm lá bồ đề
Dr. Nguyễn Văn Trần
28.11.2008
http://www.phusa.info/
Sau khi khối cộng sản sụp đổ, mọi người nghĩ rằng nhân loại từ đây sẽ được sống an lạc thái bình. Không ngờ sau đó chẳng bao lâu, bạo loạn do tranh giành quyền lợi ở các nơi nổi lên làm cho đời sống của nhiều dân tộc bị mất tự do. Mà tự do là cốt lõi của sự sống.
Tất cả các vấn đề của quốc gia hay của thế giới đều qui về sự sống. Như vậy mới biết có điều hòa được sự sống, có giải quyết được vấn đề sống cho con người của mỗi quốc gia thì thế giới mới có hòa bình.
Mà sống là sống bằng thể xác, bằng tình cảm, bằng tinh thần, tức bằng tâm linh. Thiếu vắng một yếu tố thì chưa có thể nói đó là sự sống của con người.
Sự thiếu vắng ấy do mất tự do bởi tự do là yếu tố giúp con người nảy nở hài hòa, toàn diện, không ngừng.
Hiện nay, nhân dân Việt Nam tranh thủ tự do, tức tranh đấu phục hồi đời sống đúng với nhân phẩm con người. Nhân dân mất tự do là mất đi chủ quyền quốc gia. Đó là mối hiểm họa dẫn đến mất nước. Mà mất nước vì lệ thuộc phe xã hội chủ nghĩa như tình trạng của Việt Nam ngày nay thì không có nghĩa chỉ là mất chủ quyền, mất lãnh thổ, mà là một cách mất nước triệt để, trọn vẹn. Một trạng thái nô lệ mới, ở đây là nô lệ cho Tàu.
Nhưng có người nói trên đời này làm gì có tự do. Ngay cả nhiều quốc gia dân chủ trên thế giới cũng không hẳn có tự do. Phải chăng vì trong thực tế, nhiều người hô hào tự do lại đem quân đội, dùng bạo lực xâm lăng nước láng giềng. Như Trung quốc thôn tính Tây Tạng, chiếm các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Nga kéo xe tăng qua can thiệp chủ quyền của Géorgie.
Ở Việt Nam, Hồ chí Minh nêu khẩu hiệu “Không gì quí hơn Độc lập, Tự do” gây cuộc nội chiến tương tàn, thiết lập chế độ cộng sản toàn trị, chà đạp tự do của nhân dân trên cả nước.
Như vậy ta có thể cho rằng người hoài nghi trên đời này không có tự do là có lý.
Nhưng có nói đến tự do thì tự do ắt phải có. Nếu không có ngoài đời thì chúng ta thử tìm tự do trong tôn giáo, vì tôn giáo từ ngàn xưa vẫn là yếu tố thiết yếu của đời sống con người. Đối với Việt Nam, tôn giáo là hơi thở của văn hóa dân tộc.
Khi nói đến tìm tự do trong tôn giáo, tôi vội nghĩ ngay đến Phật giáo. Bởi tôi vẫn cho rằng mình hiểu biết chút ít Phật giáo, tuy hiểu biết tắc, tức hiểu biết ngang hông vì không từng bước, bước vào kinh điển hay qua những khóa tu học. Vốn hiểu biết Phật giáo của tôi thu thập lõm bõm qua những lần chuyện trò với hai vị tu sĩ tại một ngôi chùa lá nghèo nàn ở Phú Định, một cái thôn nhỏ ngoại ô Sài Gòn qua khỏi Phú Lâm một chút. Hai vị tu sĩ này là Phật tử xuất gia, qui y ở Chùa Vạn Đức, Gò Dưa Thủ Đức, tu hành độc lập, không theo Giáo hội Ấn Quang, cũng không theo Việt Nam Quốc tự trước năm 1975. Tôi thưa chuyện với hai ông bằng Anh Hai, người lớn tuổi hơn, và Anh Năm có Pháp danh là Minh Thiền.
Anh Hai mất trước 1975 tại Tổ đình Vạn Đức do bệnh tật. Anh Năm mất năm 1990 cũng do bệnh tật, tuy ông còn là một Đông y sĩ có tài, hậu quả sau thời gian dài bị cộng sản cải tạo tập trung.
Trở lại với người tìm hiểu đạo Phật. Khi đọc về cuộc đời tu tập của Đức Thích Ca, ít có ai không dừng lại để suy gẫm về mấy sự việc sau đây:
- Đức Thích Ca khi chọn ngồi dưới gốc Bồ đề để suy tư về cuộc đời, Ngài tự nhủ chỉ đứng dậy, rời khỏi chỗ này khi nào tìm được chơn lý. Như vậy, nếu Ngài không tìm được chơn lý thì Ngài ngồi luôn ở đó cho đến chết?
Đức Thích Ca làm việc ấy không vì bị một áp lực nào mà phải làm. Hoàn toàn do ý chí của Ngài phát nguyện. Một thứ tự do ý chí, tự do chọn lựa. Nói theo ngôn ngữ nhân quyền ngày nay, đó là tự do tinh thần.
- Khi Đức Thích Ca tìm được chân lý, tức Ngài giác ngộ. Nói cách khác, chính Ngài là chân lý. Ngài tiếp tục ngồi lại ở đó sống với cái chân lý, hay để xác định với chính Ngài “chân lý với Ngài là một ”.
Nhờ tự do ý chí, Đức Thích Ca tìm được chân lý. Khi Ngài sống với chân lý cũng chính là sống với tự do.
Con người, sinh vật, trong vũ trụ, trong sự vận hành sinh tử đều chịu sự chi phối của một định luật. Nhà Phật gọi là nghiệp lực.
Thế mà đức Thích Ca, hoàng tử, một con người sinh học bình thường nhưng nhờ có tự do ý chí vĩ đại mà tự mình thoát khỏi sự chi phối của cái nghiệp lực kia.
Nghiệp lực là một sức mạnh xô đẩy chúng ta sống, hành động, suy nghĩ, ham muốn theo thói quen. Trong lúc đó, đừng quên chúng ta vẫn có một sức mạnh khác cùng ở trong ta, có thể thôi thúc ta từ khước để chọn lựa cho mình một nếp sinh hoạt khác hơn. Ý muốn nói chúng ta có tự do chọn lựa đi theo nghiệp ác hay nghiệp thiện và hậu quả là tất yếu của sự chọn lựa ấy.
Có thể hình dung nghiệp lực như một cổ xe tự động. Người lái chỉ có chọn cho mình lộ trình để cổ xe chạy trên con đường bằng phẳng, đầy bông hoa ngát hương thơm, đầy trăng thanh gió mát hay chạy trên con đường đầy chướng ngại và rơi xuống vực thẩm. Chỉ có điều là chúng ta không thể rời bỏ cổ xe vì không muốn đi nữa, mà phải ngồi trong cổ xe để xe chạy hoài hết kiếp này đến kiếp khác. Bởi vậy, sách vở nhà Phật dạy “Người thế gian sợ quả, Bồ-Tát sợ nhân”!
Với người Phật tử, tự do chưa phải là Niết-Bàn, mà chỉ mới là sự lựa chọn cho mình con đường dẫn đến Niết-Bàn. Với người tranh đấu dân chủ cho Việt Nam, nhứt là người việt hải ngoại, tự do là phải biết lựa chọn con đường dẫn đến Dân chủ đích thực. Và khi có Dân chủ đích thực, thì Dân chủ là sức mạnh bảo vệ và phát huy tự do.
Như vậy, tự do là một trạng thái tinh thần. Thể xác ta có thể bị khống chế, nhưng tinh thần ta vẫn có thể sống tự do. Khi nói về tự do, ta cần phải biết ta, tức ta phải biết “trở về với chính mình”.
Người học Phật đều biết rằng con người do những yếu tố gọi là ngũ uẩn hợp thành. Và con người khi sống thì có thân tâm sinh hoạt. Nhìn qua con người sẽ thấy tương quan giữa tự do với con người vô cùng mỏng manh. Cũng giống như thân phận của chính mình. Nếu không nắm lấy được tự do ý chí thì con người không tìm ra đâu là tự do cho mình. Bởi con người kết thành bằng những cái biến đổi không ngừng, không nhứt định, tức là vô thường. Khi con người dựa vào cái bản ngã vô thường mà hô hào đem tự do đến cho thiên hạ như “không có gì quí hơn độc lập tự do” thì Hồ Chí Minh đã sát hại hàng triệu sinh mạng đồng bào là điều hiển nhiên. Tai hại hơn nữa, Hồ Chí Minh đem thực hiện mơ ước không tưởng của một nhóm người lên toàn dân tộc mình, hậu quả đau thương còn di hại cho đến ngày nay, càng ngày càng thêm trầm trọng.
Khi con người không biết trở về với chính mình, không thấu hiểu cái bản ngã vô thường của mình thì cái tự do mà mình hô hào cho mình, cho người, không gì khác hơn là phóng ảnh của cái vô thường. Đó là mộng trong giấc mộng!
Trở về với chính mình để thấy con người sinh học không thể sống ngoài sự vận hành của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý. Ý nghĩa và sức mạnh của sự sống đã thôi thúc con người ta, từ qui mô cá nhân đến quốc gia và quốc tế, tranh thủ nhằm đạt được sự thỏa mãn các thứ đó. Trong sự tranh thủ sự sống ấy, tự do chọn lựa của người này không tránh khỏi đụng chạm đến tự do của người khác, của dân tộc khác.
Phải thấy Tây Tạng là trường hợp điển hình. Dân tộc Việt Nam là nạn nhân từ hơn nửa thế kỷ nay. Đó là tự do đàn áp tự do, tự do giết tự do.
Nhìn qua góc độ khác, người ta sẽ thấy con người bị áp lực của sáu thứ “tai, mắt, mũi,” khống chế, nên tự do ý chí mất đi.
Như vậy, phải chăng tự do vốn có ở mỗi con người? Nói theo ngôn ngữ nhân quyền, tự do là quyền bất khả nhượng của con người. Tức quyền tự nhiên. Nói rõ hơn, theo ông Fitche “Nhà nước không thể tước đoạt và không thể ban phát cho chúng ta những quyền, như tự do, vốn là sở hữu của chúng ta”.
(Considération sur la Révolutin française 1793, Paris). Và, cũng về vấn đề này, ông Jellnet viết “Nhà nước không tạo ra tự do. Nhà nước chỉ nhìn nhận nó và nhìn nhận bằng cách chính Nhà nước tự giới hạn mình”. (La Déclaration des Droits de l’Homme et du Citoyen, 1895, Paris). “Tôi không muốn xem con người như một sinh vật, mà phải xem đó là một “tâm linh”, ông Fitche viết tiếp.
Nói cách khác, nếu tự do tự nó có giá trị như luật pháp, thì nó hàm nghĩa rằng con người thật sự là một giá trị tâm linh.
Chúng ta thấy giá trị con người là siêu đẳng, nó vượt lên giá trị của Nhà nước, bởi con người sáng tạo ra Nhà nước để thực hiện chức năng quản trị xã hội, trong đó con người phải được sống xứng đáng đúng theo nhân vị của mình. Quan niệm về thuyết nhân bản vị này đã lưu hành ở Anh trong thế kỷ thứ XVII.
Vậy, giá trị con người không thể tách rời khỏi tự do mà có được. Thấy được tự do hay tìm được tự do thật sự, thứ tự do đúng mức, trọn vẹn, rốt ráo, không có cách gì khác hơn là định tâm theo phương pháp của nhà Phật. Định tâm có nghĩa là làm chủ chính mình để con người sinh học của mình trong thoáng đã không vụt chạy xa ngàn dặm mà cũng không nhảy múa lăng xăng. Theo tu sĩ Phật giáo Tây Tạng, ông Mathieu Ricard (nhà sinh học của Pháp, 62 tuổi, con trai của triết gia Jean-François Revel. Ông kể chuyện: nếu ông không sống hơn 30 năm trên Hi-Mã-Lạp sơn, thì ngày nay, ông đã là nhà nghiên cứu làm việc trong một phòng thí nghiệm của Huê kỳ; nếu ở Pháp, ông đã làm nghề thầy thuốc), thì định tâm có nghĩa là “vun trồng tinh thần”, giúp nhìn thấy sự vật một cách đúng, chính xác hơn, gần gũi với lòng vị tha, sự trìu mến,… những đức tánh mà chúng ta đều có nhưng ở dạng tìm ẩn. Nếu bất chợt chúng ta có biểu hiện thì cũng chỉ thoáng qua. Định tâm thật ra là sự buông thả trọn vẹn chính mình, một trạng thái tinh thần “trống không vĩ đại”. Định tâm là một hình thức sơ thiền của người tu Phật. Vả lại, người tu thiền không nhứt thiết là Phật tử, bởi thiền chỉ là một nếp sống trọn vẹn. Mọi người, không phân biệt tôn giáo, đều có thể thực hành và đều có lợi cho bản thân. Nếu là một người có tín ngưỡng, thì thiền sẽ giúp thăng hoa tín ngưỡng của mình. Nói rõ hơn, theo Phật giáo Tây Tạng, “tịnh tâm là cái đầu của thiền, buông xả là chân của thiền, tỉnh giác là thân của thiền ”.
Cách đây chừng mươi năm, ở Pháp, nếu có ai gợi lên vấn đề định tâm trong nhóm các nhà khoa học, thì sẽ bị mọi người chế diễu ngay. Nhưng ngày nay, môn học về thần kinh quan sát (neuroscience contemplative) đã làm thay đổi nếp suy nghĩ cố hữu của những người này. Nên hiểu định tâm trong tư thế ngồi ngay ngắn, mắt mở hí nhìn xuống đầu sóng mũi, không phải là ngủ gục, mà đó là sống mãnh liệt để cải thiện thân tâm của mình. Và ngày nay, ở Pháp, có tới 5 triệu người Pháp đến với đạo Phật. Họ, phần đông là những nghệ sĩ, trí thức, nhà khoa học, … vì họ thấy đạo Phật không xa với khoa học. Phật giáo không có vấn đề siêu hình. Phật là mọi người, còn là chúng sanh nữa. Nên người tu Phật không bị khuất phục dưới một thần linh nào hết cả. Hoàn toàn có tự do.
Nói qua chánh trị quốc gia. Khi một nước không biết chọn lựa xây dựng cho mình một nền chánh trị phù hợp với văn hóa dân tộc, với nguyện vọng của toàn dân, mà chạy theo một chủ thuyết đã chết trên quê hương của nó hoặc ngã theo ngoại bang phương Bắc như Việt Nam ngày nay để tồn tại, thì không thể nói đến tự do và độc lập.
Dĩ nhiên tự do và độc lập không có nghĩa là mình sống một mình, tự cô lập, muốn làm gì thì làm, mà sống chung trong cái định luật liên lập của thế giới toàn cầu ngày nay. Nhưng mỗi quốc gia phải là một đơn vị sống tự do và độc lập trong định luật liên lập vì biết tự do là biết chủ động trong sự vận hành chung của định luật ấy.
Hà nội ngày nay từ khước sự chọn lựa, mà chỉ biết theo phe xã hội chủ nghĩa để chết sống phải giữ chế độ xã hội chủ nghĩa tồn tại, thì đừng nghĩ đến tự do.
Trong nước, chánh quyền tập trung rình rập, đàn áp nhân dân, vì lúc nào cũng lo sợ bị nhân dân lật đổ. Nhân dân thường xuyên bị chánh quyền của mình đàn áp thì không có tự do. Nhà nước sợ nhân dân do mình cai trị thì cũng mất tự do.
Giáo lý Nhà Phật chỉ cho ta thấy con người sống không thể tách rời khỏi mắt, miệng, tai, mũi, … Những thứ này càng tinh vi, nhạy bén, thì con người càng thỏa mãn tận hưởng đời sống hơn. Nhưng đừng quên là sống cho ta mà đồng thời cũng sống cùng với mọi người. Nếu trong đời sống cá nhân phải có tự do thì cũng phải có tự do chung cho đời sống mọi người.
Tóm lại, ta có thể hiểu tự do là cái gì giúp vào sự nảy nở đời sống con người. Cái gì ép buộc, áp bức, trù dập sự nảy nở là phản tự do, tiêu diệt tự do. Tức muốn nói đó là thứ phản động hung hản hơn hết.
Người Mác-Lê cho rằng đời sống là sự tranh đấu giải quyết sự mâu thuẫn nên lấy mâu thuẫn làm định luật cho cuộc sống. Cách giải quyết mâu thuẫn theo người Mác-Lê đã sát hại cả trăm triệu sanh mạng con người trong vòng hơn nửa thế kỷ qua.
Nhưng định luật liên lập vận hành thì không có mâu thuẫn hủy diệt mà chỉ có bổ sung để nảy nở, thăng tiến hài hòa. Do đó mà con người được sống trong tự do.
Như trên đây, chúng ta thấy đối với người tu Phật, tự do chưa phải là Niết-Bàn, mới chỉ là con đường dẫn đến Niết-Bàn.
Nguyễn văn Trần
Dr. Nguyễn Văn Trần
28.11.2008
http://www.phusa.info/
Sau khi khối cộng sản sụp đổ, mọi người nghĩ rằng nhân loại từ đây sẽ được sống an lạc thái bình. Không ngờ sau đó chẳng bao lâu, bạo loạn do tranh giành quyền lợi ở các nơi nổi lên làm cho đời sống của nhiều dân tộc bị mất tự do. Mà tự do là cốt lõi của sự sống.
Tất cả các vấn đề của quốc gia hay của thế giới đều qui về sự sống. Như vậy mới biết có điều hòa được sự sống, có giải quyết được vấn đề sống cho con người của mỗi quốc gia thì thế giới mới có hòa bình.
Mà sống là sống bằng thể xác, bằng tình cảm, bằng tinh thần, tức bằng tâm linh. Thiếu vắng một yếu tố thì chưa có thể nói đó là sự sống của con người.
Sự thiếu vắng ấy do mất tự do bởi tự do là yếu tố giúp con người nảy nở hài hòa, toàn diện, không ngừng.
Hiện nay, nhân dân Việt Nam tranh thủ tự do, tức tranh đấu phục hồi đời sống đúng với nhân phẩm con người. Nhân dân mất tự do là mất đi chủ quyền quốc gia. Đó là mối hiểm họa dẫn đến mất nước. Mà mất nước vì lệ thuộc phe xã hội chủ nghĩa như tình trạng của Việt Nam ngày nay thì không có nghĩa chỉ là mất chủ quyền, mất lãnh thổ, mà là một cách mất nước triệt để, trọn vẹn. Một trạng thái nô lệ mới, ở đây là nô lệ cho Tàu.
Nhưng có người nói trên đời này làm gì có tự do. Ngay cả nhiều quốc gia dân chủ trên thế giới cũng không hẳn có tự do. Phải chăng vì trong thực tế, nhiều người hô hào tự do lại đem quân đội, dùng bạo lực xâm lăng nước láng giềng. Như Trung quốc thôn tính Tây Tạng, chiếm các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, Nga kéo xe tăng qua can thiệp chủ quyền của Géorgie.
Ở Việt Nam, Hồ chí Minh nêu khẩu hiệu “Không gì quí hơn Độc lập, Tự do” gây cuộc nội chiến tương tàn, thiết lập chế độ cộng sản toàn trị, chà đạp tự do của nhân dân trên cả nước.
Như vậy ta có thể cho rằng người hoài nghi trên đời này không có tự do là có lý.
Nhưng có nói đến tự do thì tự do ắt phải có. Nếu không có ngoài đời thì chúng ta thử tìm tự do trong tôn giáo, vì tôn giáo từ ngàn xưa vẫn là yếu tố thiết yếu của đời sống con người. Đối với Việt Nam, tôn giáo là hơi thở của văn hóa dân tộc.
Khi nói đến tìm tự do trong tôn giáo, tôi vội nghĩ ngay đến Phật giáo. Bởi tôi vẫn cho rằng mình hiểu biết chút ít Phật giáo, tuy hiểu biết tắc, tức hiểu biết ngang hông vì không từng bước, bước vào kinh điển hay qua những khóa tu học. Vốn hiểu biết Phật giáo của tôi thu thập lõm bõm qua những lần chuyện trò với hai vị tu sĩ tại một ngôi chùa lá nghèo nàn ở Phú Định, một cái thôn nhỏ ngoại ô Sài Gòn qua khỏi Phú Lâm một chút. Hai vị tu sĩ này là Phật tử xuất gia, qui y ở Chùa Vạn Đức, Gò Dưa Thủ Đức, tu hành độc lập, không theo Giáo hội Ấn Quang, cũng không theo Việt Nam Quốc tự trước năm 1975. Tôi thưa chuyện với hai ông bằng Anh Hai, người lớn tuổi hơn, và Anh Năm có Pháp danh là Minh Thiền.
Anh Hai mất trước 1975 tại Tổ đình Vạn Đức do bệnh tật. Anh Năm mất năm 1990 cũng do bệnh tật, tuy ông còn là một Đông y sĩ có tài, hậu quả sau thời gian dài bị cộng sản cải tạo tập trung.
Trở lại với người tìm hiểu đạo Phật. Khi đọc về cuộc đời tu tập của Đức Thích Ca, ít có ai không dừng lại để suy gẫm về mấy sự việc sau đây:
- Đức Thích Ca khi chọn ngồi dưới gốc Bồ đề để suy tư về cuộc đời, Ngài tự nhủ chỉ đứng dậy, rời khỏi chỗ này khi nào tìm được chơn lý. Như vậy, nếu Ngài không tìm được chơn lý thì Ngài ngồi luôn ở đó cho đến chết?
Đức Thích Ca làm việc ấy không vì bị một áp lực nào mà phải làm. Hoàn toàn do ý chí của Ngài phát nguyện. Một thứ tự do ý chí, tự do chọn lựa. Nói theo ngôn ngữ nhân quyền ngày nay, đó là tự do tinh thần.
- Khi Đức Thích Ca tìm được chân lý, tức Ngài giác ngộ. Nói cách khác, chính Ngài là chân lý. Ngài tiếp tục ngồi lại ở đó sống với cái chân lý, hay để xác định với chính Ngài “chân lý với Ngài là một ”.
Nhờ tự do ý chí, Đức Thích Ca tìm được chân lý. Khi Ngài sống với chân lý cũng chính là sống với tự do.
Con người, sinh vật, trong vũ trụ, trong sự vận hành sinh tử đều chịu sự chi phối của một định luật. Nhà Phật gọi là nghiệp lực.
Thế mà đức Thích Ca, hoàng tử, một con người sinh học bình thường nhưng nhờ có tự do ý chí vĩ đại mà tự mình thoát khỏi sự chi phối của cái nghiệp lực kia.
Nghiệp lực là một sức mạnh xô đẩy chúng ta sống, hành động, suy nghĩ, ham muốn theo thói quen. Trong lúc đó, đừng quên chúng ta vẫn có một sức mạnh khác cùng ở trong ta, có thể thôi thúc ta từ khước để chọn lựa cho mình một nếp sinh hoạt khác hơn. Ý muốn nói chúng ta có tự do chọn lựa đi theo nghiệp ác hay nghiệp thiện và hậu quả là tất yếu của sự chọn lựa ấy.
Có thể hình dung nghiệp lực như một cổ xe tự động. Người lái chỉ có chọn cho mình lộ trình để cổ xe chạy trên con đường bằng phẳng, đầy bông hoa ngát hương thơm, đầy trăng thanh gió mát hay chạy trên con đường đầy chướng ngại và rơi xuống vực thẩm. Chỉ có điều là chúng ta không thể rời bỏ cổ xe vì không muốn đi nữa, mà phải ngồi trong cổ xe để xe chạy hoài hết kiếp này đến kiếp khác. Bởi vậy, sách vở nhà Phật dạy “Người thế gian sợ quả, Bồ-Tát sợ nhân”!
Với người Phật tử, tự do chưa phải là Niết-Bàn, mà chỉ mới là sự lựa chọn cho mình con đường dẫn đến Niết-Bàn. Với người tranh đấu dân chủ cho Việt Nam, nhứt là người việt hải ngoại, tự do là phải biết lựa chọn con đường dẫn đến Dân chủ đích thực. Và khi có Dân chủ đích thực, thì Dân chủ là sức mạnh bảo vệ và phát huy tự do.
Như vậy, tự do là một trạng thái tinh thần. Thể xác ta có thể bị khống chế, nhưng tinh thần ta vẫn có thể sống tự do. Khi nói về tự do, ta cần phải biết ta, tức ta phải biết “trở về với chính mình”.
Người học Phật đều biết rằng con người do những yếu tố gọi là ngũ uẩn hợp thành. Và con người khi sống thì có thân tâm sinh hoạt. Nhìn qua con người sẽ thấy tương quan giữa tự do với con người vô cùng mỏng manh. Cũng giống như thân phận của chính mình. Nếu không nắm lấy được tự do ý chí thì con người không tìm ra đâu là tự do cho mình. Bởi con người kết thành bằng những cái biến đổi không ngừng, không nhứt định, tức là vô thường. Khi con người dựa vào cái bản ngã vô thường mà hô hào đem tự do đến cho thiên hạ như “không có gì quí hơn độc lập tự do” thì Hồ Chí Minh đã sát hại hàng triệu sinh mạng đồng bào là điều hiển nhiên. Tai hại hơn nữa, Hồ Chí Minh đem thực hiện mơ ước không tưởng của một nhóm người lên toàn dân tộc mình, hậu quả đau thương còn di hại cho đến ngày nay, càng ngày càng thêm trầm trọng.
Khi con người không biết trở về với chính mình, không thấu hiểu cái bản ngã vô thường của mình thì cái tự do mà mình hô hào cho mình, cho người, không gì khác hơn là phóng ảnh của cái vô thường. Đó là mộng trong giấc mộng!
Trở về với chính mình để thấy con người sinh học không thể sống ngoài sự vận hành của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý. Ý nghĩa và sức mạnh của sự sống đã thôi thúc con người ta, từ qui mô cá nhân đến quốc gia và quốc tế, tranh thủ nhằm đạt được sự thỏa mãn các thứ đó. Trong sự tranh thủ sự sống ấy, tự do chọn lựa của người này không tránh khỏi đụng chạm đến tự do của người khác, của dân tộc khác.
Phải thấy Tây Tạng là trường hợp điển hình. Dân tộc Việt Nam là nạn nhân từ hơn nửa thế kỷ nay. Đó là tự do đàn áp tự do, tự do giết tự do.
Nhìn qua góc độ khác, người ta sẽ thấy con người bị áp lực của sáu thứ “tai, mắt, mũi,” khống chế, nên tự do ý chí mất đi.
Như vậy, phải chăng tự do vốn có ở mỗi con người? Nói theo ngôn ngữ nhân quyền, tự do là quyền bất khả nhượng của con người. Tức quyền tự nhiên. Nói rõ hơn, theo ông Fitche “Nhà nước không thể tước đoạt và không thể ban phát cho chúng ta những quyền, như tự do, vốn là sở hữu của chúng ta”.
(Considération sur la Révolutin française 1793, Paris). Và, cũng về vấn đề này, ông Jellnet viết “Nhà nước không tạo ra tự do. Nhà nước chỉ nhìn nhận nó và nhìn nhận bằng cách chính Nhà nước tự giới hạn mình”. (La Déclaration des Droits de l’Homme et du Citoyen, 1895, Paris). “Tôi không muốn xem con người như một sinh vật, mà phải xem đó là một “tâm linh”, ông Fitche viết tiếp.
Nói cách khác, nếu tự do tự nó có giá trị như luật pháp, thì nó hàm nghĩa rằng con người thật sự là một giá trị tâm linh.
Chúng ta thấy giá trị con người là siêu đẳng, nó vượt lên giá trị của Nhà nước, bởi con người sáng tạo ra Nhà nước để thực hiện chức năng quản trị xã hội, trong đó con người phải được sống xứng đáng đúng theo nhân vị của mình. Quan niệm về thuyết nhân bản vị này đã lưu hành ở Anh trong thế kỷ thứ XVII.
Vậy, giá trị con người không thể tách rời khỏi tự do mà có được. Thấy được tự do hay tìm được tự do thật sự, thứ tự do đúng mức, trọn vẹn, rốt ráo, không có cách gì khác hơn là định tâm theo phương pháp của nhà Phật. Định tâm có nghĩa là làm chủ chính mình để con người sinh học của mình trong thoáng đã không vụt chạy xa ngàn dặm mà cũng không nhảy múa lăng xăng. Theo tu sĩ Phật giáo Tây Tạng, ông Mathieu Ricard (nhà sinh học của Pháp, 62 tuổi, con trai của triết gia Jean-François Revel. Ông kể chuyện: nếu ông không sống hơn 30 năm trên Hi-Mã-Lạp sơn, thì ngày nay, ông đã là nhà nghiên cứu làm việc trong một phòng thí nghiệm của Huê kỳ; nếu ở Pháp, ông đã làm nghề thầy thuốc), thì định tâm có nghĩa là “vun trồng tinh thần”, giúp nhìn thấy sự vật một cách đúng, chính xác hơn, gần gũi với lòng vị tha, sự trìu mến,… những đức tánh mà chúng ta đều có nhưng ở dạng tìm ẩn. Nếu bất chợt chúng ta có biểu hiện thì cũng chỉ thoáng qua. Định tâm thật ra là sự buông thả trọn vẹn chính mình, một trạng thái tinh thần “trống không vĩ đại”. Định tâm là một hình thức sơ thiền của người tu Phật. Vả lại, người tu thiền không nhứt thiết là Phật tử, bởi thiền chỉ là một nếp sống trọn vẹn. Mọi người, không phân biệt tôn giáo, đều có thể thực hành và đều có lợi cho bản thân. Nếu là một người có tín ngưỡng, thì thiền sẽ giúp thăng hoa tín ngưỡng của mình. Nói rõ hơn, theo Phật giáo Tây Tạng, “tịnh tâm là cái đầu của thiền, buông xả là chân của thiền, tỉnh giác là thân của thiền ”.
Cách đây chừng mươi năm, ở Pháp, nếu có ai gợi lên vấn đề định tâm trong nhóm các nhà khoa học, thì sẽ bị mọi người chế diễu ngay. Nhưng ngày nay, môn học về thần kinh quan sát (neuroscience contemplative) đã làm thay đổi nếp suy nghĩ cố hữu của những người này. Nên hiểu định tâm trong tư thế ngồi ngay ngắn, mắt mở hí nhìn xuống đầu sóng mũi, không phải là ngủ gục, mà đó là sống mãnh liệt để cải thiện thân tâm của mình. Và ngày nay, ở Pháp, có tới 5 triệu người Pháp đến với đạo Phật. Họ, phần đông là những nghệ sĩ, trí thức, nhà khoa học, … vì họ thấy đạo Phật không xa với khoa học. Phật giáo không có vấn đề siêu hình. Phật là mọi người, còn là chúng sanh nữa. Nên người tu Phật không bị khuất phục dưới một thần linh nào hết cả. Hoàn toàn có tự do.
Nói qua chánh trị quốc gia. Khi một nước không biết chọn lựa xây dựng cho mình một nền chánh trị phù hợp với văn hóa dân tộc, với nguyện vọng của toàn dân, mà chạy theo một chủ thuyết đã chết trên quê hương của nó hoặc ngã theo ngoại bang phương Bắc như Việt Nam ngày nay để tồn tại, thì không thể nói đến tự do và độc lập.
Dĩ nhiên tự do và độc lập không có nghĩa là mình sống một mình, tự cô lập, muốn làm gì thì làm, mà sống chung trong cái định luật liên lập của thế giới toàn cầu ngày nay. Nhưng mỗi quốc gia phải là một đơn vị sống tự do và độc lập trong định luật liên lập vì biết tự do là biết chủ động trong sự vận hành chung của định luật ấy.
Hà nội ngày nay từ khước sự chọn lựa, mà chỉ biết theo phe xã hội chủ nghĩa để chết sống phải giữ chế độ xã hội chủ nghĩa tồn tại, thì đừng nghĩ đến tự do.
Trong nước, chánh quyền tập trung rình rập, đàn áp nhân dân, vì lúc nào cũng lo sợ bị nhân dân lật đổ. Nhân dân thường xuyên bị chánh quyền của mình đàn áp thì không có tự do. Nhà nước sợ nhân dân do mình cai trị thì cũng mất tự do.
Giáo lý Nhà Phật chỉ cho ta thấy con người sống không thể tách rời khỏi mắt, miệng, tai, mũi, … Những thứ này càng tinh vi, nhạy bén, thì con người càng thỏa mãn tận hưởng đời sống hơn. Nhưng đừng quên là sống cho ta mà đồng thời cũng sống cùng với mọi người. Nếu trong đời sống cá nhân phải có tự do thì cũng phải có tự do chung cho đời sống mọi người.
Tóm lại, ta có thể hiểu tự do là cái gì giúp vào sự nảy nở đời sống con người. Cái gì ép buộc, áp bức, trù dập sự nảy nở là phản tự do, tiêu diệt tự do. Tức muốn nói đó là thứ phản động hung hản hơn hết.
Người Mác-Lê cho rằng đời sống là sự tranh đấu giải quyết sự mâu thuẫn nên lấy mâu thuẫn làm định luật cho cuộc sống. Cách giải quyết mâu thuẫn theo người Mác-Lê đã sát hại cả trăm triệu sanh mạng con người trong vòng hơn nửa thế kỷ qua.
Nhưng định luật liên lập vận hành thì không có mâu thuẫn hủy diệt mà chỉ có bổ sung để nảy nở, thăng tiến hài hòa. Do đó mà con người được sống trong tự do.
Như trên đây, chúng ta thấy đối với người tu Phật, tự do chưa phải là Niết-Bàn, mới chỉ là con đường dẫn đến Niết-Bàn.
Nguyễn văn Trần
ĐỌC TIỂU THUYẾT "THỜI CỦA THÁNH THẦN"
Đọc «Thời Của Thánh Thần» tiểu thuyết bị tịch thu trong nước
Nguyễn Mạnh Trinh
30.11.2008
http://www.phusa.info/
Sách bị tịch thu ở trong nước có hấp lực đối với cả độc giả trong và ngoài nước. Có khi, là một cách thế để quảng cáo, nhưng có khi là tác phẩm phê phán chế độ.
Người viết văn ở trong nước hình như chỉ có một con đường để đi, nếu sai lệch sẽ bị gạt ra ngoài trường văn trận bút ngay. Phương cách siêu kiểm duyệt, không có quy định rõ ràng nhưng như là thiên la địa võng đã tạo thành những áp lực ghê gớm đè nặng lên vai người sáng tác.
Có nhiều loại sách bị tịch thu, và cũng có nhiều lý do sách bị thu hồi. Có khi là sách bị gọi là khiêu dâm đồi trụy. Có khi bị gán cho những tội vi pham luật lệ xuất bản. Có khi bị cho là có chủ đích xấu phản động chống phá chính quyền. Có khi là vì nội dung đụng chạm đến các vấn đề « nhạy cảm » liên quan đến « an ninh văn hóa » (Những từ ngữ mà các cơ quan trong nước này xử dụng thường là mơ hồ và rất dễ quy chụp cho những tội danh đi xa hơn).
Gần đây nhất, là tập truyện ngắn « Rồng Đá » của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai bị tịch thu và sau đó là dẫn đến việc nhà xuất bản Đà Nẵng bị đóng cửa. Thời gian trước, khi nhà xuất bản Đà nẵng in tập « Thơ Trần Dần » cũng bị tịch thu và gây ra nhiều xôn xao trong dư luận. Theo nhà văn Vũ Ngọc Tiến thì nguyên do là trong tập « Rồng Đá » có 3 truyện ngắn « đụng chạm », trong đó có một truyện liên quan đến cuộc chiến với Trung Hoa ở biên giới phía Bắc Năm 1979 và hai truyện ngắn liên quan đến cuộc nội chiến chấm dứt năm 1975.
Nhưng, theo các giới chức có thẩm quyền thì lại lấy lý do là nhà xuất bản làm ăn bê bối thua lỗ.
Một tác phẩm khác, cũng gây nhiều tranh cãi và đồn đại trong dư luận là tập Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh. Cuốn sách hình như chưa in ra mà đã bị búa rìu gán cho bao nhiêu thứ tội kể cả việc lôi cả gia đình dòng tộc ra mà bỉ thử. Phê bình nhẹ thì gọi là chuyện ngồi lê đôi mách còn nặng thì gán tội thân ở với Đảng mà hồn thì theo địch. Nguyễn Đăng Mạnh là giáo sư đại học, là đảng viên và là một nhà phê bình có tiếng tăm ở trong nước. Qua sự kiện ấy, chúng ta thấy được sức ép ghê gớm của guồng máy cầm quyền và nhà văn là đối tượng bị kiềm chế và kiểm soát một cách gắt gao.
Một tác phẩm khác cũng bị tịch thu và cũng tạo ra nhiều phản biện. Đó là tác phẩm « Thời Của Thánh Thần », tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường do nhà xuất bản Hội nhà Văn ấn hành. Lý do tịch thu thì hình như là phát hành sớm. Nhưng dư luận thì lại cho rằng vì nội dung cuốn sách với đề tài có liên quan đến nhiều người, nhiều vấn đề mà có lúc đã trở thành cấm kỵ với người cầm bút.
Tình cờ tôi được người bạn về từ Việt Nam tặng cho cuốn sách và anh gợi ý rằng nên viết một bài về cuốn sách này vì có nhiều điều cần đề cập đến. Tôi đã đọc và cảm thấy rằng quả thật trong nội dung tập tiểu thuyết này chứa đựng thật nhiều suy nghĩ và dễ làm người đọc có nhiều ấn tượng đi xa hơn những điều tác giả thổ lộ. Hầu như tất cả những diễn biến lịch sử từ những năm của thập niên 50 về sau và hậu quả của nó đều hiện diện trong tiểu thuyết này. Từ biến cố cải cách ruộng đất, rồi cuộc chiến tranh, rồi chương trình đánh tư sản khi miền Bắc đã chiếm được miền Nam, rồi chuyện vượt biên, rồi chuyện những người tị nạn trở thành những người yêu nước được tiếp đãi nồng hậu… Dù rằng tác giả có nhiều đoạn phê phán chế độ đến mức lột tả ra những bề trong xấu xa tàn hại nhưng bề ngoài thì cuốn sách vẫn có vẻ đi đúng đường lối mà Đảng đã hoạch định cho giới sáng tác. Không biết đó có phải là kỹ thuật đi song song để từ những điều được cho phép để nói đến những điều cấm kỵ. Mà phần chính là muốn nói đến những điều mà ai cũng thấy hợp lý nhưng lại không được quyền nói ra ?
Nhà văn Hoàng Minh Tường thố lộ : « Nhà văn thì bao giờ cũng phải có bột mới gột nên hồ. Nhà văn viết tiểu thuyết thì anh phải có tư liệu, chất liệu đời sống chứ viết thật trăm phần trăm thì là hồi ký. Tôi viết ra và tôi cảm thấy nó đã thuộc về độc giả rồi ».
Giữa hư cấu và sự thực, hình như biên giới khá gần. Và, ở hư cấu nhiều khi tạo thành những chi tiết mà người viết xử dụng nhiều khi có vẻ hơi gượng gạo và ít chất xác thực. Như chuyện di cư vào Nam của người con thứ trong gia đình Nguyễn Kỳ, Nguyễn kỳ Vọng, với những chi tiết xét ra không gần với thực tế lắm. Hoặc như chuyện bảy người tù binh Cộng sản bị chôn sống ló đầu lên để xe ủi cán, do một viên đại tá tỉnh trưởng chủ trương. Những chuyện ấy là chuyện tuyên truyền của một thời và tác giả đã có một thế đứng được lựa chọn từ xưa và không thay đổi trong nhận thức về cuộc chiến đã qua dù thời gian là một độ lùi để bình tâm và suy tư lại.
Trong bài viết của Phương Ngọc « Thời của thánh thần, tiếng nổ của văn xuôi Việt Nam 2008 ». Có trích đoạn : Nhà lý luận phê bình Vũ Nho rất có lý khi nhận xét: « Cải cách ruộng đất, Đấu tranh chống Nhân văn Giai Phẩm, Chống xét lại, Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Hòa hợp dân tộc,… Những vấn đề cốt lõi ấy được xem xét và đánh giá qua những số phận mấy đời chìm nổi của một gia đình. Thời gian đủ độ lùi cần thiết. Nhưng những hiểu biết của một cây bút phóng sự tiểu thuyết có hạng và suy ngẫm một đời viết mới là yếu tố quyết đinh làm nên thành công của tác phẩm này ».
Phương Ngọc cho rằng tiểu thuyết Thời Của Thánh Thần đã chấm dứt những sự kiện của thời cải cách ruộng đất bằng những chi tiết độc đáo đến nỗi các nhà văn khác không thể khai thác gì thêm được nữa trong sự kiện lịch sử này.
Thực ra, trước Hoàng Minh Tường đã có nhiều tác gỉa viết về thời kỳ cực kỳ đen tối này và tạo được những tác phẩm lột tả được nhiều phần sự thực bị dấu kín cấm đoán từ những cai văn nghệ. Như Sắp Cưới của Vũ Bão, Ác Mộng với Ngô Ngọc Bội, Ba Người Khác với Tô Hoài…Những tác phẩm ấy, dù chỉ một phần nào biểu tỏ được những thảm trạng nhưng cũng đủ làm người đọc rùng mình. Sự thực còn nhiều khi khó tưởng tượng gấp bao nhiêu lần tiểu thuyết.
Với Thời Của Thánh Thần, những biến cố của cải cách ruộng đất chỉ là bắt đầu cho một chuỗi thảm kịch mà ở đó lòng yêu nước đã trở thành một tấm bình phong để tạo chiêu bài cho những con buôn chính trị có lý do đòi hỏi sự hy sinh cho những mục đích nhằm phục vụ cho dân tộc thì ít mà nhằm phục vụ cho một thiểu số nắm quyền lực thì nhiều. Hoàng Minh Tường đã kể chuyện về một dòng họ mà trong đó các nhân vật bị cuốn hút vào một cơn bão loạn thời thế. Con người không thể nào cưỡng lại một guồng máy chuyển động, và gia đình ấy đã tan tác trong một không gian thời gian dài.
Thời gian dài nửa thế kỷ đối với một cá nhân có khi là cả đời người nhưng với lịch sử thì chỉ là một nháy mắt. Từ những biến cố này xoay qua biến cố khác, cuộc sống của từng người đã đi từ cực độ này sang cực độ khác và những ý niệm như nhân nghĩa, từ ái đôi khi chỉ là câu nói suông. Còn không gian, với Thời Của Thánh Thần cũng khá bao la, hầu như bao trùm cả đất nước Việt Nam, một tiền trường xảy ra những hiện tượng mà con người có mặt ở trong đó cũng không ngờ tới.
Viết Thời Của Thánh Thần, những nhân vật của tiểu thuyết này dường như không ở trong một đơn tuyến giản dị. Con người có khi xấu, có khi tốt, và cái ảnh hưởng bên ngoài vào cuộc đời nhiều khi là những yếu tố quyết định.
Theo Phương Ngọc, nguyên thủy nhan đề của Thời Của Thánh Thần là Tốt Sang Sông. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn đã viết tặng Hoàng Minh Tường mấy câu thơ và tạo thành ý tưởng để nhà văn này hoàn tất một tiểu thuyết dầy hơn 600 trang. Bài thơ Tốt Sang Sông có những câu như:
Anh muốn xóa tất cả đi như xóa một bàn cờ
Rồi kiên nhẫn bày lại từng con tốt
Tốt chưa qua hà đâu em ơi đừng nóng ruột
Rồi tốt sẽ qua hà tốt sẽ đi ngang…
Tác giả rất thích những câu thơ trên và dùng câu văn thời tiền chiến trong Vang Bóng Một Thời làm đề từ: « Nhất tốt độ hà, bán xa chi lực. Ở đời không nên khinh thường một điều gì. Con tốt mà sang hà tức là đứa tiểu nhân đã đắc thế,,, » Hoàng Minh Tường đã muợn ngôn ngữ của một tướng cướp già Cờ Đen nhân vật của Nguyễn Tuân để nói lên được những tình cảnh thời cuộc nhố nhăng mà khi kẻ tiểu nhân thời cơ gặp lúc cờ đến tay thì phất và không từ một hành động nào dù tàn bạo vô nhân đến mực nào chăng nữa…
Khi hoàn tất xong thì Hoàng Minh Tường mới biết rằng nhan đề Tốt sang Sông đã có người dùng rồi. Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đã in tiểu thuyết Khi Con Tốt Sang Sông. Và thế là ông đổi thành « Thời Của Thánh Thần » là nhan đề của một tập thơ của nhân vật Nguyễn kỳ Vĩ trong truyện.
Thời Của Thánh Thần là một tiểu thuyết gồm 2 phần : Cơn Gió Bụi và Cuộc Bể Dâu, gói ghém trong 29 chương sách kể về chuyện một gia đình nông dân nhưng có truyền thống khoa bảng ở một làng quê ở cùng châu thổ ven con sông Hồng Hà. Trong suốt hơn nửa thế kỷ, họ phải trải qua những cuộc biến động ghê gớm mà ở đó nhân tính của con người đã bị thử thách đến mức không tưởng tượng được. Sự thực của đời thường đã được tổng hợp để thành một hư cấu mà người đọc khó phân biệt. Nhân vật của Thời Của Thánh Thần có khi tuy chỉ là một nhưng là hòa hợp của nhiều chân dung, nhiều cuộc đời khác nhau. Từ những góc cạnh, sự quan sát và nhận xét toàn diện hơn và nhân bản hơn nên lột tả được những mẫu nhân vật khác thường trong một thời đại đặc biệt.
Trong lời cuối sách, tác gỉa viết: « Cuốn tiểu thuyết Thời Của Thánh Thần viết về một gia đình làng quê châu thổ sông Hồng được tác giả nuôi dưỡng trong âm hưởng sử thi của Nước Việt suốt nửa thế kỷ. Vì thế nhiều sự kiện, nhiều nhân vật có bóng dáng như ở đâu đó như giống ai đó.
Thực ra không gian và nhân vật đều là hư cấu tiểu thuyết tác gỉa không ám chỉ một ai một nơi nào trong đời thực vì thế bạn đọc hãy vui lòng thể tất mọi điều… »
Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường có đầy đủ những tình tiết khốc liệt kể cả dục tính. Từ cảnh nhìn thấy sự thủ dâm của một cô tiểu để sau này vì tình trạng bất đắc dĩ phải đóng vai trò vợ chồng, cả hai nhân vật Nguyễn Kỳ Khôi và Đào Thị Cam đã bị lôi vào một cuộc tình mà hậu quả còn kéo dài đến mấy chục năm sau. Đọc trong chương 3 của truyện, để nhìn thấy những cảnh thật « erotic» và cũng thật gây nhiều ấn tượng : « ...Hướng theo ánh mắt bồn chồn của tiểu Hiên, Khôi nhận ra một vạt ngô đang kỳ xây bắp. Những cây ngô xanh mướt, cây nào cũng mang một hai bắp trên mình. Đột ngột tiểu Hiên buông cuốc, đi xăm xăm đến vạt ngô, tìm bẻ một bắp to nhất giấu vào vạt áo. Thì ra nàng đói. Khôi như hiểu ra. Cậu cố thử đoán xem nàng đã ăn ngô như thế nào?
Nhưng sao chỉ có một bắp? Sao nàng không vào bếp để nướng hoặc luộc mà xăm xăm đi vào nhà kho thế kia?
Khôi lại căng óc theo dõi và phán đoán. Chờ mãi không thấy tiểu Hiên ra, Khôi càng nóng ruôt. Cậu luồn từ gác chuông, qua chái tam quan, qua cây bưởi đầy gai đến nóc nhà kho. Có tiếng thở dốc rồi tiếng rên quằn quại. Thôi chết, tiểu hiên làm sao? Khôi áp tai vào mái ngói. Tiếng thở, tiếng rên càng rõ hơn. Chắc là Hiên bị trúng gió hoặc ngộ độc thgức ăn. Lao xuống đất, phá cửa nhà kho vào cứu tiểu hiên chăng? Không được. Sẽ bị lộ. Sư thầy sẽ chạy đến hô hoán lên, hóa ra lạy ông tôi ở bụi này!
Rất may, Khôi nhìn thấy mấy viên ngói vỡ gần nóc, trườn tới dỡ viên ngói dòm xuống, Khôi bỗng bàng hoàng phát hiện ra một cảnh lạ lùng; Tiểu hiên đang nửa nằm nửa ngồi trên nắp chiếc vại đựng khoai khô, trong một tư thế gần như khỏa thân, khan áo nâu sồng vứt dưới chân, mái tóc đang mọc lởm chởm bết mồ hôi, ôm lấy gương mặt đỏ bừng vừa như đang rất đau đớn, vừa như đang ở đỉnh điểm thỏa mãn, khoái cảm. Kỳ lạ nhất là đôi bàn tay. Một tay nàng xoa bóp đầu vú, như mơn trớn, như vầy vò tay kia đang cầm một vật gì đó kẹp chặt vào giữa đùi. Càng kẹp nàng càng quằn quại rên rỉ. Cố kim nén mà tiếng kêu của nàng cứ hộc lên… »
Tiểu Hiên chính là nhân vật Đào Thị Cam sau này, là một nhân vật của Việt Minh, đã gài được Lý Phúc vào hoạt động hai mang và có hai đứa con tư sinh. Một với Nguyễn kỳ Khôi là Lê lý Chu nhưng lại mang họ của người chồng là Lê Thuyết. Còn một với Trương Phiên khi còn là cô Bướm và bị anh này ruồng bỏ vì muốn thành đạt nên lấy vợ khác. Sau này Trương Phiên thành một tỉnh trưởng và một chuẩn tướng của quân đội Cộng Hòa. Đứa bé khi mới sinh ra bị vứt ngoài đồng và được bà Lý Phúc mang về nuôi chính là Nguyễn kỳ Cục, một người làm tàn hại dòng họ mà cũng chính là người gây dựng lại dương cơ gia tộc. Hai đứa bé, sinh ra trong hai hoàn cảnh khác nhau, tượng trưng cho những hình tượng đau khổ của người đàn bà trong ly loạn. Tạo dựng nên nhân vật ấy, tác giả muốn nói lên điều gì? Có phải những lý tưởng chỉ là bề ngoài đóng kịch và tự mình hiểu hơn ai hết cái kỷ luật vô nhân của Đảng của tổ chức đã làm con người phải sống giả dối, phải giả vờ gương mẫu trong khi con người ai cũng đầy ứ dục tình. Chính vì sự phải đóng kịch ấy, mà con người bị vong thân với chính mình. Đào Thị Cam tức là cô Bướm, nhân tình của thiếu úy Tây lai Trương Phiên và cũng là cô tiểu Hiên, người đàn bà đã dâng hiến cho Khôi và có một đứa con với anh chàng này.
Lý Phúc ngầm hoạt động cho Việt Minh, có ba đứa con trai ruột thì hai đứa công tác cho Cộng Sản mà trong đợt cải cách ruộng đất bị quy vào thành phần địa chủ, bị đấu tố và bị chính đứa con nuôi là Nguyễn Kỳ Cục vu vạ cho bố dâm dục với vợ mình để đến nỗi phải treo cổ tự sát.
Ba người con ruột của Lý Phúc như ba ngã rẽ của một dòng sông và thời thế đã trôi đi theo những hướng đời khác nhau. Con cả Nguyễn Kỳ Khôi, sau được đổi tên là Chiến Thắng Lợi, trở thành lãnh đạo tuyên huấn của Đảng và tương trưng cho lớp quan cán bộ với tất cả những đặc tính nha lại của nó. Nhưng khi đã bị mất chức, thì lại có một chút nghĩ lại và tìm về sự đùm bọc của gia tộc. Vì tham muốn quyền lực, mà Khôi đã hy sinh tất cả từ tình cha con, tình anh em, tình chồng vợ, tình gia tộc, sống giả dạng để mong tồn tại chức quyền. Về sau, khi bị thất sủng, mới hiểu được sự thực mình cũng chỉ là một con tốt được đấm qua sông và chỉ có một đường tiến chứ không có lối lui.
Người con thứ hai, nhà thơ Nguyễn kỳ Vĩ, mang nhiều biểu tượng của các nhà văn của Nhân Văn Gia Phẩm, có tài văn chương nhưng vì thẳng tính và có nhiều nghệ sĩ tính nên đi chệch đường lối của Đảng và bị trù úm hành hạ đến nỗi bất đắc chí thành người trầm cảm sống dở tỉnh dở điên.
Người con thứ ba, Nguyễn Kỳ Vọng, di cư vào Nam học hành trở thành một kỹ sư có năng lực nhưng khi Cộng sản vào chiếm miền Nam tuy không bị cải tạo nhưng cũng bị nghi ngờ theo dõi và phải vượt biên tị nạn, sau trở thành một Việt Kiều yêu nước và trở về để mua lại dương cơ họ Nguyễn Kỳ và chấn hưng lại.
Còn đứa con nuôi, Nguyễn kỳ Cục,,, vừa là một chính diện vừa là một phản diện. Lúc ở cực độ xấu, bị xúi giục và khống chế để làm chuyện đê hèn nhưng về sau lại là một người biết điều để làm những công việc coi như chuộc lại lỗi lầm thời trước. Trước sau, anh này cũng chỉ là nạn nhân của một chính sách một chế độ đã ngự trị trên đất nước hơn nửa thế kỷ qua.
Những nhân vật ấy trong cuồng loạn của thời thế, gánh chịu những bất toàn của cuộc sống nhưng kết cuộc lại là happy ending với những cuộc đoàn viên, người xấu thành người tốt. Viết như thế thì hình như rất đúng với đường lối của Đảng, có phải? Nào hòa giải hòa hợp, Việt kiều yêu nước Nguyễn kỳ Vọng trở về xây đắp quê hương! Rồi những tên phản động ra nước ngoài như chuẩn tướng Trương Phiên thì ăn năn hối lỗi khóc lóc vì những tội ác gây ra! Rồi tội ác Mỹ Ngụy, bảy chiến sĩ cách mạng suýt bị chôn sống cho máy ủi bừa đầu nhô lên khỏi mặt đất! Nếu người đọc có bực mình vì những dòng chữ ấy thì có nên hiểu rằng đó là một cách thế đánh rồi lại vuốt một thủ thuật để cho tác phẩm có thể ra đời?
Nhưng Thời Của Thánh Thần cũng có nhiều diểm tiêu cực chống phá chế độ theo như các quan văn nghệ tuyên huấn thẩm định. Nào bôi bác chế độ, mang những bất toàn ra để bêu xấu. Nào mang những bi thảm của một dòng họ để phóng chiếu thành tiêu biểu cho một xã hội không giống ai, một hà khắc quá mức, một áp chế văn học đến mức phi văn học. Đã thế, những nhân vật phản diện còn hao hao giống ở đời thường như Tư Vuông có phải ám chỉ Tố Hữu, hay Nguyễn Kỳ Khôi tức Chiến thắng Lợi ám chỉ đến những quan tuyên huấn như Nguyễn Đình Thi, như Chế Lan Viên,.. sống giả dối và luôn bon chen vì danh lợi. Hay Nguyễn Kỳ Vĩ có phải là tổng họp của những khuôn dáng Nhân văn giai phẩm là nạn nhân của chế độ hiện tại với một chút Trần Dần, một chút Hoàng Cầm,..
Phương Ngọc viết : « Thời của Thánh Thần » chỉ chấm phá thêm đôi nét nhưng cũng đủ để khép lại một gia đoạn văn học vết thương về cải cách ruộng đất mà sau này các tác giả khác không nhất thiết phải quay lại... Và cùng với mạch cảm xúc bi thương ấy lần đầu tiên trong văn chương đương đại sự kiện Nhân văn Giai Phẩm và cuộc đấu tranh với bè lũ Xét lại hiện đại cũng như cuộc vượt biển di tản của gần hai triệu người được nhà văn đề cập đến với cái nhìn điềm tĩnh và xa xót của một người có độ lùi thời gian để phân tích lý giải đặng trả lại cho những nhân vật trong cuộc bức chân dung thực của họ. »
Với riêng tôi, đọc « Thời của thánh Thần » tôi nghĩ lịch sử sẽ là một đề tài vô tận cho văn chương Việt Nam. Chuyện thời thế rồi sẽ qua đi. Kẻ gieo nhân thì sẽ hái quả, những chế độ tàn ngược độc tài rồi phải bị diệt vong. Với nhà văn, những nét chấm phá để phác họa lại một thời kỳ họ sống, họ suy nghĩ phải là những nét chân thực. Khi mà chế độ bắt người sáng tác phải tô son vẽ phấn lên những sự kiện nhòe nhạt lem luốc thì làm sao có sức thuyết phục được người đọc. Và, lại thấy thương cho những người muốn trang trải nỗi niềm kẻ sĩ của mình phải vừa viết vừa lách. Làm kẻ đu giây hai tay giữa hai đường giây song song, lúc nào họ buông tay rớt xuống? Kể ra, làm nhà văn trong thời thế ây mà nói lên được tâm tư của mình cũng là một điều khó…
Nguyễn Mạnh Trinh
30.11.2008
http://www.phusa.info/
Sách bị tịch thu ở trong nước có hấp lực đối với cả độc giả trong và ngoài nước. Có khi, là một cách thế để quảng cáo, nhưng có khi là tác phẩm phê phán chế độ.
Người viết văn ở trong nước hình như chỉ có một con đường để đi, nếu sai lệch sẽ bị gạt ra ngoài trường văn trận bút ngay. Phương cách siêu kiểm duyệt, không có quy định rõ ràng nhưng như là thiên la địa võng đã tạo thành những áp lực ghê gớm đè nặng lên vai người sáng tác.
Có nhiều loại sách bị tịch thu, và cũng có nhiều lý do sách bị thu hồi. Có khi là sách bị gọi là khiêu dâm đồi trụy. Có khi bị gán cho những tội vi pham luật lệ xuất bản. Có khi bị cho là có chủ đích xấu phản động chống phá chính quyền. Có khi là vì nội dung đụng chạm đến các vấn đề « nhạy cảm » liên quan đến « an ninh văn hóa » (Những từ ngữ mà các cơ quan trong nước này xử dụng thường là mơ hồ và rất dễ quy chụp cho những tội danh đi xa hơn).
Gần đây nhất, là tập truyện ngắn « Rồng Đá » của Vũ Ngọc Tiến và Lê Mai bị tịch thu và sau đó là dẫn đến việc nhà xuất bản Đà Nẵng bị đóng cửa. Thời gian trước, khi nhà xuất bản Đà nẵng in tập « Thơ Trần Dần » cũng bị tịch thu và gây ra nhiều xôn xao trong dư luận. Theo nhà văn Vũ Ngọc Tiến thì nguyên do là trong tập « Rồng Đá » có 3 truyện ngắn « đụng chạm », trong đó có một truyện liên quan đến cuộc chiến với Trung Hoa ở biên giới phía Bắc Năm 1979 và hai truyện ngắn liên quan đến cuộc nội chiến chấm dứt năm 1975.
Nhưng, theo các giới chức có thẩm quyền thì lại lấy lý do là nhà xuất bản làm ăn bê bối thua lỗ.
Một tác phẩm khác, cũng gây nhiều tranh cãi và đồn đại trong dư luận là tập Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh. Cuốn sách hình như chưa in ra mà đã bị búa rìu gán cho bao nhiêu thứ tội kể cả việc lôi cả gia đình dòng tộc ra mà bỉ thử. Phê bình nhẹ thì gọi là chuyện ngồi lê đôi mách còn nặng thì gán tội thân ở với Đảng mà hồn thì theo địch. Nguyễn Đăng Mạnh là giáo sư đại học, là đảng viên và là một nhà phê bình có tiếng tăm ở trong nước. Qua sự kiện ấy, chúng ta thấy được sức ép ghê gớm của guồng máy cầm quyền và nhà văn là đối tượng bị kiềm chế và kiểm soát một cách gắt gao.
Một tác phẩm khác cũng bị tịch thu và cũng tạo ra nhiều phản biện. Đó là tác phẩm « Thời Của Thánh Thần », tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường do nhà xuất bản Hội nhà Văn ấn hành. Lý do tịch thu thì hình như là phát hành sớm. Nhưng dư luận thì lại cho rằng vì nội dung cuốn sách với đề tài có liên quan đến nhiều người, nhiều vấn đề mà có lúc đã trở thành cấm kỵ với người cầm bút.
Tình cờ tôi được người bạn về từ Việt Nam tặng cho cuốn sách và anh gợi ý rằng nên viết một bài về cuốn sách này vì có nhiều điều cần đề cập đến. Tôi đã đọc và cảm thấy rằng quả thật trong nội dung tập tiểu thuyết này chứa đựng thật nhiều suy nghĩ và dễ làm người đọc có nhiều ấn tượng đi xa hơn những điều tác giả thổ lộ. Hầu như tất cả những diễn biến lịch sử từ những năm của thập niên 50 về sau và hậu quả của nó đều hiện diện trong tiểu thuyết này. Từ biến cố cải cách ruộng đất, rồi cuộc chiến tranh, rồi chương trình đánh tư sản khi miền Bắc đã chiếm được miền Nam, rồi chuyện vượt biên, rồi chuyện những người tị nạn trở thành những người yêu nước được tiếp đãi nồng hậu… Dù rằng tác giả có nhiều đoạn phê phán chế độ đến mức lột tả ra những bề trong xấu xa tàn hại nhưng bề ngoài thì cuốn sách vẫn có vẻ đi đúng đường lối mà Đảng đã hoạch định cho giới sáng tác. Không biết đó có phải là kỹ thuật đi song song để từ những điều được cho phép để nói đến những điều cấm kỵ. Mà phần chính là muốn nói đến những điều mà ai cũng thấy hợp lý nhưng lại không được quyền nói ra ?
Nhà văn Hoàng Minh Tường thố lộ : « Nhà văn thì bao giờ cũng phải có bột mới gột nên hồ. Nhà văn viết tiểu thuyết thì anh phải có tư liệu, chất liệu đời sống chứ viết thật trăm phần trăm thì là hồi ký. Tôi viết ra và tôi cảm thấy nó đã thuộc về độc giả rồi ».
Giữa hư cấu và sự thực, hình như biên giới khá gần. Và, ở hư cấu nhiều khi tạo thành những chi tiết mà người viết xử dụng nhiều khi có vẻ hơi gượng gạo và ít chất xác thực. Như chuyện di cư vào Nam của người con thứ trong gia đình Nguyễn Kỳ, Nguyễn kỳ Vọng, với những chi tiết xét ra không gần với thực tế lắm. Hoặc như chuyện bảy người tù binh Cộng sản bị chôn sống ló đầu lên để xe ủi cán, do một viên đại tá tỉnh trưởng chủ trương. Những chuyện ấy là chuyện tuyên truyền của một thời và tác giả đã có một thế đứng được lựa chọn từ xưa và không thay đổi trong nhận thức về cuộc chiến đã qua dù thời gian là một độ lùi để bình tâm và suy tư lại.
Trong bài viết của Phương Ngọc « Thời của thánh thần, tiếng nổ của văn xuôi Việt Nam 2008 ». Có trích đoạn : Nhà lý luận phê bình Vũ Nho rất có lý khi nhận xét: « Cải cách ruộng đất, Đấu tranh chống Nhân văn Giai Phẩm, Chống xét lại, Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, Hòa hợp dân tộc,… Những vấn đề cốt lõi ấy được xem xét và đánh giá qua những số phận mấy đời chìm nổi của một gia đình. Thời gian đủ độ lùi cần thiết. Nhưng những hiểu biết của một cây bút phóng sự tiểu thuyết có hạng và suy ngẫm một đời viết mới là yếu tố quyết đinh làm nên thành công của tác phẩm này ».
Phương Ngọc cho rằng tiểu thuyết Thời Của Thánh Thần đã chấm dứt những sự kiện của thời cải cách ruộng đất bằng những chi tiết độc đáo đến nỗi các nhà văn khác không thể khai thác gì thêm được nữa trong sự kiện lịch sử này.
Thực ra, trước Hoàng Minh Tường đã có nhiều tác gỉa viết về thời kỳ cực kỳ đen tối này và tạo được những tác phẩm lột tả được nhiều phần sự thực bị dấu kín cấm đoán từ những cai văn nghệ. Như Sắp Cưới của Vũ Bão, Ác Mộng với Ngô Ngọc Bội, Ba Người Khác với Tô Hoài…Những tác phẩm ấy, dù chỉ một phần nào biểu tỏ được những thảm trạng nhưng cũng đủ làm người đọc rùng mình. Sự thực còn nhiều khi khó tưởng tượng gấp bao nhiêu lần tiểu thuyết.
Với Thời Của Thánh Thần, những biến cố của cải cách ruộng đất chỉ là bắt đầu cho một chuỗi thảm kịch mà ở đó lòng yêu nước đã trở thành một tấm bình phong để tạo chiêu bài cho những con buôn chính trị có lý do đòi hỏi sự hy sinh cho những mục đích nhằm phục vụ cho dân tộc thì ít mà nhằm phục vụ cho một thiểu số nắm quyền lực thì nhiều. Hoàng Minh Tường đã kể chuyện về một dòng họ mà trong đó các nhân vật bị cuốn hút vào một cơn bão loạn thời thế. Con người không thể nào cưỡng lại một guồng máy chuyển động, và gia đình ấy đã tan tác trong một không gian thời gian dài.
Thời gian dài nửa thế kỷ đối với một cá nhân có khi là cả đời người nhưng với lịch sử thì chỉ là một nháy mắt. Từ những biến cố này xoay qua biến cố khác, cuộc sống của từng người đã đi từ cực độ này sang cực độ khác và những ý niệm như nhân nghĩa, từ ái đôi khi chỉ là câu nói suông. Còn không gian, với Thời Của Thánh Thần cũng khá bao la, hầu như bao trùm cả đất nước Việt Nam, một tiền trường xảy ra những hiện tượng mà con người có mặt ở trong đó cũng không ngờ tới.
Viết Thời Của Thánh Thần, những nhân vật của tiểu thuyết này dường như không ở trong một đơn tuyến giản dị. Con người có khi xấu, có khi tốt, và cái ảnh hưởng bên ngoài vào cuộc đời nhiều khi là những yếu tố quyết định.
Theo Phương Ngọc, nguyên thủy nhan đề của Thời Của Thánh Thần là Tốt Sang Sông. Nhà thơ Trịnh Thanh Sơn đã viết tặng Hoàng Minh Tường mấy câu thơ và tạo thành ý tưởng để nhà văn này hoàn tất một tiểu thuyết dầy hơn 600 trang. Bài thơ Tốt Sang Sông có những câu như:
Anh muốn xóa tất cả đi như xóa một bàn cờ
Rồi kiên nhẫn bày lại từng con tốt
Tốt chưa qua hà đâu em ơi đừng nóng ruột
Rồi tốt sẽ qua hà tốt sẽ đi ngang…
Tác giả rất thích những câu thơ trên và dùng câu văn thời tiền chiến trong Vang Bóng Một Thời làm đề từ: « Nhất tốt độ hà, bán xa chi lực. Ở đời không nên khinh thường một điều gì. Con tốt mà sang hà tức là đứa tiểu nhân đã đắc thế,,, » Hoàng Minh Tường đã muợn ngôn ngữ của một tướng cướp già Cờ Đen nhân vật của Nguyễn Tuân để nói lên được những tình cảnh thời cuộc nhố nhăng mà khi kẻ tiểu nhân thời cơ gặp lúc cờ đến tay thì phất và không từ một hành động nào dù tàn bạo vô nhân đến mực nào chăng nữa…
Khi hoàn tất xong thì Hoàng Minh Tường mới biết rằng nhan đề Tốt sang Sông đã có người dùng rồi. Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đã in tiểu thuyết Khi Con Tốt Sang Sông. Và thế là ông đổi thành « Thời Của Thánh Thần » là nhan đề của một tập thơ của nhân vật Nguyễn kỳ Vĩ trong truyện.
Thời Của Thánh Thần là một tiểu thuyết gồm 2 phần : Cơn Gió Bụi và Cuộc Bể Dâu, gói ghém trong 29 chương sách kể về chuyện một gia đình nông dân nhưng có truyền thống khoa bảng ở một làng quê ở cùng châu thổ ven con sông Hồng Hà. Trong suốt hơn nửa thế kỷ, họ phải trải qua những cuộc biến động ghê gớm mà ở đó nhân tính của con người đã bị thử thách đến mức không tưởng tượng được. Sự thực của đời thường đã được tổng hợp để thành một hư cấu mà người đọc khó phân biệt. Nhân vật của Thời Của Thánh Thần có khi tuy chỉ là một nhưng là hòa hợp của nhiều chân dung, nhiều cuộc đời khác nhau. Từ những góc cạnh, sự quan sát và nhận xét toàn diện hơn và nhân bản hơn nên lột tả được những mẫu nhân vật khác thường trong một thời đại đặc biệt.
Trong lời cuối sách, tác gỉa viết: « Cuốn tiểu thuyết Thời Của Thánh Thần viết về một gia đình làng quê châu thổ sông Hồng được tác giả nuôi dưỡng trong âm hưởng sử thi của Nước Việt suốt nửa thế kỷ. Vì thế nhiều sự kiện, nhiều nhân vật có bóng dáng như ở đâu đó như giống ai đó.
Thực ra không gian và nhân vật đều là hư cấu tiểu thuyết tác gỉa không ám chỉ một ai một nơi nào trong đời thực vì thế bạn đọc hãy vui lòng thể tất mọi điều… »
Tiểu thuyết của Hoàng Minh Tường có đầy đủ những tình tiết khốc liệt kể cả dục tính. Từ cảnh nhìn thấy sự thủ dâm của một cô tiểu để sau này vì tình trạng bất đắc dĩ phải đóng vai trò vợ chồng, cả hai nhân vật Nguyễn Kỳ Khôi và Đào Thị Cam đã bị lôi vào một cuộc tình mà hậu quả còn kéo dài đến mấy chục năm sau. Đọc trong chương 3 của truyện, để nhìn thấy những cảnh thật « erotic» và cũng thật gây nhiều ấn tượng : « ...Hướng theo ánh mắt bồn chồn của tiểu Hiên, Khôi nhận ra một vạt ngô đang kỳ xây bắp. Những cây ngô xanh mướt, cây nào cũng mang một hai bắp trên mình. Đột ngột tiểu Hiên buông cuốc, đi xăm xăm đến vạt ngô, tìm bẻ một bắp to nhất giấu vào vạt áo. Thì ra nàng đói. Khôi như hiểu ra. Cậu cố thử đoán xem nàng đã ăn ngô như thế nào?
Nhưng sao chỉ có một bắp? Sao nàng không vào bếp để nướng hoặc luộc mà xăm xăm đi vào nhà kho thế kia?
Khôi lại căng óc theo dõi và phán đoán. Chờ mãi không thấy tiểu Hiên ra, Khôi càng nóng ruôt. Cậu luồn từ gác chuông, qua chái tam quan, qua cây bưởi đầy gai đến nóc nhà kho. Có tiếng thở dốc rồi tiếng rên quằn quại. Thôi chết, tiểu hiên làm sao? Khôi áp tai vào mái ngói. Tiếng thở, tiếng rên càng rõ hơn. Chắc là Hiên bị trúng gió hoặc ngộ độc thgức ăn. Lao xuống đất, phá cửa nhà kho vào cứu tiểu hiên chăng? Không được. Sẽ bị lộ. Sư thầy sẽ chạy đến hô hoán lên, hóa ra lạy ông tôi ở bụi này!
Rất may, Khôi nhìn thấy mấy viên ngói vỡ gần nóc, trườn tới dỡ viên ngói dòm xuống, Khôi bỗng bàng hoàng phát hiện ra một cảnh lạ lùng; Tiểu hiên đang nửa nằm nửa ngồi trên nắp chiếc vại đựng khoai khô, trong một tư thế gần như khỏa thân, khan áo nâu sồng vứt dưới chân, mái tóc đang mọc lởm chởm bết mồ hôi, ôm lấy gương mặt đỏ bừng vừa như đang rất đau đớn, vừa như đang ở đỉnh điểm thỏa mãn, khoái cảm. Kỳ lạ nhất là đôi bàn tay. Một tay nàng xoa bóp đầu vú, như mơn trớn, như vầy vò tay kia đang cầm một vật gì đó kẹp chặt vào giữa đùi. Càng kẹp nàng càng quằn quại rên rỉ. Cố kim nén mà tiếng kêu của nàng cứ hộc lên… »
Tiểu Hiên chính là nhân vật Đào Thị Cam sau này, là một nhân vật của Việt Minh, đã gài được Lý Phúc vào hoạt động hai mang và có hai đứa con tư sinh. Một với Nguyễn kỳ Khôi là Lê lý Chu nhưng lại mang họ của người chồng là Lê Thuyết. Còn một với Trương Phiên khi còn là cô Bướm và bị anh này ruồng bỏ vì muốn thành đạt nên lấy vợ khác. Sau này Trương Phiên thành một tỉnh trưởng và một chuẩn tướng của quân đội Cộng Hòa. Đứa bé khi mới sinh ra bị vứt ngoài đồng và được bà Lý Phúc mang về nuôi chính là Nguyễn kỳ Cục, một người làm tàn hại dòng họ mà cũng chính là người gây dựng lại dương cơ gia tộc. Hai đứa bé, sinh ra trong hai hoàn cảnh khác nhau, tượng trưng cho những hình tượng đau khổ của người đàn bà trong ly loạn. Tạo dựng nên nhân vật ấy, tác giả muốn nói lên điều gì? Có phải những lý tưởng chỉ là bề ngoài đóng kịch và tự mình hiểu hơn ai hết cái kỷ luật vô nhân của Đảng của tổ chức đã làm con người phải sống giả dối, phải giả vờ gương mẫu trong khi con người ai cũng đầy ứ dục tình. Chính vì sự phải đóng kịch ấy, mà con người bị vong thân với chính mình. Đào Thị Cam tức là cô Bướm, nhân tình của thiếu úy Tây lai Trương Phiên và cũng là cô tiểu Hiên, người đàn bà đã dâng hiến cho Khôi và có một đứa con với anh chàng này.
Lý Phúc ngầm hoạt động cho Việt Minh, có ba đứa con trai ruột thì hai đứa công tác cho Cộng Sản mà trong đợt cải cách ruộng đất bị quy vào thành phần địa chủ, bị đấu tố và bị chính đứa con nuôi là Nguyễn Kỳ Cục vu vạ cho bố dâm dục với vợ mình để đến nỗi phải treo cổ tự sát.
Ba người con ruột của Lý Phúc như ba ngã rẽ của một dòng sông và thời thế đã trôi đi theo những hướng đời khác nhau. Con cả Nguyễn Kỳ Khôi, sau được đổi tên là Chiến Thắng Lợi, trở thành lãnh đạo tuyên huấn của Đảng và tương trưng cho lớp quan cán bộ với tất cả những đặc tính nha lại của nó. Nhưng khi đã bị mất chức, thì lại có một chút nghĩ lại và tìm về sự đùm bọc của gia tộc. Vì tham muốn quyền lực, mà Khôi đã hy sinh tất cả từ tình cha con, tình anh em, tình chồng vợ, tình gia tộc, sống giả dạng để mong tồn tại chức quyền. Về sau, khi bị thất sủng, mới hiểu được sự thực mình cũng chỉ là một con tốt được đấm qua sông và chỉ có một đường tiến chứ không có lối lui.
Người con thứ hai, nhà thơ Nguyễn kỳ Vĩ, mang nhiều biểu tượng của các nhà văn của Nhân Văn Gia Phẩm, có tài văn chương nhưng vì thẳng tính và có nhiều nghệ sĩ tính nên đi chệch đường lối của Đảng và bị trù úm hành hạ đến nỗi bất đắc chí thành người trầm cảm sống dở tỉnh dở điên.
Người con thứ ba, Nguyễn Kỳ Vọng, di cư vào Nam học hành trở thành một kỹ sư có năng lực nhưng khi Cộng sản vào chiếm miền Nam tuy không bị cải tạo nhưng cũng bị nghi ngờ theo dõi và phải vượt biên tị nạn, sau trở thành một Việt Kiều yêu nước và trở về để mua lại dương cơ họ Nguyễn Kỳ và chấn hưng lại.
Còn đứa con nuôi, Nguyễn kỳ Cục,,, vừa là một chính diện vừa là một phản diện. Lúc ở cực độ xấu, bị xúi giục và khống chế để làm chuyện đê hèn nhưng về sau lại là một người biết điều để làm những công việc coi như chuộc lại lỗi lầm thời trước. Trước sau, anh này cũng chỉ là nạn nhân của một chính sách một chế độ đã ngự trị trên đất nước hơn nửa thế kỷ qua.
Những nhân vật ấy trong cuồng loạn của thời thế, gánh chịu những bất toàn của cuộc sống nhưng kết cuộc lại là happy ending với những cuộc đoàn viên, người xấu thành người tốt. Viết như thế thì hình như rất đúng với đường lối của Đảng, có phải? Nào hòa giải hòa hợp, Việt kiều yêu nước Nguyễn kỳ Vọng trở về xây đắp quê hương! Rồi những tên phản động ra nước ngoài như chuẩn tướng Trương Phiên thì ăn năn hối lỗi khóc lóc vì những tội ác gây ra! Rồi tội ác Mỹ Ngụy, bảy chiến sĩ cách mạng suýt bị chôn sống cho máy ủi bừa đầu nhô lên khỏi mặt đất! Nếu người đọc có bực mình vì những dòng chữ ấy thì có nên hiểu rằng đó là một cách thế đánh rồi lại vuốt một thủ thuật để cho tác phẩm có thể ra đời?
Nhưng Thời Của Thánh Thần cũng có nhiều diểm tiêu cực chống phá chế độ theo như các quan văn nghệ tuyên huấn thẩm định. Nào bôi bác chế độ, mang những bất toàn ra để bêu xấu. Nào mang những bi thảm của một dòng họ để phóng chiếu thành tiêu biểu cho một xã hội không giống ai, một hà khắc quá mức, một áp chế văn học đến mức phi văn học. Đã thế, những nhân vật phản diện còn hao hao giống ở đời thường như Tư Vuông có phải ám chỉ Tố Hữu, hay Nguyễn Kỳ Khôi tức Chiến thắng Lợi ám chỉ đến những quan tuyên huấn như Nguyễn Đình Thi, như Chế Lan Viên,.. sống giả dối và luôn bon chen vì danh lợi. Hay Nguyễn Kỳ Vĩ có phải là tổng họp của những khuôn dáng Nhân văn giai phẩm là nạn nhân của chế độ hiện tại với một chút Trần Dần, một chút Hoàng Cầm,..
Phương Ngọc viết : « Thời của Thánh Thần » chỉ chấm phá thêm đôi nét nhưng cũng đủ để khép lại một gia đoạn văn học vết thương về cải cách ruộng đất mà sau này các tác giả khác không nhất thiết phải quay lại... Và cùng với mạch cảm xúc bi thương ấy lần đầu tiên trong văn chương đương đại sự kiện Nhân văn Giai Phẩm và cuộc đấu tranh với bè lũ Xét lại hiện đại cũng như cuộc vượt biển di tản của gần hai triệu người được nhà văn đề cập đến với cái nhìn điềm tĩnh và xa xót của một người có độ lùi thời gian để phân tích lý giải đặng trả lại cho những nhân vật trong cuộc bức chân dung thực của họ. »
Với riêng tôi, đọc « Thời của thánh Thần » tôi nghĩ lịch sử sẽ là một đề tài vô tận cho văn chương Việt Nam. Chuyện thời thế rồi sẽ qua đi. Kẻ gieo nhân thì sẽ hái quả, những chế độ tàn ngược độc tài rồi phải bị diệt vong. Với nhà văn, những nét chấm phá để phác họa lại một thời kỳ họ sống, họ suy nghĩ phải là những nét chân thực. Khi mà chế độ bắt người sáng tác phải tô son vẽ phấn lên những sự kiện nhòe nhạt lem luốc thì làm sao có sức thuyết phục được người đọc. Và, lại thấy thương cho những người muốn trang trải nỗi niềm kẻ sĩ của mình phải vừa viết vừa lách. Làm kẻ đu giây hai tay giữa hai đường giây song song, lúc nào họ buông tay rớt xuống? Kể ra, làm nhà văn trong thời thế ây mà nói lên được tâm tư của mình cũng là một điều khó…
SỰ CẤU KẾT ĂN CHIA GIỮA GIÁO QUYỀN và CHÍNH QUYỀN
Tài sản Phật giáo hay sự cấu kết ăn chia giữa Giáo quyền và Chính quyền
Minh Mẫn
PSN 28.11.2008
http://www.phusa.info/
Về việc công nhận quyền xử dụng đất cho cơ sở tôn giáo, trong đó có cơ sở thuộc Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, theo Tài Liệu Hướng Dẫn của Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP HCM ký ngày 07/10/08; được Thành Hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ (TP HCM) chức cho Tăng Ni toàn TP quán triệt, vào lúc 7g30 sáng ngày 24/10/08 tại nhà truyền thống chùa Phổ Quang, Tân Bình.
Phần mở đầu: Tài liệu nầy cụ thể hoá hướng dẫn trên để áp dụng riêng cho việc công nhận quyền xử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo của Phật giáo đang xử dụng
Sau khi phổ biến nội dung do cán bộ chuyên trách trình bày, một số tu sĩ xin được nêu nghi vấn, trong đó có Hòa Thượng T. Đạt Niệm, Chánh Đại Diện Phật Giáo huyện Thủ Đức đặt vấn đề trong những mục hết sức phi lý mang tính khống chế, áp đặt và tước đoạt quyền lợi của tu sĩ, thầy Thiện Tánh vội cúp máy, thể hiện một cung cách quan liêu hách dịch mà hầu hết tu sĩ tại TP HCM từng là nạn nhân của thầy qua một số việc tiêu cực công khai trắng trợn.
Trong văn bản nêu trên, gồm có 4 mục:
- 1/ Phạm vi và đối tượng áp dụng
- 2/ Điều kiến cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất
- 3/ Một số lưu ý
- 4/ Trình tự thủ tục cấp cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất
Trong mục 3: Một số lưu ý có những điểm như: Nhà nước chỉ công nhận QXDĐ theo diện tích thực tế theo hiện trạng đang xử dụng ( ví dụ: chùa có một ngàn mét, xây dựng 300m2, còn 700m không được cấp giấy chứng nhận? vậy số còn lại của ai?)
Đã là đất của cơ sở tôn giáo quản lý thì giấy chứng nhận quyền xử dụng đất chỉ cấp cho cơ sở tôn giáo (không ghi tên cho cá nhân) không ghi tên cá nhân, dù là trụ trì thì ai là người chịu trách nhiệm cơ sở trước luật pháp, chả lẽ khiếu nại, tố tụng, phạt vạ thì người đứng đầu cơ sở chịu trách nhiệm, mà tài sản không do mình đứng tên? Giáo hội là ai, chùa viện là ai, cũng phải có người đứng đầu trong cơ sở đó chứ; Ví dụ thay mặt nhân dân, phải có người đứng đầu một đất nước như Tổng Thống, Thủ Tướng đứng ra đối ngoại quốc tế, chả lẽ nói chung chung thì chả ai có trách nhiệm. Cấp quyền xử dụng đất cho cơ sở tôn giáo như cấp giấy cho chùa A, chẳng lẽ không có người đứng tên nhận cơ sở đó mà chỉ có chùa A là cơ sở vật chất vô tri vô giác đứng tên??? Hàng tháng các chùa phải đóng góp cho GH,ai đứng ra đóng góp nếu không phải là vị trụ trì? Ai ủng hộ nhà tình nghĩa? Ai đóng góp theo yêu cầu mỗi khi địa phương kêu gọi? Người dân chỉ có trách nhiệm đối với quỷ An ninh quốc phòng hoặc an ninh khu phố, thỉnh thoảng ủng hộ bảo lụt, các chùa phải hưởng ứng lắm cái lễ và lắm cái hội hè theo phong trào…Ai có chùa mới biết cái khổ của một trụ trì, lắm khi Tăng chúng sống kham khổ, nhưng mỗi lần đóng góp không dưới bạc triệu; có những Tỉnh hội, mỗi khi ra mắt tân BTS, các tu sĩ đều phải ủng hộ theo mức giá chỉ định. Trách nhiệm tu sĩ Phật giáo ngày nay như thế đối với xã hội và GH, còn quyền lợi tại sao bị tước đoạt? Khi ra văn bản nầy, chắc chắn nhà nước cũng phải tham khảo ý kiến của GH, mà GH chỉ là kẻ có chức quyền bên trên chứ toàn bộ tu sĩ nào có được tham khảo ý kiến! hãy nghe tiếp văn bản:
Theo đó không có các quyền rộng rãi như đối với đất ở của hộ gia đình, cá nhân. Chả lẽ tu sĩ mất quyền công dân? Người công dân có quyền làm chủ một met đất. trong khi tu sĩ cai quản một tự viện có hàng trăm tăng chúng ,hàng ngàn tín đồ mà không có quyền rộng rãi như đối với các hộ gia đình, cá nhân, thì tu sĩ thuộc loại tầng lớp nào trong xã hội khi không có quyền lợi như một công dân bình thường???
Ví dụ: Đối với đất cơ sở tôn giáo thì không cá nhân nào được đứng ra lập di chúc truyền quyền xử dụng đất cho người khác, hoặc khi nhà nước giải tỏa mà có bồi thường thì tiền bồi thường đó chỉ phục vụ cho lợi ích chung của cơ sở tôn giáo mà không cá nhân nào được hưởng. Lại thêm một hành xử thô bạo xâm phạm vào truyền thống truyền thừa của Phật giáo Việt Nam từ hàng ngàn năm qua.Một ngôi chùa thành hình đã phải trải qua nhiều gian lao của thầy trò, chưa nói đến có những ngôi chùa do tiền cá nhân của một người tự tạo hoặc do gia đình lập nên, khi thầy mất đi, hoặc muốn nhập thất chuyên tu, không được truyền lại cho trò mà chỉ để cho người có quyền hành trong Giáo Hội muốn đưa ai vào thì đưa với giá cả “ thuận mua vừa bán” như chùa Đại Giác và còn nhiều chùa thuộc hệ quản lý của Thành hội TP HCM do thầy Thiện Tánh chi phối? Đây là một hành động cướp của trắng trợn do những sư nắm quyền cấu kết với những cán bộ Tài nguyên môi trường không hiểu gì về luật đạo, thể hiện một chính sách mất lòng dân mà chắc chắn nhà nước không bao giờ chủ trương như thế. ( chả khác nào cha mẹ chết, không có quyền di chúc lại cho con mà để nhà nước xử lý?)
Phần lớn các tu sĩ Phật giáo an phận và kém hiểu biết nên từng bị những kẻ cầm quyền trong Phật giáo đè đầu cướp của, gây khó nếu không biết điều với họ. Rất nhiều tu sĩ không được nhập hộ khẩu, mặc dù họ có chùa và trụ trì lâu năm, trong khi đó một người dân bình thường tạm trú trên một năm đều có quyền đăng ký hộ khẩu chính thức. ( ví dụ thầy Thông Như, hiện là trụ trì chùa Hoa sen quận Bình Tân, rất nhiều lần xin GH chứng nhận để nhập khẩu, chính quyền sẳn sàng, nhưng T,Thiện Tánh không chịu ký giấy, phải chăng vì thầy T.N quá nghèo nên không biết đều ) Chuyện nhập khẩu của các tu sĩ còn gặp lắm khó khăn thì vấn đề cơ sở vật chất bị tước đoạt quyền xử dụng là điều có thể!
Văn bản viết tiếp: …Do vậy, việc xác định cơ sở tôn giáo thuộc GHPG quản lý cần chú ý nội dung trên đây. Đối với cơ sở thờ tự ( chùa, tổ đình, tịnh thất…)chưa thuộc danh sách đất cơ sở tôn giáo do Thành hội Phật Giáo TP HCM quản lý sẽ chỉ là cơ sở tín ngưỡng,- không được coi là cơ sở tôn giáo. Nếu thế thì chả ai muốn vào Giáo hội để mất quyền làm chủ cơ sở do mồ hôi nước mắt thầy trò tạo dựng nên, thà cứ xem như cơ sở tín ngưỡng hoặc tu tại gia tốt nhất!
Người đứng đầu cơ sở tôn giáo là người chịu trách nhiệm trước nhà nước đối với việc xử dụng đất của cơ sở tôn giáo theo quy định của pháp luật đất đai. Kể cũng lạ, quyền lợi không được hưởng mà trách nhiệm phải đeo mang, thật hết sức vô lý trong xã hội hiện nay.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân; nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của nhà nước cho người khác xử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà, Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam và nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội nước CHXHCNVN về nhà đất do nhà nước quản lý, bố trí xử dụng trong quá trình thức hiện chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991) Nghĩa là cơ sở của Phật giáo bị trưng dụng, không có quyền đòi lại, trong khi Việt Kiều trở về, có quyền đòi lại nhà cửa đã bị tịch thu vì vượt biên và theo chính sách đoàn tụ?
Tại sao chỉ áp dụng riêng cho Phật giáo, còn các tôn giáo khác thì sao? Qua nội dung trên đây thì hầu như các Tăng ni đều bất bình, ngoại trừ quan chức PG nắm toàn quyền sinh sát tu sĩ với lòng tham vô đáy.Cũng theo tinh thần văn bản nầy, một ngôi chùa ở thị xã Vũng Tàu, đường Nguyễn Hữu Cảnh, ngõ vô Chí Linh, tên là An Lạc, từ ngày tiếp thu, chùa bị trung dụng làm nhiều việc như nuôi heo, giờ chuẩn bị làm nhà Tang lễ, thế mà không giao trả lại cho Phật Giáo; một số nơi cũng tương tự như thế; phải chăng văn bản nầy hợp thức hoá cho những việc làm sai trái trong quá khứ, và tiếp tục ủng hộ cho những sai trái của một số tu sĩ lạm quyền, tươc đoạt tài sản của những tu sĩ khác? Sư Giác Thế ở quận 7, TP HCM cũng nằm trong trường hợp nhà nước giải toả mặt bằng, bồi thường hàng tỷ đồng mà không được lãnh, bị sung vào công quỷ GH, ai đứng tên số tiền đó gửi vào ngân hàng?
Trong quá trình lập thủ tục xin chứng nhận quyền xử dụng đất trong mục thứ 4, cũng lắm nhiêu khê mà người đứng đầu cơ sở phải vất vả không kém để rồi tự thân không được quyền đứng tên cơ sở hay truyền quyền thừa kế như quy định trên đây:
4/ Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất gồm: Thành phần hồ sơ(02 bộ)-
a/ đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất( theo mẫu).
b/ Tờ tường trình ( báo cáo rà soát kê khai hiện trạng xử dụng đất)
Chú ý: địa phương không xác nhận vào tờ khai đối với những khu đất cơ sở tôn giáo hiện nay không trực tiếp xử dụng đất.
c/ phải có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó ( do người trụ trì cơ sở tôn giáo ký tên).
d/ phải có giấy quyết định cho phép hoạt động về tôn giáo của UBND TP hoặc văn bản của cấp có thẩm quyền chấp thuận việc bổ nhiệm người chủ trì cơ sở tôn giáo.
đ/ Ý kiến ( bằng văn bản) của BTG TP(sở nội vụ) về việc cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất cho cơ sở tôn giáo.
e/ UBND cấp huyện có văn bản cho ý kiến về quy hoạch, nguồn gốc, hiện trạng, quá trình xử dụng đất và mục đích xử dụng đất
f/ bản đồ hiện trạng vị trí khu đất được sở Tài nguyên và môi trường duyệt..
Những tiểu mục trên còn nhiều chi tiết chặt chẻ khác, như thế mới thấy làm một vị trụ trì của một cơ sở Phật giáo không phải nhẹ nhàn chi, thế mà lắm vị còn có tham vọng trụ trì nhiều chùa, xây dựng lắm cơ sở. Những chi phí qua nhiều cửa, ủng hộ nhiều phong trào, nhiều ngỏ ngách, tiền đó từ đâu mà có, nếu không từ quần chúng tín đồ???
Dân giàu nước mạnh chứ không phải nước giàu dân mạnh, dân giàu gián tiếp xác nhận quyền tư hữu của người dân; người dân ta, từ ngày chính sách đổi mới, nhà nhà làm giàu, người người tích lũy theo khả năng riêng, đó là hướng đi lên của xã hội, thế mà, sở Tài Nguyên môi trường lại ra một văn bản trở lại thời quá khứ, muốn nhà chùa Vô sản trong khi toàn dân tư hữu; tinh thần vô sản bao cấp vẫn còn sót lại trong cung cách suy nghĩ và làm việc của những cán bộ chậm tiến và những sư lạm quyền. Đây là một sai lầm, làm giao động không ít trong giới tu sĩ Phật giáo hiện nay; Những nỗi khổ tâm của tu sĩ Phật giáo, ai lắng nghe, ai giúp đỡ? Đây không phải là chủ trương của nhà nước, một số cơ quan ban ngành vẫn tuỳ tiện theo cá tánh; Một văn bản dù là của ban ngành chuyên môn, nhưng đại diện cho nhà nước, một quyết định sai thì sửa đổi, chả lẽ suốt đời cứ lấy dân ra làm vật thí rồi sửa đổi mãi? Một văn bản mà mạch văn lủng củng, dùng từ không suôn, ý tưởng áp đặt như thế làm sao thể hiện tính văn minh và dân chủ?
Hy vọng các cán bộ chuyên ngành nghiên cứu lại, hãy lấy ý kiến của toàn bộ tu sĩ chứ không nghe riêng một vài người có chức sắc để ảnh hưởng chung; phải thể hiện tinh thần dân chủ trong cung cách làm việc, bao cấp cửa quyền không còn thích hợp với xã hội tiến bộ của nhân loại hiện nay.
Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, đối với tôn giáo dân tộc lại càng phải cẩn trọng, không nên dùng quyền áp chế như thế. Tuy Phật giáo rất lành, nhưng dùng quyền tước đoạt công sức và quyền lợi của họ như thế, sẽ tạo trong họ một sự âm ỷ bất mãn, làm sao có hoà khí đoàn kết cho đất nước mà nhà nước đang kêu gọi!
MINH MẪN
29/11/08
Minh Mẫn
PSN 28.11.2008
http://www.phusa.info/
Về việc công nhận quyền xử dụng đất cho cơ sở tôn giáo, trong đó có cơ sở thuộc Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, theo Tài Liệu Hướng Dẫn của Sở Tài Nguyên và Môi Trường TP HCM ký ngày 07/10/08; được Thành Hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh tổ (TP HCM) chức cho Tăng Ni toàn TP quán triệt, vào lúc 7g30 sáng ngày 24/10/08 tại nhà truyền thống chùa Phổ Quang, Tân Bình.
Phần mở đầu: Tài liệu nầy cụ thể hoá hướng dẫn trên để áp dụng riêng cho việc công nhận quyền xử dụng đất cho các cơ sở tôn giáo của Phật giáo đang xử dụng
Sau khi phổ biến nội dung do cán bộ chuyên trách trình bày, một số tu sĩ xin được nêu nghi vấn, trong đó có Hòa Thượng T. Đạt Niệm, Chánh Đại Diện Phật Giáo huyện Thủ Đức đặt vấn đề trong những mục hết sức phi lý mang tính khống chế, áp đặt và tước đoạt quyền lợi của tu sĩ, thầy Thiện Tánh vội cúp máy, thể hiện một cung cách quan liêu hách dịch mà hầu hết tu sĩ tại TP HCM từng là nạn nhân của thầy qua một số việc tiêu cực công khai trắng trợn.
Trong văn bản nêu trên, gồm có 4 mục:
- 1/ Phạm vi và đối tượng áp dụng
- 2/ Điều kiến cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất
- 3/ Một số lưu ý
- 4/ Trình tự thủ tục cấp cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất
Trong mục 3: Một số lưu ý có những điểm như: Nhà nước chỉ công nhận QXDĐ theo diện tích thực tế theo hiện trạng đang xử dụng ( ví dụ: chùa có một ngàn mét, xây dựng 300m2, còn 700m không được cấp giấy chứng nhận? vậy số còn lại của ai?)
Đã là đất của cơ sở tôn giáo quản lý thì giấy chứng nhận quyền xử dụng đất chỉ cấp cho cơ sở tôn giáo (không ghi tên cho cá nhân) không ghi tên cá nhân, dù là trụ trì thì ai là người chịu trách nhiệm cơ sở trước luật pháp, chả lẽ khiếu nại, tố tụng, phạt vạ thì người đứng đầu cơ sở chịu trách nhiệm, mà tài sản không do mình đứng tên? Giáo hội là ai, chùa viện là ai, cũng phải có người đứng đầu trong cơ sở đó chứ; Ví dụ thay mặt nhân dân, phải có người đứng đầu một đất nước như Tổng Thống, Thủ Tướng đứng ra đối ngoại quốc tế, chả lẽ nói chung chung thì chả ai có trách nhiệm. Cấp quyền xử dụng đất cho cơ sở tôn giáo như cấp giấy cho chùa A, chẳng lẽ không có người đứng tên nhận cơ sở đó mà chỉ có chùa A là cơ sở vật chất vô tri vô giác đứng tên??? Hàng tháng các chùa phải đóng góp cho GH,ai đứng ra đóng góp nếu không phải là vị trụ trì? Ai ủng hộ nhà tình nghĩa? Ai đóng góp theo yêu cầu mỗi khi địa phương kêu gọi? Người dân chỉ có trách nhiệm đối với quỷ An ninh quốc phòng hoặc an ninh khu phố, thỉnh thoảng ủng hộ bảo lụt, các chùa phải hưởng ứng lắm cái lễ và lắm cái hội hè theo phong trào…Ai có chùa mới biết cái khổ của một trụ trì, lắm khi Tăng chúng sống kham khổ, nhưng mỗi lần đóng góp không dưới bạc triệu; có những Tỉnh hội, mỗi khi ra mắt tân BTS, các tu sĩ đều phải ủng hộ theo mức giá chỉ định. Trách nhiệm tu sĩ Phật giáo ngày nay như thế đối với xã hội và GH, còn quyền lợi tại sao bị tước đoạt? Khi ra văn bản nầy, chắc chắn nhà nước cũng phải tham khảo ý kiến của GH, mà GH chỉ là kẻ có chức quyền bên trên chứ toàn bộ tu sĩ nào có được tham khảo ý kiến! hãy nghe tiếp văn bản:
Theo đó không có các quyền rộng rãi như đối với đất ở của hộ gia đình, cá nhân. Chả lẽ tu sĩ mất quyền công dân? Người công dân có quyền làm chủ một met đất. trong khi tu sĩ cai quản một tự viện có hàng trăm tăng chúng ,hàng ngàn tín đồ mà không có quyền rộng rãi như đối với các hộ gia đình, cá nhân, thì tu sĩ thuộc loại tầng lớp nào trong xã hội khi không có quyền lợi như một công dân bình thường???
Ví dụ: Đối với đất cơ sở tôn giáo thì không cá nhân nào được đứng ra lập di chúc truyền quyền xử dụng đất cho người khác, hoặc khi nhà nước giải tỏa mà có bồi thường thì tiền bồi thường đó chỉ phục vụ cho lợi ích chung của cơ sở tôn giáo mà không cá nhân nào được hưởng. Lại thêm một hành xử thô bạo xâm phạm vào truyền thống truyền thừa của Phật giáo Việt Nam từ hàng ngàn năm qua.Một ngôi chùa thành hình đã phải trải qua nhiều gian lao của thầy trò, chưa nói đến có những ngôi chùa do tiền cá nhân của một người tự tạo hoặc do gia đình lập nên, khi thầy mất đi, hoặc muốn nhập thất chuyên tu, không được truyền lại cho trò mà chỉ để cho người có quyền hành trong Giáo Hội muốn đưa ai vào thì đưa với giá cả “ thuận mua vừa bán” như chùa Đại Giác và còn nhiều chùa thuộc hệ quản lý của Thành hội TP HCM do thầy Thiện Tánh chi phối? Đây là một hành động cướp của trắng trợn do những sư nắm quyền cấu kết với những cán bộ Tài nguyên môi trường không hiểu gì về luật đạo, thể hiện một chính sách mất lòng dân mà chắc chắn nhà nước không bao giờ chủ trương như thế. ( chả khác nào cha mẹ chết, không có quyền di chúc lại cho con mà để nhà nước xử lý?)
Phần lớn các tu sĩ Phật giáo an phận và kém hiểu biết nên từng bị những kẻ cầm quyền trong Phật giáo đè đầu cướp của, gây khó nếu không biết điều với họ. Rất nhiều tu sĩ không được nhập hộ khẩu, mặc dù họ có chùa và trụ trì lâu năm, trong khi đó một người dân bình thường tạm trú trên một năm đều có quyền đăng ký hộ khẩu chính thức. ( ví dụ thầy Thông Như, hiện là trụ trì chùa Hoa sen quận Bình Tân, rất nhiều lần xin GH chứng nhận để nhập khẩu, chính quyền sẳn sàng, nhưng T,Thiện Tánh không chịu ký giấy, phải chăng vì thầy T.N quá nghèo nên không biết đều ) Chuyện nhập khẩu của các tu sĩ còn gặp lắm khó khăn thì vấn đề cơ sở vật chất bị tước đoạt quyền xử dụng là điều có thể!
Văn bản viết tiếp: …Do vậy, việc xác định cơ sở tôn giáo thuộc GHPG quản lý cần chú ý nội dung trên đây. Đối với cơ sở thờ tự ( chùa, tổ đình, tịnh thất…)chưa thuộc danh sách đất cơ sở tôn giáo do Thành hội Phật Giáo TP HCM quản lý sẽ chỉ là cơ sở tín ngưỡng,- không được coi là cơ sở tôn giáo. Nếu thế thì chả ai muốn vào Giáo hội để mất quyền làm chủ cơ sở do mồ hôi nước mắt thầy trò tạo dựng nên, thà cứ xem như cơ sở tín ngưỡng hoặc tu tại gia tốt nhất!
Người đứng đầu cơ sở tôn giáo là người chịu trách nhiệm trước nhà nước đối với việc xử dụng đất của cơ sở tôn giáo theo quy định của pháp luật đất đai. Kể cũng lạ, quyền lợi không được hưởng mà trách nhiệm phải đeo mang, thật hết sức vô lý trong xã hội hiện nay.
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân; nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của nhà nước cho người khác xử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của nhà nước Việt nam Dân Chủ Cộng Hoà, Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam và nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội nước CHXHCNVN về nhà đất do nhà nước quản lý, bố trí xử dụng trong quá trình thức hiện chính sách quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa trước ngày 01/7/1991) Nghĩa là cơ sở của Phật giáo bị trưng dụng, không có quyền đòi lại, trong khi Việt Kiều trở về, có quyền đòi lại nhà cửa đã bị tịch thu vì vượt biên và theo chính sách đoàn tụ?
Tại sao chỉ áp dụng riêng cho Phật giáo, còn các tôn giáo khác thì sao? Qua nội dung trên đây thì hầu như các Tăng ni đều bất bình, ngoại trừ quan chức PG nắm toàn quyền sinh sát tu sĩ với lòng tham vô đáy.Cũng theo tinh thần văn bản nầy, một ngôi chùa ở thị xã Vũng Tàu, đường Nguyễn Hữu Cảnh, ngõ vô Chí Linh, tên là An Lạc, từ ngày tiếp thu, chùa bị trung dụng làm nhiều việc như nuôi heo, giờ chuẩn bị làm nhà Tang lễ, thế mà không giao trả lại cho Phật Giáo; một số nơi cũng tương tự như thế; phải chăng văn bản nầy hợp thức hoá cho những việc làm sai trái trong quá khứ, và tiếp tục ủng hộ cho những sai trái của một số tu sĩ lạm quyền, tươc đoạt tài sản của những tu sĩ khác? Sư Giác Thế ở quận 7, TP HCM cũng nằm trong trường hợp nhà nước giải toả mặt bằng, bồi thường hàng tỷ đồng mà không được lãnh, bị sung vào công quỷ GH, ai đứng tên số tiền đó gửi vào ngân hàng?
Trong quá trình lập thủ tục xin chứng nhận quyền xử dụng đất trong mục thứ 4, cũng lắm nhiêu khê mà người đứng đầu cơ sở phải vất vả không kém để rồi tự thân không được quyền đứng tên cơ sở hay truyền quyền thừa kế như quy định trên đây:
4/ Trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất gồm: Thành phần hồ sơ(02 bộ)-
a/ đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất( theo mẫu).
b/ Tờ tường trình ( báo cáo rà soát kê khai hiện trạng xử dụng đất)
Chú ý: địa phương không xác nhận vào tờ khai đối với những khu đất cơ sở tôn giáo hiện nay không trực tiếp xử dụng đất.
c/ phải có văn bản đề nghị của tổ chức tôn giáo có cơ sở tôn giáo đó ( do người trụ trì cơ sở tôn giáo ký tên).
d/ phải có giấy quyết định cho phép hoạt động về tôn giáo của UBND TP hoặc văn bản của cấp có thẩm quyền chấp thuận việc bổ nhiệm người chủ trì cơ sở tôn giáo.
đ/ Ý kiến ( bằng văn bản) của BTG TP(sở nội vụ) về việc cấp giấy chứng nhận quyền xử dụng đất cho cơ sở tôn giáo.
e/ UBND cấp huyện có văn bản cho ý kiến về quy hoạch, nguồn gốc, hiện trạng, quá trình xử dụng đất và mục đích xử dụng đất
f/ bản đồ hiện trạng vị trí khu đất được sở Tài nguyên và môi trường duyệt..
Những tiểu mục trên còn nhiều chi tiết chặt chẻ khác, như thế mới thấy làm một vị trụ trì của một cơ sở Phật giáo không phải nhẹ nhàn chi, thế mà lắm vị còn có tham vọng trụ trì nhiều chùa, xây dựng lắm cơ sở. Những chi phí qua nhiều cửa, ủng hộ nhiều phong trào, nhiều ngỏ ngách, tiền đó từ đâu mà có, nếu không từ quần chúng tín đồ???
Dân giàu nước mạnh chứ không phải nước giàu dân mạnh, dân giàu gián tiếp xác nhận quyền tư hữu của người dân; người dân ta, từ ngày chính sách đổi mới, nhà nhà làm giàu, người người tích lũy theo khả năng riêng, đó là hướng đi lên của xã hội, thế mà, sở Tài Nguyên môi trường lại ra một văn bản trở lại thời quá khứ, muốn nhà chùa Vô sản trong khi toàn dân tư hữu; tinh thần vô sản bao cấp vẫn còn sót lại trong cung cách suy nghĩ và làm việc của những cán bộ chậm tiến và những sư lạm quyền. Đây là một sai lầm, làm giao động không ít trong giới tu sĩ Phật giáo hiện nay; Những nỗi khổ tâm của tu sĩ Phật giáo, ai lắng nghe, ai giúp đỡ? Đây không phải là chủ trương của nhà nước, một số cơ quan ban ngành vẫn tuỳ tiện theo cá tánh; Một văn bản dù là của ban ngành chuyên môn, nhưng đại diện cho nhà nước, một quyết định sai thì sửa đổi, chả lẽ suốt đời cứ lấy dân ra làm vật thí rồi sửa đổi mãi? Một văn bản mà mạch văn lủng củng, dùng từ không suôn, ý tưởng áp đặt như thế làm sao thể hiện tính văn minh và dân chủ?
Hy vọng các cán bộ chuyên ngành nghiên cứu lại, hãy lấy ý kiến của toàn bộ tu sĩ chứ không nghe riêng một vài người có chức sắc để ảnh hưởng chung; phải thể hiện tinh thần dân chủ trong cung cách làm việc, bao cấp cửa quyền không còn thích hợp với xã hội tiến bộ của nhân loại hiện nay.
Tôn giáo là vấn đề nhạy cảm, đối với tôn giáo dân tộc lại càng phải cẩn trọng, không nên dùng quyền áp chế như thế. Tuy Phật giáo rất lành, nhưng dùng quyền tước đoạt công sức và quyền lợi của họ như thế, sẽ tạo trong họ một sự âm ỷ bất mãn, làm sao có hoà khí đoàn kết cho đất nước mà nhà nước đang kêu gọi!
MINH MẪN
29/11/08
MỘT CHỦ THUYẾT PHÁT TRIỂN CHO VIỆT NAM
Chân dung người đi tìm chủ thuyết phát triển cho Việt Nam
Hiền Lương
Đăng ngày 01/12/2008 lúc 02:57:20 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3318
Mặc dù không có được học hàm, học vị cao (Giáo sư, Tiến sĩ), nhưng nhà dân chủ kỳ cựu Lê Hồng Hà (sinh năm 1926), được anh em dân chủ Việt Nam biết đến là một cây lý luận sắc sảo.
Cuối năm 1944, ông Lê Hồng Hà tham gia hoạt động cách mạng tại Sở Công an Hà Nội; năm 1946 được kết nạp vào Đảng CSVN; năm 1951 được cử sang Trung Quốc đào tạo nghiệp vụ, sau đó về giữ chức vụ Phó hiệu trưởng trường nghiệp vụ Công an hàng đầu của Việt Nam - trường Công an trung ương, nay là Học viện An ninh nhân dân ở Thanh Xuân, Hà Nội. Chức vụ cuối cùng trong ngành Công an của ông là Chánh Văn phòng Bộ Công an. Trước khi nghỉ hưu (1993), ông Lê Hồng Hà là chuyên viên nghiên cứu của Bộ Lao động. Sau khi nghỉ hưu, ông bắt đầu hoạt động dân chủ. Tháng 6/1995, sau gần nửa thế kỷ tham gia đảng CSVN, ông Lê Hồng Hà bị khai trừ và bị bắt giam, xử 02 năm tù (12/1995) về tội danh tiết lộ bí mật nhà nước (không phải là “bí mật công tác” như tướng Quắc trong vụ án PMU18 gần đây).
Ông Lê Hồng Hà là người hiểu rõ đảng CSVN về lý luận cũng như thực tiễn mà ông đã có quá trình gắn kết trên nhiều cương vị khác nhau, khẳng định đảng CSVN là lực lượng chính trị lãnh đạo đất nước, không thế lực nào có thể thay thế được. Chính vì vậy, mặc dù bị khai trừ, bị tống giam, bản thân ông vẫn kiên trì nghiên cứu lý luận, vạch ra cho Đảng CSVN những sai lầm khiếm khuyết về tư tưởng cũng như cương lĩnh hành động, kiên định với chủ trương đấu tranh ôn hòa, trở thành một trong những nhà bất đồng chính kiến hàng đầu ở Việt Nam.
Sau khi ra tù, năm 1996, ông đề ra sách lược “Tiệm tiến”, sau đó là “Tự vỡ”. Năm 2007, khi phong trào dân chủ bị đàn áp khốc liệt, một số anh, chị em đấu tranh dân chủ kiên cường bị bắt giam như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Phong, Trần Khải Thanh Thủy, bác sĩ Lê Nguyên Sang, Lê Nguyên Đạo, Nguyễn Bắc Truyển,… từ Hà Nội ông đã hội đàm dân chủ qua điện thoại với TS Nguyễn Xuân Tụ và nhà thơ Bùi Minh Quốc ở Đà Lạt, tiếp tục khẳng định chủ trương đấu tranh ôn hòa. Gần đây, ngày 18/7/2008, ông đã có bài viết “Đi tìm chủ thuyết phát triển cho Việt Nam từ đầu thế kỷ 21 đến nay”, kiên trì kiến nghị đảng CSVN đoạn tuyệt chủ nghĩa ngoại nhập Marx Lénine, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thuần khiết (không thêu dệt) làm nền tảng tư tưởng, đưa đất nước hội nhập vững chắc vào thế giới.
Dẫu vẫn biết, chủ thuyết phát triển cho Việt Nam mà ông vừa nêu ra sẽ có chung số phận với sách lược “Tiệm tiến”, “Tự vỡ” trước đây cũng như sáng kiến dân chủ ngày 18/3/2007 gần đây: cả hai phía (đảng CSVN, anh em dân chủ trong nước) đều không mấy mặn mà, hải ngoại thì chỉ trích quyết liệt. Điều khiến ông buồn nhiều nhất có thể là đảng CSVN chẳng hề tỏ ra quan tâm đến các luận cứ của chủ thuyết mà ông đã dày công nghiên cứu, không mảy may cho ông một cơ hội để bảo vệ chủ thuyết của mình.
Riêng anh em dân chủ hoạt động dạng phong trào, lấy việc “cọ xát” với chính quyền, đối đầu với Công an làm thước đo bản lĩnh dân chủ nhằm gây chú ý của hải ngoại, chắc chắn phản đối, cho rằng ông là dân chủ nửa vời. Tiêu biểu cho sách lược này là Phương Nam Đỗ Nam Hải. Quan điểm của họ là đảng CSVN không thể “tự vỡ” nếu không có lực tác động tương hổ từ các nhà đấu tranh dân chủ và áp lực quốc tế; lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ là thần tượng do đảng CSVN thêu dệt.
Với anh em hải ngoại, ông chẳng mấy buồn phiền bởi vì ông xác định yếu tố nội quyết định cho dân chủ Việt Nam. Đây là sự khác biệt giữa ông với một số anh em hoạt động dân chủ dạng phong trào. Trong số danh xưng dân chủ, đảng chính trị, được chưng lên Internet thời gian qua không thấy có tên ông là điều dễ hiểu. Là người tâm huyết với dân chủ, ông không thể không buồn khi chứng kiến một số anh em hoạt động dân chủ với động cơ cá nhân, hoạt động dân chủ để kiếm tiền hải ngoại, hoặc tạo lý do để xin định cư Hoa Kỳ. Vì vậy, khi bị đàn áp, một số anh em bị mua chuộc, chạy trốn, đầu hàng để tránh tù tội, chính quyền có điều kiện để cài cắm nhân sự, tạo dựng dân chủ “cuội” đánh phá phong trào. Điều này làm ông đau lắm, bởi ông đã từng giữ nhiều chức vụ cao trong ngành Công an. Cuối cùng, ông buồn nhất là đến giờ này một số anh em vẫn chưa chịu nhận thấy sai lầm do vội vàng công bố danh xưng khi chưa có lực lượng và cương lĩnh hành động cụ thể, tổn thất dường như đã được báo trước mà vẫn cứ làm. Riêng tôi, vững tin chủ thuyết của ông sẽ được nhiều trí thức tiến bộ đón nhận, ông có thể tự hào sẽ có ngày nó được chiêm nghiệm.
Ở cái tuổi bát thập cổ lai hi, nhà bất đồng chính kiến Lê Hồng Hà tiếp tục đi tìm chủ thuyết phát triển cho Việt Nam. Đó là bi kịch cuối đời, góc tối của những khát vọng dân chủ đang nung nấu trong tâm can của ông, chỉ có ông thấy rõ nhất. Biết đến bao giờ góc tối này mới bừng sáng, anh em dân chủ, nhân dân và những đảng viên CSVN tiến bộ nhìn nhận và xúc tiến chủ thuyết của ông, tạo ra các tiền đề cho dân tộc Việt hóa Rồng?
Cuối năm 1996, ông đã đưa ra dự báo quá trình “tự vỡ” của đảng CSVN sẽ diễn ra trong quảng thời gian từ 10 đến 15 năm. Nay đã cuối năm 2008, Việt Nam sẽ có đột biến trong vài, ba năm tới? Hy vọng dự báo của ông chính xác, ông sẽ hãnh diện ra đi trong sự tiếc nuối của anh em dân chủ trong và ngoài nước, cũng như những đảng viên CSVN chân chính. Có lẽ điều quan trọng nhất, nhân dân Việt Nam sẽ vinh danh ông là Giáo sư bất đồng chính kiến lỗi lạc.
Sài Gòn 6 tháng 11 năm 2008
Hiền Lương
Bài liên quan:
• Lê Hồng Hà, «Nghĩ về cuộc vận động chuyển hoá dân chủ cho Viêt Nam hiện nay». Thông Luận, ngày 15/03/2007.
• Lê Hồng Hà, «Hai phe lý luận ở Việt Nam hiện nay». Thông Luận, ngày 24/04/2007.
• Lê Hồng Hà, «Đi tìm chủ thuyết phát triển cho Việt Nam từ đầu thế kỷ 21 đến nay» . BáoTổ Quốc số 49 & 50, ngày 15/09/2008, tr. 26, và BáoTổ Quốc số 51, ngày 15/10/2008, tr. 10
Hiền Lương
Đăng ngày 01/12/2008 lúc 02:57:20 EST
http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=3318
Mặc dù không có được học hàm, học vị cao (Giáo sư, Tiến sĩ), nhưng nhà dân chủ kỳ cựu Lê Hồng Hà (sinh năm 1926), được anh em dân chủ Việt Nam biết đến là một cây lý luận sắc sảo.
Cuối năm 1944, ông Lê Hồng Hà tham gia hoạt động cách mạng tại Sở Công an Hà Nội; năm 1946 được kết nạp vào Đảng CSVN; năm 1951 được cử sang Trung Quốc đào tạo nghiệp vụ, sau đó về giữ chức vụ Phó hiệu trưởng trường nghiệp vụ Công an hàng đầu của Việt Nam - trường Công an trung ương, nay là Học viện An ninh nhân dân ở Thanh Xuân, Hà Nội. Chức vụ cuối cùng trong ngành Công an của ông là Chánh Văn phòng Bộ Công an. Trước khi nghỉ hưu (1993), ông Lê Hồng Hà là chuyên viên nghiên cứu của Bộ Lao động. Sau khi nghỉ hưu, ông bắt đầu hoạt động dân chủ. Tháng 6/1995, sau gần nửa thế kỷ tham gia đảng CSVN, ông Lê Hồng Hà bị khai trừ và bị bắt giam, xử 02 năm tù (12/1995) về tội danh tiết lộ bí mật nhà nước (không phải là “bí mật công tác” như tướng Quắc trong vụ án PMU18 gần đây).
Ông Lê Hồng Hà là người hiểu rõ đảng CSVN về lý luận cũng như thực tiễn mà ông đã có quá trình gắn kết trên nhiều cương vị khác nhau, khẳng định đảng CSVN là lực lượng chính trị lãnh đạo đất nước, không thế lực nào có thể thay thế được. Chính vì vậy, mặc dù bị khai trừ, bị tống giam, bản thân ông vẫn kiên trì nghiên cứu lý luận, vạch ra cho Đảng CSVN những sai lầm khiếm khuyết về tư tưởng cũng như cương lĩnh hành động, kiên định với chủ trương đấu tranh ôn hòa, trở thành một trong những nhà bất đồng chính kiến hàng đầu ở Việt Nam.
Sau khi ra tù, năm 1996, ông đề ra sách lược “Tiệm tiến”, sau đó là “Tự vỡ”. Năm 2007, khi phong trào dân chủ bị đàn áp khốc liệt, một số anh, chị em đấu tranh dân chủ kiên cường bị bắt giam như Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Phong, Trần Khải Thanh Thủy, bác sĩ Lê Nguyên Sang, Lê Nguyên Đạo, Nguyễn Bắc Truyển,… từ Hà Nội ông đã hội đàm dân chủ qua điện thoại với TS Nguyễn Xuân Tụ và nhà thơ Bùi Minh Quốc ở Đà Lạt, tiếp tục khẳng định chủ trương đấu tranh ôn hòa. Gần đây, ngày 18/7/2008, ông đã có bài viết “Đi tìm chủ thuyết phát triển cho Việt Nam từ đầu thế kỷ 21 đến nay”, kiên trì kiến nghị đảng CSVN đoạn tuyệt chủ nghĩa ngoại nhập Marx Lénine, lấy tư tưởng Hồ Chí Minh thuần khiết (không thêu dệt) làm nền tảng tư tưởng, đưa đất nước hội nhập vững chắc vào thế giới.
Dẫu vẫn biết, chủ thuyết phát triển cho Việt Nam mà ông vừa nêu ra sẽ có chung số phận với sách lược “Tiệm tiến”, “Tự vỡ” trước đây cũng như sáng kiến dân chủ ngày 18/3/2007 gần đây: cả hai phía (đảng CSVN, anh em dân chủ trong nước) đều không mấy mặn mà, hải ngoại thì chỉ trích quyết liệt. Điều khiến ông buồn nhiều nhất có thể là đảng CSVN chẳng hề tỏ ra quan tâm đến các luận cứ của chủ thuyết mà ông đã dày công nghiên cứu, không mảy may cho ông một cơ hội để bảo vệ chủ thuyết của mình.
Riêng anh em dân chủ hoạt động dạng phong trào, lấy việc “cọ xát” với chính quyền, đối đầu với Công an làm thước đo bản lĩnh dân chủ nhằm gây chú ý của hải ngoại, chắc chắn phản đối, cho rằng ông là dân chủ nửa vời. Tiêu biểu cho sách lược này là Phương Nam Đỗ Nam Hải. Quan điểm của họ là đảng CSVN không thể “tự vỡ” nếu không có lực tác động tương hổ từ các nhà đấu tranh dân chủ và áp lực quốc tế; lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ là thần tượng do đảng CSVN thêu dệt.
Với anh em hải ngoại, ông chẳng mấy buồn phiền bởi vì ông xác định yếu tố nội quyết định cho dân chủ Việt Nam. Đây là sự khác biệt giữa ông với một số anh em hoạt động dân chủ dạng phong trào. Trong số danh xưng dân chủ, đảng chính trị, được chưng lên Internet thời gian qua không thấy có tên ông là điều dễ hiểu. Là người tâm huyết với dân chủ, ông không thể không buồn khi chứng kiến một số anh em hoạt động dân chủ với động cơ cá nhân, hoạt động dân chủ để kiếm tiền hải ngoại, hoặc tạo lý do để xin định cư Hoa Kỳ. Vì vậy, khi bị đàn áp, một số anh em bị mua chuộc, chạy trốn, đầu hàng để tránh tù tội, chính quyền có điều kiện để cài cắm nhân sự, tạo dựng dân chủ “cuội” đánh phá phong trào. Điều này làm ông đau lắm, bởi ông đã từng giữ nhiều chức vụ cao trong ngành Công an. Cuối cùng, ông buồn nhất là đến giờ này một số anh em vẫn chưa chịu nhận thấy sai lầm do vội vàng công bố danh xưng khi chưa có lực lượng và cương lĩnh hành động cụ thể, tổn thất dường như đã được báo trước mà vẫn cứ làm. Riêng tôi, vững tin chủ thuyết của ông sẽ được nhiều trí thức tiến bộ đón nhận, ông có thể tự hào sẽ có ngày nó được chiêm nghiệm.
Ở cái tuổi bát thập cổ lai hi, nhà bất đồng chính kiến Lê Hồng Hà tiếp tục đi tìm chủ thuyết phát triển cho Việt Nam. Đó là bi kịch cuối đời, góc tối của những khát vọng dân chủ đang nung nấu trong tâm can của ông, chỉ có ông thấy rõ nhất. Biết đến bao giờ góc tối này mới bừng sáng, anh em dân chủ, nhân dân và những đảng viên CSVN tiến bộ nhìn nhận và xúc tiến chủ thuyết của ông, tạo ra các tiền đề cho dân tộc Việt hóa Rồng?
Cuối năm 1996, ông đã đưa ra dự báo quá trình “tự vỡ” của đảng CSVN sẽ diễn ra trong quảng thời gian từ 10 đến 15 năm. Nay đã cuối năm 2008, Việt Nam sẽ có đột biến trong vài, ba năm tới? Hy vọng dự báo của ông chính xác, ông sẽ hãnh diện ra đi trong sự tiếc nuối của anh em dân chủ trong và ngoài nước, cũng như những đảng viên CSVN chân chính. Có lẽ điều quan trọng nhất, nhân dân Việt Nam sẽ vinh danh ông là Giáo sư bất đồng chính kiến lỗi lạc.
Sài Gòn 6 tháng 11 năm 2008
Hiền Lương
Bài liên quan:
• Lê Hồng Hà, «Nghĩ về cuộc vận động chuyển hoá dân chủ cho Viêt Nam hiện nay». Thông Luận, ngày 15/03/2007.
• Lê Hồng Hà, «Hai phe lý luận ở Việt Nam hiện nay». Thông Luận, ngày 24/04/2007.
• Lê Hồng Hà, «Đi tìm chủ thuyết phát triển cho Việt Nam từ đầu thế kỷ 21 đến nay» . BáoTổ Quốc số 49 & 50, ngày 15/09/2008, tr. 26, và BáoTổ Quốc số 51, ngày 15/10/2008, tr. 10
TỰ DO NGÔN LUẬN Số 64 (1-12-2008)
“Thành tích” kỷ niệm 60 năm Tuyên Ngôn Nhân Quyền
Xã luận
bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 64 (1-12-2008)
Xin mời bấm vào đây để xem BNS Tự do Ngôn luận số 64
Ngày 10-12-2008 tới, toàn thể nhân loại sẽ kỷ niệm 60 năm ra đời Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền vốn đã được 58 Quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 217 tại Paris năm 1948. Để thường xuyên nhắc nhớ biến cố này, Ngày Quốc tế Nhân quyền cũng được đặt ra và cử hành cùng lúc. Theo thông lệ, người ta thường đặc biệt kỷ niệm những dịp tròn thập niên: 10, 20, 30 năm… với việc “lập những thành tích chào mừng” (nói theo kiểu Cộng sản). Vậy chúng ta hãy điểm xem tại Việt Nam dưới “thời đại Hồ Chí Minh”, “những thành tích” nào đã được lập để chào mừng biến cố và là cột mốc trọng đại ấy của nhân loại trong những dịp tròn thập niên (tạm gác những năm “lẻ”).
Nhưng trước hết, tưởng cũng nên xem trong chính năm 1948 ấy, biến cố nào quan trọng đã xảy ra trên đất Việt? Thưa đó chính là sự kiện ngày 5 tháng 6, Hiệp định Vịnh Hạ Long đã được ký kết giữa chính quyền Thực dân Pháp và Quốc trưởng Bảo Đại cho phép thành lập Quốc gia VN gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên hiệp Pháp. Trước đó mấy hôm, ngày 2 tháng 6, Chính phủ Trung ương đã quyết định dùng Cờ Vàng ba sọc đỏ làm Quốc kỳ, y như Đại Nam kỳ thời kháng Pháp 1890-1920 (là lá cờ thể hiện ý chí dân tộc, xác quyết sự vẹn toàn lãnh thổ, nêu cao tinh thần quốc gia). Bằng Hiệp định Hạ Long này và Hiệp định Elysée ngày 8-3-1949, Cộng Hòa Pháp trao trả chủ quyền độc lập cho VN. Đây là bước đầu và nền tảng để thực hiện những điều mà Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền sẽ công bố.
• Dịp kỷ niệm tròn thập niên lần thứ nhất, tức 1958, được đánh dấu bằng việc Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, không cần hỏi ý kiến nhân dân qua Quốc hội (dù là quốc hội bù nhìn), đã ra Công hàm bán nước ô nhục ngày 14-09, công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Trường Sa của Việt Nam. Tiếp đến bằng việc tổ chức các hợp tác xã nông nghiệp và những nông trường quốc doanh tập thể ở miền Bắc (theo Bernard Fall, Le Viet Minh, Paris, 1960, tr.. 284-287). Sau cuộc Cải cách ruộng đất “lở đất long trời” chấm dứt năm 1956 với máu lệ và tử vong của gần nửa triệu người Việt, với cảnh đời sống nông dân tụt hậu và sản lượng nông nghiệp giảm thiểu, nhà cầm quyền CS đã đưa ra những hình thức tập thể hóa nói trên nhằm khôi phục việc sản xuất lương thực (song cũng thất bại), nhưng nhất là nhằm lấy lại ruộng từ tay các bần nông đã được chia phần, để tích lũy toàn bộ đất đai lương thực vào tay nhà nước hầu chuẩn bị xâm chiếm miền Nam. Mà quả thế, theo những học giả như Gerald C. Hickey và Harold Hinton (HK), cũng từ 1958, cái gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam (do CS miền Bắc dàn dựng và chỉ đạo) bắt đầu xuất hiện để phá hoại cuộc sống an lành của người dân và nỗ lực xây dựng của chính phủ VNCH. Năm 1958 này cũng là năm nhà cầm quyền CSVN quyết tâm kết thúc vụ án Nhân văn Giai phẩm với Nghị quyết ngày 6 tháng 1 của Bộ Chính Trị do Trường Chinh ký, nhằm mở hai lớp chỉnh huấn cho gần 500 văn nghệ sĩ “học tập”, thực chất là “kiểm thảo tư trưởng” và “xưng tội với Đảng”! Hầu như toàn bộ trí thức đất Bắc đều bị trù dập cuộc sống, mai một tài năng và hết còn khả năng làm đầu óc cho xã hội.
• Thành tích chào mừng Tuyên ngôn dịp tròn thập niên 1968 hiển nhiên là cuộc tổng công kích và thảm sát Tết Mậu Thân. Lúc đó Hồ Chí Minh đã làm một bài thơ chúc Tết đồng thời là phát súng lệnh: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng trận tin vui khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! toàn thắng ắt về ta”. Về bài thơ ra hiệu cho cuộc tắm máu đó, “tiến sỹ” Trần Viết Hoàn đã trâng tráo viết: “Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, ta được tận hưởng tư tưởng, tình cảm cao đẹp của Bác Hồ: yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi qua những vần thơ Tết Mậu Thân. Bài thơ đó cho ta soi mình vào tâm đức tổ tiên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.” (Trích báo đảng “kỷ niệm 40 năm tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân”). Kết quả của tình “yêu nước, yêu dân” đó là ở Huế có 9776 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, 3169 ngôi nhà bị hư hỏng nặng, hơn 7000 người dân vô tội đã bỏ mạng vì những kiểu cách hành quyết man rợ nhất (theo Lê Trung Thành, Cờ vàng). Chính vì “thành tích vô tiền khoáng hậu” này mà chỉ hơn một năm sau, ngày 02-09-1969, Hồ Chí Minh đã bị gọi sang thế giới bên kia để Thượng Đế và các oan hồn hỏi tội!
• Đến năm 1978, một “thành tích” mới là việc thành lập “Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh trung ương” theo nghị định số 11-CP ngày 17 tháng giêng của Hội đồng Chính phủ. Những nhà tư sản lớn của Sài Gòn thời đó phần lớn đã di tản ra nước ngoài, thành phố chỉ còn các doanh nghiệp loại vừa và nhỏ như các chủ xưởng thủ công, chủ nhà in, chủ hiệu thuốc… họ bị buộc phải kê khai tài sản, vốn liếng, tiếp đến bị trưng thu, tịch thu, trưng mua rồi bị cấm kinh doanh, phải chuyển qua sản xuất nông nghiệp. Nhiều cửa hàng nhỏ, tiệm thức ăn, tiệm cà phê vốn liếng chẳng có bao nhiêu cũng bị niêm phong, định giá và chuyển qua sản xuất quốc doanh, hợp tác xã. Để thực thi việc cải tạo bất nhân và ngu xuẩn này (mà kẻ chỉ huy là cụ hoạn Đỗ Mười), những tổ công tác mật được gấp rút thành lập, bắt đầu rà soát, lên danh sách những hộ gia đình kinh doanh, những gia đình giàu có phải vào diện “cải tạo tư sản”. Những ông bà chủ chỉ bàng hoàng nhận biết những gì xảy ra khi cửa mở và tổ công tác đặc biệt bất ngờ có mặt, đọc quyết định “kê biên tài sản” của họ. Tài sản bị niêm phong xong, mọi người trong gia đình nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới” !!(Theo Wikipedia). Chính chủ trương ăn cướp tàn bạo này đã làm cho miền Nam khánh kiệt theo miền Bắc, toàn bộ nền kinh tế Việt Nam sụp đổ, khiến không ít người trở nên điên loạn, tự tử và đã buộc hàng trăm ngàn người liều chết vượt biên.
Năm 1978 kết thúc với “thành tích” xâm lăng Campuchia. Ngày 21 tháng 12, theo lệnh Liên xô, lấy cớ cứu dân Campuchia khỏi bị diệt chủng, CSVN tung quân đánh đuổi chính quyền Polpot, lập chính quyền bù nhìn Hunsen, để rồi ở lại cả 10 năm để cai trị. Cuộc xâm lăng trắng trợn này đã gieo đau thương cho dân tộc Khmer, gây nỗi căm thù của họ đối ... với dân Việt, tạo cớ cho Trung Cộng xâm chiếm tàn phá nhiều tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979, đồng thời khiến Hoa Kỳ thi hành chính sách cấm vận đối với VN.
• “Thành tích” năm 1988 của CSVN phải nói là đặc biệt. Lần này, tuy chỉ nhắm hai người nhưng đối tượng lại là cả một tập thể hàng mấy triệu. Đó là việc ám sát vị lãnh đạo Công giáo đang cai quản Giáo phận Huế là Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền vào ngày 08 tháng 06 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Vị chức sắc cao cấp này bị giết chỉ vì đã dũng cảm đương đầu với chế độ, dám bênh vực cho quyền của tôn giáo lẫn quyền của con người. Tấm gương của ngài là nguy cơ cho chế độ, vì có thể kéo lôi hàng lãnh đạo mọi tôn giáo và cả tập thể mọi giáo hội. Thứ đến là việc phóng thích rồi quản thúc một chức sắc Công giáo khác vốn cũng là khuôn mặt lãnh đạo tầm cỡ khiến CS e sợ là Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận vào ngày 21-11-1988 sau khi đã giam tù và quản chế ngài 13 năm ròng rã (từ 15-8-1975). Cuối cùng CS trục xuất ngài khỏi Việt Nam năm 1991. Kiểu cách triệt hạ lãnh đạo tinh thần đầu tàu để khống chế toàn bộ tôn giáo như thế là đường lối mà các chế độ Cộng sản vẫn thường áp dụng, như đối với các Hồng y Cung Phần Mai tại Trung Quốc, Mindszenty tại Hungari, Slipyj tại Ukraine, Stepinac tại Nam Tư, Todea tại Albani, Tomasek tại Tiệp Khắc, Wyszynski tại Ba Lan trong các thập niên 1950 đến 1980.
• “Thành tích” năm 1998 của CSVN chính là việc khẩn trương hoàn thành các Hiệp ước lãnh thổ và lãnh hải sẽ ký kết trước khi thế kỷ 20 chấm dứt, khiến Việt Nam mất gần 1000 km2 đất liền và hơn 10.000 km2 biển cả. Theo báo chí kể lại, trong năm 1998 và 1999, khi gặp tổng bí thư Lê Khả Phiêu ở Bắc Kinh, tổng bí thư Giang Trạch Dân đã thúc giục rằng : cuộc đàm phán Việt Trung không nên kéo dài mà phải sớm kết thúc. Lê Khả Phiêu đã nhanh nhẩu đồng ý, và phía TQ ghi nhận điều ấy như một cam kết để buộc các đoàn đàm phán phải thực hiện bằng được, trên thực tế là ép đoàn VN phải nhượng bộ những đòi hỏi của TQ. Quả nhiên việc ký 2 Hiệp ước đã diễn ra vào sát những ngày cuối năm. Hiệp ước về đất liền vào ngày 30-12-1999 và Hiệp ước về Vịnh Bắc bộ vào ngày 25-12-2000, đang khi nhiều vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng hợp lẽ. Chính sự dễ dãi nhẹ dạ này của Lê Khả Phiêu cộng với sự toa rập của bộ Chính trị đã, đang và sẽ bị nhân dân lẫn lịch sử kết án tội “bán đất, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc”.
• “Thành tích chào mừng” kỷ niệm Tuyên ngôn năm 2008 trước hết chính là “Cuộc diễn hành kỷ niệm 40 năm tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân” sáng ngày 1 tháng 2 tại dinh Thống nhất (dinh Độc lập cũ) ở Sài Gòn, mà thực chất là việc các lãnh đạo CS cùng đồng đảng trâng tráo nâng ly ăn mừng một cuộc thất trận nhục nhã, một cuộc tàn sát man rợ, một màn lừa dối đểu cáng và một sự chà đạp những giá trị tinh thần của dân tộc. Tiếp đến, rải dài trong năm là bao cuộc đàn áp nông dân khiếu kiện đòi ruộng vườn, công nhân đình công đòi đủ lương, tín đồ cầu nguyện đòi cơ sở, sinh viên biểu tình đòi đất tổ, ký giả viết báo đòi công lý, các nhà dân chủ giăng biểu ngữ đòi nhân quyền… Đặc biệt hơn hết là vụ xử án 8 giáo dân Thái Hà hôm 08-12 tới, áp ngày kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn, về tội gọi là “gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản” bởi chính một chế độ đang cướp bóc tài nguyên quốc gia, tài sản tôn giáo và của cải nhân dân, bởi chính một tập đoàn lãnh đạo đang đẩy đất nước vào cơn suy thoái mọi mặt, xã hội vào cơn khủng hoảng trăm bề và dân tình vào cơn hỗn loạn thống khổ triền miên.
Đọc lại từ đầu đến cuối Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 rồi nhìn lại Việt Nam từ hơn 60 năm qua, thật là cả một trời một vực. Không có điều khoản nào trong 30 điều khoản mà Cộng đảng VN (và mọi Cộng đảng khác) lại không vi phạm ở một mức độ mà mọi chế độ bạo tàn tự cổ chí kim phải chào thua!
BAN BIÊN TẬP
Xã luận
bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận số 64 (1-12-2008)
Xin mời bấm vào đây để xem BNS Tự do Ngôn luận số 64
Ngày 10-12-2008 tới, toàn thể nhân loại sẽ kỷ niệm 60 năm ra đời Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền vốn đã được 58 Quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 217 tại Paris năm 1948. Để thường xuyên nhắc nhớ biến cố này, Ngày Quốc tế Nhân quyền cũng được đặt ra và cử hành cùng lúc. Theo thông lệ, người ta thường đặc biệt kỷ niệm những dịp tròn thập niên: 10, 20, 30 năm… với việc “lập những thành tích chào mừng” (nói theo kiểu Cộng sản). Vậy chúng ta hãy điểm xem tại Việt Nam dưới “thời đại Hồ Chí Minh”, “những thành tích” nào đã được lập để chào mừng biến cố và là cột mốc trọng đại ấy của nhân loại trong những dịp tròn thập niên (tạm gác những năm “lẻ”).
Nhưng trước hết, tưởng cũng nên xem trong chính năm 1948 ấy, biến cố nào quan trọng đã xảy ra trên đất Việt? Thưa đó chính là sự kiện ngày 5 tháng 6, Hiệp định Vịnh Hạ Long đã được ký kết giữa chính quyền Thực dân Pháp và Quốc trưởng Bảo Đại cho phép thành lập Quốc gia VN gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên hiệp Pháp. Trước đó mấy hôm, ngày 2 tháng 6, Chính phủ Trung ương đã quyết định dùng Cờ Vàng ba sọc đỏ làm Quốc kỳ, y như Đại Nam kỳ thời kháng Pháp 1890-1920 (là lá cờ thể hiện ý chí dân tộc, xác quyết sự vẹn toàn lãnh thổ, nêu cao tinh thần quốc gia). Bằng Hiệp định Hạ Long này và Hiệp định Elysée ngày 8-3-1949, Cộng Hòa Pháp trao trả chủ quyền độc lập cho VN. Đây là bước đầu và nền tảng để thực hiện những điều mà Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền sẽ công bố.
• Dịp kỷ niệm tròn thập niên lần thứ nhất, tức 1958, được đánh dấu bằng việc Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, không cần hỏi ý kiến nhân dân qua Quốc hội (dù là quốc hội bù nhìn), đã ra Công hàm bán nước ô nhục ngày 14-09, công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Trường Sa của Việt Nam. Tiếp đến bằng việc tổ chức các hợp tác xã nông nghiệp và những nông trường quốc doanh tập thể ở miền Bắc (theo Bernard Fall, Le Viet Minh, Paris, 1960, tr.. 284-287). Sau cuộc Cải cách ruộng đất “lở đất long trời” chấm dứt năm 1956 với máu lệ và tử vong của gần nửa triệu người Việt, với cảnh đời sống nông dân tụt hậu và sản lượng nông nghiệp giảm thiểu, nhà cầm quyền CS đã đưa ra những hình thức tập thể hóa nói trên nhằm khôi phục việc sản xuất lương thực (song cũng thất bại), nhưng nhất là nhằm lấy lại ruộng từ tay các bần nông đã được chia phần, để tích lũy toàn bộ đất đai lương thực vào tay nhà nước hầu chuẩn bị xâm chiếm miền Nam. Mà quả thế, theo những học giả như Gerald C. Hickey và Harold Hinton (HK), cũng từ 1958, cái gọi là Mặt trận Giải phóng miền Nam (do CS miền Bắc dàn dựng và chỉ đạo) bắt đầu xuất hiện để phá hoại cuộc sống an lành của người dân và nỗ lực xây dựng của chính phủ VNCH. Năm 1958 này cũng là năm nhà cầm quyền CSVN quyết tâm kết thúc vụ án Nhân văn Giai phẩm với Nghị quyết ngày 6 tháng 1 của Bộ Chính Trị do Trường Chinh ký, nhằm mở hai lớp chỉnh huấn cho gần 500 văn nghệ sĩ “học tập”, thực chất là “kiểm thảo tư trưởng” và “xưng tội với Đảng”! Hầu như toàn bộ trí thức đất Bắc đều bị trù dập cuộc sống, mai một tài năng và hết còn khả năng làm đầu óc cho xã hội.
• Thành tích chào mừng Tuyên ngôn dịp tròn thập niên 1968 hiển nhiên là cuộc tổng công kích và thảm sát Tết Mậu Thân. Lúc đó Hồ Chí Minh đã làm một bài thơ chúc Tết đồng thời là phát súng lệnh: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng trận tin vui khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! toàn thắng ắt về ta”. Về bài thơ ra hiệu cho cuộc tắm máu đó, “tiến sỹ” Trần Viết Hoàn đã trâng tráo viết: “Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước, ta được tận hưởng tư tưởng, tình cảm cao đẹp của Bác Hồ: yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi qua những vần thơ Tết Mậu Thân. Bài thơ đó cho ta soi mình vào tâm đức tổ tiên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.” (Trích báo đảng “kỷ niệm 40 năm tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân”). Kết quả của tình “yêu nước, yêu dân” đó là ở Huế có 9776 ngôi nhà bị phá hủy hoàn toàn, 3169 ngôi nhà bị hư hỏng nặng, hơn 7000 người dân vô tội đã bỏ mạng vì những kiểu cách hành quyết man rợ nhất (theo Lê Trung Thành, Cờ vàng). Chính vì “thành tích vô tiền khoáng hậu” này mà chỉ hơn một năm sau, ngày 02-09-1969, Hồ Chí Minh đã bị gọi sang thế giới bên kia để Thượng Đế và các oan hồn hỏi tội!
• Đến năm 1978, một “thành tích” mới là việc thành lập “Ban cải tạo công thương nghiệp tư doanh trung ương” theo nghị định số 11-CP ngày 17 tháng giêng của Hội đồng Chính phủ. Những nhà tư sản lớn của Sài Gòn thời đó phần lớn đã di tản ra nước ngoài, thành phố chỉ còn các doanh nghiệp loại vừa và nhỏ như các chủ xưởng thủ công, chủ nhà in, chủ hiệu thuốc… họ bị buộc phải kê khai tài sản, vốn liếng, tiếp đến bị trưng thu, tịch thu, trưng mua rồi bị cấm kinh doanh, phải chuyển qua sản xuất nông nghiệp. Nhiều cửa hàng nhỏ, tiệm thức ăn, tiệm cà phê vốn liếng chẳng có bao nhiêu cũng bị niêm phong, định giá và chuyển qua sản xuất quốc doanh, hợp tác xã. Để thực thi việc cải tạo bất nhân và ngu xuẩn này (mà kẻ chỉ huy là cụ hoạn Đỗ Mười), những tổ công tác mật được gấp rút thành lập, bắt đầu rà soát, lên danh sách những hộ gia đình kinh doanh, những gia đình giàu có phải vào diện “cải tạo tư sản”. Những ông bà chủ chỉ bàng hoàng nhận biết những gì xảy ra khi cửa mở và tổ công tác đặc biệt bất ngờ có mặt, đọc quyết định “kê biên tài sản” của họ. Tài sản bị niêm phong xong, mọi người trong gia đình nhận quyết định đi “xây dựng vùng kinh tế mới” !!(Theo Wikipedia). Chính chủ trương ăn cướp tàn bạo này đã làm cho miền Nam khánh kiệt theo miền Bắc, toàn bộ nền kinh tế Việt Nam sụp đổ, khiến không ít người trở nên điên loạn, tự tử và đã buộc hàng trăm ngàn người liều chết vượt biên.
Năm 1978 kết thúc với “thành tích” xâm lăng Campuchia. Ngày 21 tháng 12, theo lệnh Liên xô, lấy cớ cứu dân Campuchia khỏi bị diệt chủng, CSVN tung quân đánh đuổi chính quyền Polpot, lập chính quyền bù nhìn Hunsen, để rồi ở lại cả 10 năm để cai trị. Cuộc xâm lăng trắng trợn này đã gieo đau thương cho dân tộc Khmer, gây nỗi căm thù của họ đối ... với dân Việt, tạo cớ cho Trung Cộng xâm chiếm tàn phá nhiều tỉnh biên giới phía Bắc năm 1979, đồng thời khiến Hoa Kỳ thi hành chính sách cấm vận đối với VN.
• “Thành tích” năm 1988 của CSVN phải nói là đặc biệt. Lần này, tuy chỉ nhắm hai người nhưng đối tượng lại là cả một tập thể hàng mấy triệu. Đó là việc ám sát vị lãnh đạo Công giáo đang cai quản Giáo phận Huế là Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền vào ngày 08 tháng 06 tại bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Vị chức sắc cao cấp này bị giết chỉ vì đã dũng cảm đương đầu với chế độ, dám bênh vực cho quyền của tôn giáo lẫn quyền của con người. Tấm gương của ngài là nguy cơ cho chế độ, vì có thể kéo lôi hàng lãnh đạo mọi tôn giáo và cả tập thể mọi giáo hội. Thứ đến là việc phóng thích rồi quản thúc một chức sắc Công giáo khác vốn cũng là khuôn mặt lãnh đạo tầm cỡ khiến CS e sợ là Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Thuận vào ngày 21-11-1988 sau khi đã giam tù và quản chế ngài 13 năm ròng rã (từ 15-8-1975). Cuối cùng CS trục xuất ngài khỏi Việt Nam năm 1991. Kiểu cách triệt hạ lãnh đạo tinh thần đầu tàu để khống chế toàn bộ tôn giáo như thế là đường lối mà các chế độ Cộng sản vẫn thường áp dụng, như đối với các Hồng y Cung Phần Mai tại Trung Quốc, Mindszenty tại Hungari, Slipyj tại Ukraine, Stepinac tại Nam Tư, Todea tại Albani, Tomasek tại Tiệp Khắc, Wyszynski tại Ba Lan trong các thập niên 1950 đến 1980.
• “Thành tích” năm 1998 của CSVN chính là việc khẩn trương hoàn thành các Hiệp ước lãnh thổ và lãnh hải sẽ ký kết trước khi thế kỷ 20 chấm dứt, khiến Việt Nam mất gần 1000 km2 đất liền và hơn 10.000 km2 biển cả. Theo báo chí kể lại, trong năm 1998 và 1999, khi gặp tổng bí thư Lê Khả Phiêu ở Bắc Kinh, tổng bí thư Giang Trạch Dân đã thúc giục rằng : cuộc đàm phán Việt Trung không nên kéo dài mà phải sớm kết thúc. Lê Khả Phiêu đã nhanh nhẩu đồng ý, và phía TQ ghi nhận điều ấy như một cam kết để buộc các đoàn đàm phán phải thực hiện bằng được, trên thực tế là ép đoàn VN phải nhượng bộ những đòi hỏi của TQ. Quả nhiên việc ký 2 Hiệp ước đã diễn ra vào sát những ngày cuối năm. Hiệp ước về đất liền vào ngày 30-12-1999 và Hiệp ước về Vịnh Bắc bộ vào ngày 25-12-2000, đang khi nhiều vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng hợp lẽ. Chính sự dễ dãi nhẹ dạ này của Lê Khả Phiêu cộng với sự toa rập của bộ Chính trị đã, đang và sẽ bị nhân dân lẫn lịch sử kết án tội “bán đất, dâng biển cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc”.
• “Thành tích chào mừng” kỷ niệm Tuyên ngôn năm 2008 trước hết chính là “Cuộc diễn hành kỷ niệm 40 năm tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân” sáng ngày 1 tháng 2 tại dinh Thống nhất (dinh Độc lập cũ) ở Sài Gòn, mà thực chất là việc các lãnh đạo CS cùng đồng đảng trâng tráo nâng ly ăn mừng một cuộc thất trận nhục nhã, một cuộc tàn sát man rợ, một màn lừa dối đểu cáng và một sự chà đạp những giá trị tinh thần của dân tộc. Tiếp đến, rải dài trong năm là bao cuộc đàn áp nông dân khiếu kiện đòi ruộng vườn, công nhân đình công đòi đủ lương, tín đồ cầu nguyện đòi cơ sở, sinh viên biểu tình đòi đất tổ, ký giả viết báo đòi công lý, các nhà dân chủ giăng biểu ngữ đòi nhân quyền… Đặc biệt hơn hết là vụ xử án 8 giáo dân Thái Hà hôm 08-12 tới, áp ngày kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn, về tội gọi là “gây rối trật tự công cộng và hủy hoại tài sản” bởi chính một chế độ đang cướp bóc tài nguyên quốc gia, tài sản tôn giáo và của cải nhân dân, bởi chính một tập đoàn lãnh đạo đang đẩy đất nước vào cơn suy thoái mọi mặt, xã hội vào cơn khủng hoảng trăm bề và dân tình vào cơn hỗn loạn thống khổ triền miên.
Đọc lại từ đầu đến cuối Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 rồi nhìn lại Việt Nam từ hơn 60 năm qua, thật là cả một trời một vực. Không có điều khoản nào trong 30 điều khoản mà Cộng đảng VN (và mọi Cộng đảng khác) lại không vi phạm ở một mức độ mà mọi chế độ bạo tàn tự cổ chí kim phải chào thua!
BAN BIÊN TẬP
Sunday, November 30, 2008
KẺ GIẾT CẢNH SÁT VIÊN NHƯNG LẠI LÀ NGƯỜI HÙNG
The New York Times
Kẻ giết hại các cảnh sát viên, nhưng là người hùng đối với một số dân chúng Trung Quốc, đã bị hành quyết
DAVID BARBOZA
Ngày 26-11-2008
http://www.nytimes.com/2008/11/27/world/asia/27shanghai.html?_r=1
THƯỢNG HẢI -- Một người đàn ông 28 tuổi bị kết tội giết hại sáu nhân viên cảnh sát đã bị xử tử hình bằng cách tiêm thuốc độc vào sáng thứ Tư, theo tin từ truyền thông nhà nước, kết thúc vụ án từng lôi cuốn một số lượng lớn đáng kinh ngạc về sự đồng cảm của công chúng đối với anh ta.
Tòa án Nhân dân Tối cao Thượng Hải - Dương Gia trong quá trình xét xử anh vào tháng Mười tại Thượng Hải về tội đã giết sáu nhân viên cảnh sát (hình: AFP)
http://f3.yahoofs.com/blog/46e3bbe0z25f93a82/73/__sr_/e67f.jpg?mggD3MJBLd8CfiWk
Bản án tử hình đã được thi hành nhanh chóng sau khi tòa tối cao quốc gia, gọi là Tòa án Nhân dân Tối cao tại Bắc Kinh, đã không chấp nhận một đề nghị kháng án nhân danh người đàn ông Bắc Kinh thất nghiệp, anh Dương Gia, từng lao vào một đồn cảnh sát ở Thượng Hải ngày 1 tháng Bảy và đâm sáu nhân viên cảnh sát cho tới chết.
Anh Dương cho biết mình bị buộc tội oan là đã ăn cắp một chiếc xe đạp, rồi bị cảnh sát Thượng Hải đánh đập vào tháng Mười năm 2007; cảnh sát thừa nhận rằng họ đã hỏi anh ta về việc anh sử dụng một chiếc xe đạp không đăng ký song lại phủ nhận là đã đánh đập anh. Anh Dương đã gửi thư cho cảnh sát Thượng Hải và đòi có sự đền bù những tổn thất về tâm lý. Cuối cùng anh đã coi cuộc tấn công của mình vào đồn cảnh sát là một hành động báo thù.
Đối với nhiều người Trung Quốc, anh đã trở thành một biểu tượng về một kẻ tầm thường mà đã dám đứng lên chống lại thói quấy rối của cảnh sát và sự bất công của chính quyền. Trong thời gian diễn ra hai phiên toà, những người ủng hộ anh đã tập họp thành những đám đông bên ngoài phòng xử án tại Thượng Hải. Một số người đã mặc những chiếc áo phông có hình ảnh anh Dương; một số khác đã gọi anh là một người anh hùng.
Bên ngoài Thượng Hải, một số tờ báo đã cho đăng tải những bức chân dung của Dương với vẻ mặt dễ mến.
Các luật sư bảo vệ cho anh Dương nói là anh đã không ổn định về tinh thần và không đủ sức khỏe để ra tòa. Thế nhưng các công tố viên đã liệt anh vào loại sát nhân có máu lạnh, kẻ đã phạm tội ác với "bản tính hiểm độc có dự tính trước và chuẩn bị kỹ lưỡng." Anh đã bị tuyên là có tội vào ngày 1 tháng Chín và bị kết án tử hình.
Vào hồi 9 giờ hôm thứ Tư, sau khi ăn một ít cháo đặc, anh Dương đã bị hành quyết bằng cách tiêm thuốc độc, theo tin từ báo chí của nhà nước cho hay.
Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại vào tối thứ Tư, cha anh Dương, ông Dương Phú Sinh, cho biết ông căm giận hệ thống luật pháp của đất nước Trung Quốc và đã choáng váng trước bản án tử hình đứa con trai của mình.
"Tôi đã có những nỗ lực lớn nhất để giúp cho con trai tôi, để cứu lấy cuộc sống của nó, thế nhưng tôi đã thất bại, Tôi có thể nói gì bây giờ?" ông giãi bày qua điện thoại. "Đó là một trải nghiệm cay đắng đau buồn suốt bốn tháng này, là quãng thời gian khắc nghiệt và tối tăm nhất trong cuộc đời chúng tôi. Tôi sẽ nghi nhớ sâu đậm trong trái tim mình mọi giây phút đau đớn, mọi nỗ lực và mọi lời khẩn cầu mà tôi đã cố gắng; tôi hứa là sẽ không bao giờ quên nó. Và giờ đây tôi đã mất con trai rồi. Tôi nhận ra là những người dân bình thường đã phải bất lực đến thế nào."
Một ngày sau khi anh Dương Gia bị cáo buộc đã giết các nhân viên cảnh sát, mẹ anh, bà Vương Tinh Mỹ, đã bị bắt giữ tại Bắc Kinh và bị đưa tới một bệnh viện tâm thần địa phương. Gia đình bà kể là họ đã không hề được ai nói cho biết nơi bà bị giam giữ hoặc ai đã giam giữ bà; họ chỉ biết rằng bà đã biến mất. Bà được thả ra hôm Chủ nhật tuần trước, họ kể, và được phép tới thăm con hôm thứ Hai.
Cha của anh Dương nói là ông chỉ được tới thăm con trai mình một lần, vào hôm 16 tháng Mười, và anh đã không được phép có cuộc thăm viếng nào khác. Bản miêu tả của báo chí nhà nước về cái chết của con trai ông đã không giải đáp được những điều nghi vấn nhất của ông.
"Tôi vẫn không biết nơi mà nó bị hành hình, cách họ hành hình nó, nó chết nhẹ nhàng hay đau đớn, nó muốn nói với tôi và mẹ nó điều gì," cha anh Dương than thở. "Thật là vô nhân đạo khi chính quyền đã tước đi cái quyền của tôi được nhìn thấy con trai tôi; điều này đã dạy cho tôi bài học cay đắng, là cán cân công lý và luật pháp luôn luôn nghiêng về phía những kẻ có quyền lực, về phía một chính quyền hùng mạnh như thế."
Trần Dương đã bổ sung thông tin từ Bắc Kinh.
Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008
Saturday November 29, 2008 - 11:58am (ICT)
http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?p=2689
-----------------------
Shanghai Higher People's Court, via Agence France-Presse — Getty Images
Yang Jia during his trial in October in Shanghai on charges of killing six police officers.
The New York Times
Police Officers’ Killer, Hero to Some Chinese, Is Executed
By DAVID BARBOZA
Published: November 26, 2008
http://www.nytimes.com/2008/11/27/world/asia/27shanghai.html?_r=1
SHANGHAI — A 28-year-old man convicted of killing six police officers was executed by lethal injection on Wednesday morning, according to state media, ending a case that drew a surprising amount of public sympathy for the man.
The execution came shortly after the nation’s highest court, the Supreme People’s Court in Beijing, rejected an appeal on behalf of the unemployed Beijing man, Yang Jia, who stormed a Shanghai police station on July 1 and stabbed six officers to death.
Mr. Yang said he had been wrongly accused of stealing a bicycle and been beaten by the Shanghai police in October 2007; the police have acknowledged that they questioned him about riding an unlicensed bicycle but denied beating him. Mr. Yang wrote to the Shanghai police and demanded compensation for psychological damage. He eventually called his assault at the police station a revenge attack.
To many Chinese, he became a symbol of the little guy standing up against police harassment and government injustice. During his two trials, supporters gathered in crowds outside the courthouse in Shanghai. Some wore T-shirts with Mr. Yang’s image; some called him a hero.
Outside of Shanghai, some Chinese newspapers published sympathetic portraits of Mr. Yang.
Lawyers for Mr. Yang said he was mentally unstable and not fit to stand trial. But prosecutors labeled him a cold-blooded murderer who had committed the crime with “ premeditated malice and thorough preparation.” He was convicted Sept. 1 and sentenced to death. The courts rejected several appeals.
At 9 a.m. on Wednesday, after eating some porridge, Mr. Yang was executed by lethal injection, according to the state-run news media.
In a telephone interview Wednesday evening, Mr. Yang’s father, Yang Fusheng, said he was outraged at China’s judicial system and devastated by his son’s execution.
“I’ve tried my best to help my son, save his life, but failed, what can I say?” he said by phone. “It was a bitterly sad experience for these four months, the hardest and darkest time in our life. I’ll remember firmly and deeply in my heart every minute of suffering, every attempt and every appeal that I tried; I promise I will never forget it. And now I lost my son. I’ve realized how powerless common people are.”
A day after Mr. Yang was accused of killing the officers, his mother, Wang Jingmei, was detained in Beijing and sent to a local mental hospital. Her family said they were never told where she was held or by whom; they knew only that she had disappeared. She was released last Sunday, they said, and allowed to visit her son on Monday.
Mr. Yang’s father said that he visited his son once, on Oct. 16, and that he was not allowed another visit. The state media account of his son’s death did not answer his deepest questions.
“I still don’t know where he was executed, how they executed him, if he died calmly or painfully, what he wanted to say to me and to his mother,” Mr. Yang’s father said. “It’s inhuman that the government deprived my right to see my own son; it taught me bitterly, that the scale of justice and law is always leaning toward to the one who has the power, toward so mighty a government.”
Chen Yang contributed research from Beijing.
Kẻ giết hại các cảnh sát viên, nhưng là người hùng đối với một số dân chúng Trung Quốc, đã bị hành quyết
DAVID BARBOZA
Ngày 26-11-2008
http://www.nytimes.com/2008/11/27/world/asia/27shanghai.html?_r=1
THƯỢNG HẢI -- Một người đàn ông 28 tuổi bị kết tội giết hại sáu nhân viên cảnh sát đã bị xử tử hình bằng cách tiêm thuốc độc vào sáng thứ Tư, theo tin từ truyền thông nhà nước, kết thúc vụ án từng lôi cuốn một số lượng lớn đáng kinh ngạc về sự đồng cảm của công chúng đối với anh ta.
Tòa án Nhân dân Tối cao Thượng Hải - Dương Gia trong quá trình xét xử anh vào tháng Mười tại Thượng Hải về tội đã giết sáu nhân viên cảnh sát (hình: AFP)
http://f3.yahoofs.com/blog/46e3bbe0z25f93a82/73/__sr_/e67f.jpg?mggD3MJBLd8CfiWk
Bản án tử hình đã được thi hành nhanh chóng sau khi tòa tối cao quốc gia, gọi là Tòa án Nhân dân Tối cao tại Bắc Kinh, đã không chấp nhận một đề nghị kháng án nhân danh người đàn ông Bắc Kinh thất nghiệp, anh Dương Gia, từng lao vào một đồn cảnh sát ở Thượng Hải ngày 1 tháng Bảy và đâm sáu nhân viên cảnh sát cho tới chết.
Anh Dương cho biết mình bị buộc tội oan là đã ăn cắp một chiếc xe đạp, rồi bị cảnh sát Thượng Hải đánh đập vào tháng Mười năm 2007; cảnh sát thừa nhận rằng họ đã hỏi anh ta về việc anh sử dụng một chiếc xe đạp không đăng ký song lại phủ nhận là đã đánh đập anh. Anh Dương đã gửi thư cho cảnh sát Thượng Hải và đòi có sự đền bù những tổn thất về tâm lý. Cuối cùng anh đã coi cuộc tấn công của mình vào đồn cảnh sát là một hành động báo thù.
Đối với nhiều người Trung Quốc, anh đã trở thành một biểu tượng về một kẻ tầm thường mà đã dám đứng lên chống lại thói quấy rối của cảnh sát và sự bất công của chính quyền. Trong thời gian diễn ra hai phiên toà, những người ủng hộ anh đã tập họp thành những đám đông bên ngoài phòng xử án tại Thượng Hải. Một số người đã mặc những chiếc áo phông có hình ảnh anh Dương; một số khác đã gọi anh là một người anh hùng.
Bên ngoài Thượng Hải, một số tờ báo đã cho đăng tải những bức chân dung của Dương với vẻ mặt dễ mến.
Các luật sư bảo vệ cho anh Dương nói là anh đã không ổn định về tinh thần và không đủ sức khỏe để ra tòa. Thế nhưng các công tố viên đã liệt anh vào loại sát nhân có máu lạnh, kẻ đã phạm tội ác với "bản tính hiểm độc có dự tính trước và chuẩn bị kỹ lưỡng." Anh đã bị tuyên là có tội vào ngày 1 tháng Chín và bị kết án tử hình.
Vào hồi 9 giờ hôm thứ Tư, sau khi ăn một ít cháo đặc, anh Dương đã bị hành quyết bằng cách tiêm thuốc độc, theo tin từ báo chí của nhà nước cho hay.
Trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại vào tối thứ Tư, cha anh Dương, ông Dương Phú Sinh, cho biết ông căm giận hệ thống luật pháp của đất nước Trung Quốc và đã choáng váng trước bản án tử hình đứa con trai của mình.
"Tôi đã có những nỗ lực lớn nhất để giúp cho con trai tôi, để cứu lấy cuộc sống của nó, thế nhưng tôi đã thất bại, Tôi có thể nói gì bây giờ?" ông giãi bày qua điện thoại. "Đó là một trải nghiệm cay đắng đau buồn suốt bốn tháng này, là quãng thời gian khắc nghiệt và tối tăm nhất trong cuộc đời chúng tôi. Tôi sẽ nghi nhớ sâu đậm trong trái tim mình mọi giây phút đau đớn, mọi nỗ lực và mọi lời khẩn cầu mà tôi đã cố gắng; tôi hứa là sẽ không bao giờ quên nó. Và giờ đây tôi đã mất con trai rồi. Tôi nhận ra là những người dân bình thường đã phải bất lực đến thế nào."
Một ngày sau khi anh Dương Gia bị cáo buộc đã giết các nhân viên cảnh sát, mẹ anh, bà Vương Tinh Mỹ, đã bị bắt giữ tại Bắc Kinh và bị đưa tới một bệnh viện tâm thần địa phương. Gia đình bà kể là họ đã không hề được ai nói cho biết nơi bà bị giam giữ hoặc ai đã giam giữ bà; họ chỉ biết rằng bà đã biến mất. Bà được thả ra hôm Chủ nhật tuần trước, họ kể, và được phép tới thăm con hôm thứ Hai.
Cha của anh Dương nói là ông chỉ được tới thăm con trai mình một lần, vào hôm 16 tháng Mười, và anh đã không được phép có cuộc thăm viếng nào khác. Bản miêu tả của báo chí nhà nước về cái chết của con trai ông đã không giải đáp được những điều nghi vấn nhất của ông.
"Tôi vẫn không biết nơi mà nó bị hành hình, cách họ hành hình nó, nó chết nhẹ nhàng hay đau đớn, nó muốn nói với tôi và mẹ nó điều gì," cha anh Dương than thở. "Thật là vô nhân đạo khi chính quyền đã tước đi cái quyền của tôi được nhìn thấy con trai tôi; điều này đã dạy cho tôi bài học cay đắng, là cán cân công lý và luật pháp luôn luôn nghiêng về phía những kẻ có quyền lực, về phía một chính quyền hùng mạnh như thế."
Trần Dương đã bổ sung thông tin từ Bắc Kinh.
Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008
Saturday November 29, 2008 - 11:58am (ICT)
http://blog.360.yahoo.com/blog-C6To.awlc6eMWmDUvAozkYGe?p=2689
-----------------------
Shanghai Higher People's Court, via Agence France-Presse — Getty Images
Yang Jia during his trial in October in Shanghai on charges of killing six police officers.
The New York Times
Police Officers’ Killer, Hero to Some Chinese, Is Executed
By DAVID BARBOZA
Published: November 26, 2008
http://www.nytimes.com/2008/11/27/world/asia/27shanghai.html?_r=1
SHANGHAI — A 28-year-old man convicted of killing six police officers was executed by lethal injection on Wednesday morning, according to state media, ending a case that drew a surprising amount of public sympathy for the man.
The execution came shortly after the nation’s highest court, the Supreme People’s Court in Beijing, rejected an appeal on behalf of the unemployed Beijing man, Yang Jia, who stormed a Shanghai police station on July 1 and stabbed six officers to death.
Mr. Yang said he had been wrongly accused of stealing a bicycle and been beaten by the Shanghai police in October 2007; the police have acknowledged that they questioned him about riding an unlicensed bicycle but denied beating him. Mr. Yang wrote to the Shanghai police and demanded compensation for psychological damage. He eventually called his assault at the police station a revenge attack.
To many Chinese, he became a symbol of the little guy standing up against police harassment and government injustice. During his two trials, supporters gathered in crowds outside the courthouse in Shanghai. Some wore T-shirts with Mr. Yang’s image; some called him a hero.
Outside of Shanghai, some Chinese newspapers published sympathetic portraits of Mr. Yang.
Lawyers for Mr. Yang said he was mentally unstable and not fit to stand trial. But prosecutors labeled him a cold-blooded murderer who had committed the crime with “ premeditated malice and thorough preparation.” He was convicted Sept. 1 and sentenced to death. The courts rejected several appeals.
At 9 a.m. on Wednesday, after eating some porridge, Mr. Yang was executed by lethal injection, according to the state-run news media.
In a telephone interview Wednesday evening, Mr. Yang’s father, Yang Fusheng, said he was outraged at China’s judicial system and devastated by his son’s execution.
“I’ve tried my best to help my son, save his life, but failed, what can I say?” he said by phone. “It was a bitterly sad experience for these four months, the hardest and darkest time in our life. I’ll remember firmly and deeply in my heart every minute of suffering, every attempt and every appeal that I tried; I promise I will never forget it. And now I lost my son. I’ve realized how powerless common people are.”
A day after Mr. Yang was accused of killing the officers, his mother, Wang Jingmei, was detained in Beijing and sent to a local mental hospital. Her family said they were never told where she was held or by whom; they knew only that she had disappeared. She was released last Sunday, they said, and allowed to visit her son on Monday.
Mr. Yang’s father said that he visited his son once, on Oct. 16, and that he was not allowed another visit. The state media account of his son’s death did not answer his deepest questions.
“I still don’t know where he was executed, how they executed him, if he died calmly or painfully, what he wanted to say to me and to his mother,” Mr. Yang’s father said. “It’s inhuman that the government deprived my right to see my own son; it taught me bitterly, that the scale of justice and law is always leaning toward to the one who has the power, toward so mighty a government.”
Chen Yang contributed research from Beijing.
Subscribe to:
Posts (Atom)