Monday, February 27, 2023

BINH PHÁP TRƯỜNG KỲ CHO ĐÀI LOAN : TẠI SAO GIẢI PHÁP TỐT NHẤT LÀ KHÔNG CÓ GIẢI PHÁP (Jude Blanchette & Ryan Hass   -  Foreign Affairs)

 



Binh pháp trường kỳ cho Đài Loan: Tại sao giải pháp tốt nhất là không có giải pháp (Phần 1)   

Jude Blanchette & Ryan Hass   -  Foreign Affairs

Số tháng 1/tháng 2-2023

Đỗ Kim Thêm dịch -

26/02/2023

https://baotiengdan.com/2023/02/26/binh-phap-truong-ky-cho-dai-loan-tai-sao-giai-phap-tot-nhat-la-khong-co-giai-phap-phan-1/

 

Suốt 70 năm qua, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã thu xếp để tránh được thảm họa đối với Đài Loan. Nhưng các chính giới của Hoa Kỳ đang đồng thuận là, nền hòa bình này có thể không kéo dài lâu hơn nữa.

 

Hiện nay, giới phân tích và hoạch định chính sách lập luận rằng Mỹ phải sử dụng tất cả sức mạnh quân sự để chuẩn bị cho cuộc chiến với Trung Quốc ở eo biển Đài Loan. Vào tháng 10 năm 2022, Mike Gilday, Chỉ huy trưởng Hải quân Hoa Kỳ, cảnh báo rằng Trung Quốc có thể đang chuẩn bị xâm chiếm Đài Loan trước năm 2024. Các dân biểu Quốc hội, bao gồm Seth Moulton, dân biểu đảng Dân chủ và Mike Gallagher, dân biểu đảng Cộng hòa, đã lặp lại quan điểm của Gilday.

 

Có những lý do vững chắc để Hoa Kỳ tập trung vào việc bảo vệ Đài Loan. Quân đội Hoa Kỳ bị ràng buộc bởi Đạo luật Quan hệ Đài Loan (Taiwan Relations Act) năm 1979 để duy trì khả năng chống lại việc sử dụng vũ lực hoặc ép buộc đối với Đài Loan. Washington cũng có những lý do mạnh mẽ về chiến lược, kinh tế và đạo đức để giữ vững khi thay mặt cho hòn đảo. Là một nền dân chủ hàng đầu ở trung tâm châu Á, Đài Loan nằm ở vị trí cốt lõi của chuỗi giá trị trên toàn cầu. An ninh của Đài Loan là lợi ích cơ bản cho Hoa Kỳ.

 

Tuy nhiên, cuối cùng, Washington phải đối mặt với một vấn đề chiến lược với yếu tố phòng thủ, không phải là vấn đề quân sự với một giải pháp quân sự. Hoa Kỳ càng thu hẹp trọng tâm nhắm vào các giải pháp quân sự, thì rủi ro đối với các lợi ích của Hoa Kỳ cũng như đối với lợi ích của các đồng minh và Đài Loan càng lớn. Trong khi đó, các binh pháp chiến tranh được đề ra tại Lầu Năm Góc và các Học viện nghiên cứu ở Washington có nguy cơ chuyển hướng tập trung từ những mối đe dọa gay gắt nhất trong ngắn hạn và các thách thức mà Bắc Kinh đưa ra.

 

Chuẩn mực duy nhất mà chính sách của Hoa Kỳ nên đánh giá là, liệu Hoa Kỳ có giúp duy trì hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan không, không phải liệu Hoa Kỳ có giải quyết được vấn đề Đài Loan một lần và mãi mãi hay giữ Đài Loan vĩnh viễn trong phe của Hoa Kỳ. Một khi nhìn theo cách này, mục đích thực sự trở nên rõ ràng: thuyết phục các nhà lãnh đạo Bắc Kinh và Đài Bắc rằng thời gian đang đứng về phía họ khi ngăn chặn xung đột. Mọi thứ mà Hoa Kỳ nên thực hiện là hướng tới mục tiêu đó.

 

Để giữ gìn hòa bình, Hoa Kỳ phải hiểu điều gì thúc đẩy sự lo lắng của Trung Quốc, bảo đảm rằng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không bị ép lui vào chân tường và thuyết phục Bắc Kinh rằng, sự thống nhất thuộc về một tương lai xa vời. Việc thống nhất cũng phải triển khai sự hiểu biết mang nhiều sắc thái hơn về các tính toán hiện tại của Bắc Kinh, một cách tính toán vượt ra ngoài suy đoán đơn giản và không chính xác mà ông Tập đang tăng tốc các kế hoạch xâm lược Đài Loan. Hỗ trợ cho Đài Loan sẽ củng cố không chỉ về mặt an ninh, mà còn cả khả năng chống trả và sự thịnh vượng của hòn đảo. Hỗ trợ Đài Loan cũng sẽ đòi hỏi các việc đầu tư mới của Mỹ trong các công cụ mà nó mang lại lợi ích cho hòn đảo ngoài lĩnh vực quân sự, bao gồm một chiến lược răn đe toàn diện hơn, nhằm đối phó với các chiến thuật cưỡng chế không rõ rệt của Bắc Kinh.

 

Giới phê bình có thể cho rằng phương cách này bỏ qua những vấn đề khó khăn trong nền tảng của cuộc đối đầu, nhưng đó chính là vấn đề: Đôi khi, chính sách tốt nhất là tránh mang lại những thách thức khó giải quyết, thay vào đó là trì hoãn và né tránh giải quyết vấn đề.

 

.

Thay đổi trên mặt biển

 

Trong những năm cuối của nội chiến Trung Quốc 1945-49, phe Quốc Dân Đảng thua cuộc, đã rút lui về Đài Loan, thiết lập một hiệp ước phòng thủ hỗ tương với Hoa Kỳ vào năm 1954. Tuy nhiên, năm 1979, Washington đã cắt đứt những mối quan hệ đó để có thể bình thường hóa quan hệ với Bắc Kinh.

 

Kể từ đó, Hoa Kỳ nỗ lực giữ hòa bình ở eo biển Đài Loan bằng cách ngăn chặn hai hành động có thể dẫn đến xung đột hoàn toàn: Đài Bắc tuyên bố độc lập và Bắc Kinh cưỡng chế thống nhất. Đôi khi, Hoa Kỳ đã kiềm chế Đài Loan khi lo ngại là hòn đảo này đang tiến quá gần đến nền độc lập.

 

Năm 2003, Tổng thống George W. Bush đứng bên cạnh Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo, công khai phản đối “những bình luận và hành động” do Đài Bắc đề xuất mà Hoa Kỳ coi là gây bất ổn. Vào những thời điểm khác, Hoa Kỳ đã thể hiện sức mạnh quân sự trước Bắc Kinh, như đã làm đối với cuộc khủng hoảng ở eo biển Đài Loan vào năm 1995-96, khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton gửi một hàng không mẫu hạm đến vùng biển ngoài khơi Đài Loan để đáp trả một loạt các vụ thử nghiệm hỏa tiễn của Trung Quốc.

 

Những lời tuyên bố trấn an cũng quan trọng đối với phương sách của Hoa Kỳ. Đối với Đài Loan, Hoa Kỳ đã cam kết chính thức theo Đạo luật Quan hệ Đài Loan năm 1979 về việc “giữ gìn và thúc đẩy các mối quan hệ rộng lớn, gần gũi và thân thiện về thương mại, văn hóa và các mối quan hệ khác” với Đài Loan và cung cấp vũ khí phòng thủ cho hòn đảo. Đối với Bắc Kinh, Hoa Kỳ đã liên tục tuyên bố, không ủng hộ sự độc lập của Đài Loan, kể cả trong Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2022. Mục tiêu là tạo ra khoảng cách biệt cho Bắc Kinh và Đài Bắc đình hoãn vô thời hạn việc xung đột hoặc đạt được một số giải pháp chính trị.

 

Trong nhiều thập niên, phương cách này đã vận hành hữu hiệu là nhờ vào ba yếu tố.

 

Thứ nhất, Hoa Kỳ duy trì ưu thế mạnh bạo so với Trung Quốc khi nói đến sức mạnh quân sự, điều này không khuyến khích Bắc Kinh sử dụng vũ lực thông thường để thay đổi mối quan hệ với Đài Loan một cách đáng kể.

 

Thứ hai, Trung Quốc tập trung chủ yếu vào sự phát triển kinh tế và hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, trì hoãn việc giải quyết vấn đề Đài Loan.

 

Thứ ba, Hoa Kỳ đã khéo léo đối phó với những thách thức đối với sự ổn định trong eo biển, cho dù vấn đề bắt nguồn từ Đài Bắc hay Bắc Kinh, nhờ thế đã giúp giảm đi việc châm ngòi cho một cuộc xung đột.

 

Tuy nhiên, ít nhất trong một thập niên qua, cả ba yếu tố này đã phát triển đáng kể. Có lẽ sự thay đổi rõ ràng nhất là quân đội Trung Quốc đã mở rộng khả năng, do các việc đầu tư và cải cách gia tăng trong nhiều thập niên.

 

Năm 1995, khi Hoa Kỳ cho chiến hạm USS Nimitz ra khơi đi về phía eo biển Đài Loan, tất cả những gì mà Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (QĐGPNDTQ, PLA) có thể làm là theo dõi với sự phẫn nộ. Kể từ đó, tình trạng chênh lệch về quyền lực giữa quân đội hai nước đã thu hẹp một cách đáng kể, đặc biệt là ở vùng biển ngoài hải phận Trung Quốc.

 

Hiện nay, Bắc Kinh có thể tấn công dễ dàng các mục tiêu trong hải phận và không phận xung quanh Đài Loan, tấn công các hàng không mẫu hạm của Mỹ đang hoạt động trong khu vực, đánh bại các cơ sở trong phạm vi của Mỹ và đe dọa các căn cứ quân sự của Mỹ ở phía tây Thái Bình Dương, bao gồm các căn cứ ở Guam và Nhật Bản. Bởi vì QĐGPNDTQ có ít kinh nghiệm chiến đấu trong thế giới thực, hiệu quả chính xác của việc chiến đấu vẫn còn phải chờ xem. Dù vậy, khả năng phô trương lực lượng đầy ấn tượng của QĐGPNDTQ đã khiến cho Bắc Kinh tin tưởng rằng, trong trường hợp xảy ra xung đột, Quân đội có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các lực lượng của Hoa Kỳ và Đài Loan hoạt động xung quanh Đài Loan.

 

Bên cạnh việc Trung Quốc nâng cấp quân sự, hơn bao giờ hết, Bắc Kinh hiện đang sẵn sàng chống trả Hoa Kỳ và các nước khác để theo đuổi tham vọng rộng lớn. Bản thân ông Tập đã thu tóm được quyền lực lớn hơn so với những người tiền nhiệm gần đây, và ông dường như chịu nhiều rủi ro hơn khi nói đến Đài Loan.

 

Cuối cùng, Hoa Kỳ đã từ bỏ mọi giả đoán về việc hành xử như một viên trọng tài theo nguyên tắc cam kết giữ nguyên hiện trạng và cho phép hai bên đi đến giải pháp hòa bình của riêng họ. Trọng tâm của Hoa Kỳ đã chuyển sang việc chống lại mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho Đài Loan. Phản ánh sự thay đổi này, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã nhiều lần nói rằng, Hoa Kỳ sẽ can thiệp quân sự thay mặt cho Đài Loan trong một cuộc xung đột xuyên eo biển.

 

(Còn tiếp)

 

                                                     -----------------------

Top of Form

 

Binh pháp trường kỳ cho Đài Loan: Tại sao giải pháp tốt nhất là không có giải pháp (Phần 2)

Jude Blanchette & Ryan Hass   -  Foreign Affairs

Số tháng 1/tháng 2-2023

Đỗ Kim Thêm dịch

27/02/2023

https://baotiengdan.com/2023/02/27/binh-phap-truong-ky-cho-dai-loan-tai-sao-giai-phap-tot-nhat-la-khong-co-giai-phap-phan-2/

 

Ứng chiến, khởi động, xâm lược?

 

Thúc đẩy sự thay đổi này trong chính sách của Mỹ là một bản hợp xướng ngày càng đồng thanh với lập luận là ông Tập đã quyết định phát động một cuộc xâm lược hoặc thực thi lệnh phong tỏa Đài Loan trong tương lai gần. Năm 2021, Đô đốc Philip Davidson, khi đó là Chỉ huy trưởng Bộ Tư lệnh Ấn Độ-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, dự đoán rằng Bắc Kinh có thể chống lại Đài Loan “trong sáu năm tới”. Cùng năm đó, Oriana Skylar Mastro, nhà khoa học chính trị, cũng lập luận tương tự trong tạp chí Foreign Affairs rằng, “đã có những tín hiệu đáng lo ngại rằng Bắc Kinh đang xem xét lại phương cách hòa ái và dự tính thống nhất bằng vũ lực“.

 

Tháng 8 năm 2022, cũng trong tạp chí Foreign Affairs, Elbridge Colby, Cựu Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, trình bày trong tạp chí Foreign Affairs rằng Hoa Kỳ phải chuẩn bị cho một cuộc chiến với Đài Loan sắp xảy ra. Tất cả những phân tích này dựa trên các đánh giá về các khả năng quân sự đang phát triển của Trung Quốc. Nhưng họ không nắm được các lý do tại sao Trung Quốc không sử dụng vũ lực để chống Đài Loan, đứng trước việc sức mạnh quân sự đã vượt trội hơn Đài Loan.

 

Về phần mình, Bắc Kinh vẫn giữ nguyên thông điệp rằng, quan hệ xuyên eo biển đang đi đúng hướng. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục nói với dân chúng rằng thời gian đang đứng về phía họ và cán cân quyền lực đang ngày càng nghiêng về phía Bắc Kinh. Trong bài diễn văn phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) ở Bắc Kinh vào tháng 10-2022, ông Tập tuyên bố “thống nhất trong hòa bình” vẫn là “cách tốt nhất để hiện thực thống nhất hoá qua eo biển Đài Loan” và Bắc Kinh đã “duy trì sáng kiến và khả năng điều khiển trong các mối quan hệ xuyên eo biển“.

 

Tuy nhiên, đồng thời, Bắc Kinh tin rằng Hoa Kỳ đã từ bỏ tất cả chính sách “một Trung Quốc”, trong đó Washington thừa nhận lập trường của Trung Quốc rằng có một Trung Quốc và Đài Loan là một phần của Trung Quốc. Thay vào đó, trong mắt của Bắc Kinh, Mỹ đã bắt đầu sử dụng Đài Loan như một công cụ để làm suy yếu và chia rẽ Trung Quốc. Các xu hướng chính trị nội bộ của Đài Loan đã khuếch đại những lo lắng của Trung Quốc. Quốc Dân Đảng ủng hộ Bắc Kinh trong lịch sử đã bị gạt ra ngoài lề, trong khi Đảng Cấp tiến Dân chủ thiên về tinh thần độc lập đã củng cố quyền lực. Trong khi đó, dư luận ở Đài Loan đã chua chát về công thức hòa giải chính trị mà Bắc Kinh ưa chuộng, đó là chính sách “một quốc gia, hai hệ thống”, trong đó Trung Quốc cai trị Đài Loan nhưng cho phép Đài Bắc có một số phạm vi để tự quản lý về mặt kinh tế và hành chính.

 

Bắt đầu từ năm 2020, công chúng Đài Loan trở nên hoài nghi đặc biệt về ý tưởng này, khi Bắc Kinh từ bỏ lời hứa cho phép Hồng Kông hưởng “một mức độ cao về quyền tự trị” cho đến năm 2047 bằng cách áp đặt luật an ninh quốc gia cứng rắn. Trong các tuyên bố cấp cao, Bắc Kinh đã nhắc lại rằng, “thời gian và động lực” đang đứng về phía Bắc Kinh. Nhưng bên dưới những dự đoán công khai về niềm tin, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể hiểu rằng, công thức “một quốc gia, hai hệ thống” của họ không gây thu hút được Đài Loan và các xu hướng của công luận trên đảo này đi ngược lại viễn tượng của họ về việc hội nhập toàn diện xuyên eo biển.

 

Đài Bắc có cảm giác cấp bách của riêng mình, bị thúc đẩy bởi những lo ngại về sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Bắc Kinh. Đài Bắc đang lo lắng là sự hỗ trợ của Mỹ có thể giảm đi nếu sự quan tâm của Washington chuyển sang nơi khác hoặc quay lưng lại với các cam kết ở nước ngoài. Điệp khúc mới từ chính quyền của Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn là, “tình hình Ukraine hiện nay chính là tương lai của Đài Loan“, nó vừa phản ánh chân thực những lo lắng của Đài Bắc về sự xâm lăng của Trung Quốc vừa là nỗ lực thúc đẩy sự ủng hộ mà nó sẽ vượt ra ngoài biến động hiện tại về địa chính trị. Nói cách khác, một điều mà Bắc Kinh, Đài Bắc và Washington dường như đồng ý là thời gian đang hoạt động chống lại họ.

Ở một mức độ nào đó, cảm giác cấp bách này có cơ sở thực tế. Bắc Kinh có tham vọng rõ ràng và lâu dài về việc sáp nhập Đài Loan và đe dọa công khai sử dụng vũ lực, nếu Bắc Kinh kết luận rằng cánh cửa thống nhất bằng hòa bình đã bị đóng lại. Các phản đối của Bắc Kinh là Hoa Kỳ không còn tuân thủ nữa các hiểu biết về Đài Loan, trong một số trường hợp, là chính xác.

 

Và về phần mình, Đài Bắc đã hợp lý khi lo âu rằng Bắc Kinh đang đặt nền móng để bóp nghẹt hoặc chiếm giữ Đài Loan. Nhưng những lo lắng của Mỹ đã được thổi phòng bởi những phân tích thiếu thận trọng, bao gồm cả những khẳng định rằng Trung Quốc có thể lợi dụng sự phân tâm của Hoa Kỳ ở Ukraine để chiếm giữ Đài Loan bằng vũ lực, hoặc Trung Quốc đang hoạt động theo một thời biểu cố định để hướng tới việc chinh phục bằng quân sự. Ví dụ đầu tiên trong số này đã bị bác bỏ bởi thực tế. Điều thứ hai phản ánh sự hiểu lầm về chiến lược của Trung Quốc.

 

Thực ra, không có bằng chứng chung quyết nào là Trung Quốc đang hoạt động theo một thời biểu cố định để chiếm giữ Đài Loan, và sự lo lắng gia tăng ở Washington chủ yếu được thúc đẩy bởi khả năng quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc hơn là bất kỳ dấu hiệu nào cho thấy ông Tập đang chuẩn bị tấn công hòn đảo này. Theo Bill Burns, Giám đốc cơ quan CIA, ông Tập đã chỉ thị quân đội chuẩn bị cho cuộc xung đột vào năm 2027 và đã tuyên bố rằng diễn tiến cho sự thống nhất với Đài Loan là một yêu cầu để hoàn thành “sự trẻ trung hóa vĩ đại của Trung Quốc”, mà ông đặt năm 2049 làm mục tiêu. Nhưng bất kỳ một thời biểu nào có mục tiêu trong gần ba thập niên cho tương lai chỉ còn là khát vọng.

 

Giống như các nhà lãnh đạo ở khắp mọi nơi, ông Tập muốn ưu tiên bảo vệ quyền tự do hành động trong các vấn đề chiến tranh và hòa bình, và không tự kềm hãm mình trong những kế hoạch mà ông không thể thoát ra. Giới lãnh đạo Trung Quốc dường như đang chi tiêu dồi dào để bảo đảm sự lựa chọn cho giải pháp bằng quân sự trước vấn đề Đài Loan, Mỹ và Đài Loan không được tự mãn. Tuy nhiên, cũng tương tự như vậy, nếu kết luận rằng tương lai đã được báo trước và xung đột không thể tránh khỏi, việc này sẽ sai lầm.

 

Việc xác định các kịch bản xâm lược thúc đẩy các giới hoạch định chính sách của Mỹ triển khai các giải pháp cho các mối đe dọa sai lầm trong ngắn hạn. Các quan chức quốc phòng thích chuẩn bị hơn cho các cuộc phong tỏa và xâm lược, vì các kịch bản như vậy phù hợp nhất với khả năng của Mỹ và dễ dàng nhất để khái niệm hóa vấn đề và lập kế hoạch. Tuy nhiên, điều đáng nhắc lại là trong quá khứ các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chọn các lựa chọn khác ngoài chiếm đóng quân sự để đạt được mục tiêu của họ, chẳng hạn như xây dựng các đảo nhân tạo ở Biển Đông và sử dụng luật pháp ở Hồng Kông.

 

Thật vậy, Đài Loan đã tự bảo vệ mình trước một loạt các cuộc tấn công không thể xác định được của Trung Quốc trong nhiều năm, bao gồm các cuộc tấn công trên mạng, can thiệp vào chính trị bầu cử của Đài Loan và các cuộc thao diễn quân sự nhằm làm suy yếu niềm tin của Đài Loan vào hệ thống phòng thủ của chính mình và hỗ trợ của Hoa Kỳ. Phản ứng của Trung Quốc đối với chuyến công du Đài Loan của Chủ tịch Hạ viện Mỹ Nancy Pelosi vào tháng 8-2022 nhấn mạnh những nỗ lực của Trung Quốc nhằm làm lung lay niềm tin tâm lý của Đài Loan trong việc tự vệ. Sau chuyến viếng thăm, lần đầu tiên, Bắc Kinh điều động hoả tiễn bay qua Đài Loan, tiến hành các hoạt động không kích chưa từng có trên đường trung tuyến eo biển Đài Loan và mô phỏng cuộc phong tỏa các cảng chính của Đài Loan.

 

Mặc dù mối đe dọa quân sự chống Đài Loan là có thật, nhưng nó không phải là thách thức duy nhất, hoặc gần nhất, mà hòn đảo phải đối mặt. Khi Hoa Kỳ tập trung một cách hạn hẹp vào các vấn đề quân sự mà quên đi các mối đe dọa khác cho Đài Loan, Hoa Kỳ có nguy cơ mắc phải hai sai lầm nghiêm trọng: thứ nhất, bù đắp quá mức theo những cách làm leo thang các căng thẳng nhiều hơn là ngăn chặn xung đột; và thứ hai, đánh mất tầm nhìn của các vấn đề chiến lược rộng lớn hơn mà Hoa Kỳ có lẽ phải đối mặt nhiều hơn. Bắc Kinh đã bóp nghẹt mối liên hệ của Đài Loan với các nơi khác còn lại của thế giới và cố gắng thuyết phục dân chúng Đài Loan rằng, lựa chọn duy nhất để tránh sự tàn phá là tuân theo các điều kiện về hòa bình của Bắc Kinh chọn.

 

Đây không phải là một giả thuyết trong tương lai mà vốn dĩ đã là một thực tế trong thường nhật. Và bằng cách thổi phồng về mối đe dọa xâm lược của Trung Quốc, giới phân tích và quan chức Hoa Kỳ đang vô tình làm công tác cho Đảng CSTQ bằng cách dấy lên các lo sợ ở Đài Loan. Họ cũng đang gửi các tín hiệu đến các doanh nghiệp và nhà đầu tư toàn cầu đang hoạt động trong và xung quanh Đài Loan là sẽ có nguy cơ cao độ khi bị mắc kẹt trong một cuộc xung đột quân sự.

 

Một sai lầm khác, cho rằng xung đột không thể tránh khỏi. Khi làm như vậy, Hoa Kỳ và Đài Loan tự ràng buộc mình với việc chuẩn bị bằng mọi cách để có thể cho cuộc xung đột sắp xảy ra, thúc đẩy những kết quả mà họ tìm cách ngăn chặn. Ví dụ, nếu Hoa Kỳ đẩy Trung Quốc vào một góc, bằng cách đóng quân thường trực ở Đài Loan hoặc thực hiện cam kết phòng thủ hỗ tương chính thức khác với Đài Bắc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể cảm thấy sức nặng của áp lực theo tinh thần dân tộc và thực hiện các hành động quyết liệt có thể tàn phá hòn đảo.

 

Hơn nữa, việc mạo hiểm đơn phương trong một cuộc chiến với Hoa Kỳ về Đài Loan sẽ không phù hợp với chiến lược quy mô của ông Tập. Viễn tượng của ông là khôi phục Trung Quốc như một cường quốc hàng đầu trên chính trường thế giới và biến Trung Quốc, như ông nói, trở thành một “quốc gia xã hội chủ nghĩa hiện đại”. Do đó, một mặt, các mệnh lệnh phải chiếm giữ Đài Loan, mặt khác, khẳng định vai trò lãnh đạo toàn cầu đang căng thẳng trực tiếp. Bất kỳ cuộc xung đột nào về Đài Loan sẽ là thảm họa cho tương lai của Trung Quốc.

Nếu các hành động của Bắc Kinh với Đài Loan là quân sự, họ sẽ cảnh báo các nơi khác còn lại trong khu vực là Trung Quốc thoải mái với việc tiến hành chiến tranh để đạt mục tiêu, có khả năng kích hoạt các nước châu Á khác vũ trang và đoàn kết để ngăn chặn sự thống trị của Trung Quốc. Xâm lược Đài Loan cũng sẽ gây nguy hiểm cho việc Bắc Kinh thâm nhập tài chính, dữ liệu và các thị trường toàn cầu, hủy hoại quốc gia bị phụ thuộc vào việc nhập khẩu dầu mỏ, thực phẩm và chất bán dẫn.

 

Ngay cả khi cho rằng Bắc Kinh có thể thành công trong việc xâm lược và chiếm giữ Đài Loan, sau đó, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với vô số vấn đề. Nền kinh tế Đài Loan sẽ sụp đổ, bao gồm cả ngành công nghiệp bán dẫn vô cùng quý giá trên toàn cầu. Vô số thường dân sẽ chết hoặc bị thương, và những người sống sót sau cuộc xung đột sẽ căm thù tột độ với sức mạnh quân sự xâm lược. Bắc Kinh có thể sẽ phải đối mặt với những đòn đáp trả ngoại giao và trừng phạt chưa từng có. Xung đột ngay ngoài khơi hải phận phía đông của Trung Quốc sẽ làm mất khả năng như là một trong những hành lang hàng hải bận rộn nhất thế giới, gây ra những hậu quả tai hại cho nền kinh tế của Trung Quốc chuyên về việc xuất khẩu.

 

Và tất nhiên, khi xâm lược Đài Loan, Trung Quốc sẽ tạo ra sự tham gia quân sự của Hoa Kỳ và có lẽ là các cường quốc khác trong khu vực, gồm cả Nhật Bản. Đây sẽ là định nghĩa chính xác của một loại chiến thắng không đáng đạt được hưởng.

 

Những thực tế này ngăn cản Trung Quốc tích cực xem xét đến một cuộc xâm lăng. Giống như tất cả những người tiền nhiệm, ông Tập muốn trở thành nhà lãnh đạo cuối cùng sáp nhập Đài Loan. Nhưng trong hơn 70 năm, Bắc Kinh đã kết luận rằng, cái giá của một cuộc xâm lược vẫn còn quá cao, và điều này giải thích tại sao Trung Quốc thay vào đó chủ yếu dựa vào các biện pháp khích lệ về kinh tế, và gần đây là các cưỡng chế không minh bạch.

Khác xa với việc có một kế hoạch được cân nhắc kỹ lưỡng để đạt được sự thống nhất, thật ra, Bắc Kinh đang bị mắc kẹt trong con đường cùng về chiến lược. Sau khi Bắc Kinh chà đạp lên quyền tự trị của Hồng Kông, không ai có thể tin rằng Trung Quốc sẽ giải quyết cuộc khủng hoảng ở eo biển thông qua chính sách “một quốc gia, hai hệ thống”. Hy vọng của Trung Quốc là lực hút của nền kinh tế sẽ đủ để đưa Đài Bắc vào bàn đàm phán cũng đã bị dập tắt, một nạn nhân của cả thành công kinh tế của Đài Loan và sự quản lý kinh tế yếu kém của ông Tập.

 

Một cuộc xâm lược Đài Loan không giải quyết được bất kỳ vấn đề nào trong số các vấn đề này. Ông Tập sẽ chỉ mạo hiểm nếu khi nào tin rằng ông không có lựa chọn nào khác. Không có các dấu hiệu nào cho thấy, ông Tập, dù bất cứ nơi nào, đến gần kết luận như vậy. Hoa Kỳ nên cố gắng giữ kết luận theo cách này. Không có bài phát biểu nào của ông Tập giống với những đe dọa mà Tổng thống Nga Vladimir Putin đã đưa ra trước cuộc xâm lược Ukraine. Không thể loại trừ khả năng của ông Tập có thể tính sai hoặc dò dẫm trong cuộc xung đột. Nhưng những tuyên bố và hành vi của ông Tập không cho thấy [ông ta] sẽ hành động một cách liều lĩnh như vậy.

 

(Còn tiếp)

 

                                                             **********

 

Binh pháp trường kỳ cho Đài Loan: Tại sao giải pháp tốt nhất là không có giải pháp (Phần cuối)

Jude Blanchette & Ryan Hass   -  Foreign Affairs

Số tháng 1/tháng 2-2023

Đỗ Kim Thêm dịch

27/02/2023

https://baotiengdan.com/2023/02/27/binh-phap-truong-ky-cho-dai-loan-tai-sao-giai-phap-tot-nhat-la-khong-co-giai-phap-phan-cuoi/

 

Bảo toàn lực lượng

 

Ngay cả khi ông Tập chưa xét đến việc thống nhất bằng vũ lực, Mỹ vẫn phải thể hiện việc chắc chắn khả năng của mình trong việc bảo vệ lợi ích ở eo biển Đài Loan. Trong khi đó, các quyết định quân sự không được phép xác định phương sách tổng thể của Hoa Kỳ, như giới phân tích và hoạch định chính sách đang tích cực đề xuất rằng họ nên làm như vậy.

 

Thực tế không thể tránh khỏi là, không có việc gia tăng sức mạnh quân sự nào của Mỹ có thể triển khai trong năm năm tới sẽ làm thay đổi cơ bản cán cân quân sự. Hoa Kỳ phải dựa vào nghệ thuật lãnh đạo đất nước và một loạt các công cụ rộng lớn hơn để xác minh với Bắc Kinh về cái giá quá đắc trong việc sử dụng vũ lực để bắt buộc thống nhất.

 

Mục tiêu tối hậu của một chính sách Đài Loan bền vững nên là, giữ gìn hòa bình và ổn định, tập trung vào việc kéo dài triển vọng về thời gian của Bắc Kinh để họ coi việc thống nhất như là một kịch bản cho “một ngày nào đó”. Hoa Kỳ đặc biệt phải tránh đẩy Tập vào chân tường, ngăn chặn tình huống mà ông ta không còn coi Đài Loan là một mục tiêu dài hạn, mà là một cuộc khủng hoảng sắp xảy ra. Phương cách khác biệt này sẽ kéo theo một sự thay đổi khó chịu trong tư duy đối với giới phân tích và hoạch định chính sách, họ coi Mỹ và Trung Quốc đang bị mắc kẹt trong một cuộc hạ màn trình diễn không thể tránh khỏi và coi bất kỳ sự nhạy cảm nào của Bắc Kinh như là một nhượng bộ nguy hiểm.

 

Điều này không có nghĩa là mục tiêu trong chính sách của Mỹ nên tránh chọc giận Bắc Kinh. Không có bằng chứng nào cho thấy sự hỗ trợ của Hoa Kỳ cho Đài Loan bị giảm sút sẽ làm giảm sự nôn nóng của Trung Quốc trong việc thu tóm hòn đảo này, vốn là yếu tố quan trọng trong chuyện thành lập của ĐCSTQ. Nhưng thực tế này có nghĩa là, Hoa Kỳ nên tăng cường sự thịnh vượng, an ninh và khả năng chống trả của Đài Loan theo những cách mà Đài Loan không vô cớ chống lại nước láng giềng hùng mạnh, do một nhà lãnh đạo ngày càng theo tinh thần dân tộc cai trị.

 

Sự hỗ trợ của Hoa Kỳ nên hướng về việc củng cố năng lực của Đài Loan để chống lại toàn bộ các áp lực mà hòn đảo do Trung Quốc gây ra: Đó là các lĩnh vực không gian mạng, kinh tế, thông tin, ngoại giao và quân sự. Nhưng điều quan trọng là Hoa Kỳ phải kềm chế trong việc từ chối các yêu cầu của Đài Loan trong việc mang lại các biểu tượng về chủ quyền, chẳng hạn như việc đổi tên văn phòng ngoại giao của Đài Loan ở Hoa Kỳ, điều này sẽ làm trầm trọng thêm cho Bắc Kinh mà không cải thiện được tình hình an ninh ở eo biển Đài Loan.

 

Cũng tương tự như vậy, các phái đoàn quốc hội nên hướng tới việc thúc đẩy các mục tiêu chuyên biệt để bảo đảm rằng các lợi ích có được nhiều hơn chi phí. Hoa Kỳ nên chuyển sự hỗ trợ của mình cho Đài Loan vào các lĩnh vực để giải quyết cụ thể các tình trạng có thể bị tổn thương, chẳng hạn như giúp Đài Loan trong việc đa dạng hóa lưu lượng thương mại, nhận được các hệ thống vũ khí phòng thủ bất đối xứng và dự trữ thực phẩm, nhiên liệu, thuốc men và đạn dược mà họ sẽ cần đến, khi có khủng hoảng.

 

Đó là một ảo tưởng để an ủi rằng, giải pháp cho các căng thẳng xuyên eo biển chỉ nằm trong việc đơn giản là tăng cường khả năng quân sự của Đài Loan và Hoa Kỳ để Bắc Kinh quyết định rằng, họ phải đứng sang một bên và Đài Loan đi theo con đường riêng của mình. Thật ra, Bắc Kinh sẽ không ngồi yên khi nhìn khả năng phòng thủ của Mỹ và Đài Loan ngày càng mạnh mẽ hơn.

 

Thật vậy, việc thể hiện sức mạnh hải quân Hoa Kỳ trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan 1995-1996 đã gây ra hậu quả không lường đoán là kích động một làn sóng đầu tư mới của QĐGPNDTQ, mà nó đã làm suy yếu sự thống trị của quân đội Hoa Kỳ. Những nỗ lực hiện tại của Đài Bắc hoặc Washington nhằm chuẩn bị cho xung đột quân sự sẽ giải thích phản ứng có thể dự đoán được của QĐGPNDTQ.

 

Bất kỳ phương sách nào để duy trì hòa bình ở eo biển Đài Loan phải bắt đầu bằng việc am hiểu về vấn đề Đài Loan liên hệ sâu đậm đến chính trị như thế nào đối với Trung Quốc. Đáng chú ý là, cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan 1995-1996 và sự gia tăng các căng thẳng gần đây liên quan đến chuyến công du Đài Loan của Pelosi được thúc đẩy bởi các vấn đề có thể nhận ra được về tầm mức quan trọng trong chính trị, không phải bởi việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan hoặc nỗ lực hỗ trợ cho Đài Bắc trong các tổ chức quốc tế hoặc các sáng kiến nhằm tăng cường quan hệ kinh tế song phương. Bài học rút ra là, Mỹ có nhiều cơ hội hơn để ủng hộ cụ thể cho Đài Loan khi họ tập trung vào thực chất hơn là công khai làm suy yếu các tuyên truyền trong nước của Bắc Kinh là Trung Quốc đang đạt được tiến bộ hướng tới việc thống nhất. Chính quyền Trung Quốc chắc chắn sẽ than phiền về những nỗ lực thầm lặng hơn, chẳng hạn như mở rộng các cuộc đối thoại quốc phòng giữa Hoa Kỳ và Đài Loan, nhưng những điều này vẫn dưới mức gây ra bối rối công khai cho Bắc Kinh.

 

Theo đó, các hành động của Mỹ nên vừa ủng hộ Đài Loan một cách có ý nghĩa và vừa tạo cho ông Tập một phạm vi ở trong nước để tuyên bố rằng cuối cùng con đường thống nhất vẫn còn rộng mở. Các ví dụ về những nỗ lực như vậy bao gồm đào sâu phối hợp giữa Hoa Kỳ và Đài Loan về khả năng phục hồi chuỗi cung ứng, đa dạng hóa thương mại của Đài Loan thông qua đàm phán thỏa thuận thương mại song phương, tăng cường phối hợp y tế công cộng, cung cấp nhiều vũ khí phòng thủ bất đối xứng hơn cho Đài Loan và tập hợp các nguồn lực để tăng tốc đổi mới các công nghệ mới nổi như điện toán lượng tử và ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Tất cả những nỗ lực như vậy sẽ tăng cường năng lực của Đài Loan trong việc cung cấp y tế, sự an toàn và thịnh vượng của người dân mà không công khai thách thức tuyên truyền của Bắc Kinh về sự thống nhất cuối cùng.

 

Ngoài ra, Hoa Kỳ phải ủng hộ chính sách với một vị thế quân sự đáng tin cậy ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, chú trọng nhiều hơn vào các hệ thống vũ khí nhỏ, phân tán trong khu vực và đầu tư lớn hơn vào các hệ thống tên lửa chống bề mặt và chống hạm tầm xa. Những đầu tư như vậy có thể củng cố khả năng của Hoa Kỳ trong việc từ chối các cơ hội của Trung Quốc để bảo đảm lợi ích quân sự nhanh chóng đối với Đài Loan. Và nếu Mỹ gửi vũ khí một cách kín đáo, điều đó sẽ khiến Bắc Kinh thất vọng nhưng để cho Trung Quốc ít có cơ hội biện minh về việc sử dụng vũ lực như một phản ứng thích hợp. Nói cách khác, Hoa Kỳ nên làm nhiều hơn và nói ít hơn.

 

Hoa Kỳ cũng nên chống lại việc xem vấn đề Đài Loan như một cuộc cạnh tranh giữa chủ nghĩa độc tài và dân chủ, như một số quan chức ở Đài Bắc đã thúc giục. Một khuôn khổ như vậy là điều dễ hiểu, đặc biệt sau cuộc xâm lược thảm khốc của Nga ở Ukraine. Sẽ dễ dàng hơn để thuyết phục người Mỹ về giá trị của một Đài Loan an toàn và thịnh vượng khi đối chiếu các tương phản về bản sắc dân chủ tự do của Đài Loan với sự tuột dốc về chuyên quyền ngày càng tệ hại của Bắc Kinh.

 

Tuy nhiên, khảo hướng này chẩn đoán sai vấn đề. Thách thức ngày càng gia tăng đối với việc duy trì hòa bình ở eo biển Đài Loan không bắt nguồn từ bản chất của hệ thống chính trị Trung Quốc, một hệ thống vốn luôn theo chủ thuyết Lenin hoàn toàn không có tự do và không có thoả hiệp, hệ thống này lại có khả năng dự phóng về quyền lực ngày càng tăng, biết kết hợp với việc củng cố quyền lực xung quanh ông Tập.

 

Có lẽ đáng lo ngại hơn là khảo hướng này khoá chặt Washington vào bên trong. Nếu Hoa Kỳ tô vẽ các mối quan hệ xuyên eo biển bằng các đường lối ý thức hệ tươi sáng, điều đó sẽ cản trở giới hoạch định chính sách Hoa Kỳ, tạo ra các lựa chọn mang sắc thái không rõ ràng. Như Thomas Schelling, nhà lý thuyết về trò chơi người Mỹ, đã chứng minh, việc ngăn chặn kẻ thù đòi hỏi sự pha trộn giữa các mối đe dọa đáng tin cậy và sự bảo đảm đáng tin cậy.

 

Sự bảo đảm đòi hỏi phải thuyết phục Bắc Kinh rằng, nếu Bắc Kinh kềm chế việc sử dụng vũ lực, thì Hoa Kỳ sẽ trì hoãn việc ủng hộ nền độc lập của Đài Loan. Khi chính sách của Hoa Kỳ về Đài Loan thâm nhập với ý thức hệ, uy tín của các bảo đảm của Mỹ giảm đi và sự sẵn sàng của Hoa Kỳ trong việc cung cấp sự bảo đảm cho Trung Quốc trở nên bị cấm đoán. Xem xét các mối quan tâm của Bắc Kinh có thể không phù hợp với tinh thần theo thời đại của phe diều hâu ở Washington, nhưng kiểu đồng cảm về chiến lược này là bắt buộc để dự đoán về cách tính toán và quyết định của đối thủ.

 

Đóng khung các căng thẳng như là một cuộc đấu tranh ý thức hệ cũng có nguy cơ đẩy Trung Quốc vào chân tường, bởi vì tình trạng này nuôi dưỡng những lo âu của Bắc Kinh là Hoa Kỳ sẽ chống đối thương trực bất kỳ loại giải pháp nào cho vấn đề Đài Loan. Điều này có thể khiến Bắc Kinh kết luận rằng, lựa chọn duy nhất của họ là khai thác sức mạnh quân sự để vượt qua sự chống đối của Hoa Kỳ và buộc Đài Loan phải khuất phục, ngay cả với một cái giá quá cao về kinh tế và chính trị. Bất kỳ nhà lãnh đạo Trung Quốc nào cũng sẽ coi việc Đài Loan thoát khỏi sự chiếm lấy của Trung Quốc là một mất mát sống còn. Bình luận của Biden vào tháng chín năm 2022 là Hoa Kỳ sẽ đứng ra bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc tiến hành một “cuộc tấn công chưa từng có” đã một lần nữa làm gay gắt thêm cuộc tranh luận về việc liệu chính sách của Hoa Kỳ có đang chuyển sang việc trình bày rõ ràng hơn về thời điểm và cách thức mà Hoa Kỳ sẽ can thiệp, nhân danh cho Đài Loan không.

 

Tuy nhiên, cuộc tranh luận về “sự minh bạch trong chiến lược” là một sự phân tâm. Một mặt, quân đội Trung Quốc vốn dĩ cho rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp nếu Trung Quốc tiến hành một cuộc xâm lược toàn diện, vì vậy từ quan điểm của Bắc Kinh, sự tham gia của Hoa Kỳ đã được đưa vào các kế hoạch quân sự. Hơn nữa, trong trường hợp không có hiệp ước phòng thủ hỗ tương giữa Hoa Kỳ và Đài Loan, vốn không được đặt ra, nên không có yêu cầu ràng buộc nào đối với Washington để can thiệp, ngay cả khi một tổng thống đã đề xuất rằng nên làm như vậy.

 

Hơn nữa, một cuộc xâm lược hoàn toàn và vô cớ của QĐGPNDTQ là kịch bản ít có khả năng xảy ra nhất mà Hoa Kỳ sẽ gặp phải, và do đó, cách mà Hoa Kỳ phản ứng với sự xâm lược của Bắc Kinh chắc chắn sẽ phụ thuộc vào các hoàn cảnh cụ thể về một cuộc tấn công của Trung Quốc. Theo nghĩa này, chính ý tưởng “sự rõ ràng trong chiến lược” là “rõ ràng” là một huyền thoại.

 

Làm sinh động lại một cuộc tranh luận kéo dài hàng thập niên qua về sự rõ ràng trong chiến lược là quan trọng hơn việc tập trung vào cách mà chính sách “một Trung Quốc” của Hoa Kỳ nên được điều chỉnh để đáp ứng những thách thức mới và cấp bách do một Trung Quốc hùng mạnh và hung hăng hơn gây ra. Chỉ đơn giản xác định rằng, chính sách của Hoa Kỳ đã không thay đổi, như khi Nhà Trắng hành động theo sau những lời phát biểu của Biden, nó trở nên trống rỗng đối với Bắc Kinh và bất kỳ nhà quan sát trung thực nào về chính sách của Hoa Kỳ trong sáu năm qua.

 

Hành động quân bình

 

Thay vì duy trì việc hư cấu về sự bất biến, Hoa Kỳ nên nói sự thật: Các quyết định của họ được dựa trên quyết tâm giữ hòa bình cho eo biển Đài Loan, và nếu Bắc Kinh gia tăng áp lực đối với Đài Bắc, Washington sẽ điều chỉnh lập trường của mình cho phù hợp. Và Hoa Kỳ nên cam kết rằng sẽ làm điều tương tự nếu Đài Loan theo đuổi các biện pháp biểu tượng làm suy yếu các tình trạng xuyên eo biển. Khảo hướng như vậy sẽ nhận ra rằng, hiện trạng ở eo biển Đài Loan là năng động, không cố định. Nó sẽ công nhận quyền tự do quyết định của Bắc Kinh trong việc duy trì hoặc phá hoại hòa bình. Washington nên xác minh rằng, nếu Bắc Kinh hoặc Đài Bắc làm đảo lộn sự ổn định ở eo biển, họ sẽ tìm cách thiết lập lại tình cân bằng. Nhưng để có phương cách vận hành hiệu quả như vậy, các hành động và ý định của Hoa Kỳ phải rõ ràng, và cam kết của họ đối với tình trạng cân bằng này phải được đáng tin cậy.

 

Hoa Kỳ cần kiên quyết và nhất quán trong việc tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ chấp nhận bất kỳ giải pháp nào đối với các căng thẳng xuyên eo biển đang đạt được một cách hòa bình và phù hợp với quan điểm của người dân Đài Loan. Nếu ông Tập muốn tìm một con đường hòa bình để thống nhất, điều mà ông và các nhà lãnh đạo Trung Quốc khác vẫn nhấn mạnh là chọn lựa ưu tiên của họ, thì ông phải trình bày phương án này cho công chúng Đài Loan. Sự thật là việc hòa giải như vậy có thể không đến trong nhiều thập niên, nếu có.

 

Nhưng dù sao cũng đáng để theo đuổi một nền hòa bình mà nó cho phép Đài Loan phát triển và thịnh vượng trong một môi trường khu vực ổn định, ngay cả khi mục tiêu như vậy không có ý nghĩ chung quyết mà giới phân tích và hoạch định chính sách Mỹ mong đợi.

Sau nửa thập niên suy vi, mối quan hệ Mỹ-Trung đứng trước bờ vực khủng hoảng. Xung đột song phương đã chuyển từ thương mại sang công nghệ và hiện nay, đến mối đe dọa đối đầu quân sự trực tiếp. Điều chắc chắn là các mối đe dọa của Bắc Kinh đối với Đài Loan là nguyên nhân chính của các mối căng thẳng qua eo biển. Nhưng thực tế thẳng thừng này chỉ nhằm làm nổi bật tầm quan trọng của việc Hoa Kỳ hành động với việc tiên đoán, quyết tâm và khéo léo.

 

Một cuộc đối đầu trực tiếp giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ tàn phá nhiều thế hệ. Thành công sẽ được đo lường hằng ngày mà người dân Đài Loan tiếp tục sống trong sự an toàn và thịnh vượng và được hưởng quyền tự chủ chính trị.

 

Các mục tiêu cơ bản trong các nỗ lực của Mỹ phải là giữ gìn hòa bình và ổn định, củng cố niềm tin của Đài Loan vào tương lai và chứng minh một cách đáng tin cậy với Bắc Kinh rằng bây giờ không phải là lúc để bắt buộc một cuộc đối đầu đầy bạo lực.

 

 

Để đạt được những mục tiêu này đòi hỏi phải kéo dài thời gian, không đưa lên hàng đầu một thách thức khó giải quyết. Nghệ thuật lãnh đạo nhà nước khôn ngoan, hơn cả sức mạnh quân sự, đem lại con đường tốt nhất dẫn đến hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan.

_______

Tác giả: 

 

Jude Blanchette là Trưởng Ban Nghiên cứu về Trung Quốc tại Center for Strategic and International Studies), tác giả cuốn sách China’s New Red Guards: The Return of Radicalism and the Rebirth of Mao Zedong.

 

Ryan Hass là Thành viên cao cấp, Trưởng Ban Nghiên cứu về Đài Loan và Chính sách Đối ngoại tại Viện Brookings. Từ năm 2013 đến 2017, ông là Giám đốc Nghiên cứu về Trung Quốc, Đài Loan và Mông Cổ tại Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (U.S. National Security Council).

 





No comments: