Monday, June 1, 2009

HÀ NỘI VINH DANH HAI NGƯỜI NGA ƯỚP XÁC HỘ CHÍ MINH

Việt Nam vinh danh hai người Nga ướp xác Hồ Chí Minh
DCVOnline – Tin ngắn (AFP)

01-06-2009
http://www.dcvonline.net/php/modules.php?name=News&file=article&sid=6364 HÀ NỘI - Việt Nam trao tặng hai huân chương cho hai nhà khoa học Nga, những người đã giúp duy trì xác chết của chủ tịch Hồ Chí Minh trong 40 năm qua, Bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay.

Ông Valery Bykov và ông Yuri Denisov-Nikolsky đều nhận Huân chương Độc lập Hạng Ba của Việt Nam, trong một buổi lễ được tổ chức ở Mạc Tư Khoa hôm thứ Tư ngày 27 tháng Năm 2009.

Hai ông đã được vinh danh vì “những đóng góp lớn lao trong 40 năm qua trong việc ướp xác và duy trì xác chết của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như công sức đóng góp xây dựng lăng ông.”

Huân chương Độc lập là huân chương danh dự lớn hàng thứ ba của CHXHCN Việt Nam.

Tháng Chín năm 1969. Nguồn: AFP
http://www.dcvonline.net/php/images/052009/hcm.jpg

Đại tá Nguyễn Văn Cường, chỉ huy Đơn vị Bảo vệ Lăng nói liên bang Xô-Viết trước đây, và bây giờ là Nga, đã giúp huấn luyện một đội ngũ khoa học gia Việt Nam và chuyên gia y-sinh để duy trì xác chết của ông Hồ, Bộ Ngoại giao Việt Nam nói.

Bảo vệ mặc áo vét trắng đứng bảo vệ lăng được xây bằng đá xám, được vây quanh bởi một công viên có nhiều cây nằm ngay ở khu vực có nhiều tòa đại sứ ở Hà Nội, nơi du khách xếp hàng để được xem xác của nhà lãnh đạo cuộc cách mạng Việt Nam chết vào tháng Chín năm 1969.Năm 2007, nhân ngày kỹ niệm cuộc Cách mạng Bôn-sê-vích lần thứ 90 của Nga, phó thư ký của Hội Hữu nghị Việt-Nga bà Nguyễn Thị Minh Hiền cho hay hằng năm các chuyên gia Nga “đến Hà Nội để duy trì xác ướp của ông Hồ.”

© DCVOnline
----------------------------

Nguồn: (1)
Vietnam honours Russian embalmers of Ho Chi Minh. AFP, 28 May 2009

SỰ NHƯỢNG BỘ YẾU THẾ CỦA CHỦ NHÀ VIỆT NAM ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC

Lãnh đạo nước ngoài và các chuyến công du Việt Nam
hay là
sự nhượng bộ yếu thế của phía chủ nhà đối với phía Trung Quốc
Dongsongxanh
Monday May 25, 2009 - 07:21am (CST)
http://blog.360.yahoo.com/blog-E3O5ezo8eqhJy1OJkhW0qjAxaCb4tHLU2Zo-?cq=1&p=662
Có lẽ lãnh đạo nước ngoài thăm Việt Nam ít chuyện để kể hơn, bởi tính chuyên nghiệp cũng như sự chuẩn bị chu đáo ở phía bạn. Chuyện tiếp đón không có gì nổi cộm, nếu có thì chỉ là những câu chuyện hài hước hoặc vui vẻ mà thôi. Có chăng là người anh em Trung Quốc môi hở răng lạnh với mấy bác lãnh đạo Đảng Cộng sản nhà ta là hay có vấn đề. Dongsongxanh chỉ tạm kể câu chuyện gọi là có tính kịch một chút chủ yếu tập trung xoay quanh chuyến thăm của lãnh đạo Trung Quốc để mọi người cùng tỏ.

Lãnh đạo cấp cao nhà nước Trung Quốc thăm Việt Nam thì khỏi cần nói mức độ lễ nghi thế nào rồi, điều đó là đương nhiên như thể con đón cha. Dongsongxanh chỉ kể ở cấp thấp hơn một chút để xem nó có phải vì thế mà giảm bớt đi không.

Người Việt Nam ta, nói đúng hơn là những người lãnh đạo giữ trọng trách cấp cao không hiểu có phải là giống duy tình hay duy lý hay là do yếu tố nào khác, phàm đã là nguyên tắc thì không được phép xâm phạm. Thế nhưng đôi khi cái nguyên tắc ấy lại bị phá vỡ bởi những điều tưởng chừng như không thể.


Xin kể Câu chuyện này làm một ví dụ minh chứng.

Theo thông lệ luân phiên giữa các nước thành viên của Tổ chức…, năm đó, phía chủ nhà Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị quốc tế thường niên lớn, mời hàng chục quan chức cấp cao các nước tham dự. Hội nghị được tổ chức tại 2 nơi là Hà Nội và tỉnh X. Tất nhiên phía Trung Quốc cũng cử đoàn tham gia. Trưởng đoàn là một nhân vật vai vế trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc, tuy cấp bậc chỉ là Ủy viên Trung ương Đảng, nhưng thực tế có sức ảnh hưởng lớn, bởi ủy viên thì cũng có 5, 7 đường ủy viên.
Trước đó, phía Việt Nam và Đại sứ quán Trung Quốc đã có nhiều buổi làm việc cụ thể, trực tiếp để đi đến thống nhất chương trình bố trí đón tiếp cho đoàn trong thời gian tham gia hội nghị và thăm các địa phương của Việt Nam.
Ngày đón đoàn, theo dự kiến 10h đêm máy bay hạ cánh sân bay Nội Bài. Ban đón tiếp phía chủ nhà Việt Nam đã tới đó 2 trước tiếng, cùng với sự có mặt của cán bộ Đại sứ quán Trung Quốc. Những tưởng mọi chuyện đều tốt đẹp, chỉ đợi đoàn xuống máy bay đưa về khách sạn là kết thúc nhiệm vụ. Thế nhưng vấn đề lại phát sinh ngay chính thời điểm này.
Trong lúc cán bộ phía Việt Nam và phía Trung Quốc gặp gỡ tại sân bay, Tham tán chính trị Chu Văn Nhuệ của Đại sứ quán Trung Quốc (hiện đã nghỉ hưu) có đến chào hỏi và trao đổi xã giao với cán bộ ta. Những câu chuyện vãn vu vơ ngoài xã hội cũng chỉ nhằm để giết thời gian chờ đợi, rồi cuối cùng đành quay lại công việc xoay quanh việc tiếp đoàn và hỏi về việc bố trí cho ông Trưởng đoàn nghỉ tại phòng nào ở khách sạn 5 sao Daewoo Hà Nội. Khi được thông báo Trưởng đoàn sẽ nghỉ tại một phòng tiêu chuẩn Deluxe thì tay tham tán này đã sa sầm mặt mày và bày tỏ sự tức giận. Mặc cho cán bộ phía Việt Nam đã giải thích rõ tiêu chuẩn bố trí phòng ốc, phương tiện đi lại cho đoàn đều căn cứ theo tiêu chuẩn cấp bậc tương ứng thể hiện rõ trong qui định của Bộ Tài chính Việt Nam (trước đó phía Trung Quốc cũng đã đồng ý với việc bố trí này).
Tuy nhiên, mặc kệ những lời giải thích thấu tình đạt lý này, tay tham tán chính trị quyết không đồng ý và yêu cầu phải được đổi sang tiêu chuẩn phòng Suite (phòng rất cao cấp). Tại thời điểm đó phòng Deluxe có giá tiền là 1,8 triệu VND/đêm, phòng Suite có giá trên 2,5 triệu VND/đêm (nếu chuyển sang phòng này thì đã vi phạm qui định của Bộ Tài chính). Cuộc nói chuyện càng lúc càng căng thẳng, thậm chí tay tham tán không nghe bất cứ lời giải thích nào nữa, mặt mày đỏ tía tai như muốn nuốt sống cán bộ ta. Một mực khăng khăng đòi phải đổi sang căn phòng trên với lý do Trưởng đoàn Trung Quốc mặc dù chỉ là Ủy viên Trung ương, nhưng cấp bậc tương đương với Phó Thủ tướng. Tình thế phát sinh bất ngờ buộc cán bộ phía Việt Nam phải gọi điện gấp về xin ý kiến lãnh đạo cấp trên, bởi nếu cứ tiếp tục thế này sẽ gây ra những xung đột ngoại giao không cần thiết.
Cuối cùng lãnh đạo Việt Nam cũng đành phải chiều ý phía Đại sứ quán Trung Quốc, chấp nhận chuyển đổi sang phòng Suite cho yên chuyện.
Thế nhưng tình trạng cháy phòng khách sạn tại Việt Nam, đặc biệt là tại các khách sạn 5 sao rất hay xảy ra, và hôm đó cũng vậy. Mọi thỏa thuận với khách sạn đã lên kế hoạch từ trước, các phòng Suite cũng đều đã có khách ở, giờ không lẽ lại đuổi khách ra khỏi phòng giữa đêm khuya để giành cho ông kia sao được.
Vậy là sau khi cố gắng thương lượng với phía khách sạn Daewoo, đành hứa với phía Trung Quốc sẽ đổi cho phòng khác ngay ngày hôm sau. Thế mới được yên thân với ông bạn vàng của đảng ta.
Sáng hôm sau, theo kế hoạch phía Việt Nam tới khách sạn để đổi phòng cho Trưởng đoàn và đón đoàn đi làm việc, và ngày hôm đó cũng lại tiếp tục những diễn biến bất ngờ. Vẫn lại là phía Đại sứ quán Trung Quốc và tham tán Chu Văn Nhuệ. Lần này vấn đề phát sinh không phải là phòng ốc nữa mà là chuyện lực lượng bảo vệ an ninh và xe cảnh sát dẫn đường. Vẫn biết rằng với Việt Nam thì Trung Quốc luôn được nâng cấp lễ tân đón tiếp, và đoàn này cũng không nằm ngoại lệ khi bố trí 2 sĩ quan an ninh tiếp cận bảo vệ. Thế nhưng phía Trung Quốc chưa vừa ý, bởi cho rằng ngoài hai sĩ quan tiếp cận này còn cần một đội ngũ an ninh bảo vệ 24/24 tại phía ngoài phòng Trưởng đoàn tại khách sạn. Ngoài ra, đối với đội xe cảnh sát dẫn đoàn ban đầu, còn phải bố trí thêm 1 ô tô cảnh sát hộ tống và xe máy cảnh sát giao thông bảo vệ khóa đuôi. Đây quả là những yêu cầu vô lý và quá đáng, bởi xét theo tiêu chuẩn cấp bậc, cũng như đã ưu tiên nâng cấp lễ tân thì những yêu cầu tiếp theo đã vượt khung rất nhiều.
Cán bộ đoàn đã phải trình bày lý do với lãnh đạo cấp Vụ để xin ý kiến. Cũng bởi liên quan tới bên công an, không thuộc đơn vị cùng ngành thế nên lãnh đạo cấp Vụ cũng đã phải tiếp tục xin phép cấp cao hơn và trực tiếp gọi điện cho thứ trưởng Bộ công an Nguyễn Khánh Toàn để xin ý kiến do tình thế đã rất gấp gáp. Và cuối cùng thì yêu cầu phi lý tiếp tục được Bộ Công an đáp ứng để làm vui lòng phía Trung Quốc.
Những tưởng mọi việc đã xong xuôi, thế nhưng vẫn lại những đòi hỏi nối tiếp đòi hỏi tưởng như không bao giờ hết. Ấy là chuyện xe ô tô cho Trưởng đoàn. Phía Việt Nam với sự nâng cấp nghi lễ đón tiếp đã bố trí một chiếc SsanYong Chairman 3 khoang sang trọng dành cho Trưởng đoàn (đây là chiếc xe nhập khẩu xịn nhất của Hàn Quốc), thế nhưng sau 2 hôm sử dụng thì phía Trung Quốc đã yêu cầu đổi sang xe khác với lý do khá hợp lý là giảm xóc xe… cứng, ngồi không thoải mái. Quá tam ba bận, và lần này cũng không khác hơn, một chiếc Mercedes 3 khoang từ Hà Nội điều xuống tỉnh X đã được thay thế để ngài Trưởng đoàn ngự cho êm ái. Đây là những đòi hỏi khá quá đáng và nổi bật, còn những yêu cầu nhỏ khác thì không kể hết, chỉ biết rằng một cán bộ Việt Nam có trách nhiệm tháp tùng đoàn với chiếc điện thoại sạc đầy pin kèm 1 pin phụ trong chưa đến 1 ngày đã dùng hết sạch chỉ để đón nghe các cuộc gọi từ phía Đại sứ quán Trung Quốc về những yêu cầu và kiến nghị của họ.
Quả đúng là phục vụ Trung Quốc không khác gì, thậm chí hơn cả phục vụ cha mẹ mình.

Còn những cuộc hội kiến, chào xã giao với các vị lãnh đạo nhà ta thì như nói trước đây, cứ học thuộc lòng 16 chữ và tinh thần 4 tốt là khiến thiên triều hài lòng thôi.

Nói qua đôi lời về Đại sứ quán Trung Quốc hiện nay, nói thẳng ra rằng đây chính là một ổ tình báo chiến lược của nhà nước Trung Quốc. Ngoài chức năng chính là cơ quan đại diện ngoại giao, nó có nhiệm vụ thu thập thông tin mọi mặt xã hội Việt Nam, đồng thời đánh giá mức độ suy nghĩ, biến động tình cảm, sự giao động ý chí của lãnh đạo nhà nước Việt Nam để kịp thời thông báo các động thái này cho phía lãnh đạo Trung Quốc nhằm điều chỉnh đối sách và cách hành xử. Bởi vậy, sau mỗi một sự kiện, mỗi một động thái nhỏ từ phía Việt Nam thì y như rằng chúng ta đều thấy một sự phủ dụ, đe dọa hoặc uy hiếp nào đó tương ứng từ phía Trung Quốc.
Với những nhiệm vụ lớn như vậy thì ở Đại sứ quán này tập trung toàn những nhân vật giỏi giang. Đại sứ Hồ Càn Văn, người thay ông Tề Kiến Quốc trong nhiệm kỳ trước là một người rất giỏi tiếng Việt. Hồ Càn Văn trước đây khi chưa làm Đại sứ tại Việt Nam là người theo đuổi chính sách cứng rắn đối với nước ta, tuy nhiên thái độ đó được thay đổi bằng kiểu mềm mỏng hơn để phù hợp với chính sách ngoại giao vừa ngầm đe dọa vừa phủ dụ hiện nay. Hồ Càn Văn mỗi khi dùng tiệc với lãnh đạo nhà nước Việt Nam thì thường không cần sử dụng phiên dịch, trực tiếp trao đổi, đặc biệt để thể hiện tình “đoàn kết” và lấy lòng lãnh đạo Việt Nam thì rất hay hát bài Quảng Bình quê ta ơi trong các buổi tiệc. Nếu ai chưa từng một lần tiếp xúc khi nghe thì rất dễ tưởng lầm đó là một ca sĩ ưu tú nào đó.

Từ trái sang phải: Người đứng ngoài cùng là Tham tán chính trị mới thay thế Chu Văn Nhuệ, người đứng thứ 3, nguyên Đại sứ Hồ Càn Văn.
http://i487.photobucket.com/albums/rr238/trantientung1/DSQ%20TQ/dsqtq.jpg

Bí thư thứ nhất Chu Đồng, sinh năm 1968, khóa trước làm bí thư tại Canada, tiếng Việt cũng vô cùng xuất sắc. Lấy vợ đã nhiều năm nhưng nhất quyết chưa chịu sinh con, đợi tới kết thúc kỳ công tại Việt Nam mới thực hiện kế hoạch này. Vẻ ngoài hiền lành, chất phác nhưng kỳ thực đầy mưu mẹo và bản lĩnh, qua nhiều cuộc làm việc với phía Việt Nam đã thể hiện điều này. Hỏi chuyện cho biết vì tính chất công việc bận rộn tại Việt Nam nên chưa có điều kiện và phải tạm gác kế hoạch này lại. Thế mới rõ người Trung Quốc quả có rất nhiều việc “phải làm” tại Việt Nam.

Từ phải sang trái: đứng ngoài cùng là Bí thư thứ nhất Chu Đồng.
http://i487.photobucket.com/albums/rr238/trantientung1/DSQ%20TQ/e0a60d1f.jpg

Các bí thứ 2 như Trần Hồng, Lưu Chí, Lộ Lỗi tuổi đời chưa tới 30 nhưng cũng cực giỏi, nếu ta gặp gỡ nói chuyện thì sẽ không phân biệt được họ là người nước ngoài, hay đám nhân viên cấp thấp hơn ở phòng visa…thì khả năng tư duy, năng lực làm việc của đội ngũ này rất đáng khâm phục. Quả không hổ danh nước lớn.

Một số Đại sứ quán Việt Nam trên thế giới mà Dongsongxanh có dịp tiếp xúc thì chưa thấy có đội ngũ nào so được trên các phương diện với Đại sứ quán Trung Quốc, đặc biệt là về phương diện con người. Đa phần cán bộ, nhân viên làm việc trong Đại sứ quán Việt Nam chỉ quan tâm tới cuộc sống cá nhân mà không chú trọng tới mục tiêu lớn hơn. Nhưng kể cũng phải vì họ cũng chán cái chế độ này lắm rồi, có cống hiến nữa thì cũng chỉ bảo vệ cho chế độ mục nát này kéo dài thêm mà thôi. Vậy thì bắt họ cống hiến thì cũng vì cái gì?
Thế nhưng nhìn vào tình cảnh đất nước ngày càng tụt hậu, thua kém so với thế giới mà lòng không khỏi cám cảnh và lo lắng. Nếu tình trạng này cứ tiếp tục thì có lẽ sẽ nguy mất.

PHẢI LÀD 85 TRIỆU NGƯỜI VIỆT NAM CÙNG HÉT

PHẢI LÀ 85 TRIỆU TIẾNG HÉT CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ 1 TIẾNG HÉT
Châu Xuân Nguyên
Kỹ sư khai khoáng (Úc)
] 01 June, 2009 16:27
http://13nguyenxc.vnweblogs.com/post/11109/160136

Chào độc giả,
Hôm nay tôi viết bài thứ hai vì vừa đọc 1 entry của một người bạn là Bác Sĩ Tản về sự tàn phá môi trường đối với Biển Aral, Liên Xô cũ. Chuyện này có những điểm tương tự với Bauxite Tây Nguyên đến rùng mình, tôi để độc giả tìm những điểm tương đồng.

http://chaobacsy.vnweblogs.com/post/8364/159969

http://images.google.com/images?hl=vi&client=firefox-a&rls=org.mozilla:en-US:official&um=1&q=Aral+sea&sa=N&start=120&ndsp=20

Với quyết tâm không gì lay chuyển của giới lãnh đạo Liên Xô, vào thập niên 40, hàng loạt đập nước đã được xây dựng. Kết quả của chương trình "dẫn thủy nhập điền" này là mỗi năm có từ 20 - 60 km3 nước được dẫn vào đồng, thay vì vào biển Aral. Được khích lệ bởi những cánh đồng bông tươi tốt, giới lãnh đạo lại đẩy mạnh việc xây dựng các công trình thủy lợi mà không hề màng tới số phận của biển Aral.

Ông Musabaev nhớ lại một cuộc họp của chính quyền Xô Viết tại Tashkent, thủ đô Uzbekistan, hồi thập niên 1960. Lúc đó, một vị thứ trưởng Bộ Tài nguyên nước và thủy lợi đã thuyết trình về kế hoạch đẩy mạnh sản xuất bông trong khu vực. Ông này nói chính quyền đã quyết định sẽ "lái" dòng chảy của hai con sông Amu Darya và Syr Darya để phục vụ cho các nông trường bông ở Kazakhstan và Uzbekistan. "Vậy thì biển Aral sẽ ra sao?", một người nào đó hét lên. "Biển Aral ư? Nó sẽ chết êm ái", vị thứ trưởng đáp nhẹ nhàng.

Những nhà Lãnh Đạo Liên Xô này bất chấp hậu quả môi trường, hiệu quả kinh tế đường dài (long term economic reasons) và nhất là lòng dân. Họ quyết định không có những nghiên cứu và khảo sát những quyết định này ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân.

Tổng Thống Obama của Hoa kỳ, Thủ Tướng Kevin Rudd của Úc, tuy chính bản thân họ là Luật sư và nhà Ngoại Giao, tất cả những quyết định của họ liên quan đến vận mạng của người dân họ đều dựa vào những lời khuyên đúng nhất của thời điểm đó của những chuyên gia tài ba lỗi lạc nhất của quốc gia họ với tầm nhìn hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm vào tương lai để có những quyết định sâu sắc nhất cho người dân của họ.
Thí dụ điển hình là TT Obama sắp sửa thương lượng hiệp ước về vũ khí nguyên tử với Nga và Bộ Tham Mưu của ông ấy đã biết tất cả mọi tình huống của họ và của đối phương. Cũng như TT Rudd, thương lượng hiệp thương 2 chiều với TQ, tất cả đều nắm chắc trong tay những dữ kiện cần thiết của chuyên gia.

Trở lại chuyện Bauxite, tất cả bắt nguồn từ một công dân Việt Nam đi công du Trung Quốc ngày 12.03.2001. Công dân này ký Memorandum of Understanding (MOU) với TQ lúc đó mà không có một ý niệm gì về hậu quả môi trường, về hiệu quả kinh tế và điều quan trọng nhất là ý của 85 triệu dân. Không những thế, nhìn từ góc cạnh của một công dân Úc, tôi thấy rõ ràng sự bất cần (don't care) của người công dân này là 84.999.999 người công dân còn lại nghĩ như thế nào về MOU của Bauxite Dak Nông.


Còn ngạc nhiên hơn nữa đối với tôi là 84.999.999 người dân phó mặc tương lai, cuộc sống của họ cho 1 người, duy nhất 1 người.
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335

Trân trọng kính chào độc giả,
Chau Xuan Nguyen

-----------------------------------------

TÀI LIỆU LIÊN QUAN :


Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc
Đại Sứ Quán CHXHCNVN tại Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20011203000335

Hà Nội (Ttxvn 3/12/2001)
Dưới đây là Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh:

" 1- Nhận lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Giang Trạch Dân, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 4 tháng 12 năm 2001.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tích nước Giang Trạch Dân; lần lượt hội kiến với ủy viên
Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ủy viên Trưởng ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lý Bằng; ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Thủ tường Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Dung Cơ; ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch ủy ban toàn quốc Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân Trung Quốc Lý Thụy Hoàn; ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào. Hai bên đã thông báo cho nhau tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; trao đổi ý kiến sâu rộng về các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm. Các cuộc hội đàm, hội kiến đã diễn ra trong bầu không khí thân thiết và hữu nghị.

Hai bên cho rằng, chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đã thành công tốt đẹp, chuyến thăm này là một sự kiện trọng đại trong quan hệ hai Đảng, hai nước vào đầu thế kỷ mới, góp phần quan trọng vào việc tăng cường và làm sâu sắc thêm quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc trong thế kỷ Xxi, và sẽ có ảnh hưởng tích cực và sâu sắc đối với hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.

2- Phía Việt Nam đánh giá cao những thành tựu lịch sử mà Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc đã đạt được trong 80 năm qua, và tin chắc rằng Đảng Cộng sản và nhân dân Trung Quốc nhất định giành được nhiều thành tưu mới to lớn hơn nữa trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc. Phía Trung Quốc đánh giá cao những thành tưu lịch sử mà Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đã đạt được trong hơn 70 năm qua, và tin chắc rằng Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam nhất định giành được những thành tựu mới to lớn hơn nữa trong công cuộc xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Hai bên quyết tâm, xuất phát từ thực tế của mỗi nước, tiếp tục tìm tòi và giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn trọng đại trong việc xây dựng Đảng và Nhà nước, thúc đẩy kinh tế phát triển và xã hội tiến bộ.

3- Hai bên hài lòng chỉ rõ, kể từ khi bình thường hóa quan hệ hai nước, sự giao lưu và hợp tác trên các lĩnh vực giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu. Hai bên đã ra các Thông cáo chung năm 1991, 1992, 1994, 1995 và các Tuyên bố chung năm 1999 và 2000, lần lượt ký Hiệp ước biên giới trên đất liền, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ. Hai Đảng, hai nước đã trao đổi rộng rãi và sâu sắc về những kinh nghiệm đổi mới, cải cách mở cửa, xây dựng Đảng và quản lý Nhà nước, lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự hợp tác kinh tế và thương mại giữa hai nước đã nâng lên một tầm cao mới. Hai Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước vui mừng trước sự phát triển tốt đẹp và quan trọng của quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam - Trung Quốc.

4- Hai bên cho rằng, tình hữu nghị Việt - Trung là tài sản chung quý báu của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước; không ngừng tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc trong thế kỷ mới không những phù hợp với lợi ích căn bản của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, mà còn có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Hai bên quyết tâm kiên trì phương châm chỉ đạo 16 chữ "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", quán triệt và thực hiện một cách toàn diện mục tiêu và nhiệm vụ đã được nêu rõ trong bản Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa hai nước, không ngừng nâng tầm cao và chất lượng của quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống Việt - Trung, làm cho hai nước và nhân dan hai nước Việt Nam - Trung Quốc đời đời hữu nghị.

5- Nhằm tăng cường và phát triển hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc trong thế kỷ mới, hai bên nhất trí tiếp tục duy trì truyền thống tốt đẹp giao lưu cấp cao giữa hai Đảng, hai nước; thúc đẩy sự giao lưu và hợp tác, nâng cao hiệu quả hợp tác giữa các ban ngành Đảng, Chính quyền, Quốc hội, các đoàn thể nhân dân và các địa phương, trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục... giữa hai nước; tăng cường việc trao đổi kinh nghiệm về xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước giữa hai bên; tham khảo lẫn nhau về kinh nghiệm đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng Đảng; tăng cường sự giao lưu hữu nghị với hình thức đa dạng và nội dung phong phú giữa thanh, thiếu niên hai nước, làm cho mối tình hữu nghị truyền thống đã được các bậc tiền bối cách mạng hai nước dày công vun đắp cũng như sự nghiệp hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước truyền tiếp cho các thế hệ mai sau.

6- Hai bên xác định trong thế kỷ mới cần tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học-kỹ thuật và các lĩnh vực khác giữa hai nước theo phương châm bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả, bổ sung ưu thế cho nhau, hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển; tích cực khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp hai bên khai thác thêm thị trường hàng hóa của hai nước, tăng cường đầu tư và hợp tác, mở rộng quy mô hợp tác kinh tế và kỹ thuật, thực hiện các dự án hợp tác đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội thiết thực.

Nhân dịp này, hai bên đã ký Hiệp định khung giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi và Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa; và nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắc Nông.

Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng Trung Quốc trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới. Trung Quốc tích cực ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.

7- Hai bên nhất trí cho rằng, việc hai nước ký Hiệp định biên giới trên đất liền, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ là sự kiện có ý nghĩa trọng đại, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phát triển hơn nữa quan hệ láng giềng hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước và sự ổn định của khu vực. Hai bên đồng ý tuân theo nhận thức chung của các nhà lãnh đạo hai nước, nhanh chóng hoàn thành các công việc đàm phán tiếp theo có liên quan đến Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ, để Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ cùng với Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ sớm có hiệu lực, tích cực thúc đẩy và tăng nhanh tiến trình công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền, xây dựng biên giới hai nước thành biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định lâu dài.

Hai bên đồng ý tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện có về vấn đề trên biển, kiên trì thông qua đàm phán hòa bình để tìm ra một giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được. Trước khi vấn đề được giải quyết, với tinh thần dễ trước khó sau, hai bên tích cực tìm kiếm khả năng và biện pháp triển khai hợp tác trên biển trong các lĩnh vực như: bảo vệ môi trường biển, khí tượng thủy văn, phòng chống thiên tai. Đồng thời, hai bên đều không tiến hành các hành động làm phức tạp thêm hoặc mở rộng tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc de dọa sử dụng vũ lực đối với những bất đồng nảy sinh, cần bàn bạc kịp thời và giải quyết thỏa đáng với thái độ bình tĩnh, xây dựng không để bất đồng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của quan hệ hai nước.

8- Phía Việt Nam khẳng định Việt Nam công nhận Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Chính phủ hợp pháp duy nhất đại diện cho toàn Trung Quốc. Đài Loan là một bộ phận lãnh thổ không thể chia cắt của Trung Quốc. Việt Nam chỉ giao lưu về kinh tế, thương mại phi chính phủ với Đài Loan, không phát triển quan hệ chính phủ với Đài Loan. Phía Trung Quốc tỏ sự hiểu biết và hoan nghênh lập trường trên đây của phía Việt Nam. Phía Trung Quốc khẳng định vấn đề Đài Loan hoàn toàn là vấn đề thuộc công việc nội bộ của Trung Quốc và kiên quyết phản đối các nước đã lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc có quan hệ chính phủ dưới bất cứ hình thức nào, hoặc có bất cứ sự đi lại nào mang tính chính phủ với Đài Loan.

9- Hai bên hài lòng với những nhận thức chung rộng rãi về các vấn đề khu vực và quốc tế mà hai bên cùng quan tâm. Hai bên cho rằng hòa bình, hợp tác, phát triển và tiến bộ xã hội đã trở thành trào lưu của thời đại hiện nay. Hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Trung Quốc tha thiết mong muốn thế giới hòa bình bền vững, cuộc sống yên ổn lâu dài; tha thiết mong muốn xây dựng một trật tự quốc tế mới công bằng và hợp lý, thúc đẩy các nước cùng phồn vinh và phát triển. Hai bên phản đối chủ nghĩa bá quyền và chính trị cường quyền trong công việc quốc tế; phản đối chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức. Hai bên chủ trương tôn trọng lịch sử văn hóa, chế độ xã hội, mô hình phát triển của các nước và các nền văn minh trên thế giới.

Hai bên đánh giá cao vai trò tích cực của tổ chức Asean trong việc giữ gìn và thúc đẩy sự ổn định và phát triển của khu vực, khẳng định lại sẽ tiếp tục góp sức tăng cường quan hệ đối tác láng giềng tin cậy giữa Trung Quốc và các nước Asean, nỗ lực và đóng góp tích cực vào sự ổn định và phồn vinh lâu dài của Châu á, đặc biệt là khu vực Đông á.

10- Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh chân thành cảm ơn sự đón tiếp trọng thể, nồng nhiệt và hữu nghị của Đảng Cộng sản, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh mời Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân thăm hữu nghị chính thức Việt Nam vào thời gian thuận tiện trong năm tới. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Giang Trạch Dân đã cảm ơn và vui vẻ nhận lời"./.

ĐẢNG CỘNG SẢN QUYẾT CHƠI CANH BẠC BAUXITE TỚI ĐỒNG VỐN CUỐI CÙNG

BT Phạm Khôi Nguyên quyết chơi canh bạc bauxite tới đồng vốn NN cuối
Phạm Viết Đào
Thứ hai ngày 1/6/2009
http://trannhuong.com/news_detail/1718ITE
Qua phát biểu của Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên tại diễn đàn Quốc hội, cử tri hiểu được ý chí của ông là quyết theo canh bạc bauxite cho đến đồng vốn cuối cùng của Nhà nước. Đây là một trong những vụ việc hy hữu có sự gắn bó chặt chẽ giữa bên quản lý là Nhà nước với TKV là nhà doanh nghiệp, theo kiểu nhất hô bá ứng.

Chúng tôi gọi đây là canh bạc, mà không ghi nhận đây là một dự án đầu tư kinh doanh khai thác khoáng sản, bởi nếu là dự án phải có phương án kinh doanh được lập đàng hoàng, có báo cáo khả thi, có đánh giá toàn diện xong mới triển khai. Vụ bauxite này, hiệu quả thế nào thì phải làm mới biết – như lời ông Đoàn Văn Kiển. Ông Kiển còn công khai cho biết: đánh quả này thì cũng chỉ đảm bảo là 5 ăn 5 thua!
Đối với bóng đá, khi đã vào vòng bảng, cho dù biết thua cũng phải đá, vì bỏ cuộc sẽ bị phạt. Nhưng trong hoạt động kinh doanh, chẳng ai bỏ vốn ra kinh doanh để mong được hòa hay chịu lỗ. Một phương án kinh doanh khả thi được chấp nhận, thì hiệu quả kinh tế bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu. Tiếp đó, các vấn đề khác mới tiếp tục bỏ lên bàn cân để cân đo đong đếm, sao cho tất cả đều ổn, mới làm. Đằng này, ông Kiển làm ăn theo kiểu bác thằng bần! Tim đen của TKV thì hàng trăm bài báo của các nhà khoa học đã vạch và đã chứng minh bằng số liệu hẳn hoi. Thế còn Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên, trong vụ này sao lại hăng say làm vậy?
Có các khả năng sau đây:
1/ Ông là người thừa hành.
Chính phủ quyết và hô rồi, ông chỉ còn việc vác búa xông lên, không thể nói khác, không thể làm khác. Tình thế của ông lúc này là hô thật to và nướng quân vô tội vạ để bảo toàn ghế cho ông. Quân trong trường hợp này là đồng vốn của Nhà nước, chú thích của tác giả cho rõ nghĩa, chứ không viết kiểu 50/50 như ông Kiển ở TKV! Dư luận không ngạc nhiên khi ông đặt vấn đề yêu cầu TKV tăng vốn đầu tư. 2/ Nếu mất hay lỗ, thì đó là vốn nhà nước chứ ông có bỏ ra đâu mà sợ. Ông không hăng hái xông lên bây giờ có khi ông mất ghế. Ông yêu cầu TKV dốc thêm vốn liếng ra cho ông chơi canh bạc này, để ông được chơi, để ông bảo toàn chiếc ghế nhất thời của ông
Khốn khổ ở chỗ, vốn liếng của TKV là tiền của dân nhờ ông Nhà nước giữ hộ!
Ông Bộ trưởng Nguyên khẳng định: Nước và bùn thải từ khâu tuyển quặng sẽ được thu hồi, không đổ xuống phía hạ lưu như các nhà khoa học lo lắng. Riêng bùn đỏ, bộ đã yêu cầu Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản VN (TKV) bổ sung thiết kế lớp đáy hồ chứa để chống thẩm thấu và nâng khả năng kháng động đất từ cấp 5 lên cấp 7, bổ sung thiết bị quan trắc tự động...
Thưa ông Phạm Khôi Nguyên, xin ông cho biết giải pháp kháng động đất từ cấp 5 lên cấp 7 cho lớp đáy hồ chứa để chống thẩm thấu thì làm thế nào? Tôi đoán chắc ông cũng không hiểu việc này. Người ta bịp ông, ông đưa ra để thuyết phục Quốc hội ư?
Hiện nay, người ta chỉ mới có giải pháp kháng động đất cho các công trình xây dựng tĩnh, có kết cấu và sàn xây dựng vừa phải. Ví dụ như đập thủy điện Hòa Bình và Sơn La đã được thiết kế để kháng chấn động đất tới cấp 8, chủ yếu là chỗ thân đập. Một số chung cư cao tầng cũng đã được tính kháng chấn tới cấp 6, cấp 7. Đối với đập Thủy điện Hòa Bình và Sơn La, để kháng chấn, người ta phải ép sâu hàng trăm mét cọc bê tông xuống. Còn đối với các khu nhà chung cư cao tầng, để kháng chấn, người ta cũng phải ép cọc bê tông sâu hàng chục mét, sau đó đổ móng bè giằng móng và nhiều thao tác kỹ thuật khác rồi mới xây công trình lên.
Ông đã bị chúng nó lừa rồi, ông Bộ trưởng ơi!
Đối với hồ chứa bùn đỏ rộng hàng trăm ha, ngang với diện tích của cả một quận nội thành, thế mà nói sẽ thiết kế, xây dựng để nó có khả năng kháng chấn cấp 5 tới cấp 7! Có mà nằm mơ.
Tất nhiên, nếu muốn vẫn có thể làm, tức là phải ép cọc bê tông, đổ móng bè... Còn với 60 cm đất sét với một lớp vải chống thấm như TKV trình bày trên VTV, thì xin lỗi, làm sao mà kháng chấn được cấp 5 đến cấp 7? Còn nếu làm đúng quy trình, ép cọc bê tông, đổ giằng móng bè thì giá đầu tư sẽ lên bao nhiêu? Và con số âm lù lù trong bài toán lỗ lãi còn làm sao mà dùng lời lấp liếm cho được? Không đâu! Cùng lắm thì TKV sẽ cho thêm hai lớp vải chống thấm và tăng độ dày của tầng đất sét cho an toàn chứ gì???
Người ta mới dùng đất sét, vải chống thấm mà giá thành theo ông Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng báo cáo trước Quốc hội, đã lên tới 362 USD/tấn alumin (nhôm oxit). Trong khi đó, cũng theo báo cáo của Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, giá nhôm trên thị trường hiện nay là 1426 USD/tấn, đồng nghĩa với giá alumin sẽ tương đương là 1426 USD x 14% (lấy cao nhất) = 199,64 USD/tấn, làm tròn số là 200 USD/tấn cho dễ nhớ. Như vậy, hai công trình Tân Rai và Nhân Cơ, nếu theo tính toán hiện nay, đã lỗ (362 USD – 200 USD) x 1.200.000 tấn/năm = 194,4 triệu USD/năm. Nếu tăng thêm đầu tư và gia cố hồ chống thấm có khả năng chống cả dư chấn động đất như ông Bộ trưởng Nguyên đề nghị, thì lỗ sẽ lớn hơn thế, lớn hơn 194,4 triệu USD/năm!
Người ta bịp Bộ trưởng để ông chiêu an Quốc hội, và cũng là để lừa lấy tiền dân nướng vào canh bạc bauxite mà thôi. Chắc chắn TKV trong thực tế sẽ không làm thêm gì để chống động đất. Nhưng đảm bảo, người ta sẽ quyết toán một lượng tiền ngang với hệ thống chống động đất của đập thủy điện Sơn La, Hòa Bình cho mà xem. Còn thua lỗ bao nhiêu, khai thác bán được bao nhiêu, đã có dân chịu. Dân làm chủ mà! Nhân dân sẽ cố gắng trồng rau, nuôi gà, chăn lợn để góp tiền lại cho các ông chơi canh bạc bauxite.

Về hiệu quả kinh tế, hạn chế tác hại của bùn đỏ, ông Bộ trưởng Nguyên nổ tiếp: Gần đây các nước như Trung Quốc, Brazil hoặc Úc đã nghiên cứu và đã tạo ra công nghệ hoàn toàn sử dụng bùn đỏ để tận thu sắt vì trong bùn đỏ này có tới 45-50% Fe2O3 (ôxit sắt) và những loại khoáng sản khác. Chúng tôi đã cho chạy mô hình và cơ bản đã giải quyết được”.
Cách đây 2 tháng, tôi có dịp lên công tác tại Cao Bằng theo ngả từ Lạng Sơn. Tôi đã chứng kiến cảnh một nhà máy luyện thép đã bỏ ra hàng trăm tỷ xây dựng và mua thiết bị về để đấy không vận hành được. Trong khi đó cách đó không xa, TKV cũng đang ồ ạt triển khai san ủi mặt bằng rộng chừng 30-40 ha để xây dựng một nhà máy luyện thép!

Như chúng ta biết, quặng thép Cao Bằng có hàm lượng thép cao, từ 60-70% và mỏ lại lộ thiên, nhưng ngành luyện thép không đầu tư được. Nguyên nhân nhà máy kia không dám hoạt động là bởi, giá quặng sắt tại Cao Bằng người ta khai thác thổ phỉ bán cho Trung Quốc qua con đường chui đã lên đến 250 USD/tấn. Giá một tấn than cốc là 6,5 triệu đồng/ tấn. Để luyện ra một tấn thép, giá đầu vào riêng hai nguyên liệu chính đã lên trên 10 triệu đồng, chưa kể tiền khấu hao máy móc và nhân công. Một nhà máy không rõ ai đầu tư, đã im ỉm khóa, không dám hoạt động vì lẽ đó.

Anh bạn tôi cho biết, không rõ TKV lại tiếp tục xây nhà máy luyện thép tại Cao Bằng, sẽ tính toán làm ăn như thế nào? Có khả năng sao không mua lại cái nhà máy luyện thép đang luyện muỗi ấy?

Ông Bộ trưởng Nguyên lại tính chuyện luyện thép từ bùn đỏ ư? Ông căn cứ vào dữ liệu từ Pháp và Trung Quốc có hàm lượng từ 45-50% để khẳng định là nên làm theo sẽ có hiệu quả. Trữ lượng thép trong quặng lên tới 60-70% mà làm còn chưa ra ăn, đằng này lấy bùn đỏ ra mà luyện thép, thì chỉ có mà mơ! Sao ông Bộ trưởng Nguyên lại hay nằm mơ thế?

Canh bạc bauxite ơi!
Em đi đâu,
Về đâu?

Các ông cứ nhắm mắt làm liều, không chịu tính toán, thậm chí các ông không thèm nghe tính toán. Vì các ông đánh bạc, chứ đâu có kinh doanh. Trong đánh bạc, thành bại ngoài may rủi đỏ đen ra, yếu tố quyết định là: cờ gian, bạc bịp!

Bộ trưởng Nguyên cho biết: Sẽ cố gắng làm tốt nhiệm vụ của mình để làm sao mô hình Tân Rai và Nhân Cơ sẽ là mô hình thực hiện tốt vấn đề môi trường, để sau này tổng kết đánh giá và nhân rộng.... Cử tri có thể hiểu câu nói này của ông Bộ Trưởng theo ý rằng, cố gắng lừa tốt vụ này để còn làm tiếp vài vụ nữa rồi về hưu là vừa, còn tội vạ đâu có người khác gánh; nhân dân giống như đất rừng Tây Nguyên, sẽ lãnh đủ những điều mà các ông đang sử dụng nó làm chiếu bạc...

Chính lúc này chúng tôi lại muốn mượn lại câu nói của nhà báo Tiệp Khăc nổi tiếng Fuxic: Hỡi các đại biểu Quốc hội, hỡi cử tri, hãy cảnh giác với những lời có cánh, những luận chứng có cánh được phát ra từ miệng lưỡi của những con người như ông Phạm Khôi Nguyên – Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, ông Lê Dương Quang – Thứ trưởng Bộ Công thương, ông Đoàn Văn Kiển – Chủ tịch Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam!


P.V.Đ
(Nguồn: www.vn.myblog.yahoo.com/phamvietdaonvv)


PHÉP VUA THUA LỆ LÀNG

Chuyện nọ xọ chuyện kia
Taxi810, thành viên X-cafe
http://www.x-cafevn.org/node/1813

Hôm rồi, tôi về quê được mọi người kể nghe một chuyện mà cười ra nước mắt. Trong họ nhà tôi có ông anh làm nghề buôn bán cây cảnh, đá cảnh để bán cho dân lắm tiền ở Hà Nội. Thường ngày, ông này cứ phóng xe rong ruổi khắp các bản làng thôn xóm ở những vùng lân cận để mua cây và đá, đem về chế tác lại một chút rồi bán. Mấy cái loại này giá cả vô chừng, chả biết đường nào lần. Nhìn cái cục đá đen xì mà đôi khi bán được vài trăm, cái cây bé tẹo trông chả ra thế nào vậy mà cũng được vài triệu. Mà lão này lại có tính nghệ sĩ, hơi hâm hâm, nói chung là gàn dở. Có khi gặp ông khách nào hợp cạ thì cho luôn cái cây, cục đá quý nhất của mình. Vợ con khỏi cản. Cái xe máy là phương tiện đi lại của ông này cũng lòe loẹt diêm dúa như con công, có cái đẹp đẹp là lão ấy gắn vào xe nhưng cái biển số thì lão lại gỡ ra . Vốn tính nghệ sĩ nên lão ta để tóc dài và buộc túm nó lại theo kiểu đuôi gà. Do tóc tai như thế nên đối với cái nghị định bắt buộc đội mũ bảo hiểm thì lão ấy coi như dành cho ai đó chứ không phải là lão. Lão ta cứ đầu trần phóng như bay trên đường.

Ở cái đoạn đường quốc lộ vắt qua làng tôi, người ta lập một trạm cảnh sát giao thông. Các bác ở trạm này chả thèm bắt các loại xe máy lìu tìu làm gì cho rách việc, các bác ấy cũng chả thèm soi xem những thằng tham gia giao thông có đội mũ bảo hiểm hay không, vì những thằng không đội mũ bảo hiểm chính là những thằng dân ngụ cư tại làng đó. Ví như có thổi phạt một tay đi xe máy không đội mũ bảo hiểm thì ngay lập tức nó sẽ móc điện thoại ra (bây giờ nông dân lại có cái thói hay xài điện thoại) gọi một phát về nhà, chỉ một lúc sau thì họ hàng hang hốc kéo ra, đầu tiên thì đàn bà con gái năn nỉ, các cụ già thì khuyên lơn phân tích này khác, rồi thì co kéo xỉ vả, nhiếc móc đủ loại, trong khi đó đám thanh niên sẽ lợi dụng tình hình lộn xộn để đánh tháo cái xe về thế là công cốc cho các bác áo vàng. Ấy là chưa kể dân làng nó thù cho, lúc trời nhập nhoạng tối nó cho ăn củ đậu bay. Thế là thôi, các bác áo vàng chả dây vào làm gì, chỉ tổ thiệt thân. Các bác áo vàng chỉ chặn các loại xe tải thôi. Bọn xe tải này thì nhẵn mặt nhau. Xe chạy từ xa thì các bác áo vàng nhìn đã biết thằng này có chở quá khổ quá tải hay không hoặc hôm nay nó đã đi được mấy chuyến rồi, cống nạp được mấy lần rồi. Phải tính chuyến là vì giá tiền chuyến sau khác chuyến trước, càng nhiều giá cả càng khuyến mại nhau hơn. Các bác áo vàng cứ ngồi trên con ISUZU mà các bác sành điệu hay gọi pick up thì phải, xe nổ máy rì rì, máy lạnh bật hết cỡ mới chống lại cái nắng gắt mùa hè. Cánh lái xe thì chả cần phải hiệu lệnh dừng xe làm gì, chỉ có thần kinh mới đợi có hiệu lệnh dừng xe, không tự giác thì ăn phạt gấp đôi ngay, cứ đến trạm là lật đật tấp vào, nhảy xuống cầm cuốn sổ gì cũng được, thậm chí là sổ ghi công nợ hàng hóa, đưa vào trong cabin xe cho các bác áo vàng kiểm tra (?), trong vòng vài giây sau giấy tờ sổ sách được trả lại ngay và xe tải kia lại tiếp tục lên đường. Những gì đã diễn ra trong vòng vài giây đó chỉ có trời mới biết được. Mỗi ngày chuyện đó lặp đi lặp lại đến trăm bận.

Dân làng quanh đó đến trẻ con cũng nhìn thấy những chuyện đấy nhưng vì chả phải chuyện của ta nên cứ mặc mẹ nó. Miễn sao cứ lệ cũ mà chơi, có nghĩa là không phạt xe của dân làng. Cho đến một hôm, trạm ấy có bổ xung về một tay hạ sĩ quan trẻ măng mới ra trường, tay này hăng lắm chả cần biết đầu cua tai nheo gì, cứ luật mà phang, anh dân nào mà phạm luật là túyt còi ngay. Báo hại dân làng cứ chốc chốc bỏ cả đồng áng đề tập họp nhau ra giằng xe của nhà mình về. Bà con căm lắm, ngấm ngầm thù cái tay áo vàng tre trẻ kia và cả cái trạm ấy nhưng chưa có biện pháp gì.

Cho tới một hôm, lão anh họ của tôi sau khi lục lọi khắp các làng bản đã vớ được mấy hòn đá và cái cây lộc vừng to tướng. Lão chất tất cả các thứ ấy lên xe để đèo về. Khi chạy xe ngang qua trạm, thì trời bất dung gian, gặp ngay ca trực của tay hạ sĩ trẻ ấy. Trời nắng mà xe lão anh họ tôi lòe loẹt như gánh hát rong, lại không có biển bảng gì, thế toét lại. A lê hấp, dỡ hết các thứ xuống đặng giam xe cho tởn. Lão anh họ tôi ngạc nhiên lắm, vì cứ cái thói cậy gần nhà nên cứ để xem nó làm gì, vậy mà nó giam thật. Lão này tính gàn, thay vì gọi về cho mọi người ra cứu viện thì lão cứ lẳng lặng cuốc bộ về, rồi lão cho xe cải tiến ra thồ tất cả các thứ về nhà. Mọi người trong nhà cứ đay nghiến lão, bởi bây giờ có đi xin về cũng chả được vì đã lập biên bản rồi. Còn lão kia thì chả nói chả rằng, lão đi mua mấy cái bánh mỳ gối, mấy hộp sữa và đút cuốn sổ, cây bút vào túi rồi ra chỗ cái trạm của các bác áo vàng kia. Lão cứ đứng đấy lão canh, hễ có xe nào xịt tới là lão h‎ý hoáy ghi ghi chép chép, xong lại lôi cái điện thoại tàu có máy ảnh ra chụp lấy chụp để. Lão cứ ở đấy 24/24 và lặp đi lặp lại từng ấy động tác. Tối đến thì lão chơi thêm đèn pin. Ăn uống, đái ỉa cứ tranh thủ nhoánh nhoàng tại chỗ, vì hai bên là đồng trống nên cũng tiện cho cái thói sau quận công.

Sự việc kéo dài qua ngày thứ hai thì các bác áo vàng xào xáo cả lên vì thất thu nghiêm trọng. Thử hỏi ai mà yên tâm công tác khi lão gàn kia cứ tác nghiệp không thèm ngưng nghỉ. Thế là đàm phán diễn ra, các bác áo vàng đồng‎ ý cho lão gàn lấy xe về rồi tới ngày hẹn thì ký nốt vào biên bản và đóng phạt cũng được. Nhưng lão gàn này đã lên cơn rồi nên lão chả thèm lấy xe nữa, lão cứ diễn lại trò cũ ấy. Đến nước này thì các bác áo vàng phát cáu lên được. Các bác ấy bèn bảo cái thằng cha xe kiêm cò mồi (trạm giao thông nào cũng phải có thằng cha xe ôm kiêm cò mồi này thì mới là trạm giao thông đúng nghĩa) đi kiếm mấy thằng đầu gấu về dọa lão anh họ tôi một trận để lão ấy ngược chỗ khác. Nhưng các bác áo vàng lại quên một điều, ở nhà quê quan hệ họ tộc vốn rất rộng nên có mấy thằng đầu gấu mò đến thấy lão gàn đó thì đứa nhận là bác, đứa nhận là ông trẻ rồi bị ông trẻ chửi cho một trận là lủi mất. Cứ nhùng nhằng như thế cả tuần lễ, khiến cho các bác áo vàng như ngồi trên đống lửa. Cuối cùng, các bác áo vàng đành mò vào tận trong làng nói khó với cụ trưởng họ. Cụ trưởng họ sau khi khề khà đông tây nọ kia, mới nhận lại cái xe của lão anh họ tôi. Sau đó, cụ vác gậy ra đánh đuổi lão gàn kia về nhà mà lo việc nhà, quấy rối như thế là đủ rồi. Lão gàn kinh sợ cụ Cả nên đành ra về.

Sau này tôi có hỏi lão, nếu không bị gọi về thì lão sẽ tiếp tục bao nhiêu lâu. Lão chỉ cười phá lên mà không trả lời.

Kể lại chuyện này để thấy tính cộng đồng họ tộc ở người miền Bắc rất cao. Đôi khi phép vua chả cái gì cả so với cái lệ làng của họ.

CHẾ ĐỘ TOÀN TRỊ KIỂU MAFIA Ở VIỆT NAM

Chế độ toàn trị kiểu mafia hiện nay tại Việt Nam
Đỗ Hữu Nghiêm
VietCatholic News (01 Jun 2009 02:02)
http://vietcatholic.net/News/Html/67746.htm
Không bỏ chế độ toàn trị kiểu mafia hiện nay tại Việt Nam, mọi biện pháp chống tham nhũng hay cải cách chỉ là những giải pháp vá víu ở “thế nằm trong bị”

I. Cuốn Phản Phát Triển l’Anti-Développement Của Richard Bergeron

Từ đấu năm 1994, trờ về nước sau khi tham dự Hội Nghị Quôc Tế Của Bộ Ngoại Giao Nam Hàn tổ chức tại Hán Thành ngày 21-23/12/1993, thế hiện chính sách Ánh Dương của Nam Hàn đối với Bắc Hàn nhằm thống nhất hai nước Nam Bắc Triếu Tiên. GS Đỗ Thái Đồng thuộc Ban Xã Hội Viện Khoa Học Xã Hội tại Sàigòn cậy nhờ tôi phiên dịch từ nguyên văn tiếng Pháp sang tiếng Việt cuốn sách mang tên L’Anti-développement do nhà l’Harmattan nhưng xuất bản tại Montréal, Canada.[Xin tham khảo: L'anti-développement. Le prix du libéralisme, Paris, L'Harmattan, 1992, 271 p. tp://www.harmattan.fr/index.asp?navig=catalogue&obj=livre&no=3645].Tôi không rõ GS lấy kinh phí từ đâu, nhưng có thể là từ nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia của CSVN tại Hà nội.

Tôi được GS cho biết đã chuyến bản dịch cuốn sách ấy cho Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia tại Hà Nội, nhưng bị hoãn lại, vì thời điểm không thích hợp cho công cuộc đầu tư và ký kết các hợp đồng đầu tư kinh doanh với ngoại quốc. Từ đó tôi không biết đến số phận cuốn sách ấy nữa.

II. Nội Dung Sơ Lược Cuốn Sách


1. Theo như tôi cố nhớ lại và nắm được nội dung, khi dịch xong toàn bộ cuốn sách đó, thì cuốn ấy nói đến nhu cầu phát triển kinh tế của các nước chậm phát triển trên thế giới, như tại Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á.
Các quốc gia ấy cần các công ty hay tư nhân nước ngoài đầu tư liên doanh trong các lãnh vực để phát triển về nhiều mặt. Nhưng mặt trái tiêu cực của các cuộc cạnh tranh đầu tư liên doanh ấy diễn ra dưới nhiều hình thức
Các cơ quan quốc tế của Liên Hiệp Quốc, của các khối nước như Hoa Kỳ, EU, Nga Sô, Trung quốc, ASEAN, và các nước Đông Bắc Á
Các ngân hàng muốn đầu tư để giúp phát triển, cần thiết lập các dự án phát triển như hạ tầng cơ sở cho việc phát triển
Các công ty kinh doanh, tu nhân hay liên doanh, trong việc xuất nhập khẩu, chế biến, trồng tỉa, khai thác khoáng, lâm, nông, hải sản….

2. [Chú thích về trường hợp Việt Nam của người viết:


Từ tháng 9/1989, Liên Hiệp Quốc hạn chế người vượt biên bằng cách triệu tập Hội Nghị các nước liên hệ do LHQ triệu tập với Cơ quan UNHCR vào tháng 7/1989. Các nước tiếp nhận người vượt biên (như Hoa Kỳ, Canada, Úc, Pháp, Đức, Bỉ, Hòa Lan, Na Uy, Đan Mạch, Thụy Sĩ, … và các nước tạm dung ở Đông Nam Á (như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Singapore, Đài Loan, Nhật Bản, Nam Hàn, …) quyết định đặt ra các tiêu chuẩn thanh lọc các thuyền nhân trước khi được chấp nhận là các di dân thực thụ được quyền định cư, nhiều khi trái ngược với các tiêu chuẩn nhân đạo trước kia của LHQ.

Biện pháp thanh lọc đó gây nhiều thảm cảnh bất công cho các thuyến nhân để được chấp nhận là được đi định cư ở nước thứ ba. Mấy tê nạn trầm trọng nhất là cưỡng chế bằng bạo lực những người rớt thanh lọc phải hồi hương, hối lộ cho viên chức thanh lọc, hay hồi hương, tham ô bằng cách bán dâm đối với phụ nữ đề đuợc chấp nhận làm người có quyền tị nan
Từ khi đó làn sóng người vượt biên được chặn lại một cách cơ bản. Và từ năm 1990 trở đi, nhất là năm 1995, sau khi Hoa Kỳ bình thường hóa bang giao với Việt Nam, thì nhiều nước và cơ quan quốc tế như ADB, IMF, NGO va các công ty hay tư nhân cạnh tranh nhau đầu tự vào kinh doanh ở Việt Nam. ]

3. Những Đối Tượng Có Thể Can Dự Vào Dự Án Đầu Kinh Kinh Doanh Hay Xã Hội

Cuốn sách đó nêu ra những trường hợp tham ô của nhiều nước để giành quyền đầu tư vào các quốc gia hay lãnh thổ kém phát triển, nhất là ở Phi Châu,Trung và Nam Mỹ. Cách để các cơ quan hay tư nhân ngoại quốc giành quyền đấu tư là chia tiền hối lộ cho các chính phủ và những viên chức của nước tiếp nhận viện trợ hay đầu rư kinh doanh có liên quan:

Đại thể những thành phần để hối lộ cho một dự án được thì hành, gốm có:
Viên Chức Cao Cấp trong Chính Phủ
Viên chức UNDP của Liên Hiệp Quốc
Viên chức kinh doanh của các nước ngoài
Viên Chức chính quyền liên hệ, có quyền tiếp nhận đầu tư kinh doanh, cấp tỉnh thị hay thành phốViên Chức ngân hang
Chuyên viên soạn thảo và thi hành dự án kinh doanh, nhất là về giao thong
Các tổng giám đốc, giám đốc phó giám đốc công ty, các nhân viên phu trách thi hành dự án đã ký kế

Người ta ước tính trong tổng số tiền đấu tư, chỉ cón khoảng 40% -60% là thực sự được dùng làm vốn cho một dự án, cón một phần là tiền chia chác các cá nhân và bộ phận có liên hệ nói trên.

4. Không Thế Có Cải Cách Trong Chế Độ Độc Tài Toàn Trị, Tham Những Tràn Lan

Trong cuộc cạnh tranh để trúng thầu kinh doanh đầu tự vào Việt Nam, chắc chắn khó tránh được những trường hợp hối lộ cho các viên chức hải ngoại và Việt Nam.

Vì có chia chác tham ô như thế, nên từ cấp trên xuống cấp dưới, về nhiều phương diện hoạt động, ai nấy đều phải bao che cho nhau kẻo rút dây động rừng. Vì thế chỉ nhân dân là thành phần phải cung cúc làm việc quần quật cho nhân viên chính quyền bỏ túi tham riêng tư.

Trong khuôn khổ một quốc gia thối nát lại độc tài toàn trị như vậy, không thể có bất cứ một cuộc cải cách có thể thực hiện được. Bao nhiêu kế hoạch cải cách tôn giáo, chính trị, hành chính, quân sự, giáo dục, kinh tế, xã hội, lật pháp, đất đai,… chỉ là một giải pháp vá víu tiêu cực, vì người dân không có được sáng kiến trong một chế độ mà mọi người phải tuân theo những nguyên tắc cứng nhắc độc đoàn một chiều,thiển cận, thiếu sáng suốt và không có thiện chí của nhà cầm quyền.

Tôi nói vá víu và ở thế nằm trong bị (bao bì), vì một khi đã nằm trong bi, thì dù nằm, ngồi hay dừng, uốn cong hay nằm duỗi thằng, một người vẫn không thể thoát ra ngoài chiếc bị mình bị giam vào một cách độc đoán!

Oakland, Sat, Fri 30, 2009
Đỗ Hữu Nghiêm

QUỐC HỘI CỦA AI ?

Quốc Hội của ai?
Trần Công Luận
30/05/2009
http://dcctvn.net/news.php?id=3681
Khát vọng sâu sa, thầm kín và mãnh liệt nhất của con người mọi thời, đó là được sống trong một xã hội dân chủ, công bằng và thịnh vượng; quyền lực nhà nước không thuộc về một cá nhân, hay một nhóm người nào, nhưng thuộc về toàn thể nhân dân. Khát vọng này càng cháy bỏng và thiết tha khi các tập đoàn phong kiến ngày càng chuyên quyền, độc đoán, và hà khắc. Nảy sinh từ khát vọng này, một lý thuyết về việc phân chia quyền lực đã ra đời.

Aristote (384-322 tcn), nhà triết học Hy Lạp cổ đại, được biết đến là người đầu tiên có tư tưởng về phân chia quyền lực. Theo ông thì bất kỳ một nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc sau đây: cơ quan lập pháp, cơ quan thực thi pháp luật, và các tòa án. Tuy nhiên, Aristote mới chỉ dừng lại ở việc phân biệt các hoạt động của nhà nước, chöù chưa ñöa ra ñöôïc phương thức vận hành cũng như mối tương quan của các cơ quan này.

Mãi đến thế kỷ 17, tư tưởng về phân quyền mới được John Locke (1632-1704), một triết gia người Anh, xây dựng thành hệ thống . Theo ông “chỉ có thể có một quyền lực tối cao, là cơ quan lập pháp, coøn tất cả các quyền lực khaùc thì là, và phải là, những cái phụ thuộc vào nó”. Như vậy thì quyền lực nhà nước phải gồm các thành phần sau: lập pháp, hành pháp và liên minh.

Kế thừa học thuyết trên của John Locke, Montesquieu (1689 – 1775) đã phát triển nó thành một học thuyết mang tính toàn diện hôn. Theo ông: “Trong bất cứ quốc gia nào cũng đều có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp, và quyền thi hành những điều trong luật dân sự”. Và khi nào “quyền lập pháp và hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên Lão, thì sẽ không có gì là tự do nữa, vì người ta sợ rằng chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độc tài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư pháp không tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết."

Sau Montesquieu, J.J. Rousseau (1712 – 1778) đã chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền: tất cả quyền lực nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao tức là toàn thể người dân trong cộng đồng xã hội. Ông khẳng định rằng “những bộ phận quyền hành được chia tách ra đều phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và “mỗi bộ phận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó” mà thôi.

Cốt lõi của học thuyết này là mô hình quản trị đất nước dựa trên nguyên tắc: tam quyền phân lập, gồm ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba cơ quan này độc lập, và theo dõi lẫn nhau, làm cho không cơ quan nào đứng ngoài pháp luật, hoặc đứng trên pháp luật. Cơ quan này làm đối trọng của cơ quan kia.

Các dân tộc tiến bộ dân chủ trên thế giới đã áp dụng mô hình này vào thực tiễn xã hội, mặc dù mức độ, cũng như cách thức áp dụng có khác nhau nhưng đều dựa trên nguyên tắc tam quyền phân lập ấy.
Ở Việt Nam, đảng cộng sản không áp dụng học thuyết tam quyền phân lập nói trên nhưng thực hiện cơ chế quyền lực tập trung, để xây dựng nhà nước XHCN, trong đó ĐCSVN giữ “vai trò lãnh đạo trực tiếp và toàn diện bằng cách bổ nhiệm, bố trí Đảng viên giữ các chức vụ chủ chốt, lãnh đạo trong chính phủ, trong lực lượng an ninh và quân đội, trong Mặt trận Tổ quốc, trong Quốc hội, trong tòa án và trong Viện kiểm sát”. Với cách xây dựng Nhà Nước như vậy thì mọi quyền lực đều tập trung trong tay ĐCSVN, trong đó Bộ chính trị là cơ quan lãnh đạo cao nhất, hiện nay gồm có 15 thành viên. Tuy nhiên, để lừa bịp thế giới và để chứng tỏ rằng đất nước mình cũng có một nền dân chủ như ai, ĐCSVN đã chế tác ra ba cơ quan có đặc điểm và mô hình giống như mô hình tam quyền phân lập, gồm: Lập pháp, Hành pháp, và Tư pháp.

ĐcsVN cũng rêu rao với mọi người rằng, cơ quan lập pháp hay còn gọi là Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất cho nguyện vọng ý chí của người dân, là cơ quan có quyền lực nhà nước cao nhất với ba chức năng chính: lập pháp, giám sát tối cao các hoạt động của Nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước (xem Luật tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 ngày 25/12/2001).

Để đánh lừa cho người khác nghĩ rằng, Quốc hội thực sự là cơ quan đại diện cao nhất cho nguyện vọng ý chí của người dân, thì ĐcsVN đã cho viết trong Điều 43, Luật tổ chức Quốc hội rằng: “Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội”. Rồi trong Điều 6 Hiến pháp của Nước CHXHCNVN, ñcsVN đã cho viết: “Nhân dân làm chủ nhà nước bằng cách sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.

Tuy nhiên, nếu Quốc Hội của nước CHXHCNVN được hiểu đúng theo từng chữ bởi những gì đcsVN viết, thì cô quan này cần có tối thiểu các yếu tố sau:
- Đại biểu của cơ quan này phải được chính người dân chọn lựa thông qua các cuộc bỏ phiếu dân chủ và minh bạch. Vì ở Việt Nam chỉ có một đảng duy nhất, đó là ĐCS, nên số đại biểu không phải là đảng viên ĐCS tối thiểu phải lớn hơn 51% trong tổng số đại biểu.
- Các vị đại biểu Quốc hội không được phép tham gia vào các cơ quan hành pháp và tư pháp, để tránh trường hợp “vừa đá bóng vừa thổi còi” hay “mẹ hát con khen hay”, hoặc kẻ đi thưa kiện lại chính là quan tòa v.v. (Nếu một người vừa là đại biểu vừa là Thủ tướng, vừa là chủ tịch, vừa là bí thư... thì ai giám sát ai, ai chất vấn ai? “Vai trò, vị trí của đại biểu Nhân dân tại Quốc hội, do đó, tự nó phải tách biệt ra khỏi những kiêm nhiệm khác trong hệ thống đảng hay guồng máy chính phủ, chí ít là phải tách biệt rạch ròi ngay trong những phiên họp Quốc hội.” (Đinh Tấn Lực))
- Các vị đại biểu Quốc hội phải là những vị đại biểu chuyên trách, dành toàn bộ thời gian của mình để toàn tâm toàn lực vào thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình mà nhân dân đã phó thác cho. Hãy xem công việc hằng ngày căn bản của một Thượng Nghị Sĩ hay Dân Biểu liên bang Mỹ là: (1) họp với cử tri, cư dân để thảo luận về các vấn đề, (2) dự các buổi họp các ủy ban quốc hội, (3) họp với các viên chức nhà nước và các nhà vận động hành lang, (4) nghiên cứu và thảo luận về các dự luật, (5) làm việc với các nhóm không chính thức của các bạn đồng viện, (6) giúp cư dân giải quyết các vấn đề, (7) quản trị các văn phòng quốc hội và nhân viên, (8) gây quỹ để tranh cử kỳ sắp tới, (9) làm việc với các lãnh tụ đảng để tìm hỗ trợ cho các dự luật, (10) theo dõi xem các cơ quan hành pháp thi hành luật tới đâu, và (11) xuất hiện trước cư dân ngoài tiểu bang để trình bày các vấn đề (theo Bách Khoa Encarta).

Nhưng thực tế cho thấy, việc lựa chọn các vị đại biểu Quốc hội của Việt Nam chỉ là một trò hề, một ma thuật dân chủ có tính bịp bợm: Đảng cử-dân bầu. Người dân bị bắt buộc phải đi bỏ phiếu, và họ chỉ đi bỏ phiếu cho “xong tội” như đi trả nợ chính phủ, để khỏi bị quy kết vào thành phần chống đối, thậm chí nặng hơn là phản động, phản cách mạng v.v. (để ĐCSVN có thể nêu thành tích là hơn 99% cử tri đã tham gia bầu cử…). Một người có thể đi bỏ phiếu cho cả nhà, thậm chí cho cả khu xóm, khu phố hay cho cả cơ quan. Một cử tri nhận xét: “Đi bầu dùm là điều "tự nhiên" chẳng ai quan tâm, mà còn ủng hộ khuyến khích nữa đằng khác. Chỉ có những người không đi bầu và đi bầu trễ mới là điều đáng quan tâm. Khi đó phải báo công an khu vực, tổ trưởng tổ dân phố, người thân, hàng xóm đi nhắc nhở tận nhà hoặc gọi điện thoại... hoặc yêu cầu người nhà đi bầu dùm và thật xui xẻo nếu người đi vắng đó lại mang theo luôn thẻ cử tri”.

Tất cả người dân đều không mấy quan tâm đến việc chọn lựa ai, mà nếu phải chọn lựa thì cũng chẳng biết chọn lựa ai vì không biết các ứng cử viên là ai, làm gì, chức vụ ra sao: “phó thường dân” hay cán bộ cốt cán, bằng cấp đại học hay “học đại”, mặt dài mũi ngắn hay mũi ngắn mặt dài…. Mà cũng chẳng cần biết, bởi dù cho mặt mũi có dài ngắn thế nào đi chăng nữa thì các ứng cử viên ấy cũng đã được ĐCSVN định đoạt, an bài, “cơ cấu” cả rồi, dưới hình thức chia theo tỷ lệ cho công nhân, nông dân, trí thức, giới tính, dân tộc v.v… Cơ cấu này phải trải qua 3 đến 4 lần hiệp thương do Mặt trận tổ quốc chủ trì. Dưới hình thức này nếu một ứng cử viên nào tự ứng cử mà không được ĐCS “duyệt” thì sẽ trở nên “lạc loài”, sau 3, 4 vòng hiệp thương thì hoàn toàn bị “đánh bật” ra ngoài. Với trường hợp này thì thầy Đỗ Việt Khoa là một ví dụ điển hình (một người rất nổi tiếng về việc chống bệnh thành tích và gian lận trong giáo dục ở Hà Tây, thầy đã nhận được 0% phiếu tín nhiệm tại nơi thầy đang công tác ở vòng hiệp thương thứ 2).

Ngoài ra, quá trình bỏ phiếu và kiểm phiếu không được thực hiện một cách minh bạch. Không có một cơ quan giám sát độc lập nào đứng ra giám sát, theo dõi quá trình bỏ phiếu và kiểm phiếu hết. Tất cả đều được thực hiện trong “nhà” của ĐCS. Như vậy, việc chọn ai, bầu ai là việc của người dân, còn ai được trúng cử là việc của ĐCS!

Kết quả của trò hề này là 444/493 (90%) đại biểu quốc hội là đảng viên ĐCS và 49/493 (10%) còn lại là những vị đại biểu ngoài Đảng nhưng biết “ngoan ngoãn” nghe theo ĐCS (xem
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/05/070520_electionday.shtml http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Vi%E1%BB%87t_Nam#Qu.E1.BB.91c_h.E1.BB.99i).

Như vậy, 100% các vị đại biểu là người “trong nhà” của ĐCS. Các vị đại biểu Quốc hội trở thành những ông/bà nghị “gật” của ĐCS. Đảng bảo gật thì các ông/bà gật. Đảng bảo giơ tay thì các ông giơ tay. Điều này chẳng có gì lạ lẫm đối với người dân caû, đến nỗi còn có câu ca dao rằng: "đảng chỉ tay, mặt trận vỗ tay, quốc hội giơ tay, nhân dân trắng tay…". Một ví dụ gần đây nhất của sự nghị gật, đó là lời phát biểu của ông Dương Trung Quốc liên quan đến vụ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên.
Ông nghị gật Dương Trung Quốc này đã phát biểu trên báo Tuổi trẻ rằng: “Bộ Chính trị đã quyết rồi thì bây giờ ta (Quốc hội) chỉ bàn làm sao cho tốt, cho an toàn thôi”. Như vậy, Quốc hội chỉ còn một chức năng là làm hợp thức hóa các quyết định của ĐCS!

Như đã nói ở trên, đại biểu Quốc hội không được phép tham gia vào các cơ quan hành pháp và tư pháp. Nhưng thực tế ở Việt Nam cho thấy đại biểu Quốc hội vừa là đảng viên, vừa là thủ Tướng, vừa là Chủ tịch nước, vừa là Bí thư, vừa là Ủy viên trung ương, vừa là Chánh án, vừa là Bộ trưởng, thứ trưởng, Chủ tịch, Bí thư các tỉnh thành v.v. Yếu tố này làm cho các phiên họp chất vấn trở thành những buổi nói chuyện mang tính dàn dựng. Các buổi chất vấn chỉ là các bài diễn của các vở kịch đã được soạn sẵn sao cho được thành thạo và điêu luyện mà thôi; người soạn kịch và đạo diễn chính là ĐCS. Vì thế, không lấy gì làm ngạc nhiên khi Quốc hội chưa họp mà đã biết kết quả rồi. Điển hình gần đây nhất, cũng liên quan đến vụ khai thác bauxite nhôm ở Tây Nguyên (ñảng và Nhà nước bảo khai thác bauxite ở Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, còn nhân nhân phản đối, nói rằng khai thác bauxite ở Tây Nguyên sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh, an ninh quốc gia, cuõng nhö những tác hại khôn lường và những hệ lụy của nó sau này v.v.), đó là trong khi Quốc hội chưa bàn, chưa họp nhưng ông chủ nhiệm VPQH, Trần Đình Đản, đã bu lu bu loa lên rằng: "Quốc hội hoàn toàn ủng hộ chủ trương lớn này.". Đôi khi ĐCS còn “lòe” thiên hạ bằng cách bố trí những buổi chất vấn thật “nảy lửa”, hoặc đôi khi trong các buổi chất vấn cũng phát sinh một số điểm không nằm trong vở kịch đã được ĐCS soạn sẵn; lẻ tẻ một số vị đại biểu nổi máu “anh hùng” phát biểu, nêu ra những vấn đề nổi cộm, chất vấn thẳng thừng chính phủ, nhưng khi kết thúc phiên chất vấn, cánh cửa Quốc hội khép lại, thì mọi sự lại đâu vào đấy, như “đá ném xuống ao bèo” vậy.
Hơn nữa, chính vì đã kiêm nhiệm các chức vụ và công việc trong bộ máy hành pháp cũng như tư pháp, các vị đại biểu Quốc hội cố nhiên trở thành những vị đại biểu không chuyên trách. Luật tổ chức quốc hội quy định rằng: “số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách phải có ít nhất là hai mươi lăm phần trăm tổng số đại biểu Quốc hội”. Con số 25% do luật tổ chức quy đinh mặc dù đã là quá thấp, nhưng thực tế vẫn không đạt được con số như thế. Bởi vậy, đối với các vị đại biểu, đây là công việc bán thời gian, không chuyên. Mà đã là công việc không chuyên, bán thời gian, “làm thêm”, thì không bao giờ nó được làm một cách nghiêm túc, đến nơi đến chốn cả. Không thấy có một vị đại biểu Quốc hội nào có văn phòng riêng để tiếp xúc và lắng nghe ý kiến của các cử tri hết. Có chăng những cuộc tiếp xúc cử tri, thì cũng chỉ như là cưỡi ngựa xem hoa, hay đi du lịch của các vị đại biểu mà thôi, và những cử tri được tiếp xúc thì cũng là những người đã được chỉ định và dàn xếp rồi. Điều này chứng tỏ công việc của vò đại biểu Quốc hội thật là dễ dàng, dễ dàng đến mức mà người ta thường nói rằng , chỉ có việc Vỗ tay và ăn cơm thôi! Mà chỉ vỗ tay và ăn cơm thì cũng chẳng cần học hành gì, chỉ cần học cách vỗ tay theo ý ĐCS là đủ. Hãy xem trình độ của một phó Chủ nhiệm UB Pháp luật của Quốc hội, như ông Trần Đình Long chẳng hạn, là đã biết (xin coi lá thư của ông này trả lời gởi cho 135 trí thức Việt Nam sau hai lần gửi kiến nghị về quy hoạch và các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên (xem
http://bauxitevietnam.info/thongbao/090520_thuuybanphaplyquochoi.htm). Đọc thư phúc đáp này, người đọc không những thấy thói quan liêu, vô trách nhiệm, cẩu thả, trịch thượng của UBPLQH, mà còn thấy sự dốt nát đến nỗi nhiều người đã phải thốt lên rằng: trình độ chắc chỉ “tốt nghiệp” lớp 1 lớp 2, thậm chí tốt nghiệp loại “vớt”!

Như vậy, với tuyệt đại đa số số lượng đảng viên trong Quốc hội (mà những đại biểu này là những người đang nắm giữ các chức vụ trong cơ quan hành pháp và lập pháp và là những đại biểu không chuyên trách), thì Quốc hội chỉ là bình phong dân chủ cho ĐCSVN mà thôi, để ĐCSVN có thể duy trì được sư độc đảng, và độc quyền cai trị nhân dân một cách “hợp hiến”.

Thay vì là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thì Quốc hội lại là tay sai, là kẻ bảo kê và đồng lõa cho những hành vi thống trị độc đoán, chuyên quyền của ĐCSVN, đứng đầu là Bộ chính trị, mà Bùi Tín gọi là “15 người đang trị vì như một triều đình phong kiến thời suy đồi và tha hoá tồi tệ nhất”. Tổng thống thứ tư của Hoa Kỳ, James Madison (1751-1836), đã viết: “Sự tập trung tất cả quyền lực, quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vào trong cùng một bàn tay có thể chính thức được gọi là sự bất công và bạo tàn”.
Điều này đã thực tế chứng minh ở Việt Nam trong 70 năm qua. Đại biểu Quốc hội mỗi một lần “vỗ tay” hoặc “giơ tay” là một lần tiếp tay cho “bất công và bạo tàn”; mỗi một lần “ăn cơm” là một lần ăn mồ hôi, nước mắt và xương máu của gần 87 triệu người dân. Mà các vị “ăn cơm” lại “ăn mặn” lắm. Nhân dân phải mất 350 tỷ đồng (là số tiền được trung ương quyết định cho chi phí hoạt động của bầu cử quốc hội) cộng với một khoản tiền tương đương nói trên (các địa phương sẽ trích thêm ngân sách địa phương để kỳ bầu cử lần này đạt được hình thức tốt) cho kỳ bầu cử Quốc hội khóa XII, và hằng trăm tỷ đồng mỗi năm cho các phiên họp định kỳ, bất thường, cộng với lương bổng chi phí đi lại ăn ở của 493 ông/bà nghị gật và các bộ phận liên quan.

Tóm lại, Quốc hội là công cụ, là bình phong của ĐCSVN để ĐCSVN có thể đánh lừa được nhân dân để có thể “đàng hoàng” độc trị, và đánh lừa các nước văn minh dân chủ hòng nhận được những đồng tiền viện trợ/khoản vay từ những nước văn minh này để kéo dài sự sống, để ĐCSVN được gọi là “chính” quyền có đủ “tư cách” bắt tay với các dân tộc văn minh dân chủ khác trên thế giới. Quốc hội không phải là cơ quan đại diện cho nguyện vọng, ý chí của toàn dân như hình thức mà ĐCSVN đã gán cho nó, mà trái lại, Quốc hội đã đi ngược lại với mọi nguyện vọng, ý chí của nhân dân, đã tiếp tay tiếp sức cho chế độ CSVN sống dai hơn, độc đoán hơn, tàn bạo hơn. Quốc hội là nơi tập hợp cuûa caùc ông/bà nghị có cái đầu chỉ để gật, có miệng như câm, có tai như điếc, có mắt như mù lòa, nhưng lại bợ đỡ, bán miệng nuôi trôn, bán linh hồn cho ĐCSVN v.v.

Bao lâu ở Việt Nam vẫn còn có một Quốc hội với những ông/bà nghị như vậy, dân tộc Việt Nam vẫn còn lầm than, đói khổ, không có dân chủ, không ngẩng mặt lên được với thế giới bên ngoài, và ĐCSVN vẫn còn cưỡi lên đầu lên cổ nhân dân.

Vị đại biểu Quốc hội nào còn có chút liêm sỉ thì hãy bước ra khỏi cái tổ chức được gọi là “Quốc hội” ấy đi.

Trần Công Luận