Điểm mù chiến lược của
Trump tại Thái Bình Dương
Derek Grossman - Foreign
Policy
Biên
dịch: Viên Đăng Huy - NCQT
https://nghiencuuquocte.org/2026/08/03/diem-mu-chien-luoc-cua-trump-tai-thai-binh-duong/
Tuần
trước, Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Christopher Landau đã đến Quần đảo Solomon để gặp
tân Thủ tướng Matthew Wale. Chuyến thăm này lẽ ra không có gì đặc biệt nếu
Landau không phải là quan chức cấp cao nhất của chính quyền Trump đến thăm các
đảo quốc Thái Bình Dương — một khu vực rộng lớn gồm 16 quốc gia và vùng lãnh thổ,
không tính Australia và New Zealand — kể từ khi Tổng thống Donald Trump tái đắc
cử vào năm ngoái.
Tháng
4/2025, Trump từng nhắc đến Fiji như một trong vô số quốc gia trên thế giới sẽ
phải hứng chịu các mức thuế thương mại của ông. Ngoài điều đó ra, ông dường như
không thể hiện bất kỳ sự quan tâm thực chất nào đối với khu vực. Dù việc Landau
công bố kế hoạch đưa Đoàn Hòa bình Mỹ trở lại Quần đảo Solomon là một tín hiệu
đáng hoan nghênh, sự thiếu vắng tầm nhìn và những kết quả cụ thể từ chính quyền
Trump dành cho khu vực này vẫn là điều dễ nhận thấy.
Tình
trạng đó càng đáng chú ý nếu nhìn lại nhiệm kỳ đầu của Trump, khi chính quyền của
ông từng đặt các đảo quốc Thái Bình Dương vào tuyến đầu trong cuộc cạnh tranh ảnh
hưởng ngày càng gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc. Micronesia và Palau lần đầu tiên
đón các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Mỹ đương nhiệm đến thăm. Bản thân
Trump cũng từng có cuộc gặp lịch sử tại Nhà Trắng với lãnh đạo của cả ba đối
tác thuộc Hiệp ước Liên kết Tự do, gồm Micronesia, Palau và Quần đảo Marshall.
Việc
chính quyền Trump nhiệm kỳ hai sao nhãng các đảo quốc Thái Bình Dương cũng đánh
dấu một bước thụt lùi so với chính quyền Biden, vốn tiếp nối chiến lược coi khu
vực này là một ưu tiên từ nhiệm kỳ đầu của Trump.
Năm
2021, Tổng thống Joe Biden tham dự hội nghị thượng đỉnh trực tuyến của Diễn đàn
Quần đảo Thái Bình Dương (PIF). Năm sau, Phó Tổng thống khi đó là Kamala Harris
chủ trì một sự kiện trực tuyến khác. Biden còn ký một thỏa thuận an ninh mang
tính bước ngoặt về hợp tác tuần duyên với Papua New Guinea, mở cửa trở lại Đại
sứ quán Mỹ tại Quần đảo Solomon sau gần ba thập niên
đóng cửa, đồng thời thành lập thêm các đại sứ quán tại Tonga và Vanuatu.
Ông
cũng gia hạn các Thỏa thuận Liên kết Tự do với nhóm FAS, qua đó bảo đảm cho
Washington vị thế an ninh độc tôn trên một vùng biển rộng lớn ở Thái Bình
Dương. Chính quyền Biden còn ban hành những chính sách mới có ý nghĩa địa chiến
lược lớn, tiêu biểu là “Chiến lược Đối tác Thái Bình Dương”, chiến lược an ninh
quốc gia độc lập đầu tiên của Mỹ dành riêng cho khu vực này.
Thế
nhưng, dưới thời Trump 2.0, vai trò của Mỹ tại Thái Bình Dương gần như vắng
bóng. Ngoài chuyến đi của Landau, chính quyền Trump chỉ công bố một sáng kiến mới
nhằm hợp tác với Quần đảo Cook trong lĩnh vực khai thác khoáng sản chiến lược
dưới đáy biển sâu.
Tệ
hơn, nội các của Trump lại ban hành những chính sách trực tiếp làm tổn hại vị
thế của Mỹ tại khu vực. Tai hại nhất là việc ông phủ nhận thực trạng biến đổi
khí hậu, vấn đề mà toàn bộ khu vực coi là mối đe dọa sống còn đối với tương lai
của mình.
Trong
nhiệm kỳ đầu, cách tiếp cận tích cực của Trump đối với các đảo quốc Thái Bình
Dương từng giúp người dân khu vực tạm gác lại bất đồng căn bản này. Nhưng lần
này, quyết định xóa bỏ Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) đã giáng những đòn
chí mạng xuống khu vực, không chỉ trong các lĩnh vực thích ứng với biến đổi khí
hậu và ứng phó thảm họa, mà còn lan sang y tế công cộng, quản lý nghề cá và cứu
trợ nhân đạo.
Trong
khi đó, cuộc chiến liều lĩnh của Trump chống lại Iran đã tiếp tục làm phân tán
sự chú ý vốn đã ít ỏi dành cho khu vực. Cuộc chiến còn châm ngòi cho một cuộc
khủng hoảng năng lượng toàn cầu, gây tác động đặc biệt nghiêm trọng đối với các
đảo quốc vốn gần như hoàn toàn phụ thuộc vào nhiên liệu và nhiều mặt hàng nhập
khẩu khác.
Khi
chi phí tại các nước cung ứng như Australia và Singapore tăng cao, gánh nặng đó
càng bị khuếch đại khi truyền tới các quốc đảo. Cuộc chiến cũng đẩy lạm phát
lên cao, khiến chính quyền các nước này càng chật vật trong việc đáp ứng nhu cầu
của người dân.
Nghiêm
trọng hơn cả, huyết mạch kinh tế của nhiều đảo quốc Thái Bình Dương là ngành du
lịch hiện đứng trước nguy cơ sụp đổ, khi khách hàng tiềm năng thắt chặt chi
tiêu và hủy bỏ các chuyến nghỉ dưỡng xuyên lục địa. Các mức thuế thương mại của
Trump càng đổ thêm dầu vào lửa, làm tổn hại các mối quan hệ trên khắp khu vực.
Nhà
Trắng phớt lờ các đảo quốc Thái Bình Dương đến mức khi Trung Quốc phóng thử một
tên lửa đạn đạo vào Nam Thái Bình Dương hồi đầu tháng này, chính quyền Mỹ lại
nhìn nhận sự việc như một vấn đề kiểm soát vũ khí dài hạn hơn là một mối đe dọa
trực tiếp đối với khu vực.
Dù
Bộ Ngoại giao Mỹ lên án vụ phóng, họ chỉ tái khẳng định một cách chung chung
các cam kết quốc phòng đối với “các đồng minh và đối tác”. Washington hoàn toàn
bỏ qua các đảo quốc Thái Bình Dương, bất chấp việc tên lửa Trung Quốc rơi ngay
gần khu vực của họ, và qua đó bỏ lỡ cơ hội củng cố niềm tin rằng Mỹ vẫn là một
đối tác đáng tin cậy.
Ở
tầm rộng hơn, chính quyền Trump chưa đưa ra bất kỳ sáng kiến ngoại giao lớn nào
nhằm xoa dịu những lo ngại ngày càng tăng của khu vực trước các hành động gây bất
ổn của Bắc Kinh. Sau hơn 18 tháng cầm quyền, Trump vẫn chưa có một đại sứ nào
phụ trách khu vực được Thượng viện phê chuẩn. Điều này phản ánh sự thiếu nghiêm
túc trong việc can dự, đồng thời cho thấy Washington đã thất bại trong việc trấn
an khu vực rằng Mỹ sẽ tiếp tục duy trì hòa bình và ổn định bằng sức mạnh răn
đe.
Về
phần mình, Trung Quốc vẫn kiên trì bám sát khu vực. Kể từ khi Trump tái đắc cử,
Bắc Kinh đã triệu tập hội nghị với các ngoại trưởng đảo quốc Thái Bình Dương, mở
rộng triển khai các thỏa thuận chiến lược với những đối tác như Quần đảo Cook
và Quần đảo Solomon, đồng thời duy trì đều đặn nhịp độ ngoại giao cấp cao.
Dù
những sáng kiến này có tạo ra bước đột phá lớn hay không, chúng vẫn củng cố nhận
thức trong giới lãnh đạo Thái Bình Dương rằng Bắc Kinh luôn nhất quán quan tâm
đến khu vực, trong khi sự chú ý của Washington đang dần mai một.
Quả
thực, một nhân vật cấp cao trong khu vực mà tôi mới trao đổi gần đây nhận xét:
“Mỹ thực sự cần đại tu và cải thiện văn hóa ngoại giao nếu muốn bắt kịp Trung
Quốc.” Vị quan chức này nói thêm rằng Washington “cần biến những lời lẽ hoa mỹ
thành hành động thực chất và kết quả cụ thể. Quá nhiều lời hứa trong quá khứ đã
rơi vào quên lãng.”
Việc
tiếp tục phớt lờ các đảo quốc Thái Bình Dương có thể gây ra những hậu quả rõ rệt
đối với chiến lược châu Á của Washington trong tương lai. Những tháng gần đây,
Nhà Trắng dường như đang từ bỏ khái niệm “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, bao gồm
cả Ấn Độ và vùng biển Ấn Độ Dương, để quay lại thuật ngữ “châu Á – Thái Bình
Dương”, qua đó nhấn mạnh một chiến lược răn đe hẹp hơn, tập trung vào Đông Á nhằm
đối phó với Trung Quốc.
Trong
bài phát biểu tại Đối thoại Shangri-La ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ
Pete Hegseth đã cố tình tránh hoàn toàn cụm từ “Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.
Ông cũng thường xuyên gọi một số đồng minh của Mỹ tại chuỗi đảo thứ nhất, cụ thể
là Nhật Bản, Hàn Quốc và Philippines, là “những đồng minh kiểu mẫu” vì cam kết
dành tỷ trọng GDP cao hơn cho quốc phòng.
Trong
chuyến công du Đông Nam Á tuần trước để tham dự các hội nghị ngoại giao ASEAN,
Ngoại trưởng Marco Rubio không chỉ gặp các đối tác thuộc Nhóm Bộ tứ, gồm
Australia, Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ, mà còn gặp nhóm được gọi là “Squad”, một cơ
chế song song thay Ấn Độ bằng Philippines, qua đó nhấn mạnh tầm quan trọng của
chiến lược phòng thủ chuỗi đảo thứ nhất.
Bên
cạnh việc làm tổn hại quan hệ Mỹ – Ấn trong năm ngoái, Trump, với tư cách tổng
tư lệnh, còn quyết định đổi tên Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương trở lại
thành Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương.
Tất
cả những điều đó cho thấy Mỹ lo ngại về việc duy trì khả năng răn đe tại Eo biển
Đài Loan, Biển Hoa Đông và Biển Đông hơn nhiều so với những gì người ta vẫn tưởng.
Điều này khiến chuỗi đảo thứ hai, kéo dài từ Nhật Bản tới Palau, cùng các đảo
quốc Thái Bình Dương xa hơn, trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Các
lãnh thổ của Mỹ gồm Samoa thuộc Mỹ, Quần đảo Bắc Mariana và Guam, cùng nhóm FAS
mà Washington có các thỏa thuận quân sự đặc biệt, đóng vai trò xương sống trong
chiến lược chuỗi đảo thứ hai, hỗ trợ hoạt động triển khai lực lượng Mỹ tới gần
Trung Quốc hơn.
Các
đảo quốc Thái Bình Dương, đặc biệt là nhóm FAS, có thể cung cấp căn cứ, cảng biển
và đường băng trong một cuộc xung đột tương lai. Họ nắm giữ một số vị trí địa
lý có giá trị chiến lược nhất tại Thái Bình Dương, mang lại cho Mỹ quyền tiếp cận
những khu vực hoạt động hàng không và hàng hải rộng lớn, có ý nghĩa sống còn
trong một cuộc chiến kéo dài.
Ngoài
ra, dù nằm xa các chiến trường chính tiềm tàng, các đảo quốc Thái Bình Dương vẫn
có thể cung cấp lãnh thổ để phân tán lực lượng, giúp Mỹ tránh tập trung quá nhiều
nguồn lực vào một địa điểm duy nhất. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh
tầm bắn và sức sát thương của vũ khí Trung Quốc ngày càng tăng, như vụ phóng
tên lửa đạn đạo gần đây của Bắc Kinh đã cho thấy.
Cuối
cùng, việc cải thiện quan hệ giữa Mỹ và các đảo quốc Thái Bình Dương có thể
giúp ngăn Bắc Kinh mở rộng các thỏa thuận an ninh trên khắp khu vực.
Dĩ
nhiên, không phải mọi vấn đề đều xoay quanh cạnh tranh Mỹ – Trung, và cũng
không nên như vậy. Tuy nhiên, ngay cả khi xét theo mục tiêu của chính quyền
Trump là cạnh tranh quân sự hiệu quả hơn với Trung Quốc, việc sao nhãng ngoại
giao, phát triển và các ưu tiên chính sách của các đảo quốc Thái Bình Dương nhiều
khả năng vẫn sẽ phản tác dụng.
Cuối
cùng, điều đó chỉ chứng minh rằng Washington không phải là một đối tác đáng tin
cậy, trong khi hình ảnh của Trung Quốc tại khu vực ngày càng được củng cố.
Nếu
chính quyền Trump thực sự tin rằng cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc sẽ được
định đoạt tại Tây Thái Bình Dương, thì các đảo quốc Thái Bình Dương đáng lẽ phải
nhận được nhiều sự quan tâm hơn, chứ không phải ít hơn, từ các nhà hoạch định
chính sách cấp cao của Mỹ.
Năng
lực răn đe không chỉ được xây dựng bằng sức mạnh quân sự, mà còn bằng nền ngoại
giao bền bỉ và những mối quan hệ chính trị dựa trên lòng tin. Chính quyền Trump
trong nhiệm kỳ đầu từng hiểu rõ thực tế đó. Chính quyền nhiệm kỳ hai của ông dường
như đã quên mất.
-------------------
Derek
Grossman là Giáo sư Khoa học Chính trị và Quan hệ Quốc tế tại Đại học Nam
California.
Nguồn: Derek Grossman,
“Trump’s
Pacific Islands Blind Spot”, Foreign Policy, 31/07/2026
No comments:
Post a Comment