Tại sao không cắt béng cái đuôi XHCN đi!
Phan Thế Hải
25/05/2026
https://baotiengdan.com/2026/05/25/tai-sao-khong-cat-beng-cai-duoi-xhcn-di/
Hôm nay lão lại nhận được cuộc điện thoại từ ông giáo, rằng, nước mình chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường là ok rồi, tại sao lại phải gắn thêm cái đuôi “định hướng XHCN” hở ông? Mấy chục năm nền kinh tế phải khốn đốn với cái đuôi ấy, nuối tiếc gì mà không cắt nó đi!
Rằng thưa cụ, điều quan trọng là người ta giải thích cái đuôi XHCN là gì cụ ạ. Cái gọi là XHCN từ hơn nửa thế kỷ trước và nay nó khác nhau nhiều lắm. Nên gọi là vậy nhưng nội hàm không phải vậy!
Ông nói thế nghĩa là sao!
Rằng, trước thời kỳ Đổi mới (1986), Việt Nam đã nhập khẩu đồng bộ tư tưởng cụ Mác, cụ Lê. Nguyên đai nguyên kiện. Dựa trên lý luận này, cùng kinh nghiệm của mô hình Xô Viết, nội dung được diễn đạt qua mục tiêu xây dựng CNXH ở miền Bắc rồi trên cả nước. Về cơ bản là phải xóa bỏ tư hữu, tôn thờ công hữu.
Đại hội III (1960) miền Bắc tiến hành cách mạng XHCN. Theo đó phải xóa bỏ chế độ người bóc lột người; xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; phát triển kinh tế quốc doanh và hợp tác xã; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động.
Tinh thần chung là CNXH = chế độ không còn bóc lột, kinh tế công hữu giữ vai trò chủ đạo, giai cấp công nhân lãnh đạo.
Sở dĩ người ta nhấn mạnh về công hữu, bài xích tư hữu chỉ vì câu “Kinh thánh” được phát ra từ cụ Lenin “Sản xuất nhỏ sinh ra chủ nghĩa tư bản và giai cấp tư sản một cách tự phát, hàng ngày, hàng giờ”. Mô hình Liên Xô đã thấm nhuần sâu sắc quan điểm này nên gần như cả nước chỉ có công hữu.
Sau thống nhất đất nước – Đại hội IV (1976) đặt mục tiêu: Đưa cả nước “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”. CNXH được hiểu là xã hội có nền sản xuất lớn XHCN; quan hệ sản xuất XHCN giữ vị trí thống trị; công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; kế hoạch hóa tập trung; không còn áp bức bóc lột; con người lao động làm chủ tập thể.
Để phục vụ cho mục tiêu này, cụ Lê Duẩn phát minh thêm khái niệm “Làm chủ tập thể XHCN”. Đây được xem là đặc trưng của xã hội mới: Người lao động vừa là chủ chính trị vừa là chủ kinh tế.
Vì tôn thờ công hữu và nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nên chúng ta đã tiến hành cải tạo tư sản công thương trên toàn miền Nam. Về cơ bản đã tiêu diệt nền kinh tế thị trường và bần cùng hóa tầng lớp hữu sản và trung lưu. Đây cũng là một trong những nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến cùng kiệt, đói kém.
Sau những khó khăn kinh tế cuối thập niên 1970, Đại hội V (1982) thừa nhận nhiều yếu kém, nhưng vẫn giữ nhận thức cơ bản CNXH là xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có nền kinh tế XHCN dựa trên công hữu; phát triển văn hóa mới; xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu; thực hiện công bằng xã hội.
Tuy nhiên chưa xuất hiện khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Trong giáo trình chính trị và tuyên truyền thời kỳ đó, CNXH thường được mô tả là: Giai đoạn đầu của hình thái kinh tế – xã hội CSCN, trong đó chế độ công hữu về tư liệu sản xuất là chủ yếu, không còn người bóc lột người, nhân dân lao động làm chủ, sản xuất phát triển nhằm nâng cao đời sống nhân dân.
Hoặc cô đọng hơn: “CNXH là xã hội không có áp bức bóc lột, nhân dân lao động làm chủ, kinh tế phát triển trên cơ sở công hữu”. Rồi cứ thế, càng về sau, yếu tố công hữu bị lờ đi cho đến Đại hội X (2006), Đảng điều chỉnh cách diễn đạt, đưa ra mô hình thực tiễn hơn. Xã hội XHCN Việt Nam được mô tả với 8 đặc trưng cơ bản là:
- Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh;
- Do nhân dân làm chủ;
- Kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp;
- Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc;
- Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết;
- Có Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân;
- Quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế.
Ông giáo gật gù, à ra thế!
No comments:
Post a Comment