Wednesday, May 27, 2026

KỶ NGUYÊN MỚI và LIỆU CÓ THỂ TRÁNH ‘THẲNG CẰNG’ (Trân Văn / Người Việt)

 



Kỷ nguyên mới và liệu có thể tránh ‘thẳng cẳng’ (Phần 1)

Trân Văn   -   Người Việt

25-5-2026

https://baotiengdan.com/2026/05/25/ky-nguyen-moi-va-lieu-co-the-tranh-thang-cang-ky-1/

 

Tuần rồi, thiên hạ bắt đầu bàn luận về “Dự án Trục Cảnh Quan Sông Hồng.” Theo kế hoạch đã được công bố, mục tiêu của dự án này sẽ biến hai bờ sông Hồng thành vành đai sinh thái xanh, vừa phát triển giao thông, vừa phát triển văn hóa-du lịch-kinh tế, đặc biệt là tạo thêm quỹ đất để thiết lập các khu đô thị sinh thái, trung tâm thương mại-dịch vụ cao cấp.

 

Dự án vừa đề cập đang được triển khai trên mặt bằng mà diện tích dự trù khoảng 11,000 héc ta, tổng vốn đầu tư khoảng 800,000 tỷ đồng. Đáng chú ý nhất là dự án này sẽ khiến khoảng 70,000 gia đình mất nhà, khoảng 250,000 người không chỉ mất nơi cư trú mà còn có thể mất sinh kế, sinh hoạt bị lộn ngược.

 

Khoan bàn đến “Dự án Trục Cảnh Quan Sông Hồng,” trước mắt, người viết bài này chỉ muốn đem dự án đặt bên cạnh chủ đề vốn đã và đang rất nóng, liên quan đến tương quan giữa an sinh và động lực để duy trì sự ổn định của kinh tế-xã hội Việt Nam: Cơ hội an cư của giới trẻ nói riêng và thường dân nói chung. Khi hệ thống chính trị, hệ thống công quyền vẫn chỉ chuyên chú vào những kế hoạch như “Dự án Trục Cảnh Quan Sông Hồng” thì chẳng khác gì tiếp tục khuyến khích đầu cơ, tiếp tục giữ giá bất động sản ở mức ngất ngưởng, còn quỹ đất, nguồn nhà dành cho giới trẻ, thường dân, giúp họ an cư, lạc nghiệp vẫn như giấc mơ siêu thực.

 

                                                  ***

 

Tháng trước, tại nghị trường, ông Lê Hoàng Anh – một đại biểu Quốc Hội (ĐBQH) – cảnh báo, chuyện giá nhà gấp 30 lần thu nhập trung bình/năm, làm việc cật lực hơn ¼ thế kỷ cũng không thể mua được nhà, không chỉ phi lý mà còn là “vấn đề chính trị, xã hội dài hạn,” vì điều đó khiến “niềm tin của giới trẻ vào công bằng lung lay.”

 

Chuyện thanh niên nói riêng, thường dân nói chung, nhịn ăn, nhịn mặc trong vài thập niên vẫn không thể chạm đến ngưỡng an cư không mới, không chỉ vừa được các ĐBQH khóa này nêu ra tại nghị trường mà đã từng được ĐBQH nhiều khóa trước đề cập.

 

Chẳng riêng Quốc Hội, chính phủ các nhiệm kỳ trước cũng thế. Cứ search trên Internet sẽ thấy, ông Phạm Minh Chính từng vài lần tuyên bố, phải đưa giá nhà về mức hợp lý, phải thúc đẩy các đề án hỗ trợ an cư để giới trẻ, người thu nhập thấp có cơ hội chạm tay vào ước mơ có nhà. Ông Tô Lâm, tổng bí thư kiêm chủ tịch nước cũng vài lần khẳng định, đại ý, quản lý đất đai phải lấy lợi ích của người lao động làm trung tâm, phải kéo giá nhà xuống đúng giá trị thực để phục vụ nhân dân…

 

Tuy nhiên trong thực tế, các kế hoạch hỗ trợ thanh niên, thường dân an cư như xây dựng một triệu đơn vị căn nhà được dán nhãn “nhà ở xã hội” chỉ xuất hiện trên miệng những viên chức hữu trách và tồn tại trên giấy. Đến giờ, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam vẫn chỉ tận tâm, tận lực với những dự án kiểu “Dự án Trục Cảnh Quan Sông Hồng.”

 

Lựa chọn ấy không chỉ bất nhân mà còn bất trí. Muốn hình dung hậu quả hãy nhìn Trung Quốc.

 

                                                   ***

 

Giống như Trung Quốc, kinh tế và tăng trưởng của Việt Nam cũng phụ thuộc vào đất đai, chính quyền bán đất để tạo ra nguồn thu cho ngân sách, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản thổi giá để làm giàu, xã hội không dùng vốn để đầu tư vào sản xuất, cho công nghệ mà đổ vào đầu cơ đất. Mô hình phát triển kiểu này trở thành “gông cùm” tài chính đè lên vai giới trẻ.

 

Giống như Việt Nam, giới trẻ và thường dân Trung Quốc cũng bị gạt sang bên lề con đường phát triển. Dựa vào báo chí, mạng xã hội Trung Quốc cũng như các nghiên cứu về kinh tế-xã hội Trung Quốc có thể thấy, hơn mươi năm qua, giới trẻ Trung Quốc đã có nhiều đợt phản kháng được xếp vào loại “bất tuân dân sự thụ động” – phản kháng bằng cách buông bỏ các chuẩn về giá trị.

 

Trong giai đoạn từ 2016 đến 2020, giới trẻ Trung Quốc theo nhau chống “văn hóa 996” (buộc làm việc từ 9 giờ sáng đến 9 giờ tối, 6 ngày/tuần) và “tiến hóa ngược” (tuy phải vắt kiệt sức lực, không được nghỉ ngơi thỏa đáng nhưng thu nhập không tăng, không có cơ hội thăng tiến), bằng cách tố cáo chuyện bị doanh nghiệp bóc lột trên mạng xã hội, cùng nhau lên án, tẩy chay sản phẩm, dịch vụ của những doanh nghiệp đó. Kiểu phản kháng ấy không chỉ khiến các doanh nghiệp điêu đứng mà còn làm bất bình trong xã hội dâng cao. Năm 2021, Tòa Tối Cao Trung Quốc phải tuyên bố “996” là bất hợp pháp. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn lớn (như Alibaba, Tencent,…) phải điều chỉnh chính sách để tránh các rủi ro pháp lý.

 

Giữa năm 2021, sau khi Luo Huazhong đăng “Nằm thẳng là công lý” trên Baidu, cho rằng, với những đặc điểm xã hội như Trung Quốc, tốt nhất là nên “nằm thẳng” (chỉ làm việc đủ để duy trì sự sống, không mua nhà, không mua xe, không kết hôn, không sinh con, loại bỏ ham muốn vật chất, hạn chế tối đa mua sắm, chỉ làm việc đủ để duy trì sự sống), rất nhiều thanh niên Trung Quốc tán thành quan niệm này, đồng loạt từ chối “cuộc đua làm chuột” (rat race). “Nằm thẳng” (Tang ping) trở thành phong trào, không chỉ khiến mãi lực suy giảm, mà còn đẩy tỷ lệ kết hôn, sinh sản tụt sâu, khủng hoảng lão hóa dân số trở thành trầm trọng hơn. Chính quyền Trung Quốc chỉ có một cách kiềm chế là xếp “nằm thẳng” vào nhóm từ nhạy cảm để chặn trên mạng xã hội.

 

“Nằm thẳng” chưa lắng xuống thì “buông xuôi” (Bạch lạn – Bai lan) bùng lên. Nếu “nằm thẳng” chỉ là hạn chế tham gia sinh hoạt xã hội thì “buông xuôi” cổ xúy việc để cho bản thân tự thối rữa. Một số tài liệu giải thích, trong Hoa ngữ, Bạch lạn xuất phát từ việc chỉ một đội bóng rổ cố tình thua thảm khi không nhìn thấy cơ hội xoay chuyển tình thế và thanh niên Trung Quốc chọn “buông xuôi” bởi nhận thức rất rõ sự tồi tệ của thực tại, nên chủ động để cuộc đời của chính họ trượt dài, bất kể hậu quả.

 

Giới nghiên cứu xã hội học cả trong lẫn ngoài Trung Quốc xem “buông xuôi” phản ánh sự kiệt quệ tinh thần và trầm cảm trên diện rộng của thế hệ trẻ Trung Quốc sau đại dịch – thế hệ vừa vô hình, vừa vô cảm với tất cả, từ quốc gia đến dân tộc.

 

“Bất tuân dân sự thụ động” ở Trung Quốc không chỉ chừng đó và sở dĩ phải tóm tắt nguyên nhân, diễn biến, hậu quả của những phong trào trong giới trẻ Trung Quốc vì nếu nắm bắt và đối chiếu, tự nhiên sẽ nhận ra Việt Nam đã tiệm cận ngưỡng phát sinh phản kháng, vấn đề đáng bận tâm là liệu chính quyền Việt Nam có thể làm gì để hạn chế hậu quả.

(Còn tiếp)

 

 

                                                               ***

 

 

Kỷ nguyên mới và liệu có thể tránh ‘thẳng cẳng’ (Phần 2)

Trân Văn   -   Người Việt

26-5-2026

https://baotiengdan.com/2026/05/26/ky-nguyen-moi-va-lieu-co-the-tranh-thang-cang-phan-2/

 

Phần trước đã giới thiệu về “buông xuôi.” Trong khi “buông xuôi” đang làm sụt giảm năng suất lao động của Trung Quốc, tạo ra làn sóng “thất nghiệp tự nguyện” thì cuối năm 2022, phong trào “giấy trắng” (White Paper Revolution) bùng phát. Bất bình trước chính sách phong tỏa cực đoan để hạn chế COVID-19 lây lan (Zero-COVID), sinh viên và thanh niên tại các đô thị lớn ở Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thành Đô… đã đổ ra đường giương cao những tờ giấy trắng – bày tỏ việc bị buộc phải câm nín không được nói những điều họ muốn.

 

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2026/05/1-75-1024x682.jpg

Những căn nhà ở Sài Gòn vượt quá xa thu nhập của người lao động, nhất là thế hệ trẻ tuổi. (Hình minh họa: Thanh Hue/Getty Images)

 

Đợt phản kháng công khai vốn hết sức hiếm hoi tại Trung Quốc đã khiến chính quyền Trung Quốc vội vàng chấm dứt chính sách “Zero-COVID,” đưa sinh hoạt xã hội trở lại bình thường sớm hơn dự kiến.

 

Từ năm ngoái đến năm nay, giới trẻ Trung Quốc thêm một lần chuyển hướng. Giá nhà cao, chi phí đắt đỏ khiến thanh niên Trung Quốc quyết định từ bỏ lối sống kiểu “Tộc Chuột” (Rats Tribe – chui rúc trong các ổ chuột ở đô thị) và “bỏ phố về quê.” Họ khuyến khích nhau hãy chấp nhận làm đủ thứ việc không tên, thu nhập thấp để có không gian sống thoáng đãng, bình yên hơn.

 

Tuy “bỏ phố về quê” là một cuộc rút lui vì bất lực nhưng cũng được xem như một kiểu hỗ trợ giãn dân, tạo cơ hội cho những khu vực cần nhân lực phát triển. “Bỏ phố về quê” cũng tạo một loại áp lực buộc chính quyền Trung Quốc tự điều chỉnh, thay đổi cách tiếp cận, chú trọng nhiều hơn đến thế hệ trẻ vì hỗ trợ họ chính là cách duy trì sự ổn định cả về kinh tế lẫn chính trị.

 

                                                      ***

 

Bởi là bản sao của Trung Quốc về thể chế nên sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi những vấn nạn kinh tế – xã hội mà chính quyền Trung Quốc phải đối mặt cũng đã hoặc sẽ xuất hiện tại Việt Nam. Trước khi “nằm thẳng” trở thành phong trào, lan rộng tại Trung Quốc, giới trẻ và thường dân Trung Quốc đã tuyệt vọng vì giá nhà thăng thiên, vượt ngoài tầm với của họ.

 

Giữa thập niên 2000, giới trẻ và thường dân Trung Quốc gọi nhau là “phòng nô” (nô lệ của căn nhà). Để có thể trả trước 30% giá trị một căn nhà ở các đô thị lớn, những cặp vợ chồng trẻ phải vét sạch tiền tiết kiệm của chính mình, của cha mẹ chồng, cha mẹ vợ (lục cá ví tiền – sáu cái ví). Chuyện chưa ngừng ở đó, 30 năm trả góp 70% khoản tiền còn nợ là ba thập niên làm việc như nô lệ, tóm tắt trong “bốn không” (không dám ốm, không dám xin nghỉ việc, không dám đi du lịch, và không dám ăn ngon), chỉ cần thiếu tiền, chậm trả nợ trong một tháng là có thể mất nhà. Bối cảnh đó mở đường cho “văn hóa 996” lên ngôi, “phòng nô” chấp nhận bị chèn ép, bị sỉ nhục ở nơi làm việc, chấp nhận chất lượng cuộc sống chạm đáy, tiết kiệm tối đa để có tiền trả nợ nhà.

 

Thực trạng “phòng nô” còn bóp méo các giá trị truyền thống. Giá nhà quá cao, nợ nần quá lớn, quá nặng nề khiến hôn nhân trong những thanh niên Trung Quốc cư trú tại các đại đô thị có khuynh hướng trở thành thực dụng. Khi kết hôn, chẳng có gì bất thường nếu vấn đề được cả hai phía quan tâm chỉ là người phối ngẫu tương lai có khả năng chia sẻ gánh nặng nợ nần lúc mua nhà hay không. Giá nhà quá cao cũng là lý do khiến những cặp vợ chồng trẻ không còn khả năng tài chính để sinh và nuôi dưỡng một đứa trẻ, chẳng phải tự nhiên mà phần lớn “phòng nô” lựa chọn lối sống DINK (nhân đôi thu nhập, không sinh con), rồi an ủi lẫn nhau rằng họ sẽ là thế hệ cuối cùng phải gánh vác nợ nần.

 

Khi giá nhà tại Việt Nam gấp 30 lần thu nhập trung bình/năm, giới trẻ và thường dân tại Việt Nam phải nhịn mọi thứ suốt 30 năm mà vẫn không thể mua được một căn nhà thì “phòng nô” đã hiện diện rồi. Chuyện những cặp vợ chồng trẻ không dám sinh con hoặc nếu đã có con thì gửi đứa trẻ về quê nhờ cha mẹ nuôi dưỡng không còn cá biệt.

 

Năm ngoái, Viện Khoa Học Vùng Nam Bộ công bố kết quả cuộc khảo sát về dân số, nhân lực của Việt Nam và các tỉnh/thành phố Nam bộ năm 2024-2025, theo đó, có 22.2% người độc thân không có ý định lập gia đình, không muốn sinh con vì không đủ điều kiện về thu nhập và nhà ở.

 

Hoàn cảnh tác động tới suy nghĩ, rõ ràng lựa chọn như vừa đề cập có quan hệ mật thiết với sinh suất của Việt Nam liên tục rơi càng lúc càng sâu hơn mức bình thường (thay vì phải là 2.1 con/phụ nữ thì chỉ còn 1.93 con/phụ nữ, thậm chí ở một số đô thị như TP.HCM, sinh suất đã giảm tới 1.2 con/phụ nữ), đẩy nhanh tốc độ già hóa dân số. Thực trạng này chẳng khác gì “tam bất” (không kết hôn, không sinh con, không mua nhà) trong phong trào “nằm thẳng” ở Trung Quốc.

 

Cũng năm ngoái, báo cáo do Cục Thống Kê công bố khiến nhiều người, nhiều giới đồng loạt cảnh báo, số lượng “thanh niên hai không” (không có việc làm, không tham gia học tập, đào tạo) tại Việt Nam đang tăng dần. Số thanh niên thuộc nhóm “hai không” xấp xỉ 1.5 triệu.

 

Trong xã hội học có một thuật ngữ gọi là NEET (Not in Education, Employment, or Training – không đi làm, không đi học, không học nghề). “Thanh niên hai không” chính là NEET. NEET dù thụ động (do hoàn cảnh xô đẩy) hay chủ động (do tư tưởng, chủ động chọn “không”) đều bị xem là là một “bom nổ chậm” về kinh tế và an sinh xã hội bởi lãng phí nguồn lực của quốc gia, hệ lụy tâm lý vì khó tái hòa nhập, mầm mống gây bất ổn cho xã hội).

 

Ngoài số lượng “thanh niên hai không” đang tăng dần, báo cáo của Cục Thống Kê còn cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên trong độ tuổi dưới 24 tuổi rất cao (hơn 9%), gấp bốn lần tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước. Trong thực tế, càng ngày càng nhiều thanh niên Việt Nam rơi vào tình trạng “thất nghiệp có bằng cấp.” Đó không phải chỉ đơn thuần là lãng phí mà còn đẩy những thanh niên này vào tình trạng mất phương hướng. Sau đại dịch COVID-19, nhiều triệu thanh niên Trung Quốc rơi vào tình trạng giống vậy và sau đó chọn lối sống thu mình, ngắt kết nối với xã hội, tạo ra trào lưu “tộc chuột mới.”

 

Trung Quốc cung cấp hàng loạt ví dụ về hậu quả của phát triển lệch lạc khiến giới trẻ nói riêng và thường dân nói chung không thể đạt được sự ổn định trong đời sống, cũng như nuôi – giữ hy vọng về tương lai. Chính sự bế tắc ở hiện tại và sự bất định ở tương lai đã khiến thế hệ trẻ Trung Quốc dùng sử dụng quyền từ chối, kể cả từ chối duy trì nòi giống như một cách phản kháng áp lực sinh tồn mà thể chế tạo ra và đè nặng lên họ. Có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy, thế hệ trẻ Việt Nam đã bị đẩy đến đoạn đầu của “nằm thẳng.” Liệu chính quyền Việt Nam có đủ ý thức trách nhiệm và khả năng để ngăn những “nằm thẳng,” hay “buông xuôi” trở thành phong trào, tổn hại không chỉ vận mệnh quốc gia, tương lai dân tộc mà còn hủy diệt thế hệ trẻ?

 





No comments: