Sunday, May 31, 2009

SỰ TRỖI DẬY CỦA CÁC CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ PHI TỰ DO (3)

Sự trỗi dậy của các chế độ dân chủ phi tự do (3)
Fareed Zakaria
“The Rise of Illiberal Democracy”, Foreign Affairs, November 1997
http://www.fareedzakaria.com/articles/other/democracy.html

Người dịch: Phạm Hồng Sơn (với sự cho phép của tạp chí Foreign Affairs)
Người hiệu đính và chú thích: Mai Thái Lĩnh
28/05/2009 12:12 sáng
http://www.talawas.org/?p=4964

Xung đột sắc tộc và chiến tranh

Vào ngày 08 tháng 12 năm 1996 Jack Lang
[1] đã gây ra một cú hích đầy kịch tính cho Belgrade. Chính trị gia nổi tiếng người Pháp, cựu bộ trưởng văn hóa, trước đó đã bị phấn khích bởi các cuộc biểu tình của sinh viên đang lôi cuốn hàng chục ngàn người chống lại Slobodan Milosevic[2], và như thế một con người mang tên Lang và nhiều trí thức phương Tây đã nhận lấy trách nhiệm đối với cuộc chiến tại vùng Balkan. Lang muốn đem lại sự hỗ trợ tinh thần cho phe đối lập trong Liên bang Nam Tư. Nhưng các lãnh đạo của phong trào đối lập đã tiếp ông ta trong văn phòng của họ - khoa triết học- chỉ để đá ông ta ra ngoài và tuyên bố ông ta là “kẻ thù của người Serbia,” và lệnh cho ông ta phải rời khỏi nước này. Hóa ra là các sinh viên chống lại Milosevic không phải vì tội khởi động cuộc chiến, mà vì đã thất bại trong cuộc chiến.
Sự bối rối của Lang làm nổi bật hai suy diễn thông thường, và thường là nhầm lẫn, khi cho rằng sức mạnh của dân chủ là sức mạnh của sự hài hòa sắc tộc và của hòa bình. Nhưng cả hai đều không nhất thiết là đúng. Các chế độ dân chủ tự do trưởng thành luôn có khả năng dung nạp các chia rẽ sắc tộc mà không có bạo lực hoặc khủng bố và sống hòa bình với các nền dân chủ tự do khác. Nhưng nếu thiếu nền tảng của chủ nghĩa tự do hiến định, việc đưa thiết chế dân chủ vào một xã hội đang bị chia rẽ trong thực tế đã kích động chủ nghĩa dân tộc, xung đột sắc tộc và thậm chí cả chiến tranh. Một loạt các cuộc bầu cử được tổ chức tới tấp ngay sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ tại Liên bang Xô Viết và Liên bang Nam Tư cũ đã mang lại chiến thắng cho các nhóm ly khai dân tộc chủ nghĩa và dẫn đến sự tan rã của các quốc gia đó. Tự thân các cuộc bầu cử này không phải là xấu, bởi vì các quốc gia đó đã bị ràng buộc với nhau bằng bạo lực. Nhưng quá trình giải thể vội vã, thiếu những cơ chế bảo hiểm, những định chế hoặc quyền lực chính trị dành cho các nhóm sắc tộc thiểu số trong các quốc gia mới, đã gây ra những vòng xoắn nổi loạn, đàn áp và tại những nơi như Bosnia, Azerbaijan hay Georgia, đã gây ra chiến tranh.
Bầu cử là thiết chế đòi hỏi các chính trị gia phải cạnh tranh để lấy phiếu cử tri. Các xã hội thiếu một truyền thống chắc chắn về hội nhập hay về các nhóm đa sắc tộc chính là nơi dễ nhất để tổ chức lực lượng ủng hộ dựa trên đường lối có tính chủng tộc, sắc tộc hay tôn giáo. Khi một nhóm dân tộc nắm được quyền, nó có xu hướng loại bỏ các nhóm dân tộc khác. Khi đó gần như không thể có sự thỏa hiệp; bởi vì người ta có thể thương lượng về các vấn đề vật chất như nhà ở, bệnh viện hay đồ cứu trợ, nhưng làm sao có thể phá vỡ sự bất đồng về một tôn giáo của quốc gia? Các cuộc cạnh tranh chính trị, vốn đã gây ra chia rẽ, có thể nhanh chóng suy thoái thành bạo lực. Các phong trào đối lập, các nhóm khởi nghĩa vũ trang và các cuộc đảo chính tại châu Phi vẫn thường bị hướng vào việc chống lại các chế độ dựa trên sắc tộc, rất nhiều trong số đó đã nắm quyền thông qua bầu cử. Nghiên cứu sự sụp đổ của các nền dân chủ tại châu Phi và châu Á những năm 1960, hai học giả đã kết luận rằng dân chủ “là cái khó có thể sống được trong môi trường căng thẳng về xu hướng sắc tộc.” Các nghiên cứu gần đây, đặc biệt là về châu Phi và Trung Á, cũng khẳng định thêm cho nhận định bi quan này. Donald Horowitz - một chuyên gia uy tín về xung đột sắc tộc, đã kết luận: “Đối diện với bản báo cáo khá u buồn…về những thất bại cụ thể của dân chủ trong các xã hội bị chia rẽ…người ta cảm thấy muốn bỏ cuộc. Đâu là lợi ích của bầu cử nếu tất cả chỉ mang lại kết cục là đưa một chính quyền bị-Bemba-khống-chế để thay cho một chính quyền bị-Nyanja-khống-chế tại Zambia, cả hai đều hẹp hòi như nhau; hoặc đưa một chế độ miền nam thay cho một chế độ miền bắc tại Benin, trong khi không chế độ nào chịu thu nhận nửa bên kia vào bộ máy nhà nước?”
[3]
Suốt thập niên qua, một trong những tranh luận sôi nổi nhất của các học giả chuyên về quan hệ quốc tế là vấn đề “hòa bình mang tính dân chủ” (democratic peace) - với sự xác nhận là không có hai quốc gia dân chủ hiện đại nào gây chiến tranh với nhau. Cuộc tranh luận làm dấy lên các câu hỏi thú vị có tầm quan trọng về thực tiễn (Cuộc nội chiến của Mỹ có giá trị gì không? Vũ khí hạt nhân có đem lại sự biện minh tốt hơn cho hòa bình không?) và thậm chí các số liệu thống kê còn dẫn đến những bất đồng đáng quan tâm. Như học giả David Spiro đã chỉ ra, dựa trên một số lượng nhỏ các nền dân chủ và các cuộc chiến trong suốt hai trăm năm qua, cơ may để lý giải cho việc không có chiến tranh giữa các quốc gia dân chủ thật quá mong manh. Chưa có thành viên nào của gia đình dân chủ đã thắng được trong trò chơi may rủi và chỉ có ít trường hợp đem lại lý giải cho mối tương quan đầy ấn tượng đó. Nhưng ngay cả khi các số liệu thống kê là chính xác, thì cái gì giải thích được những trường hợp đó? Kant, người đề xuất khái niệm hòa bình mang tính dân chủ, đã lập luận rằng trong các quốc gia dân chủ, người phải trả giá cho chiến tranh - nghĩa là công chúng - cũng là người quyết định, do vậy, điều dễ hiểu là họ sẽ phải thận trọng. Nhưng nhận định đó chỉ gợi ý rằng các chế độ dân chủ hiếu hòa hơn các nhà nước khác. Trên thực tế, các chế độ dân chủ lại tỏ ra hiếu chiến hơn, tham gia chiến tranh nhiều hơn và với mức độ mãnh liệt hơn so với phần lớn các nhà nước khác. Như vậy, chỉ trong các nền dân chủ khác[4], hòa bình mới được giữ vững.
Khi ngẫm kỹ nguyên nhân nằm ở phía sau mối tương quan giữa hòa bình và dân chủ, ta sẽ thấy rõ một vấn đề: hòa bình mang tính dân chủ đúng ra là hòa bình của tự do. Khi đặt bút viết vào thế kỷ 18, Kant tin rằng các chế độ dân chủ đều là bạo ngược, do đó ông đã loại bỏ chúng ra khỏi quan niệm của ông về chính quyền «cộng hòa” - những chính quyền sống trong một khu vực hòa bình. Chủ nghĩa cộng hòa (republicanism), theo Kant, là sự chia tách giữa các quyền lực, sự kiểm soát và giữ cân bằng, chế độ pháp trị, bảo vệ quyền cá nhân và một mức độ đại diện nào đó trong chính quyền (dù không có gì liên quan tới phổ thông đầu phiếu). Cách giải thích khác của Kant về “hòa bình vĩnh viễn” giữa các nền cộng hòa đều gắn liền mật thiết với đặc tính hiến định và tự do của chúng: một sự tôn trọng lẫn nhau đối với quyền của các công dân khác, một hệ thống kiểm soát và giữ cân bằng để đảm bảo không có bất cứ một nhà lãnh đạo nào có thể kéo đất nước vào chiến tranh, cùng với các chính sách tự do kinh tế cổ điển, quan trọng nhất là chính sách thương mại tự do - cái sẽ tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau và đến lượt nó lại khiến cho chiến tranh trở nên quá tốn kém và sự hợp tác trở thành hữu ích. Michael Doyle, học giả hàng đầu về vấn đề này đã khẳng định trong cuốn sách Ways of War and Peace (Những nẻo đường chiến tranh và hòa bình, xuất bản năm 1997) rằng một khi thiếu chủ nghĩa tự do hiến định, bản thân nền dân chủ sẽ không có những phẩm chất kiến tạo hòa bình:
Kant không tin vào chế độ dân chủ dựa trên sự cai trị của một đa số không bị trói buộc, và lập luận của ông không hề ủng hộ quan điểm nói rằng tất cả các thực thể chính trị tham dự - tức là các nền dân chủ - đều yêu hòa bình, dù là theo nghĩa chung cho tất cả hay giữa các nền dân chủ hữu hảo với nhau. Nhiều thực thế chính trị tham dự là những chế độ phi-tự do. Hai nghìn năm trước thời hiện đại, sự cai trị của toàn dân (tức nền dân chủ thời cổ đại, N.D) đã luôn đi cùng với tính xâm lược (theo nhận xét của Thucydides
[5]) hoặc với thắng lợi của đế quốc (theo nhận xét của Machiavelli[6])…Sự lựa chọn có tính quyết định của các cử tri trung gian rất có thể bao hàm cả chính sách “thanh lọc sắc tộc” nhằm chống lại các thực thể chính trị khác trong nền dân chủ.
Sự phân biệt giữa các nền dân chủ tự do và phi tự do đã rọi sáng vào một mối tương quan có tính thống kê đáng chú ý khác. Các nhà chính trị học Jack Snyder và Edward Mansfield, bằng các số liệu ấn tượng, đã chỉ ra rằng trong 200 năm vừa qua các nhà nước đang dân chủ hóa đã tham gia chiến tranh nhiều hơn một cách đáng kể so với các chế độ độc đoán bền vững hoặc các nền dân chủ tự do. Tại các nước thiếu nền tảng của chủ nghĩa tự do hiến định, sự trỗi dậy của dân chủ thường kéo theo chủ nghĩa dân tộc quá khích và tinh thần hiếu chiến. Khi hệ thống chính trị được mở cửa, các nhóm khác nhau với những lợi ích xung khắc nhau sẽ tiếp cận được quyền lực và thúc ép những nhu cầu của họ. Các thủ lĩnh chính trị và quân sự, thường là những tay chân rường cột của thể chế độc đoán cũ, sẽ nhận thức được rằng để chiến thắng thì cần phải tập hợp được đám đông quần chúng bằng động cơ dân tộc. Hệ quả bất biến luôn là những lời hiệu triệu hùng hồn và các chính sách hung hăng, những cái thường lôi các quốc gia vào sự đối đầu và chiến tranh. Rất nhiều ví dụ để minh họa cho tình trạng vừa nói, từ Napoleon III của Pháp, Wilhelmine của Đức và Taisho của Nhật Bản đến những trường hợp đang phô bày trên báo chí ngày nay như Armenia, Azerbaijan và Serbia của Milosevic. Hóa ra, hòa bình mang tính dân chủ có rất ít mối liên quan với chế độ dân chủ.

Con đường Mỹ

Một học giả Mỹ gần đây đã tới Kazakstan, theo một chương trình do chính phủ Mỹ tài trợ, để giúp quốc hội mới ở nước này soạn thảo luật về bầu cử. Đối tác của ông ta, một thành viên cao cấp của quốc hội Kazakstan, đã gạt bỏ nhiều đề xuất do chuyên gia Mỹ phác thảo và nhấn mạnh rằng: “Chúng tôi muốn quốc hội của chúng tôi cũng tương tự như quốc hội của các ngài.” Vị chuyên gia Mỹ đã hoảng hốt và nhớ lại “Tôi đã cố để nói cái gì đó khác với ba từ vừa nảy ra trong đầu tôi lúc đó: “Không, không thể!” Cách nhìn này không phải là hiếm gặp. Người Mỹ trong các công việc về dân chủ thường có xu hướng nhìn hệ thống của họ như một cỗ máy khó điều khiển mà các nước khác không nên dùng. Nhưng thực tế, việc thừa nhận một số nét của khung hiến pháp Mỹ có thể cải thiện được nhiều vấn đề gắn liền với chế độ dân chủ phi tự do. Triết lý nằm phía sau Hiến pháp Mỹ, tức là nỗi sợ về quyền lực bị tích lũy, đến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự như vào năm 1789. Như những gì đang diễn ra, Kazakstan cần phải có một quốc hội mạnh mẽ như Quốc hội Mỹ để chế ngự sự thèm khát vô độ của tổng thống nước này.
Điều kỳ quặc là Hoa Kỳ lại rất hay ủng hộ cho các cuộc bầu cử và nền dân chủ trưng cầu dân ý ở nước ngoài. Đặc điểm của hệ thống Mỹ không phải là ở chỗ nó dân chủ như thế nào mà là phi dân chủ như thế nào, bằng cách thực hiện nhiều loại kiềm chế đối với các khối đa số cử tri. Trong ba nhánh quyền lực nhà nước, có một nhánh - có thể coi là cao nhất - được điều hành bởi chín người (nam và nữ) không thông qua bầu cử, với nhiệm kỳ suốt đời (tức Tòa án Tối cao - ND). Thượng viện của nó lại là thượng viện ít có tính đại diện nhất thế giới, không kể tới trường hợp đặc biệt duy nhất là Viện Quý tộc (House of Lords, tức Thượng viện Anh - ND) - một cơ quan không có quyền lực. (Mỗi bang đều gửi 2 thượng nghị sỹ đến Washington không tính đến dân số lớn nhỏ - California với 30 triệu dân cũng có số đại diện tại Thượng viện như Arizona với 3,7 triệu dân - nghĩa là các thượng nghị sỹ đại diện cho 16% dân số toàn quốc cũng có thể ngăn cản được một dự án luật.) Tương tự, trong các cơ quan lập pháp trên khắp Hoa Kỳ, điều gây ngạc nhiên không phải là quyền lực của đa số mà là quyền của thiểu số. Để kiểm soát kỹ hơn quyền lực quốc gia, chính quyền ở các bang và các địa phương đều mạnh và luôn đấu tranh một cách mạnh mẽ chống mọi sự can thiệp của liên bang vào lĩnh vực riêng của mình. Các doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức phi chính phủ - mà Tocqueville gọi là các hiệp hội trung gian (intermediate associations), cũng tạo thành một tầng lớp (stratum) khác trong lòng của xã hội.
Hệ thống Mỹ được xây dựng trên một quan niệm bi quan không úp mở về bản chất loài người, quan niệm cho rằng những người có quyền lực là không thể tin được. Madison đã nổi danh khi viết: “Nếu con người là thánh thần, thì không cần phải có chính quyền.” Một mô hình khác của sự lãnh đạo kiểu dân chủ đã có trong lịch sử phương Tây là dựa trên tinh thần cuộc Cách mạng Pháp. Mô hình Pháp đặt niềm tin vào lòng tốt của loài người. Một khi nhân dân đã là nguồn gốc của quyền lực thì không nên hạn chế nó, để cho nó đủ khả năng tạo ra một xã hội công bằng. (Cuộc Cách mạng Pháp, như Lord Acton
[7] đã quan sát, không nhằm vào việc hạn chế quyền lực tối cao mà là phá bỏ mọi quyền lực trung gian trên đường đi của nó.) Đa phần các quốc gia không phải là phương Tây đều chấp nhận mô hình Pháp - đặc biệt là bởi vì giới ưu tú trong chính trị thích thú với viễn tượng trang bị quyền lực cho nhà nước vì điều đó cũng đồng nghĩa với việc trao quyền cho chính bản thân họ - phần lớn những nước này đều đang rơi vào các cơn rối loạn, bạo quyền, hoặc cả hai. Điều này đúng ra phải dự liệu được từ trước. Vì xét cho cùng, chính cuộc Cách mạng Pháp cũng đã phải trải qua hai nền quân chủ, hai đế chế, một nền độc tài kiểu phát-xít và năm nền cộng hòa.[8]
Dĩ nhiên các nền văn hóa đang biến đổi và các xã hội khác nhau sẽ đòi hỏi những khuôn khổ chính quyền khác nhau. Đây không phải là lời biện hộ cho việc chấp nhận hoàn toàn con đường Mỹ mà đúng ra là lời mời gọi cho một quan niệm đa dạng hơn về thể chế dân chủ tự do, một thể chế nhấn mạnh đến cả hai phần đã có trong cụm từ (dân chủ và tự do - ND). Trước khi những chính sách mới có thể được thông qua thì một nhiệm vụ đã được đặt ra: đó là việc nghiên cứu nhằm khôi phục truyền thống của chủ nghĩa tự do hiến định - vấn đề cốt lõi đối với kinh nghiệm phương Tây cũng như đối với sự hình thành và phát triển các chính quyền tốt (good government) trên khắp thế giới. Tiến bộ về chính trị trong lịch sử phương Tây là kết quả của sự thừa nhận ngày càng mạnh mẽ, trải qua hàng thế kỷ, như bản Tuyên ngôn Độc lập (của Hoa Kỳ-ND) đã xác quyết, rằng con người có “một số quyền không thể chuyển nhượng” và rằng “chính nhằm để bảo vệ cho những quyền đó mà các chính quyền được thiết lập.” Như thế, nếu một nền dân chủ không bảo tồn được tự do và luật pháp thì nền dân chủ đó chỉ còn là một niềm an ủi nhỏ nhoi.
Giải phóng chính sách đối ngoại
Một đánh giá đúng về chủ nghĩa tự do hiến định có nhiều hàm ý phong phú đối với chính sách đối ngoại của Mỹ. Trước tiên, nó gợi ra một thái độ khiêm tốn nào đó. Trong khi rất dễ áp đặt các cuộc bầu cử ở một quốc gia thì việc thúc đẩy chủ nghĩa tự do hiến định cho đất nước đó là khó khăn hơn nhiều. Quá trình tự do hóa hay dân chủ hóa đích thực là một quá trình lâu dài và tiệm tiến, trong đó mỗi cuộc bầu cử chỉ là một bước. Thiếu sự chuẩn bị phù hợp, bầu cử có thể là một bước đi sai lầm. Do nhận thức được vấn đề này nên các chính quyền hay các tổ chức phi chính phủ đang gia tăng các biện pháp đa dạng để ủng hộ chủ nghĩa tự do hiến định trong các nước đang phát triển. NED (The National Endowment for Democracy, Quỹ quốc gia vì dân chủ) đang thúc đẩy thị trường tự do, phát triển các phong trào lao động độc lập, và các đảng phái chính trị. Cơ quan Phát triển Quốc tế của Mỹ (The U.S. Agency for International Development) đang tài trợ cho các tổ chức tư pháp độc lập. Nhưng rốt cục các cuộc bầu cử lại đang làm nhòa đi mọi thứ. Khi một quốc gia tổ chức bầu cử, Washington và thế giới sẽ khoan dung rất nhiều đối với chính quyền mới được tạo ra, như đã đối đãi với Yeltsin, Akayev và Menem. Trong thời đại của hình ảnh và biểu tượng, các cuộc bầu cử là cái dễ dàng đưa được lên màn ảnh. Nhưng cuộc sống của người dân sau các cuộc bầu cử lại là điều không dễ đưa lên màn ảnh (Và làm sao có thể ghi hình được chế độ pháp trị?)
Ngược lại, sự thiếu vắng các cuộc bầu cử tự do và công bằng nên được nhìn nhận là một khiếm khuyết, chứ không phải là sự định nghĩa của bạo quyền. Bầu cử là một phẩm hạnh công quan trọng của lãnh đạo quốc gia, nhưng không phải là phẩm hạnh duy nhất. Các chính quyền cũng nên được đánh giá bằng thước đo liên quan đến chủ nghĩa tự do hiến định. Các quyền tự do về kinh tế, dân sự và tôn giáo là cốt lõi của tính tự trị và phẩm giá của con người. Nếu một chính quyền có sự hạn chế về dân chủ nhưng liên tục mở rộng các quyền tự do này thì không nên dán cho nó cái nhãn chế độ độc tài. Mặc dù có sự hạn chế về lựa chọn chính trị, nhưng các nước như Singapore, Malaysia, Thailand đã tạo ra một môi trường tốt hơn cho đời sống, tự do và hạnh phúc của công dân so với các chính thể độc tài như Iraq, Libya hay các chế độ dân chủ phi tự do như Slovakia và Ghana. Và các áp lực từ chủ nghĩa tư bản toàn cầu cũng có thể thúc đẩy quá trình tự do hóa nhiều hơn nữa. Thị trường và đạo đức có thể cùng nhau họat động. Ngay cả Trung Quốc, một nước vẫn còn là một chế độ đàn áp tàn bạo, cũng đã đem lại cho công dân của họ nhiều tính tự quản và nhiều quyền tự do kinh tế hơn so với các thế hệ trước. Mặc dù còn rất nhiều thứ phải làm để có thể gọi Trung Quốc là một chế độ độc đoán đang tự do hóa (liberalizing autocracy), nhưng điều này không nên che khuất một thực tế là đã có nhiều thứ thay đổi.
Cuối cùng, chúng ta cần phải làm sống lại chủ nghĩa hiến định. Một hệ lụy của việc quá nhấn mạnh vào dân chủ thuần túy là có rất ít nỗ lực dành cho việc xây dựng các bản hiến pháp giàu suy tư cho các nước đang chuyển đổi. Chủ nghĩa hiến định, như được hiểu bởi những người diễn giải vĩ đại nhất vào thế kỷ 18, như Montesquieu và Madison, là một hệ thống phức tạp của các thiết chế kiểm soát và giữ cân bằng, được thiết kế để ngăn chặn sự tích tụ quyền lực và lạm dụng chức vụ. Mục tiêu này được thực hiện không chỉ bằng việc lập một danh sách các quyền con người mà phải bằng việc xây dựng một hệ thống trong đó chính quyền không thể xâm phạm các quyền đó. Nhiều nhóm người khác nhau phải được đưa vào hệ thống đó và đều được trang bị quyền lực bởi vì, như Madison lý giải, “tham vọng phải được tạo ra để chống lại tham vọng.” Hiến pháp cũng nhằm để thuần hóa các đam mê của công chúng, để không chỉ tạo ra một chính quyền dân chủ mà còn là một chính quyền có khả năng bàn bạc để quyết định. Rất đáng tiếc là vô số các loại tổ chức được bổ nhiệm, cách bầu cử gián tiếp, những sự dàn xếp cấp liên bang, các cơ chế kiểm soát và giữ cân bằng vốn là đặc trưng của nhiều bản hiến pháp chính thức hoặc không chính thức ở châu Âu lại đang bị xem xét với sự ngờ vực. Cái được gọi là « Hội chứng Weimar » (dựa theo tên của bản hiến pháp được xây dựng khá đẹp đẽ của nước Đức trong thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới nhưng đã không ngăn cản được chủ nghĩa phát-xít) đã gây cho người dân một thành kiến là chỉ nhìn hiến pháp như những văn bản hành chính không thể tạo ra nhiều thay đổi. (Như thể bất kỳ hệ thống chính trị nào ở Đức cũng có thể dễ dàng tránh được thất bại về quân sự, cách mạng xã hội, Đại Suy thoái hay siêu lạm phát.) Các thủ tục gây cản trở dân chủ trực tiếp vẫn được xem là không thành thật và chỉ nhằm bịt miệng dân chúng
[9]. Hiện nay, trên khắp thế giới, chúng ta đang thấy nhiều biến thể của cùng một chủ đề dựa trên đa số. Nhưng cái rắc rối của những hệ thống «kẻ-thắng-được-tất-cả» (winner-take-all systems) này chính là: trong hầu hết các nước đang tiến hành dân chủ hóa, kẻ chiến thắng đang thật sự đoạt lấy tất cả.

Những bất bình của dân chủ

Chúng ta hiện đang sống trong thời đại dân chủ. Nhưng trong phần lớn lịch sử của loài người, sự đe dọa đối với mạng sống, tự do và hạnh phúc của cá nhân lại đã đến từ quyền lực tuyệt đối của các chế độ quân chủ, từ giáo điều của các giáo hội, từ sự khủng bố của các chế độ độc tài và từ bàn tay sắt của chế độ toàn trị. Những tên độc tài và một vài chế độ toàn trị rải rác vẫn còn ở đâu đó, nhưng chúng đang ngày càng trở nên lỗi thời trong một thế giới của thị trường toàn cầu, của thông tin và truyền thông. Ngày nay đã không còn phương án đáng tôn trọng nào để thay thế cho dân chủ. Dân chủ đang là một phần của bộ trang phục thời thượng của tính hiện đại. Do đó các vấn đề về lãnh đạo quốc gia trong thế kỷ 21 sẽ có thể là các vấn đề nội tại của chế độ dân chủ. Điều này làm cho các vấn đề trở thành rất khó xử lý vì chúng được bọc trong chiếc áo khoác của tính chính đáng (legitimacy).
Các chế độ dân chủ phi tự do đang giành được tính chính đáng, và tiếp đó là sức mạnh, vì thực tế là chúng có tính dân chủ một cách hợp lý. Đổi lại, mối nguy hiểm lớn nhất mà nền dân chủ phi-tự do đang gây ra - khác với mối nguy hiểm dành cho chính nhân dân của nó - là nó sẽ làm mất uy tín chính bản thân chế độ dân chủ tự do, phủ một bóng đen lên cung cách lãnh đạo quốc gia kiểu dân chủ. Điều này đã từng có tiền lệ. Mọi làn sóng dân chủ cho đến nay đều đã kéo theo sau chúng những bước thụt lùi, trong đó hệ thống chính trị bị đánh giá là không thỏa đáng và các thủ lĩnh đầy tham vọng cùng với những đám đông hiếu động lại phải tìm kiếm những hệ thống thay thế khác. Như thời kỳ sau cùng của sự tỉnh ngộ ở châu Âu - trong những năm giữa hai cuộc chiến, đã bị các nhà mỵ dân thâu tóm, nhiều người trong số họ lúc đầu đã được lòng dân và thậm chí còn được nhân dân bầu lên. Ngày hôm nay, đối diện với con vi-rút của chủ nghĩa phi tự do đang lan rộng, vai trò hữu ích nhất mà cộng đồng quốc tế - và quan trọng nhất là Hoa Kỳ, có thể đảm nhiệm chính là : thay cho việc tìm kiếm những vùng đất mới để dân chủ hóa hay những địa điểm mới để tổ chức bầu cử, hãy củng cố dân chủ ở nơi nó đã bén rễ và thúc đẩy sự phát triển từng bước của chủ nghĩa tự do hiến định ra khắp thế giới. Dân chủ thiếu chủ nghĩa tự do hiến định không chỉ là không đầy đủ mà còn là nguy hiểm, mang theo nó là sự xói mòn tự do, lạm dụng quyền lực, chia rẽ sắc tộc và cả chiến tranh. Tám mươi năm trước, Woodrow Wilson đã đưa nước Mỹ vào thế kỷ 20 với một lời mời gọi «làm cho thế giới an toàn vì dân chủ ». Và hôm nay, khi sắp bước vào thế kỷ tiếp theo, nhiệm vụ của chúng ta là phải «làm cho nền dân chủ an toàn vì thế giới ».

(Tháng 5/2009)
Nguyên tác: Fareed Zakaria, “The Rise of Illiberal Democracy”, Foreign Affairs, November 1997:
http://www.fareedzakaria.com/articles/other/democracy.html
Ngoài những chú thích của người hiệu đính, các chú thích của chính tác giả đều có ghi chữ (F.Z.)

------------------------------------

[1] Jack Lang (sinh 1939): chính trị gia người Pháp, đảng viên đảng Xã hội Pháp (Parti socialiste). Bộ trưởng Văn hóa Pháp (1981-1986, 1988-1992), bộ trưởng Giáo dục Pháp (1992-93, 2000-2002).
[2] Slobodan Milošević (1941-2006): lãnh tụ cộng sản người Serbia, Tổng thống Serbia (1989-1997), sau đó là Tổng thống Nam tư (1997-2000). Từ chức Tổng thống giữa lúc có phong trào biểu tình xảy ra sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2000. Ngày 31.3.2001, ông bị nhà cầm quyền Nam tư bắt giam vì tình nghi phạm tội tham nhũng và lạm quyền. Ông cũng bị Tòa án Tội phạm Quốc tế về Nam Tư cũ (International Criminal Tribunal for the former Yugoslavia) - một tiểu ban của Liên Hiệp Quốc, kết tội diệt chủng, và bị đưa ra xét xử tại Tòa án Hague (La Haye). Milošević tự bào chữa, nhưng phiên tòa kết thúc mà không có bản án vì ông chết vì đau tim trong quá trình xét xử - kéo dài gần 5 năm.
[3] Alvin Rabushka and Kenneth Shepsle, Politics in Plural Societies: A Theory of Democratic Instability, Columbus: Charles E. Merill, pp. 62-92; Donald Horowitz, “Democracy in Divided Societies,” in Larry Diamond and Mark F. Plattner, eds., Nationalism, Ethnic Conflict and Democracy, Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1994, pp. 35-55. (F.Z.)
[4] Tức là những nền dân chủ dựa trên tự do hiến định.
[5] Thucydides (khỏang 460-395 trước công nguyên): nhà sử học Hy Lạp, tác giả của Lịch sử chiến tranh vùng Peloponnese (History of the Peloponnesian War).
[6] Niccolò Machiavelli (1469-1527): Chính khách, nhà văn người Ý, tác giả của tác phẩm nổi tiếng The Prince (Quân vương), được xem như một trong những người đặt nền móng cho triết học lịch sử và khoa học chính trị hiện đại.
[7] John Emerich Edward Dalberg-Acton, Đệ nhất Nam tước Acton, (1834-1902), thường được biết với cái tên đơn giản là Huân tước Acton (Lord Acton) : Xuất thân từ một gia đình theo Công giáo La Mã, Acton ngay từ lúc còn trẻ đã có một tình yêu sâu xa đối với nghiên cứu sử học - với chức năng là một công cụ phê bình. Trong lĩnh vực chính trị, ông là một nhà tự do (liberal) nhiệt thành, là bạn thân và là người thường xuyên trao đổi thư từ với William Gladstone (1809-1898) - lãnh tụ của Đảng Tự do (Liberal Party), bốn lần làm Thủ tướng nước Anh. Acton cũng thường lui tới các trung tâm trí thức ở châu Âu và ở Hoa Kỳ, và có nhiều người bạn rất nổi tiếng - trong đó có Alexis de Tocqueville. Năm 1895, ông được Hòang gia Anh bổ nhiệm vào chức vụ giáo sư môn Lịch sử hiện đại tại Đại học Cambridge. Bộ Lịch sử Hiện đại của trường Cambridge (Cambridge Modern History) đã được dàn dựng theo kế hoạch biên tập của ông, mặc dù ông qua đời trước khi bộ sách hòan thành. Acton viết không nhiều, di sản về học thuật của Acton chủ yếu nằm trong các bài giảng ở đại học, nhiều bài đã được sưu tập và xuất bản sau khi ông qua đời, nhưng thông qua những bài viết và bài giảng của mình, Lord Acton gây ảnh hưởng lớn lao đến quan niệm hiện đại về tự do. Kiên quyết bảo vệ quyền của cá nhân, ông cho rằng sự tập trung quyền lực là có hại cho cả Giáo hội Công giáo lẫn nhà nước. Có một câu được trích trong một lá thư của ông : « Quyền lực có xu hướng hư hỏng, và quyền lực tuyệt đối thì hư hỏng một cách tuyệt đối » (Power tends to corrupt, and absolute power corrupts absolutely), ngày nay đã trở thành một câu cách ngôn quen thuộc trên tòan thế giới.
[8] Bernard Lewis, “Why Turkey Is the Only Muslim Democracy,” Middle East Quarterly, March 1994, pp. 47-48. (F.Z.)
[9] Có một số trường phái chính trị đề cao dân chủ trực tiếp (trong đó có những người mác-xít, là những người lên án gay gắt hình thức dân chủ đại diện). Nhưng theo quan điểm của tác giả, các hình thức dân chủ trực tiếp (direct democracy) không phải là hay, vì số đông thường là chỗ dựa để người được bầu lên tước đọat quyền của tất cả. Hơn nữa số đông khi thiếu kiến thức về chính trị, xã hội sẽ rất dễ bị mua chuộc bởi những chính trị gia xảo quyệt.


TÀI "KINH GIAN" của một VƯƠNG QUỐC

Tài "kinh gian..." của một Vương quốc
Nguyễn Quang Nhàn
Đăng ngày
http://danchimviet.com/articles/1162/1/Tai-kinh-gian-ca-mt-Vng-quc/Page1.html

1.
Sau ngày Vương quốc nhỏ đánh thắng kẻ thù to bằng máu xương của thần dân. Với niềm tự hào, kiêu hãnh, vương quốc ta từ nay sạch bóng quân thù, “vĩnh viễn độc lập tự do và vĩnh viễn độc lập tự do”... đã bắt tay vào xây dựng vương quốc, “tiến lui, lui mạnh, lui vững chắc...”! Sau 20 năm “kinh…gian” rất là oanh liệt, Vương quốc đã đạt được những “bước tiến” so với chính mình và đạt những thành tích vĩ đại - tụt hậu và tụt hậu ngày càng xa với so với các lân bang và thế giới (!) ... Tài “kinh gian” của kẻ nắm Vương quyền thần dân sống, thấy, nghe… mà khiếp!

Vương Quốc nào cũng phải sống bằng thuế từ mồ hôi, sức lao động của thần dân. Không có “thuế” thì lấy gì để sống mà tiến tơi, tiến lui, mà ăn chơi, duy trì cái Vương quyền và đám sai nha điệp trùng, dày đặc! Sống bằng thuế thì phải “làm” cái gì để có cái mà “thu”; có thu mới có chi, có thu-chi mới có… ăn, chơi, vơ vét và giữ Vương quyền chứ! Thần dân có cái “nhân quyền” như con Trâu, con Bò, có ăn là có tự do, hạnh phúc! Nhưng Trâu, Bò chỉ “cày” đủ “hàm nhai” thì lấy gì dư ra mà Vua, Quan có cái mà xơi. Cứ hàng năm, khi thu không đủ tiền theo kế hoạch thì những Quan sai, được sự đồng ý của Quan nha làm một việc là “bán” - bán rừng, bán đất, bán nhà…Bán cái gì có thể bán được để cho đủ cái số thu. Vua, Quan Vương quốc có cái đầu đã từng cày thuê, cuốc bẩm; đã từng cầm búa, cầm liềm… đấu tranh với địa chủ, tư sản rồi, bây giờ kiêu hãnh ta đã là chủ nhân ông Vương quốc. Tất cả tài sản dưới bầu trời Vương quốc đều là… “chiến lợi phẩm” của ta… !

2.
Vương quốc ấy rất ư là “giàu đẹp, rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu”! Với khí thế của người chiến thắng cùng cái tài ”Kinh gian…” của mình nên phải làm sao giành hết cái “giàu đẹp” về cho Vương quyền! Sau khi “xài” xong cái “chiến lợi phẩm” thu được; với một thời gian không dài, “nhà nhà thi đua, người người thi đua”, “rừng vàng” đã cơ bản …hoàn thành (diệt) xong(!). Công nghệ “hoàn thành“ có lãnh đạo hẳn hoi. “Rừng” là “Vàng”, “vàng” sao lại không thích, không ham … Chỉ ăn giỏi mà làm lếu, làm dối, làm gian thì rừng cũng phải tan, núi cũng phải lỡ…

Ăn “vàng” trên mặt đất xong thì… tiếp tục “công nghệ” đào bới xuống dưới đất … ăn. Bằng kỹ thuật của cái cuốc, cái búa, dù sao thần dân cũng bới lai rai, bới dài dài, thí cả mạng cùi để kiếm cái ăn hàng ngày nhưng cũng phải có cái chắt chiu để nộp cho Quan - Sai nếu không thì … đừng hòng! “Rừng Vàng” bây giờ thành những đồi trọc, trọc lóc, trọc lơ; đào bới dưới đất tạo thành những địa đạo, hố bom, hố pháo chẳng thua gì sự tàn phá của bom Mỹ, pháo Tàu, pháo Nga mà “sức chiến đấu” hơn cả những …anh hùng lao động(!)… Muốn ăn to, ăn nhiều, ăn nhanh thành tỷ, tỷ phú thì còn phải chờ cái “chủ trương lớn” cái đã, chứ chợ thì cấm, sông thì ngăn, sống trong nước ao tù cũng không phải có tự do vùng vẫy! Rồi, một ngày … May nhờ … thành trì của cả hệ thống Vương quyền sụp đổ. Thời thế đổi thay. Vương quyền phải “tự đổi mới”, đổi sắc, biến màu, thích nghi “làm bạn với thế giới” để tồn tại, nhưng bản chất Vương quyền không bao giờ đổi. Nhờ hấp thu nhanh cái nền kinh tế thị trường của chủ nghĩa tư bản giãy chết, cái mặt đất mà Vương quyền đã phá lấy “vàng” để sống, moi đất để ăn nay còn … trơ đất. Lại may, nhờ có “chủ trương lớn”, đất lại hóa Vàng, “phì nhiêu” hết chỗ nói. Sân golf, khách sạn, resort, Nhà máy như “Văng đê”, công nghệ như nhà máy xi măng lò đứng, mía đường, khai khoáng như Đồng, như Than … nhan nhãn mọc lên. Dân được bứng ra khỏi đất bao đời ông cha khai phá, dựng xây rồi bù cho một cọc giấy nhà Hồ, tha hồ ăn chơi, mua sắm hàng do anh láng giềng sản xuất, sướng hơn làm ruộng nhiều, nhiều, nhiều! Vương Quyền, lãnh chúa, quan sai thi nhau phát huy truyền thống … thi đua quy hoạch, chia lô bán đất, kêu gọi đầu tư, bán buôn dự án; chiếm ruộng, chiếm đất…; rồi hợp pháp hóa cho nhau; giải tỏa, đền bù như … ăn cướp. Thiếu Luật thì ta làm luật. Thế giới muốn cái gì ta có Luật đó ( pháp quyền mà). Muốn cam kết cái gì ta cam kết cái đó. Dân kiện … mặc dân… Luật là Ta. Quan tòa là Ta. Làm hay không tùy ta. Ai làm gì được ta ?! Đúng là Trời chứ chẳng phải là Thiên tử!

Nhờ có sự quản lý, lãnh đạo “kinh gian” rất tài ba của Vương quốc, Vua quan Vương quốc ngày càng giàu, giàu to, giàu sụ, giàu nhanh; Từ cái Ba lô mà làm nên tất cả thì thiên hạ có ai bằng! Rồi tranh giành nhau ăn, cấu kết với nhau như lũ quỹ ma để mà nhũng nhiểu bá tánh… Tham nhũng như rươi nhưng lại luôn lên mặt đạo đức, trong sạch; cái mặt yêu tinh dơ dày nhởn nhơ bá tánh ai cũng khiếp khinh… Bán cái “đẹp” để làm “giàu”; tước đoạt cái “phì nhiêu” của thần dân để nuôi Vương quyền và âm binh, bộ hạ. Vương quốc có một chút “tiến bộ, “phát triển” đến đâu là Vua, quan lại càng “phì nhiêu”, phát triển, cả bề dọc, bề ngang; của chìm, của nổi, gửi trong, cất ngoài…đến đầy. Thần dân ai cũng thấy nhưng bọn sai nha chằng chịt vòng trong vòng ngoài làm rào cản đậy che nên…cũng phải làm như Trạng Quỳnh, Xiển Bột thôi (!)… Và, cũng do cái bản chất “con Gà ăn quẩn cối xay“ nên cái “biển bạc” của mình cũng nhờ anh bạn Vương quyền hàng xóm có truyền thống ăn cướp giữ giùm (!). Bọn chúng thật quá tham!. “Triều cống” cho chúng rồi vậy mà chúng còn chưa chịu, lại rắp tâm đánh cướp thêm. Lại “vừa ăn cướp vừa la làng”! Kẻ nắm quyền của Vương quốc chỉ lo giữ Vương quyền, lúc nào cũng cho thằng mõ ra tuyên bố - "Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền...”. Càng tuyên bố thì bọn cướp càng “lấn tới”. Thần dân xuống đường đấu tranh đòi lại Vương quốc, giang sơn thì chúng lại cho đám sai nha trấn áp, bắt đi ở nhà…pha. Đến nay bọn cướp ngoại cứ cho tàu to, tàu lớn ngang nhiên tác oai, tác quái như trong vương quốc nhà nó. Chúng bắn chết cả thần dân của mình trong biển đảo nhà mình nhưng đám Vua-quan Vương quốc dường như tai bị điếc, mắt bị mù, không có trái tim hay sao đó, cứ bổn cũ soạn lại, tiếp tục phát huy truyền thống của thằng mõ, cả Mõ Nước và trùng điệp Mõ Làng … rao ”phản đối” … xong … nhậu tiếp! Thần dân không được phép biết, không được phép phản đối, có cái mặt mo để đưa ra chịu trận cũng… im re. Thần dân chỉ “được biết”, “được bàn” cái gì triều đình cho phép và thằng mõ truyền rao thôi…

Vương quốc “giàu đẹp” ấy lại phát huy “chủ nghĩa anh hùng” và “truyền thống kinh gian”, tìm, moi móc trong nhà có gì bán nấy. Mỗi ngày lại phát hiện dưới mặt đất “phì nhiêu” của mình ngày càng thêm nhiều kho báu (!). Không biết có phải rao hàng để quảng cáo, chỉ điểm hay không mà
“trong khoảng 20 năm trở lại đây với công nghệ hiện đại, chúng ta đã phát hiện ra Việt Nam có 7 loại khoáng sản đứng nhất nhì thế giới”(!)

"Nhất, nhì” hay hạng mấy dân chẳng cần thi đua, chỉ biết rằng cái kho báu quý như “Nỏ Thần”, tinh luyện sẽ làm ra súng ống, đạn dược; làm ra máy bay, tàu chiến, tàu vũ trụ, công nghệ xây dựng hiện đại và các loại hàng dân dụng… mà bao đời cha ông gìn giữ thì nay thằng ăn cướp láng giềng... đang chỉ chỏ, dòm ngó, vươn bàn tay bạch tuộc. Bàn tay hữu hảo “láng giềng tốt” vươn tới đâu thì Vua quan, sai nha vừa bán vừa cống đến đó; lại mở toang cửa cho đám “Trọng Thủy” tràn vào. Kho báu ấy lại nằm ở nóc nhà “địa chính trị, địa quan sự”, “nhạy cảm” của mình nữa chứ, nếu chúng chiếm đi thì Giang sơn, Vương quốc cũng chẳng còn. Các vị tướng khai quốc công thần đã lên tiếng cảnh báo nhưng với tinh thần quốc tế vinh quang không biết nhục nhã và sẵn cái bản chất làm người không cần Tổ Quốc - Có Vương quyền là có tất cả! Vương quyền là trên hết (!) Cái kho báu, cái giang san là cái thá gì! Vả lại, của “tước đoạt” nếu không nhượng, không bán đi thì “tước” để làm gì…(!) Cái anh Vương quốc hàng xóm xấu nết, lưu manh, vô đạo… biết tỏng tòng tong kẻ nắm Vương quyền kia chỉ biết lợi ích riêng cho cái Vương quyền đang chiếm giữ thôi, chúng lại nằm trong cái thòng lọng của mình rồi, muốn siết thì …mấy hồi! Nó lại lấy ân, lấy nghĩa, lấy mấy cái “chữ vàng” làm đồ trang sức ban cho đeo ở ngực để tăng thêm nhan sắc Tú bà và gái lầu xanh; rồi lấy cái thói du côn, ăn cướp một giuộc xã hội đen để làm áp lực, chiếm đoạt gặm dần như lũ chuột… Thần dân dù bị coi chẳng ra gì nhưng sơn hà, xã tắc là của mình, cũng phải thể hiện cái quyền có tổ quốc, giang sơn của mình… nên cũng phải lên tiếng cảnh báo, can ngăn...

3.
Tài “kinh gian” của Vương quốc thần dân ai cũng thấy! Gian trong cái ăn, gian trong cái làm, cái quản lý; gian trong quan hệ đối xử với các tầng lớp sai nha, các tầng lớp thần dân, cả trong xây dựng, bảo vệ Vương quốc; gian với trong dối với ngoài … Lý của Vương quyền là Luật của nước. Luật của nước theo ý chí của Vương quyền. Quyền sinh, quyền sát; cái ăn, mặc, ở; quan tòa …đều nằm trong tay cái Tổng lý. Độc lập, tự do là quyền của Vương quyền. Vương quyền là Chủ dân và là chủ chăn. Công bằng, dân chủ... là cái bánh được vẽ ra cho thần dân bóp hầu, bóp bụng, ngậm miệng, bịt tai … phấn đấu…. để tìm hạnh phúc ở đời, kiếp sau…

Cái gì đến rồi cũng sẽ đến thôi! Vua quan lớn bé Vương quyền ấy xưa nay đã biết thần dân Vương quốc không ai thần phục mình. Trò thì diễn mãi chỉ một tích, một tuồng xem hoài cũng chán. Các nhãn hiệu, các thứ nhân danh, vì này, vì nọ…giấu giấu, lén lút dần dần cũng lồ lộ ra toát hoát. Thần dân lưng đã quá oằn không chịu nổi và cũng không thể nào cam chịu lâu hơn được nữa.

Vương quyền biết rõ điều ấy, một mặt vừa tung hỏa mù dân chủ, tự do theo “lề bên phải”; đeo mặt nạ Bao công, lấy tay lau… con mắt, và mồ hôi vả ướt cả trán; vừa lấy dây cương ngựa bịt tai, che mắt, bịt miệng thần dân, kể cả dùng roi và mã tấu; mặt khác, bọn chúng cũng ranh ma ra phết, cứ xem chừng, liếc ngó nhau, dòm trên ngó dưới, dường như ai cũng đều chuẩn bị và thủ sẳn cho mình… cái “hậu sự”, chỉ khổ là khổ cho đám sai nha thôi!… Còn dân là vạn đại mà, đã mất cả rồi còn gì nữa đâu mà sợ….

-------------------------------------------------

Bài do tác giả gởi đến Đàn Chim Việt Online

HONG KONG BIỂU TÌNH TƯỞNG NIỆM NẠN NHÂN THIÊN AN MÔN

Hàng ngàn người biểu tình tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn
Bảo Thạch
Bài đăng ngày 31/05/2009 - Cập nhật lần cuối ngày 31/05/2009 15:10 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/113/article_3694.asp
Trong số những người tham gia biểu tình, có ông Hùng Viêm, một trong những lãnh tụ phong trào sinh viên đòi dân chủ vào năm 1989. Ông đã được quyền vào Hồng Kông hôm qua, trong khi một số người khác lại bị cấm nhập cảnh

Dân Hồng Kông biểu tình kỷ niệm nạn nhân Thiên An Môn (Reuters)
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/113/article_3694.asp

Hôm nay, khoảng 5 ngàn người đã xuống đường tại Hồng Kông để kỷ niệm 20 năm Thiên An Môn. Trong số này, có ông Hùng Viêm đã từng là một trong những lãnh tụ sinh viên khởi xướng phong trào Dân chủ năm 1989 tại Bắc Kinh.

Ông Hùng Viêm đã bị cầm tù 2 năm tại Trung Quốc sau đợt đàn áp Thiên An Môn. Ngày nay, ông Hùng Viêm sống lưu vong tại Hoa Kỳ. Ông đã được nhập cảnh Hồng Kông vào hôm qua.
Trong khi đó, một nhà điêu khắc Đan Mạch, tác giả đã vinh danh các nạn nhân phong trào Mùa Xuân Bắc Kinh với một bức tượng đặt tại Hồng Kông, đã bị cấm nhập cảnh tại sân bay Hồng Kông.

Xin nhắc lại, trong đêm mồng 3/6 rạng sáng mồng 4/6/1989, quân đội Trung Quốc đã đàn áp đẫm máu phong trào sinh viên tuyệt thực đòi dân chủ hóa tại quãng trường Thiên An Môn. Theo chính quyền, đã có 241 người thiệt mạng, nhưng theo các nhà ly khai, thì con số nạn nhân thực sự cao hơn nhiều.

20 năm sau, Dân chủ mà phong trào Mùa Xuân Bắc Kinh hằng mơ ước, vẫn không đến với Trung Quốc
Mai Vân
Bài đăng ngày 31/05/2009 - Cập nhật lần cuối ngày 31/05/2009 17:36 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/113/article_3699.asp
Thiên An Môn 20 năm sau, tít đập mắt trên trang bià hồ sơ lớn của Le Courrier International với ảnh chụp gương mặt một sinh viên tuyệt thực, trán quấn chiếc khăn với hàng chữ : Dấn thân cho đến chết. Qua hàng tựa ''50 ngày làm rung chuyển Trung Quốc'', Le Courrier điểm lại các sự cố đã dẫn đến thảm kịch ngày mùng 4 tháng 6 năm 1989, với nhiều ảnh minh hoạ

Từ ngày khởi đầu phong trào (15/04) với sự kiện cưụ tổng bí thư Hồ Diệu Bang qua đời. Sinh viên đã tập hợp lại để tưởng niệm người mà trong mắt họ là một nhân vật tiến bộ, muốn cải tổ, và đã bị buộc phải rời chiếc ghế của ông hai năm trước đó. Trong không khí xuống đường như lễ hội, họ tố cáo nạn tham nhũng và đòi dân chủ hoá đất nước,
Kế đến là những ngày tuyệt thực, 13/05, rồi 19/05 khi tổng bí thự thời ấy, Triệu Tử Dương đến thăm hỏi và năn nỉ sinh viên chấm dứt tuyêt thực. Ngày hôm sau, tổng bí thư bị truất phế. Ủến ngày 03/06, những cuộc xung đột diễn ra giữa quân đội và quần chúng, rạng sáng 04/06 chiến xa vào quãng trường, cán nát lều của sinh viên vẫn còn ỡ trong đấy.

Nhìn lại các sự kiện trên vào lúc này, 20 năm sau, le Courrier đã có một số ghi nhận :- sau sự cố Thiên An Môn, đảng cộng sản Trung Quốc đã biết xây dựng lại tính chính đáng dựa trên tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn không nhượng bộ gì nhiều trên mặt dân chủ hoá, người dân có thể nói lên tiếng nói, nhưng nhà tù thì vẫn chờ đón các nhà ly khai.- Nhân danh sự ổn định, chính quyền vẫn thẳng tay đàn áp các phong trào xã hội, xuống đường, biểu tình.

Các vấn đề sinh viên Thiên An Môn nêu lên vẫn nhức nhối

Dưới tựa đề nhuần nhuyễn trong nghệ thuật sử dụng cây gậy và củ cà rốt, Le Courrier trích dẫn bài báo của nguyệt san Far Eastern Economic Rewiew, để ghi nhận điểm nổI bật là Đảng Cộng sản Trung Quốc rất khéo sử dụng công cuộc phát triển kinh tế để củng cố quyền hạn. Có điều là 20 năm sau vụ đàn áp Thiên an Môn, Trung Quốc đang đứng trước nhiều vấn đề còn nghiêm trọng hơn là vào năm 1989.
Vấn đề cấp bách nhất là đưa Trung Quốc ra khỏi khủng hoảng kinh tế. Tính chính đáng của đảng Cộng sản, theo tác giả bài báo, ngày nay phần lớn dựa trên tăng trưởng kinh tế. Nhưng hiện nay tăng trưởng yếu đi do xuất khẩu giảm sụt, mức tiêu thụ nội địa không cao, do việc kinh tế tùy thuộc quá nhiều vào đầu tư... Tóm lại đảng Cộng sản đứng trước câu hỏi đã được nêu bật vào năm 89 : lý do tồn tại của mình là gì ?
Cách đây 20 năm, trong mắt các sinh viên phong trào mùa xuân Bắc Kinh, được hậu thuẩn rộng rãi của ngườI dân, đảng Cộng sản là thành trì của một chính quyền chạy theo thương mại, hành động vì quyền lợi bản thân hơn là cho đất nước. và mô hình của ông Đặng Tiểu Binh tạo ra bất công xã hộI, ngưòi dân, những ngườI đồng lương cố định, ngày càng chiụ thiệt thòi, trong lúc tham nhũng tràn lan.
Hai mươi năm sau, bài báo công nhân là Trung Quốc đã có nhiều cố gắng để bắt kịp trào lưu thế giớI, nhất là những thành tựu kinh tế, đời sống người dân khá giả hơn, hạ tầng cơ sở tốt hơn, Trung Quốc nổI danh hơn trên thế giơí. Thế nhưng những vấn đề nêu lên vào năm 1989 vẫn còn đấy.
Cho dù chủ tịch Hồ Cẩm Đào hiện vẫn hô hào về chủ một xã hội hài hoà, nhưng chênh lệch giàu nghèo ngày tăng cao. Mối bất bình hàng đầu của ngườI dân vẫn là tham nhũng. Như nói trên nếu hạ tầng cơ sở có cải thiện, thì ngược lại nhũng lãnh vực như y tế, giáo dục, hưu bổng thì kết quả vẫn tồi tệ. Công lý thì thường là theo lệnh cấp trên.
Còn về dân chủ, bài báo nhắc lại câu nói vừa qua của chủ tịch Quốc Hội Trung Quốc, Ngô Bang Quốc :'' tại Trung Quốc không có chỗ cho dân chủ kiểu phương Tây''. Các cuộc đàn áp ở Tây Tạng, Tân Cương, việc bắt các nhà ly khai cho thấy là khế ước mà các chiến xa đã áp đặt vào ngày mùng 4 tháng 6 năm 1989 vẫn còn hiệu lực.

Phong trào Mùa Xuân Bắc Kinh là một chủ đề cấm kỵ ở Trung Quốc

Từ lệnh thảm sát cho đến con số nạn nhân, tất cả đều dược giữ bí mật. Nhưng gần đến ngày kỷ niệm lần thứ 20 này, đã có một số yếu tố mới cho thấy Bắc Kinh khó thể bưng bít mãi. Trước tiên là hồi ký của cố bí thư Triệu Tử Dương mà các nhà xuất Mỹ và Hồng Kông vừa cho phát hành mà theo le Courrier, đã nêu lên một số sự thật phiền phức đối với đảng Cộng sản Trung Quốc.
Sự thật đầu tiên là chính ông Đặng Tiểu Bình là ngườI đã ra lệnh đàn áp, ông đã áp đặt quan điểm của mình còn các ông Lý Bằng và Giang Trạch Dân không có vài trò quan trọng trong việc quyết định. Điểm thứ hai gây khó chiụ là quan điểm của Đảng về dân chủ. Ông Triệu Tử Dương đã khẳng định một cách rõ ràng là không còn con đường nào khác đối vớI Trung Quốc ngoài còn đường dân chủ nghị viện theo kiểu phương Tây.
Và nếu Bắc Kinh không để báo chí đươc tự do, thì không thể nào chống tham nhũng, giảm bất công xã hội, và giúp kinh tế hoạt động với những quy tắc lành mạnh, và xây dựng một xã hộI hiện đại, hành xử theo luật lệ. Chủ trương này ngược lại hẳn vớI tuyên bố của lãnh đạo Trung Quốc như ông Ngô Bang Quốc vừa qua.
Ngoài ra, le Courrier còn ghi nhận một só sự kiện mớI, liên quan chẳng hạn đến số nạn nhân vụ đàn áp. Theo tạp chí, một cuốn hồi ký khác, cũng vừa được xuất bản tại Hong Kong, tường thuật các giai đoạn dẫn đến vụ thảm sát. Đây là hồi ký của cưụ tổng biên tập tân Hoa Xã, Zhang Wanshu.
Dựa trên số liệu được giám đốc Hội chữ thập đỏ Trung Quốc thông báo, ông cho biết đã có 727 ngườI thiệt mạng trong đêm mùng 3 rạng sáng mùng 4 tháng sáu. Con số này theo le Courrier ít hơn rất nhiều số 2.700 người mà theo tờ báo Hong Kong, tờ Minh Báo, do chính Hồng Thập tự Trung Quốc đưa ra. Thế nhưng đây là lần đầu tiên số liệu nạn nhân đươc một nguồn tin có trọng lượng như thế đưa ra, từ một nhân vật trước đây của Tân Hoa Xã.
Le Courrier còn trích dẫn một tạp chí Hong kong, Yazhou Zhoukan, tiết lộ một sự kiện đáng chú ý. Trong khi mà chính quyền cấm đề cập đến phong trào mùa Xuân Bắc Kinh, thì làm thế nào để kỷ niệm ngày đàn áp ? Theo bài báo khoảng 20 trí thức tên tuổI đã hợp riêng vào ngày mùng 10/05. BuổI họp bắt đầu bằng 3 phút mặc niệm tất cả các nạn nhân. Sau đó họ đã yêu cầu chính quyền bãi bỏ cấm kỵ và thay đổi đánh giá tiêu cực đưa ra từ trước đến nay về sự cố. Hình ảnh buổI họp được truyền trên các website internet ở nước ngoài.
Trong nhũng người tham gia có những ngườI lớn tuổI, như ông Quin Hui, cựu giáo sư Đại học Bắc Kinh, có những giáo sư Đại học đang tại chức, những nhân vật tên tuổI thuộc Viện Khoa học xã hộI Trung Quốc, và một số ngườI thuộc thế hệ Thiên An Môn. Theo bài báo, ngoài các bà mẹ Thiên An Môn, hàng năm đều tập hợp để tưởng niệm con em bị giết hại, chưa bao giờ có những ngườI tên tuôi ở Bắc Kinh dấn thân như thế.
Còn những nhà ly khai ở nước ngoài thì kêu gọi ngườI dân Trung Quốc hãy mặc áo trắng ngày mùng 4 tới đây, màu áo tang để tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn. Đây theo họ, là một hình thức tưởng niệm mà chính quyền không thể đàn áp : không thể cấm người dân mặc quần áo, không có luật nào buộc ngưòi ta phải mặc theo một màu nhất định. Nếu cả nước thực hiện điều này thì đó là một sự cố sẽ đi vào sách sử.


NGƯỜI MỸ ĐÃ PHẢN BỘI CHÚNG TÔI

"Người Mỹ đã phản bội chúng tôi"
Der Spiegel phỏng vấn cựu TT. Nguyễn Văn Thiệu
Vô Thường, X-cafe lược dịch
http://www.x-cafevn.org/node/1764

Cựu TT Nguyễn Văn Thiệu
http://i708.photobucket.com/albums/ww90/khanhqt27/cc.jpg

SPIEGEL: Thưa ông Thiệu, trong suốt 5 năm từ 1968 đến 1973, Hoa Kỳ đã nổ lực đàm phán hòa bình cho Việt Nam. Trưởng đàm phán của Mỹ, Henry Kissinger đã mô tả chi tiết trong hồi ký của mình về ông, với tư cách là Tổng thống Nam Việt Nam, đã phá hoại những nỗ lực của ông ta như thế nào nhằm mang hòa bình cho cuộc chiến kéo dài nhiều năm, tổn thất hàng triệu nhân mạng và như muốn “bóp nát trái tim Hoa Kỳ” như lời của Kissinger nói. Tại sao ông lại cản trở như vậy?
Ông Thiệu: Điều đó hoàn toàn vô lý. Nếu như tôi ngăn cản thì đã không thể có chuyện dàn xếp hòa bình trong năm 1973. Tuy nhiên, như mọi người đã biết, đó không phải là một nền hòa bình tốt đẹp khi chứng kiến những hậu quả xảy ra tại Việt Nam. Kissinger đại diện cho chính sách và lợi ích của Chính phủ Hoa Kỳ. Với tư cách là Tổng thống Việt Nam, tôi có nhiệm vụ bảo vệ những lợi ích sống còn của đất nước tôi.
Tôi đã nhiều lần chỉ ra cho tổng thống Nixon và tiến sĩ Kissinger rằng rũ bỏ vài vị thế không mấy quan trọng tại một quốc gia nhỏ bé như Việt Nam có thể không có nhiều ý nghĩa đối với một cường quốc như Hoa Kỳ, nhưng đối với chúng tôi đó là vấn để giữa sự sống và cái chết của toàn bộ một đất nước.

SPIEGEL: Kissinger không phủ nhận rằng cuối cùng ông cũng đã đồng ý dàn xếp hòa bình. Nhưng ông ta nói lý do chính khiến phải mất nhiều thời gian vì ông đã cản trở quyết liệt và lý do thực chất ông không bao giờ phản đối các đề xuất của Mỹ vì ông tính toán rằng tất cả những đề xuất đó sẽ bị Hà Nội bác bỏ.
Ông Thiệu: Không đúng như vậy. Chỉ mất thêm hơn 2 hoặc 3 ngày hay 2 hoặc 3 tháng để chấm dứt cuộc chiến đã diễn ra gần 30 năm. Tôi nhận ra cuôc chiến này là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử của Hoa Kỳ, trong đó họ là người đã viện trợ cho chúng tôi. Có thể vì vậy mà người Mỹ tỏ ra vội vàng như thế. Tuy nhiên, chúng tôi cần một nền hòa bình vững chắc.

SPIEGEL: Kissinger ám chỉ rằng ông không thật sự muốn có một giàn xếp hòa bình và hy vọng Bắc Việt cũng sẽ ngoan cố giống như ông. Vì vậy, ông ấy quả quyết dù ông đã đồng ý nhiều đề xuất của phía Mỹ nhưng không bao giờ muốn phải tuân thủ những đề xuất đó, vì trong bất cứ trường hợp nào ông không tin là thỏa thuận sẽ đạt được. Ông có lừa bịp trong đàm phán với hy vọng ông sẽ không bao giờ phải nói rõ hết ý định của mình?
Ông Thiệu: Không. Một quốc gia phải chịu đựng nhiều như thế trong suốt hơn 30 năm không thể nào bị kết tội là muốn kéo dài cuộc chiến. Kissinger muốn tiến hành nhanh để lính Mỹ có thể rút quân và tù binh Mỹ được phóng thích. Và có thể vì Chính phủ Mỹ muồn vội vã thoát ra, “cắt và chạy”.
Họ có thể thoát khỏi cuộc chiến. Chúng tôi phải ở lại Nam Việt Nam. Chúng tôi có đủ mọi quyền để đòi hỏi một sự giàn xếp hòa bình toàn diện, không phải chỉ là một nền hòa bình trong 2 hoặc 3 năm rồi sau đó lại thêm một cuộc chiến 30 năm khác.

SPIEGEL: Vậy tại sao ông dự tính trước Hoa Kỳ theo như Kissinger báo cáo, bằng việc tự mình đề xuất Hoa Kỳ rút quân tại cuộc họp ở Midway tại Thái Bình Dương vào tháng 6 năm 1969?
Ông Thiệu:
Thậm chí trước cuộc họp ở Midway, việc Hoa Kỳ có ý định rút quân là không có gì bí mật. Tôi muốn nhắc cho anh nhớ rằng tin tức về kế hoạch rút một số lượng quân Mỹ đã loan tải trên toàn thế giới trước cuộc họp Midway. Tại sao? Tôi cho đó là vì Chính phủ Mỹ muốn thăm dò dư luận, tiết lộ thông in cho báo chí và đưa chúng tôi vào sự việc đã rồi.

SPIEGEL:
Như thế ông đã hiểu rõ được sự việc?
Ông Thiệu: Vâng đúng vậy. Cuộc họp Midway nhằm hai mục đích. Nó mang đến cho hai tân tổng thống một cơ hội để hiểu về nhau và đàm phán về vấn đề Việt Nam. Điểm thứ hai đã vạch rỏ trong nghị trình đó là kế hoạch rút quân Mỹ đầu tiên. Tôi không hề ảo tưởng và tôi nắm bắt được tình hình. Không có gì phải lo lắng và tôi cảm thấy rất tự tin.

SPIEGEL: Khi đề xuất việc rút quân, ông có thật sự nghĩ rằng ông có thể tự tiến hành chiến tranh và cuối cùng giành thắng lợi trong cuộc chiến-một cuộc chiến tranh mà hơn 540.000 quân Mỹ và bộ máy quân sự hùng mạnh của Hoa Kỳ đã không thể thắng nổi? Thật khó để tin vào điều đó.
Ông Thiệu: Không. Thật ra tôi không phải là người đề xuất. Tôi chỉ đơn giản là chấp thuận. Tôi đồng ý đợt rút quân Mỹ đầu tiên vì Tổng thống Nixon đã nói với tôi rằng ông ấy có một số vấn đề quốc nội và việc rút quân chỉ hoàn toàn mang tính tượng trưng. Ông ta phải có ý kiến công chúng và Quốc hội phía sau. Nhưng tôi cũng nói với ông ấy rằng ông ta phải chắc chắn Hà Nội không xem đợt rút quân đầu tiên như là một dấu hiệu yếu kém của Hoa Kỳ.

SPIEGEL: Và ông không nghĩ đó là khởi đầu của việc rút quân toàn bộ?
Ông Thiệu: Không. Tôi có thể hình dung đó có thể là bước đầu tiên trong biện pháp giảm quân số. Tôi khổng thể nào tưởng tượng nổi Hoa Kỳ sẽ vứt hết tất cả và bỏ rơi Nam Việt Nam. Tôi đã đề xuất với Tổng thống Nixon rằng việc cắt giảm nên được tiến hành từng bước, đến khi khả năng chiến đấu và sự cũng cố quân đội Nam Việt Nam cho phép Việt Nam có thể đứng trên đôi chân của chính mình, tùy thuộc vào viện trợ kinh tế và quân sự.
Quan trọng hơn, tôi đã kiến nghị ông ta có thể yêu cầu Hà Nội đổi lại cũng có hành động tương tự. Người Mỹ hoàn toàn đồng ý với tôi về…. …

SPIEGEL:
….và rút quân tượng trưng?
Ông Thiệu: Tôi nhận ra cuộc chiến Việt Nam cũng gây ra những vấn đề bên trong nước Mỹ. Và Tổng thống Nixon nói ông cần một cử chỉ tượng trưng để giải quyết vấn đề đó.
Khi tôi ở Hán Thành và Đài Loan một tuần trước đó, tôi đã nói với Tổng thống Park Chung Hee và Tổng thống Tưởng Giới Thạch rằng tôi hy vọng việc rút quân mà tôi bàn bạc với Tổng thống Nixon trong cuộc đàm phán tại Midway chỉ mang tính tượng trưng. Nhưng tôi đã chỉ ra rằng chúng tôi không thể ngăn ngừa việc Hoa Kỳ rút toàn bộ quân nếu họ muốn. Vì vậy sẽ là khôn ngoan hơn khi yêu cầu Mỹ rút quân từng bước và cùng lúc đó cung cấp viện trợ để chúng tôi xây dựng một quân đội Nam Việt Nam vững mạnh và hiện đại để thay thế người Mỹ. Tôi không bao giờ yêu cầu quân đội Mỹ ở lại Việt Nam mãi mãi.

SPIEGEL: Quân Mỹ đã đặt tại Nam Hàn và Tây Đức.
Ông Thiệu: Nhưng chúng tôi là những người rất tự trọng. Chúng tôi đã nói với họ chúng tôi cần cấp viện và vũ khí nhưng chúng tôi có đầy nhiệt huyết trong huyết quản và thừa binh lính.

SPIEGEL: Ông mô tả thế nào về tình cảnh của mình khi đó? chỉ vài tháng trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, Melvin Laird đã đề ra “Việt Nam hoá”. Người Mỹ trước đó đã nói về cuộc chiến “phi Mỹ hóa”. Không phải chỉ tên gọi này thôi cũng đã nói rõ ràng là Hoa Kỳ có ý định rút quân một cách nhanh chóng?
Ông Thiệu: Khi ông Nixon đến Sài Gòn vào tháng 7 năm 1969, ông ta nhắc lại rằng ông cần có công chúng Mỹ phía sau. Tôi hiểu vị thế của ông ta. Nhưng ông ấy không bao giờ lý giải rút quân có nghĩa là cắt giảm nghị trình có hệ thống và theo sáng kiến của Mỹ. Ông ấy chỉ nói về những khó khăn trong nước tại Mỹ và đề nghị tôi giúp. Ông nói “giúp chúng tôi để giúp các anh”. Tôi trả lời “Tôi sẽ giúp các ông để có thể giúp chúng tôi”. Tại cuộc họp chúng tôi lại bàn về vấn đề rút quân từng phần.

SPIEGEL: Nhưng không đặt ra lịch trình?
Ông Thiệu: Không. Và Ông Nixon lại hứa là bất kỳ đợt rút quân nào cũng sẽ tương xứng với những biện pháp tương tự của phía Bắc Việt và sẽ phù hợp với khả năng phòng thủ của Nam Việt Nam cũng như đi kèm với những viện trợ thêm vể quân sự và kinh tế cho Nam Việt Nam.


Cựu TT Nguyễn Văn Thiệu & cựu TT Lyndon Johnson
http://i708.photobucket.com/albums/ww90/khanhqt27/Thieu_Johnson.gif

SPIEGEL: Tại thời điểm đó ông có nhận ra Hoa Kỳ đã sẵn sàng đơn phương rút quân nếu cần thiết?
Ông Thiệu: Có, tôi có nghi ngờ điều đó. Nhưng khi đó tôi vẫn rất tự tin và tin tưởng vào đồng minh lớn của chúng tôi.

SPIEGEL:
Có thể ông đúng khi nhận định như vậy. Rỏ ràng trong cuốn sách của Kissinger chính quyền Nixon không thể “chiến thắng một cách dễ dàng một chiến dịch có liên can đến hai chính quyền, năm quốc gia đồng minh và ba mươi mốt ngàn người chết như thể chúng ta chuyển một kênh truyền hình”.
Người Mỹ rỏ ràng muốn thoát ra khỏi Việt Nam bằng đàm phán. Họ không muốn đơn phương rút quân trừ khi họ buộc phải làm điều đó. Ông có đưa ra bất kỳ yêu cầu nào về các cuộc đàm phán giữa Washington và Hà Nội?
Ông Thiệu: Chiến tranh đã quá đủ với chúng tôi và chúng tôi quyết định chấm dứt cuộc chiến bằng đàm phán. Chúng tôi yêu cầu những lực lượng đã xâm chiếm đất nước phải rút quân. Tất cả chỉ có vậy.

SPIEGEL: Ông oán trách sự sụp đổ của Nam Việt Nam trong năm 1975 chủ yếu được quy cho thực tế rằng quân đội Bắc Việt được phép ở lại miền Nam thậm chí sau khi Hiệp định Hòa bình Paris đã ký kết. Ông khẳng định ông chỉ bỏ qua sự hiện hiện của Bắc Việt trong khi hiệp định đang đàm phán và họ phải rút quân khi đàm phán kết thúc.
Nhưng Kissinger khẳng định trong cuốn sách của mình ông không hề đưa ra phản đối với đề xuất của Mỹ về vấn đề này cho đến tháng 10 năm 1972.

Ông Thiệu: Đó là lời dối trá vô giáo dục nhất từ phía Kissinger khi nói tôi đồng ý cho quân Bắc Việt lưu lại miền nam. Nếu tôi đồng ý ngay từ đầu như Kissinger đã nói, thì tôi đã không phản đối kịch liệt khi ông ta cho tôi xem bản dự thảo hiệp định trong đó không hề chứa đựng bất kỳ đều điều khoản nào về vấn đề rút quân của Bắc Việt.
Đó là điểm quan trọng nhất mà tôi đã đấu tranh trong suốt quá trình đàm phán hoà bình. Từ đầu đến cuối, tôi yêu cầu Kissinger buộc Hà Nội rút quân và giải thích cho ông ta rằng sẽ chẳng có hiệp định nào hết trừ khi Bắc Việt thực thi điều đó.
Sau nhiều ngày tranh luận quyết liệt, Kissinger cuối cùng thú nhận với tôi: “Thưa ngài Tổng thống, điều đó không thể thực hiện được. Nếu được tôi đã làm. Vấn đề đã được đặt ra cách đấy 3 năm nhưng Liên Xô sẽ không chấp nhận”. Sau đó tôi nhận ra Chính phủ Hoa Kỳ đã nhượng bộ yêu cầu của Liên Xô và đó là điều làm tôi thất vọng nhất.

SPIEGEL: Có thể Liên Xô không có lựa chọn khác vì Bắc Việt phủ nhận xem Nam Việt Nam như là một ngoại quốc và thậm chí có khi họ phủ nhận Bắc Việt có quân đội thường trực tại Nam Việt Nam.
Ông Thiệu: Chúng tôi đã ở trong chiến tranh hơn 20 năm và chúng tôi biết không bao giờ tin vào những gì Nga Xô và Bắc Việt nói. Bắc Việt có quân đội tại Lào, Camphuchia và Nam Việt Nam. Tôi nghĩ thậm chí một người mù cũng có thể nhìn thấy điều đó. Để chấm dứt chiến tranh, chúng ta phải nhìn vào thực tế chứ không phải nghe những gì kẻ thù đang nói.

SPIEGEL: Ông có đặt ra những điểm này với Kissinger?
Ông Thiệu: Tất nhiên và cả với Tướng Haig. Tôi hỏi ông ta: “Tướng Haig, ông là một vị tướng và tôi cũng là một vị tướng. Vậy ông có biết một hiệp định hòa bình nào trong lịch sử lại cho phép lực lượng kẻ thù lưu lại trên đất nước mà họ đã xâm chiếm?” Tôi hỏi ông ta: “Liệu ông có cho quân Liên Xô đóng trên lãnh thổ Mỹ và nói rằng ông đã đạt được dàn xếp hòa bình với Liên Xô?”

SPIEGEL: Ông ấy nói thế nào?
Ông Thiệu: Ông ta không nói gì cả. Làm sao ông ta có thể nói gì-điều đó thật phi lý. Ông ta nói gì đây?

SPIEGEL: Kissinger đã đưa ra câu trả lời trong cuốn sách của mình. Ông ấy nói Bắc Việt sẽ không thực hiện rút quân vì Hà Nội sẽ không nhượng bộ trên bàn đàm phán những gì họ không bị buộc phải từ bỏ trên chiến trường. Nhưng ông ta nói thêm Hiệp định Hòa bình Paris chứa đựng một điều khoản nghiêm cấm bất kỳ việc xâm lấn thêm nào và kế luận “điều này sẽ làm cho lực lượng Bắc Việt tại miền nam hao mòn làm tiêu hao sinh lực một cách tự nhiên”.
Ông Thiệu: Khi đàm phán với Cộng Sản, tôi cảm giác như Chính phủ Hoa Kỳ và cụ thể là tiến sĩ Kissinger hoàn toàn không biết gì về những trải nghiệm không mấy ngọt ngào của Pháp với Cộng Sản vào năm 1954 hoặc từ cuộc chiến Triều Tiên. Họ không biết gì về những cuộc hội đàm với Lào và Campuchia. Họ không biết làm thế nào để đối phó với Cộng Sản và làm thế nào để lý giải chiến lược và chiến thuật của họ.
Do đó chúng ta trở lại vấn đề làm sao tiến sĩ Kissinger, người đại diện cho một lớn và khoe khoang rằng ông ta là thương thuyết gia tài ba nhất, lại có thể tin rằng quân Bắc Việt sẽ không xâm chiếm Nam Việt Nam. Làm sao ông ta có thể tin như vậy?
Liệu ông ta có thể canh gác trên tất cả chốt biên phòng dọc biên giới của Campuchia, Lào và Nam Việt Nam. Thậm chí nếu chúng tôi có một triệu lính canh gác quốc tế, chúng tôi cũng không thể chứng minh là không hề có sự xâm chiếm nào. Làm sao ông ta có thể tin vào những gì Bắc Việt nói. Ông ta có thể tin vào Cộng Sản nhưng chúng tôi thì không. Đó là vì sao tôi khăng khăng yêu cầu Bắc Việt rút quân. Nếu Bắc Việt thật sự muốn có hòa bình, tại sao họ muốn ở lại?

SPIEGEL: Kissinger nói gì về điều đó?
Ông Thiệu: Ông ta có thể nói gì đây? Điều mà ông ta và Chính phủ Hoa Kỳ thật sự muốn là rút quân càng sớm càng tốt và đảm bảo tù binh Mỹ được phóng thích. Họ nói với chúng tôi họ muốn một giải pháp danh dự, nhưng họ thật sự muốn giải quyết mọi việc và thoát ra càng nhanh càng tốt mà không bị người dân Việt Nam và phần còn lại của thế giới lên án vì đã bỏ rơi chúng tôi trong cơn hoạn nạn. Đó là vấn đề của họ.


Nền hòa bình giả tạo


Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Nixon tại cuộc họp Midway
http://i708.photobucket.com/albums/ww90/khanhqt27/RTEmagicC_southvietnam-node10-nixon.jpg

Spiegel: Kissinger viết ngay sau cuộc tiến công mùa xuân của Bắc Việt năm 1972, vài trò có vẻ như đã bị đảo ngược. Bắc Việt bất ngờ muốn nối lại đàm phán trong khi Nam Việt Nam lại muốn chiến đấu đến khi giành thắng lợi cuối cùng.
Ông Thiệu: Hoàn toàn vô lý! Tiến sĩ Kissinger hiểu thế nào là chiến thắng? Bắc Việt đã gây ra chiến tranh tại Nam Việt Nam. Chúng tôi muốn họ rút quân. Đó gọi là chiến thắng sao? Tôi không bao giờ yêu cầu người của Bắc Việt được xem là tù binh chiến tranh tại Nam Việt Nam. Tôi không bao giờ đòi hỏi Bắc Việt trả bồi thường chiến tranh. Tôi không bao giờ đòi hỏi Bắc Việt nhượng bộ lãnh thổ. Tôi không bao giờ yêu cầu có ghế trong chính phủ tại Hà Nội. Vậy Kissinger hiểu chiến thằng và chiến thằng toàn diện là gì?

Spiegel: Về vấn đề rút quân của Bắc Việt, theo Kissinger ngày 31 tháng 5 năm 1971 là một ngày quan trọng. Đó là thời điểm trong các cuộc đàm phán bí mật, Hoa Kỳ đã từ bỏ yêu cầu hai bên cùng rút quân. Tiến sĩ Kissinger nói ít nhất ba lần trong cuốn sách rằng ông đã được thông báo trước và ông đã đồng ý.
Ông Thiệu: Tôi không bao giờ đồng ý việc đơn phương rút quân. Sau cuộc họp Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng phần và cả hai bên cùng rút quân. Mỹ đã thay đổi lập trường và sử dụng chiến thuật thông thường nhằm ép buộc chúng tôi để chiếm lấy và đặt thanh gươm Damocles lên đầu chúng tôi, trích dần dư luận Mỹ với những nhận xét như: “ Bây giờ ông đang có một hình ảnh rất xấu tại Mỹ!” hoặc “Quốc hội sẽ cắt giảm viện trợ.”…Họ sử dụng lại chiến thuật cũ, tiết lộ cho báo chí và đặt chúng tôi vào việc đã rồi.
Nếu tôi từ chối dư luận sẽ quay sang chống đối tôi: “Ông ta đòi hỏi quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ để Mỹ rút quân, ông ta sẽ không bao giờ để tù binh Mỹ trở về nhà”. Vì vậy tôi phải nhượng bộ. Không tự nguyện nhưng miễn cưỡng. Làm sao tôi có thể phản đối khi họ sẽ nói ngay rằng: “viện trợ sẽ bị cắt nếu ông không tuân theo”.

Spiegel: Kissinger nói ông luôn được tham vấn trước về tất cả mọi quyết định của Hoa Kỳ, dưới bất kỳ hình thức nào.
Ông Thiệu: Đúng, họ có bàn bạc với tôi, nhưng tất nhiên họ không muốn nghe tôi nói “không” đối các quyết định phục vụ cho lợi ích của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp áp lực đem lại cho họ hầu hết những gì họ muốn.

Spiegel: Kissinger giờ đây chỉ trích một cách cay đắng về cuộc tiến công Lào năm 1971. Ông ấy nói ông cho rằng cuộc tiến công mùa khô là rất cấp thiết. Vậy ý tưởng ban đầu là của ai?
Ông Thiệu: Đó là ý tưởng của họ. Trước đó rất lâu chúng tôi đã từng muốn tiến hành cuộc tấn công, nhưng chúng tôi không thể thực hiện một mình. Bây giờ Hoa Kỳ đề xuất nên chúng tôi vui vẻ đồng ý để chấm dứt cuộc chiến nhanh hơn. Đó là một chiến dịch liên quân Việt-Mỹ với các nhiệm vụ qui định rất rõ ràng: quân đội Nam Việt Nam có nhiệm vụ tiến hành chiến dịch tại Lào và lính Mỹ sẽ hỗ trợ tiếp tế bên ngoài Việt Nam, từ biên giới đến nơi giao chiến.

Spiegel:Tại sao? Vì quốc hội Mỹ rõ ràng đã cấm đoán quân Mỹ xâm nhập lãnh thổ Lào?
Ông Thiệu: Tôi tin là vậy. Nhưng cũng bởi vì chúng tôi không có phương tiện tiếp tế cho binh lính và quan trọng nhất là chuyên chở thương binh ra ngoài. Điều đó chỉ có thể tiến hành bằng trực thăng và Hoa Kỳ là bên duy nhất có đầy đủ trực thăng. Không có máy bay lên thẳng, chúng tôi không bao giờ đồng ý tiến hành chiến dịch tại Lào.

Spiegel: Kissinger nói binh lính của ông gặp vấn đề khi đưa ra yêu cầu không quân hỗ trợ vì các đơn vị Việt Nam gần như không có những chuyên viên kiểm soát mặt đất được huấn luyện có thể nói được tiếng Anh.
Ông Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề gì đối với việc hỗ trợ của không quân. Chúng tôi không hề lo lắng nếu thỉnh thoảng không có không quân hỗ trợ, chúng tôi đã có pháo binh. Vấn đề là người Mỹ đã mất nhiều phi công trực thăng trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch. Vì thế họ không sẳng sàng cất cánh theo lịch trình và với số lượng cần thiết. Điều đó đã trở thành một vấn đề lớn đối với quân đội Nam Việt Nam.

Spiegel: Có phải tinh thần binh lính đã suy sụp?
Ông Thiệu: Chúng tôi không thể chuyên chở binh lính tử trận và thương binh ra ngoài. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến tinh thần mà còn cả đến việc tiến hành chiến dịch.

Spiegel: Kissinger đưa ra một lý do khác giải thích tại sao chiến dịch thất bại. Ông ta nói ông đã ra lệnh cho binh sĩ của mình phải thận trọng khi di chuyển về phía tây và ra lệnh chấm dứt chiến dịch toàn bộ ngay khi chịu tổn thất 3.000 binh lính. Kissinger cho rằng người Mỹ sẽ không bao giờ chấp thuận kế hoạch có hạn chế này và đã được thông báo đến cho họ.
Ông Thiệu: Đối với một quân nhân, ý tưởng đặt ra một giới hạn về số thương vong trước là rất vô lý. Tiến sĩ Kissinger phải là một người rất giàu trí tưởng tượng khi nói như thế. Chúng tôi chỉ có thể di chuyển về phía tây xa đến mức mà trực thăng di tản có thể bay đến. Kissinger nói chúng tôi rút quân mà không hề thông báo cho phía Mỹ. Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái hơn 10.000 quân mà không hề thông báo cho người Mỹ?

Spiegel: Vậy là ông đã thông báo cho họ biết?
Ông Thiệu: Ồ tất nhiên. Và hãy để tôi kể cho anh nghe một câu chuyện. Khi đó tờ Time hay Newsweek gì đó đã đăng tải bức hình một binh sĩ Nam Việt Nam đang cố bám vào bộ phận hạ cánh của một chiếc trực thăng với chú thích “kẻ hèn nhát”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy điều đó thật kinh khủng. Không thể nào ngăn cản một binh sĩ bị bỏ rơi khỏi những hành động như thế. Nhưng tờ báo đã nhục mạ binh lính Nam Việt Nam như là những kẻ hèn nhát và cùng lúc đó hoàn toàn che giấu một sự thật là phi công trực thăng Hoa Kỳ không có tinh thần chiến đấu trong chiến dịch này.

Spiegel: Một điểm cốt lỏi trong sự tranh cãi giữa Nam Việt Nam và Hoa Kỳ là vấn đề ngừng bắn. Theo Kissinger, Chính phủ Mỹ đã quyết định đề xuất một cuộc ngưng bắn trên chiến tuyến hiện hữu ngay đầu mùa hè năm 1970. Kissinger nói ông không những đồng ý mà còn chấp thuận đề xuất đó.
Ông Thiệu: Đúng vậy. Tôi cũng cho rằng ngưng bắn là một bước đầu tiên rất quan trọng để hoàn thành những nghĩa vụ của một thoả thuận hoà bình. Nhưng về vấn đề là ngay lặp tức-tôi nhắc lại một cuộc ngưng bắn ngay lặp tức thì tôi không bao giờ đồng ý với Kissinger. Tôi nói chúng ta phải xem xét điều đó một cách cẩn trọng. Không thể tuyên bố ngưng bắn cho đến khi đã có những suy xét cẩn thận về việc ai sẽ là người giám sát cuộc ngưng bắn và điều gì sẽ xảy ra trong trường hợp có vi phạm, binh lính sẽ đóng ở đâu…

Spiegel: Kissinger viết: “Chúng tôi vẫn nghĩ rằng chúng tôi đang cùng làm việc với Thiệu”. Người Mỹ không hiểu rằng ông đang áp dụng “chiến thuật lãng tránh của người Việt Nam đối với người nước ngoài”.
Ông Thiệu: Điều đó không bao giờ xảy ra với một nước nhỏ như chúng tôi, một nước nợ gần như tất cả mọi thứ của đồng minh lớn và vẫn đang yêu cầu cấp viện lâu dài, lại có thể chơi trò bịp bợm.

Spiegel: Nhưng ông phải nghĩ rằng cuộc chiến cuối cùng cũng thất bại khi Mỹ rút quân và Bắc Việt được phép duy trì quân đội tại Nam Việt Nam?
Ông Thiệu: Không hẳn như vậy, nếu chúng tôi tiếp tục nhận được viện trợ từ Hoa Kỳ và Chính phủ Hoa Kỳ giữ lời hứa khi chúng tôi ký vào bản hiệp định. Thậm chí khi ký kết hiệp định, tôi vẫn nghĩ đó chỉ là một drôle de paix-một nền hòa bình giả mạo.
Nhưng chúng tôi vẫn tin chúng tôi có thể chống cự lại bất kỳ sự xâm lăng nào của Bắc Việt nếu họ vi phạm các điều khoản của dàn xếp hòa bình. Chúng tôi có hai lý do để tin tưởng: thứ nhất, chúng tôi có một bảo đảm bằng văn bản từ Tổng thống Nixon rằng Mỹ sẽ đáp trả bằng tất cả lực lượng nếu thoả thuận bị vi phạm.

Spiegel: Mặc dù ông ta không bao giờ nói là đáp trả như thế nào.
Ông Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được nhận đầy đủ viện trợ kinh tế và quân sự đến khi nào chúng tôi cần để chống lại sự xâm lăng của Bắc Việt. Liệu Chính phủ Mỹ có giữ đúng lời hứa đó? Cuộc chiến có thể tiếp tục nhưng Bắc Việt sẽ không thể lật đổ Nam Việt Nam.

Spiegel: Ông và Kissinger ít nhiều đồng ý về điểm này. Ông ta viết, toàn bộ chiến lược có thể thành công nếu Hoa Kỳ ở vào vị thế có thể hành động với tất cả những vi phạm giàn xếp hoà bình của Bắc Việt và tiếp tục cầp viện đầy đủ cho Nam Việt Nam. Cái gì đã sai? Kissinger đổ lỗi cho vụ Watergate và sự xói mòn của chính quyền hành pháp. Ông có thật sự nghĩ vụ Watergate phải chịu trách nhiệm cho sự thất bại?
Ông Thiệu: Xin lỗi, nhưng tôi không phải là một người Mỹ. Tôi không có trách nhiệm phải dọn dẹp trước hàng rào của họ. Nhưng nếu họ giữ lời hứa, đó sẽ là một cản trở tốt nhất đối với những sự xâm lăng thêm của Bắc Việt và có thể kết thúc chiến tranh.

Spiegel: Nếu Mỹ giữ lời hứa, ông có nghĩ bản hiệp định có thể dẫn đến một kết quả thành công toàn diện?
Ông Thiệu: Tôi tin có thể sẽ là như vậy.

Spiegel: Vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không phải quá tệ?
Ông Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một thỏa thuận tốt đẹp đối với chúng tôi. Đó là một thảo thuận giả tạo. Nhưng đó là phương kế cuối cùng. Anh phải hiểu là chúng tôi chỉ ký kết, như tôi đã nói, bởi vì chúng tôi có đảm bảo từ phía Chính phủ Hoa Kỳ và Hiệp định được bảo đảm bởi 12 quốc gia và Liên Hiệp Quốc.

Spiegel: Kissinger đưa ra bình luận một cách chua cay trong cuốn sách của mình về nhiều chính trị gia lớn. Nhưng ông ta có vẻ giành nhiều sự miệt thị đối với ông. Mặc dù ông ta ngưỡng mộ sự “thông minh”, “lòng dũng cảm” và “nền tảng văn hoá” của ông. Ôn ta chăm chú đến “sự điều hành tàn bạo”, “xấc láo”, “sự ích kỷ độc ác” và “ thủ đoạn gần như điên cuồng” của ông khi làm việc với người Mỹ. Ông nói gì về những gán gép này trong hồi ký của Kissinger?
Ông Thiệu: Tốt hơn là tôi không trả lời. Tôi thà không nói gì về ông ta. Ông ấy có thể nghĩ bất cứ điều gì ông ta thích về tôi, tốt hoặc xấu. Tôi thích nói về những gì đã thật sự xảy ra giữa Hoa Kỳ và Nam Việt Nam hơn.

Spiegel: Phải chăng ông đã đem đến cho ông ta một lý do nào đó để viết về ông theo một cách coi thường như thế này?
Ông Thiệu: Có thể ông ta ngạc nhiên vì phải làm việc với một người quá thông minh và tài giỏi. Cũng có thể có vài điều phải làm với tính phức cảm tự tôn của một người quá tự phụ. Có thể ông ta không thể tin rằng một người đối thoại Việt Nam lại bình đẳng với một người tự cho rằng mình rất quan trọng.
Để tôi kể anh nghe một chuyện khác, tôi cảm thấy thật buổn cười tại đảo Midway vì tôi không thể nào tưởng tượng nỗi những người như thế lại cực kỳ đê tiện. Trong dịp đó, ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá của tôi và tôi họp tại nhà của một sỹ quan hải quân Mỹ. Có ba cái ghế thấp và một cái cao hơn. Ông Nixon đã ngồi ở ghế cao hơn.

Spiegel: Giống như phim “Nhà độc tài vĩ đại”của Chaplin? Trong đó, Hitler đã ngồi ở một cái ghế cao để ông ta có thể nhìn xuống Mussolini đang ngồi tại nghế thấp hơn.
Ông Thiệu: Nhưng tôi đã tìm một cái ghế khác cao ngang bằng cho tôi trong giờ nghĩ đễ cùng cấp với Nixon. Sau cuộc họp Midway, tôi nghe từ vài người bạn Mỹ của tôi rằng Kissinger không bao giờ trông đợi Tổng thống Thiệu trở thành một người như ông ta.

Spiegel: Kinssinger phàn nàn trong cuốn sách của mình rằng ông đã đối đãi với ông ta thật tệ hại trong cách cư xử cá nhân của mình, rằng ông đã bỏ cuộc hẹn lướt ván, Nixon thậm chí còn nói thêm, theo Kissinger, ông ta nói ông là “một thằng chó đẻ”và nói: “tính tàn bạo là tầm thường, anh sẽ không bao giờ được nhìn thấy, nếu…không đi cùng”.
Ông Thiệu: Xin lỗi nhưng tôi không có gì để nói về điều đó. Tôi được giáo dục đầy đủ và tôi từ chối trả lời những lời bình phẩm mất lịch sự và khiếm nhã như vậy.
Nếu tôi không tiếp đãi Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ Bunker, đó đơn giản là vì chúng tôi chưa đạt đến một điểm để có thể tiếp tục thảo luận với họ. Họ mất 4 năm vậy tại sao tôi buộc phải trả lời trong một giờ. Nếu người Mỹ có thể bỏ ra thời gian thì tại sao tôi lại không thể? Chúng tôi có thể phù hợp với họ nếu chúng tôi là những người ba phải, cái gì cũng đồng ý. Nhưng tôi không phải là một người ba phải và người Miền Nam không phải là một quốc gia của những người ba phải, Quốc hội chúng tôi không phải là một Quốc hội của những người ba phải. Tôi phải bàn bạc với họ.

Spiegel: Tiến sĩ Kissinger viết rằng thái độ của ông đối với ông ta về cơ bản được xác định là “căm thù một cách độc địa”
Ông Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi. Chắc chắn là có những cuộc tranh luận nảy lửa nhưng thái độ của tôi luôn luôn kiềm chế bởi động cơ yêu nước.

Spiegel: Kissinger viết ông có vài điều kiện để đạt được “vị thế gần như là không thể” trong đó ông tự nhận thấy. Ông có nhận ra dấu hiệu nào của điều kiện đó?
Ông Thiệu: Không. Tất cả những gì tôi nhận thấy là áp lực từ Chính phủ Mỹ.

Spiegel: Kissinger viết ông không bao giờ tham gia vào một cuộc đàm phán dựa trên khái niệm. Ông ấy nói ông “đấu tranh theo cách của người Việt Nam: gián tiếp, giản lượt, bằng phương pháp nhằm làm cạn kiệt hơn là làm sáng tỏ, luôn luôn chăm chọc nhưng không bao giờ giải quyết vấn đề thực tế”
Ông Thiệu: Hãy đặt anh vào vị trí của tôi. Tôi đồng ý ngay từ đầu rằng Chính phủ Mỹ nên tham gia đàm phán bí mật với Hà Nội. Kissinger nói tôi sẽ luôn luôn được thông báo. Đúng, tôi đã được thông báo. Tôi được nghe những gì ông ta chọn để nói với tôi. Nhưng tôi tin đồng minh của tôi sẽ không bao giờ lừa gạt tôi, dàn xếp thỏa thuận trên đầu tôi và bí mật bán đất nước tôi.
Nhưng, anh có thể tưởng tượng được không, chỉ bốn ngày trước khi ông ta ra Bắc Việt vào tháng 10 năm 1972, ông ta đưa tôi bản dự thảo hiệp định sẽ được ký tắt tại Paris bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải thẩm tra bản thảo bằng tiếng Anh từng điểm một.
Và bản thảo không phải được đưa ra bởi Nam Việt Nam và Hoa Kỳ mà là bởi Bắc Việt và Hoa Kỳ. Anh có tưởng tượng nỗi điều đó không? Theo logic thông thường Nam Việt Nam và Hoa Kỳ phải thỏa thuận về những điều kiện của dàn xếp hòa bình trước và sau đó Kissinger quay lại với chúng tôi nếu Bắc Việt đưa ra bất kỳ đề xuất trái ngược nào. Nhưng ông ta đã không làm như thế.
Thay vào đó, ông ta soạn thảo những điều khoản của hiệp định chung với Bắc Việt và đưa cho tôi xem bằng tiếng Anh. Hiệp định hoà bình sẽ quyết định số phận chúng tôi. Anh có tưởng tượng được tôi cảm thấy như thế nào khi chúng tôi thậm chí không thể nhìn thấy nguyên bản bằng chính ngôn ngữ của chúng tôi?

Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng nhận được bản tiếng Việt?
Ông Thiệu: Chúng tôi khăng khăng đòi hỏi, đòi hỏi và đòi hỏi và cuối cùng ông ta đồng ý, dù tất nhiên là miễn cưỡng. Và chúng tôi đã phát hiện ra nhiều cạm bẫy. Tôi hỏi Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ Bunker “Ai đưa ra bản tiếng Việt?” Họ trả lời “một người Mỹ rất giỏi từ trường Đại học Ngôn ngữ học Quốc tế tại Hoa Kỳ cộng tác với Bắc Việt”. Nhưng không người Mỹ nào có thể hiểu và viết tiếng Việt tốt hơn một người Việt Nam. Và không người Mỹ nào có thể làm việc với Cộng Sản Việt Nam bằng tiếng Việt giỏi hơn chúng tôi. Liệu đó có phải là cách ứng xử danh dự và ngay thằng của phía đồng minh?

Spiegel: Các giới chức cấp cao tại Mỹ nói đã từng nghĩ rằng tất cả những gì mà Kissinger theo đuổi là một khoảng thời gian hợp lý giữa việc rút quân Mỹ và sự sụp đổi cuối cùng của Sài Gòn. Kissinger nói trong cuốn sách của mình là điều đó không đúng. Ông nghĩ thế nào?
Ông Thiệu: Bất kể người Mỹ nói gì, tôi tin rằng mục đích cuối cùng của Chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.

Spiegel: Kissinger đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy điều đó không đúng.
Ông Thiệu: Người Mỹ cố gắng ép buộc chúng tôi đồng ý bản hiệp định. Nếu chúng tôi đồng ý, họ có thể hãnh diện là đã giải quyết mọi việc bằng một “thoả thuận danh dự”. Họ có thể nói với dân chúng tại quê nhà rằng: “Chúng tôi đang rút quân, chúng tôi đảm bảo tù binh sẽ được phóng thích”. Và có thể nói với phần còn lại của thế giới rằng: “Chúng tôi đã mang lại hoà bình cho Nam Việt Nam. Bây giờ thì tuỳ thuộc vào người dân Nam Việt Nam. Nếu chính phủ liên hiệp có bị Cộng Sản chi phối thì đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đã đạt được một giải pháp danh dự.”

Spiegel: Kissinger viết: “Chúng tôi có một nguyên tắc trong đàm phán đó là người Mỹ không phản bội những người bạn của mình”.
Ông Thiệu: Thôi được, vậy hãy nhìn vào vị thế hiện nay tại Nam Việt Nam, Campuchia và tất cả Đông Dương. Khi chúng tôi đàm phán thỏa thuận hòa bình với những đại diện của Chính phủ Mỹ, chúng tôi thường có cảm giác họ không chỉ chơi trò xỏ lá mà họ còn thật sự là người đáng bị lên án trong hành động.

Spiegel: Ông có bao giờ cảm thấy biết ơn về những gì mà người Mỹ đã giúp đỡ cho đất nước ông? Kissinger nói trong cuốn sách của mình: “đáng giá cao về những gì được giúp đỡ không phải là một đặc điểm của người Việt Nam”.
Ông Thiệu: [Cười] Về những gì mà Kissinger viết trong sách, tôi nghĩ chỉ có người với một tinh thần bị méo mó mới có thể nghĩ như vậy, chỉ có thể xảy ra với một người có tính khí không bình thường. Ông ta ám chỉ trong cuốn sách của mình rằng ông ta sợ người Việt Nam sẽ trả thù những người Mỹ còn ở lại sau khi Washington đã bỏ rơi chúng tôi. Bây giờ và không bao giờ chúng tôi làm điều đó.

Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy biết ơn gì không?
Ông Thiệu: Tôi có thể nói một cách thành thật rằng nếu Chính phủ Mỹ không phản bội chúng tôi và không đâm sau lưng chúng tôi, người dân Việt Nam sẽ cảm thấy rất biết ơn. Sau khi chúng tôi có một cuộc bàn luận căng thẳng với Kissinger về từ ngữ của hiệp định hòa bình, vài thành viên của chính phủ tôi nói rằng sẽ là một ngày may mắn cho chúng tôi nếu Kissinger làm cho Nam Việt Nam bằng như những gì mà ông ta đã làm cho Bắc Việt. Tôi nói với họ nếu ông ta đàm phán một nền hoà bình đích thực với Bắc Việt, ông ta sẽ có cho riêng mình một đài kỷ niệm tại Nam Việt Nam giống như tượng của tướng McArthur tại Nam Hàn. Tiếc thay mọi chuyện đã không diễn ra như vậy.
Về hậu quả của hòa bình, tôi nghĩ tốt nhất là để tự người Mỹ phán quyết về những gì mà Kissinger đã làm cho Nam Việt Nam: những trại tập trung, nạn đói kém, hành hạ tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân mất tích trên Thái Bình Dương và nạn diệt chủng còn khủng khiếp và được tiến hành có hệ thống hơn cả nạn diệt chủng tại Campuchia. Kissinger không có lý do gì để tự hào về nền hòa bình mà ông ta đã mang đến. Đó là mồ chôn của hòa bình.

SPIEGEL: Cảm ơn ông Thiệu đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn này.
------------------------------------------------
Nguồn:


'The Americans betrayed us' from Der Spiegel
In an interview in December 1979 with German weekly Der Spiegel, Nguyen van Thieu, former President of South Vietnam, comments on the content of the memoirs of Henry Kissinger, former US Secretary of State, with regard to the Vietnam War.
http://www.ena.lu/americans-betrayed-der-spiegel-020202520.html



CON GÁI CỦA RỪNG

Con gái của rừng
Đào Hiếu
31/05/2009 9:07 chiều
http://www.talawas.org/?p=5364

Lời nói đầu
Tôi viết bài bút ký này cách nay hơn một năm, khi huyện Bảo Lâm đang bắt đầu bị tàn phá để phục vụ cho dự án bauxite của Trung Quốc. Nhưng vì lúc ấy chưa có ai lên tiếng nên chúng tôi không có thông tin gì.
Chỉ nghe chính quyền huyện Bảo Lâm nói: “sẽ xây nhà máy bô-xít”, thấy một khu đất rộng đã được san lấp bằng phẳng. Vậy thôi. Không hình dung ra được gì. Không có kiến thức gì. Không ai nhắc tới Trung Quốc.
Buổi chiều các cán bộ của huyện ủy dẫn chúng tôi vào sâu trong rừng để xem một nhà máy thủy điện đang xây dựng. Cũng chẳng ai quan tâm đến cái nhà máy ấy. Lúc đó cái mà tôi chú ý nhất là những dãy núi. Chúng đã bị thiêu cháy không phải lẻ tẻ mà trùng trùng điệp điệp. Màu xanh của lá rừng đã được thay thế bằng màu tím đỏ như máu vừa khô trên những sườn non, dựng đứng một mảng màu đỏ tía khổng lồ, án ngữ phía chân trời khiến cho những đám mây cũng khô héo.
Rừng Tây Nguyên bị đưa lên giàn hỏa. Dưới chân tôi là tro than, thân cây cháy đen, còn phía chân trời là núi tím bầm huyết dụ.
Tôi hỏi vì sao đốt rừng quy mô lớn như vậy thì chính quyền địa phương nói đó là chuyện “làm ăn” gì đó của tỉnh Đắc Lắc kế bên. Gần như chúng tôi không ai biết gì. Còn những cán bộ của huyện Bảo Lâm thì chắc là đã biết cái vụ “ba Tàu vô khai thác bauxite” rồi nhưng họ được lệnh không tiết lộ.
Bây giờ nghĩ lại, thấy lúc ấy người ta tàn phá rừng mà sợ. Không phải là đốt, là phá mà là tàn sát, là hủy diệt hàng loạt.
Vậy mà đó mới chỉ là khúc dạo đầu của cuộc chinh phục Tây Nguyên.

Sau chuyến đi thực tế của Hội Nhà văn TPHCM ấy, hoàn toàn không thấy ai nói gì, bàn tán gì về bauxite, hoàn toàn không ai viết gì về bauxite, chỉ viết về chè, về cà phê về dâu tằm.

Tôi thì viết một bài bút ký về số phận của một người đàn bà trẻ dân tộc Châu Mạ. Chị là công nhân hái chè nhưng cũng là giọng solo sáng giá trong ca đoàn của nhà thờ Tân Rai.
Tân Rai đang bị bauxite hóa. Một ngày nào đó có lẽ nhà thờ Tân Rai cũng không còn. Đó là bi kịch của người Châu Mạ, một dân tộc bị chính quyền Việt Nam bỏ rơi, sống lay lắt, sống như cỏ dại mọc lên giữa đất đá và muông thú. Nhất là những con người sống ở làng Tol bất hạnh mà bạn đọc sẽ thấy ở đoạn cuối bài ký này.
Nó như một đoạn phim giả tưởng giữa thế kỷ 21.
Tôi nghĩ nếu ai đó có hứng thú, nên cùng tôi trở lại Bảo Lâm để làm một cuốn phim về cái làng Tol cùng khổ ấy, về người đàn bà Châu Mạ ấy.
Giờ đây khu vực ấy đang bị giải tỏa, “làng Trung Hoa” đang hình thành với những hàng rào lưới B40, những thanh niên Tàu trà trộn ngày một đông, những cô gái trẻ mang bụng bầu vào xưng tội trong nhà thờ Tân Rai ngày một nhiều, những đứa con hoang mang dòng máu Trung Quốc sắp chào đời… Cuộc lấn chiếm khá bình lặng nhưng rõ nét với sự xuất hiện của tờ giấy bạc “Nhân dân tệ” có hình Mao Chủ tịch màu tím đỏ.
Buôn làng của người Việt hay dân tộc K’ ho, Châu Mạ hẹp dần, nhường chỗ cho bauxite.
Hôm nay, tôi đăng lại bài bút ký này để ghi dấu một vùng thiên nhiên: những rừng sim, những đồi trà, những rẫy bắp, những con suối nhỏ róc rách… sắp biến mất dưới lớp bùn đỏ.
Và cũng để lưu giữ hình bóng một người đàn bà trẻ mạnh mẽ như cây rừng, đơn độc như dòng suối nhưng vẫn sống, vẫn bước qua số phận, số phận hẩm hiu của dân tộc Châu Mạ.
Tôi mong ước có nhà làm phim nào đó sẽ về Việt Nam để cùng tôi viết tiếp câu chuyện về làng Tol và về người đàn bà trẻ này, xem họ sẽ vượt qua thảm họa bauxite hiện nay như thế nào?

----------------------------

Con gái của rừng
Bút ký
Đào Hiếu

Cô gái người Châu Mạ xòe bàn tay ra. Tôi hỏi:
-Ngón nào đeo nhẫn?
-Ngón áp út.
-Không phải. Ngón trỏ.
-Tại sao?
-Vì đó là ngón tay bất hạnh nhất trong bàn tay của em.
Nó có một đường rãnh như vết dao cắt. Cái rãnh ấy do động tác ngắt lá chè ngày nọ qua ngày kia, năm này sang năm khác tạo ra.
Và đó cũng không chỉ là ngón tay của Ka Hèng. Đó là ngón tay của tất cả những cô gái hái chè ở Lâm Đồng.
Tội nghiệp cho cái ngón tay bất hạnh đó. Sao không có ai cầm lấy nó và đưa lên môi hôn?

*
Năm tám tuổi Ka Hèng học lớp Một. Học ba năm liền không lên nổi lớp Hai. Ka Hèng nói: “Không muốn đi học. Chỉ muốn đi cắt cỏ thôi.” Ở xã người ta dụ: đi học sẽ được lãnh ổ bánh mì. Cô bé đến lãnh ổ bánh mì rồi trốn về. Nhưng cuối cùng cũng đi học. Ngày học, ngày cắt cỏ, nên ba năm không lên được lớp Hai.
Khi Ka Hèng mười tuổi, cô giáo nghỉ đẻ, không có người thay thế. Cô nói: Ka Hèng nó thông minh lắm, có thể dạy học được.
Từ đó trong buôn có cô giáo mười tuổi mới học tới lớp Một.
Năm mười bốn tuổi gia đình Ka Hèng từ Lộc An chuyển về Bảo Lâm, mẹ ở chung với dì, nhà rất đông người. Ka Hèng thích vô rừng sống một mình.
Năm năm đơn độc giữa mây núi. Không biết đến loài người. Cô gái tuổi teen ấy làm con của rừng.
Mười bốn tuổi, mỗi tuần gùi củ mài ra buôn làng đổi gạo, muối. Hai mươi cây số đường rừng. Đi từ sáng và về một mình trong đêm. Đi theo ánh sáng của bầy đom đóm. Âm thầm như con nai nhỏ. Như con chim bay về tổ của mình.
Đó là thời gian cô sống bên này suối.
Thế giới của Ka Hèng là bên này suối. Nhưng năm mười chín tuổi cô đã đi theo tiếng gọi của trần tục mà về sống với con người bên kia suối, nên bất hạnh đã vây phủ cô.
Nó đến trong đêm, khi Ka Hèng đang ngủ. Chợt cảm thấy có ai nằm cạnh mình, quay lại. Bị hôn ngay miệng. Đó là một gã người kinh. Cô bỏ chạy ra suối rửa mặt, súc miệng. Nhưng gã người kinh ấy lại ngỏ lời cầu hôn.
Gia đình Ka Hèng hỏi :
-Cha mẹ đâu ?
Anh ta nói mình lớn lên trong trại mồ côi. Không biết quê quán. Không biết cha mẹ. Ka Hèng hỏi tôi :
-Sao người kinh hay nói dối vậy?
-Sao biết hắn nói dối?
-Vì em lấy được chứng minh nhân dân của anh ấy. Quê ở Thái Bình. Cha mẹ đều còn sống.
-Vậy sao em cũng lấy nó.
-Em nghĩ là nó thương em. Chị em hứa: mày lấy Ka Hèng tao cho mẫu chè.
Nó chịu. Nhưng đêm tân hôn nó bỏ đi nhậu với tụi thợ rừng. Em nằm một mình buồn quá. Khóc. Nửa đêm ra ngoài tìm chồng. Đi ngang nhà thờ nghe tiếng thánh ca. Đó là lần đầu tiên em không hát cho ca đoàn trong đêm Giáng Sinh. Mà lại lang thang trong đêm tối.
Hồi ở trong rừng em vẫn hay đi một mình trong đêm tối như vậy. Chợt sống lại cảm giác ấy. Không buồn nữa. Đứng dưới bóng cây mà hát. Rồi cứ thế, đi và hát trong đêm. Không một ai trên đường. Không một ai trong buôn làng còn thức. Chỉ có Đức Chúa Trời nghe em hát như ngài vẫn thường nghe em hát trong nhiều năm dưới mái nhà của Người.

*
Hai mươi tuổi Ka Hèng có bầu. Người chồng bán mẫu chè và bỏ đi biệt tích. Ka Hèng vô rừng ở, lần thứ hai. Không tiền bạc. Không của cải. Nhưng rừng là nhà của cô. Vẫn còn những củ mài, măng tre, lá bép và suối.
Nhà của Ka Hèng ở lưng chừng đồi. Nó mảnh khảnh và tơi tả.
Buổi sáng lại gùi củ mài và măng ra buôn đổi thực phẩm. Vẫn hai mươi cây số đường rừng. Trở về trong đêm. Cọp thường ngủ trong đồi sim. Nhưng cọp cũng thích nghe Ka Hèng hát. Giống như lời ru. Ru được cả thú dữ. Con đười ươi, con gấu, đến con rắn cũng thích nghe Ka Hèng hát. Chúng thân thiện với cô như trong cổ tích.
Chỉ có con người là mang mầm mống của sự bất trắc. Hai thằng con trai đứng chặn đường ngay đầu cầu.
Cây cầu khỉ bắc qua suối.
-Đưa trái thơm thì cho qua.
Trong gùi của Ka Hèng có gạo. Và hai trái thơm. Cô lấy một trái, cầm cái cán như cầm quả chùy. Rồi hỏi:
-Có phải trái này không?
-Hai trái mới được.
-Vậy tôi đếm đến hai nhé.
Và đếm : một, ha… Tiếng « hai » chưa kịp thốt ra thì một gã con trai đã bị đá văng xuống suối. Gã còn lại ngoan ngoãn tìm cách kéo đồng bọn lên.

*
Nhưng lại có một gã to con hơn. Râu quai nón, tóc dài. Gã không chặn đường. Không chọc ghẹo. Gã theo dõi. Lén lút. Giấu mặt. Ban đầu Ka Hèng rất sợ. Lần thứ ba, lần thứ tư vẫn không ra mặt. Khi thì theo sau, khi đi song song, lẫn trong cây rừng, khi ẩn hiện phía trước, có lúc từ trên ngọn cây cao nhìn xuống.
Nhiều tuần trôi qua như vậy. Ka Hèng không còn cảm thấy bị đe dọa. Gã giống như người được thần rừng sai đi bảo vệ cho cô. Ngay cả trong đêm, cô không thấy hình dáng của gã nhưng những tiếng động gã gây ra cũng rất quen thuộc. Vì không sợ nữa nên cô lại hát. Có thể gã không phải là người. Vì làm sao lại có người bỏ công theo đuổi suốt ngày đêm như vậy? Chẳng lẽ đó là một gã si tình ?
Lại có khi Ka Hèng rình gã. Thấy gã từ trên ngọn cây nhảy xuống, nhanh như một con vượn. Râu tóc rất dài. Nhưng mặt là mặt người. Một người đàn ông cao lớn và cũng có thể gọi là đẹp trai. Đến khi gã phát hiện mình bị theo dõi thì trốn biệt. Biến mất trong rừng dày. Suốt một tuần không hề thấy tăm hơi. Chỉ có một lần Ka Hèng tắm suối. Cô để ngực trần. Và hát vang cả rừng núi. Chợt nghe tiếng động trong nhánh cây thấp. Cô ngừng hát. Nhưng vây quanh cô chỉ là những tầng tầng lớp lớp lá rừng dày đặc. Rừng cũng đang nín thở, nghe ngóng.
Cô nghĩ rằng gã đã bỏ đi nơi khác rồi. Và từ đó cô không bận tâm đến gã nữa.

*
Có một ngày Ka Hèng thấy thèm chua. Mà ổi thì mới ra hoa. Trong rừng không có quả gì. Cô đi lang thang bên suối tìm lá giang. Nhưng không có. Chỉ gặp một bụi lá bứa chua chua chát chát. Nhưng rất là ngon. Ăn một bụng, còn để dành cho ngày hôm sau.
Nhưng hôm sau đến thì thấy một con bò rừng đang ăn khóm lá bứa của mình. Nó to quá. Không đuổi đi được. Đành phải chạy đến tranh ăn với nó.
Và ngày hôm sau thì không còn gì để ăn.
Cơn thèm chua lại đến. Cô vuốt ve cái bụng bầu của mình. Con ơi. Mẹ đói như thế này thì làm sao con no được?
Ngày kia có một chàng trai lạ bơi qua suối.
Anh ta nhìn thấy một cô gái hai mươi tuổi, mang bầu và ở một mình trong rừng. Lễ vật của chàng là một nửa gùi sim chín. Chàng hái sim trên đồi cù.
-Cô ở đây có một mình sao?
-Tôi thích ở một mình.
-Chồng đâu ?
-Không có chồng.
-Sao có bầu ?
-Con của rừng đấy.
Hôm sau chàng trai lại đem đến một nửa gùi bắp. Lần thứ ba là muối. Chàng trai rủ Ka Hèng đi hái sim. Họ đi từ sáng và đến đồi cù vào giữa trưa. Sim dày đặc, trái chín đen cả một vạt rừng. Gió mát quá. Ka Hèng len lỏi giữa những bụi sim cao ngang mặt. Hai người tung tăng như hai con nai nhỏ hồn nhiên.
Chợt nghe tiếng thở của con thú lớn. Một con cọp đang ngủ say. Chàng trai cầm cái xà-gạc thủ thế. Ka Hèng lùi lại. Nhưng không sợ. Cô thấy con cọp cũng hiền lành khi nó ngủ. Chàng trai nói:
-Cô giữ cái đuôi nó đi. Tôi sẽ cho nó một nhát.
Ka Hèng thích trò chơi đó. Cô chụp lấy cái đuôi con cọp. Nó giật mình thức dậy. Gầm lên một tiếng. Nanh vuốt giương ra hết cỡ. Chàng trai ném cây xà-gạc bỏ chạy.
Ka Hèng không còn sự chọn lựa nào ngoài việc giữ chặt cái đuôi khủng khiếp của con mãnh thú. Người và thú xoay vòng tròn. Cô gồng mình, mười ngón chân cày xới mặt đất tóe máu. Mặt đất cũng rách nát.
Quần áo Ka Hèng thì tả tơi, tóc bê bết mồ hôi, sợi dây chuyền bằng hạt cườm đứt tung, vung vãi trong cỏ gai. Cô bắt đầu đuối sức nhưng không dám buông tay vì buông tay là chết. Trong giây phút tuyệt vọng ấy một đám thợ rừng xuất hiện, la hét. Ka Hèng buông cái đuôi ra, ngã quỵ trên vòng tròn nham nhở đất cát.
Cọp phóng vào rừng.
Cô lại trở về căn nhà sàn tả tơi của mình.
Một đêm trăng mờ, chàng trai hôm trước lại bơi qua suối. Lần này anh ta không đem theo quà. Lặng lẽ bước lên cầu thang, ngồi xuống bên bếp lửa. Ka Hèng đang khâu lại cái xà rông rách nát do quần nhau với cọp hôm trước. Hai ngưòi đều không nói lời nào. Cuối cùng chàng trai mở lời.
-Anh có lỗi với em.
Im lặng.
-Hãy cho anh ở lại đây đêm nay để canh ngọn lửa cho em.
-Về đi!
-Hãy cho anh ở lại.
-Tôi bảo anh về!
-Nếu không về thì sao?
Ka Hèng ném cái xà rông xuống sàn nhà. Hỏi:
-Anh nghĩ gì về một cô gái dám sống một mình trong rừng?
-Anh thương em.
-Bây giờ anh có đi về không?
-Hãy cho anh ở lại.
Ka Hèng bước lại phía vách lá, đẩy cánh cửa sổ.
Không phải ánh trăng lùa vào. Không phải gió lùa vào. Mà một đàn dơi rừng như cơn bão đen từ địa ngục lùa vào.
Chàng trai biến mất trong chớp mắt. Chỉ còn là một khối đen có cánh, lúc nhúc và rối rít. Cái khối đen ấy lăn tròn xuống cầu thang.
Đàn dơi tung mình lên. Lấp lánh ngàn đôi cánh của bóng tối.
Chàng trai nằm bất động. Ka Hèng lại ngồi bên bếp lửa, tiếp tục vá cái xà rông. Một lúc sau, cô nghe tiếng bước chân dẫm trên lá khô. Và tiếng một con chim tu hú kêu trong rừng sâu.

*
Cái thai vẫn tồn tại sau trận ác chiến với con cọp nhỏ. Đến ngày, Ka Hèng về buôn ở với mẹ. Nửa đêm bụng đau thắt. Mẹ bảo cô ngồi xổm, hai tay nắm chặt thành giường. Đứa con ra đời, được cắt nhau bằng một sợi chỉ.
Ba tháng sau Ka Hèng lại đưa con vào ở trong rừng. Ở được một tháng thì có cơn bão đến. Rừng núi chuyển động. Đồi chè chuyển động. Ngôi nhà sàn lắc lay như cái tổ chim. Mưa trút xuống giận dữ. Trời gầm thét. Và núi cũng đáp lại bằng những tiếng rú.
Căn nhà sàn bay xuống đồi như một chiếc lá khô. Vừa bay vừa xoay vòng. Ka Hèng gùi con sau lưng, ôm lấy cột nhà. Và bay đi như đang cưỡi lên một cánh diều. Cô nghĩ rằng hai mẹ con sẽ bị ném xuống hẻm núi và sẽ chết. Cuối cùng cô quyết định mở cánh cửa. Ôm con trước ngực. Và lao ra ngoài.Hai mẹ con lăn lóc trên sườn đồi. Tấp vào những bụi chè. Và sống sót.
Sau cơn bão, những người hái chè quanh đấy xúm lại dựng tạm cho cô một túp lều. Lều cất xong, các chàng trai trong buôn săn được một con đỏ, làm tiệc. Ka Hèng đi hái mồng tơi được một rổ đầy, đem rửa bên bờ suối. Bọn thanh niên xúm lại vừa nhặt rau vừa chơi trò bóp trái mồng tơi quẹt lên mặt, đùa giỡn náo động cả một góc rừng.
Bỗng nhiên nghe tiếng khóc. Già Làng hỏi:
-Đứa nào khóc?
Ông chạy ngược lên đầu suối, thấy hoa mồng tơi trôi đầy trên mặt nước. Trên hòn đá chỉ còn mình Ka Hèng ngồi khóc, xòe hai bàn tay che lấy ngực. Già Làng hỏi:
-Ai làm gì?
-K Đùng bôi mồng tơi lên ngực con.
Già Làng chỉ cười, lội xuống suối vớt cái rổ rau lên.
-Nín đi.
Nhưng Ka Hèng tức quá không nín được.
Buổi tối khi mọi người đã về hết, còn lại một mình với rừng đêm, cô thấy mình sống lại, thanh thản, tự do giữa trời và đất, giữa mây và núi. Đứa con đã ngủ yên bên bếp lửa. Ka Hèng đi chân đất, bước xuống các bậc thang. Bàn chân dẫm trên những lá cỏ ướt. Mặt đất phẳng lặng.
Ban sáng bông cỏ may có màu tím đỏ, xế chiều nó cháy rực lên như lửa. Còn bây giờ dưới ánh trăng mờ đục, bông cỏ may tỏa ra một vùng sáng bạc hư ảo, chập chờn, lãng đãng như sương khói. Đó là thế giới của cô. Lặng thinh, tĩnh mịch, thầm kín, riêng tư. Nhưng mà không phải riêng tư. Vì cô đang sống với rừng, với bông cỏ may, với tiếng suối thủ thỉ bên cạnh. Cho nên riêng tư mà cũng giống như là hòa nhập, kết nối, ôm ấp, trao gửi. Như cô đang ngã người vào vòng tay của cỏ may để đón nhận sự vuốt ve của những cánh lá mỏng, để hít cái bồng bềnh của sóng gió trắng đục, để nghe lời ru vụng về mà âu yếm của con nước vô danh dưới lũng thấp.
Hãy chúc phúc cho Ka Hèng, con gái yêu của rừng già.
Hãy chúc phúc cho con chim sơn ca của núi rừng Bảo Lộc có đôi cánh quá mỏng, không bay lên được trời cao.
Peace be with you, Ka Hèng, con chiên của Đức Chúa Trời lòng lành. Cô là giọng solo sáng giá của ca đoàn nhà thờ Tân Rai. Tháng 5 năm 1995, trong lễ khánh thành ngôi giáo đường xinh xắn này có một trăm linh mục khắp nơi về dự. Năm nghìn giáo dân quỳ dưới chân Chúa. Ka Hèng được chọn là giọng “hát đáp” duy nhất, hát trên bục thánh.
Sau buổi lễ cha xứ địa phận Đà Lạt đến và nói:
-Con hát hay lắm. Hãy về hát cho ca đoàn của cha.
Nhưng cho đến nay, cô vẫn hái chè.
Và vết cắt trên ngón tay trỏ của cô ngày càng sâu thêm.

*
Phía dưới thung lũng có tiếng con nít la lối. Hình như đoàn văn công ở tỉnh về. Ka Hèng đang hái chè, bỏ gùi chạy ra xem, mới biết là có bốn người Fulro bị bắt, đem từ trong rừng về. Một đàn ông, một đàn bà và hai đứa con nít. Bọn họ và mấy người dân quân xã ngồi nghỉ mệt bên những gốc mít.
Ka Hèng rẽ đám đông, thò đầu vô xem. Tức thì chạm phải một khuôn mặt râu tóc dài như người rừng. Và một đôi mắt buồn, khắc khoải. Đó là đôi mắt đã từng theo dõi cô trong rừng, phía sau, phía trước, trên ngọn cây…bất kể ngày đêm, bất kể mưa nắng. Đôi mắt ấy đang nhìn cô trân trối. Một đôi mắt đẹp. Một cái nhìn tuyệt vọng.
Người đàn bà ngồi cạnh ông thì ốm yếu và thất thần. Chỉ có hai đứa con nít thì lanh chanh như hai con khỉ nhỏ. Chúng đứng nhăn răng cười, chỉ tay vô bụng. Có người đưa cho chúng mấy viên kẹo, chúng đưa lên mũi ngửi, xé viên kẹo ra nếm rồi nhăn mặt vứt đi. Người nọ lại đưa một ổ bánh mì. Một đứa chụp lấy, nhảy tót lên cành cây, đu mấy cái đã ở tít trên ngọn mít. Đứa còn lại phóng theo, chuyền cành nhanh như vượn, tiếng kêu “khẹt khẹt” phát ra từ cổ họng chúng. Hai đứa đuổi nhau trên ngọn cây, giành ổ bánh mì. Cuối cùng đứa nhỏ thua. Nó ngồi trên cành cây, nhìn đứa lớn gặm ổ bánh, rồi chợt nó bẻ một cành mít nhỏ đưa lên miệng, gặm lớp vỏ cây, ăn ngấu nghiến.
Hai đứa trẻ đã được sinh ra, lớn lên trong rừng. Và đây là lần đầu tiên chúng biết đến xã hội loài người.

*
Tôi và Ka Hèng phải vượt qua một con dốc rất cao mới tới được làng Tol. Trên đỉnh dốc là một vùng đất bằng phẳng vàng cháy và trơ trụi. Tôi không thể tưởng tượng được rằng giữa vùng rừng núi bạt ngàn này lại có một ngôi làng cằn khô như thế. Như ốc đảo trong sa mạc. Như một thị trấn hoang sơ của miền viễn tây Hoa Kỳ cách đây 200 năm.
Hai bên con đường đất bụi mù là những ngôi nhà gỗ lụp xụp ủ rũ dưới nắng cháy. Những ngõ cụt màu nâu đỏ mất hút sau các vách ván so le, vỡ nát, thủng lỗ. Không một bóng người. Không tiếng chim. Không tiếng heo gà. Làng Tol lạnh lẽo dưới nắng chói.
Rồi đột nhiên hàng chục đứa trẻ từ trong các ngõ ngách hiện ra. Đứng như trời trồng, Không nói. Không cười. Không cử động. Chỉ thấy những cái bụng ỏng và những cặp mắt đầy ghèn.
Tôi đang lạc vào thế giới nào vậy?
Những đứa trẻ như vừa mọc ra từ đất. Chúng như những bụi xương rồng lùn tịt, khẳng khiu trên cát nóng. Chúng đang thủ thế với tôi hay đang chào đón?
Dường như sắp xảy ra một cuộc đấu súng.
Những chàng cao bồi nhỏ áo quần rách rưới, ruồi đậu quanh mép. Còn tôi thì toát mồ hôi. Không ai có súng cả. Dường như đó là một sự căng thẳng giả tạo. Cũng có thể đó chỉ là một sự ngạc nhiên kéo dài.Ka Hèng nói một câu gì đó bằng tiếng dân tộc.
Ngay tức khắc đám trẻ con chạy ùa đến vây lấy hai chúng tôi. Tôi ngồi thụp xuống, mở cái bao vải to tướng ra. Chúng tôi vội quá, nên quà không có gì ngoài những bao xì-nách. Một trăm bao cũng không thấm tháp gì.
Mấy con gà mái không biết từ đâu cũng chạy đến. Năm ba con chó vàng và heo mọi ốm nhách.
Dưới gầm ngôi nhà sàn thường là để nhốt trâu bò nhưng dường như đã lâu lắm người ta không dùng đến cái khoảng trống đó. Mặt đất trong chuồng nham nhở. Không có cỏ, cũng không có rơm khô. Cả phân bò cũng không có. Sự sống đang tàn lụi, đang co rúm lại, quắt queo như một trái cây chưa kịp chín đã khô héo.
Ngôi nhà sàn này giống hệt nhà của Ka Hèng trong rừng năm cô mười bốn tuổi. Một cầu thang đi lên. Tỏa ra hai bên là những khoảng trống u ám của những vách lá mục nát đen nhẻm bị hun khói hàng chục năm bởi những bếp lửa phân chia từng gia đình một.
Bếp lửa cũng đã tắt ngấm. Đặt bàn tay lên tro than thấy lạnh tanh. Những que củi cháy dở nằm ngổn ngang như xác chết nám đen trên chiến địa.
Nhìn lên mái thấy hàng trăm cái lỗ thủng. Thấy có đám mây dửng dưng bay ngang qua. Thấy gió phe phẩy những lá mục. Vách ngăn giữa các gia đình làm bằng bao bố kết lại. Cũng đã tả tơi.
Nhưng đây không phải là cái nhà sàn bỏ hoang. Vẫn có mấy bộ quần áo treo trên vách. Mấy cái bầu khô.
Xà gạc và gùi. Những cư dân ở đây đang ở trong rừng. Họ không có chè để hái, không có cà phê để hái, không có bắp để hái. Họ hái củi. Bó từng bó lớn, mang trên vai, gùi trên lưng. Đi bộ mấy chục cây số. Hai bàn chân bè ra. Nứt nẻ. Chai cứng. Băng rừng ra đến chợ. Kiếm được hạt gạo sao mà khốn cùng vậy!
Xế chiều quay về nhà. Nhà đây sao? Hay là chuồng? Có khi không bằng một cái hang thú. Sao nỡ bỏ người dân tộc ở cái làng Tol này sống thảm thương đến vậy?

Ngày 27 tháng 4 năm 2008
ĐÀO HIẾU