Nghe 10 Ngàn Bài Nhạc Tiền Chiến
http://music.hatnang.com/
Nhạc Xưa
recent
album
artist
-----------------------------
composer
genre
title
Audio › Browse by
Audio by album
Anh Ngọc - Một Đời Tôi Hát (1)
Asia 57 - Một Mai Em Đi (2)
Chế Linh - Hát Cho Người Tình Phụ 2 (5)
1 (6)
2 (4)
45 Phút Chuyện Vui (2)
70 Năm Tình Ca Việt Nam (4)
Alexhanphong Tuyển Chọn (12)
Anh Khoa - Hoa Biển (17)
Anh Ngọc - Giấc Mơ Hồi Hương (10)
Anh Ngọc - Một Thời Để Nhớ (12)
Anh Ngọc - Một Đời Tôi Hát (9)
Anh Ngọc - Quê Hương Tình Yêu (10)
Anh Ngọc - Tiếng Hát Lênh Đênh (11)
Anh Ngọc - Trở Về Dĩ Vãng (12)
Anh Ngọc Đặc Biệt (17)
Anh Tài 1 - Tiếc Thương (13)
Anh Tài 3 - Kỷ Niệm - Tình Ca Luân Vũ (12)
Anh Việt Thu 1 (23)
Anna 5 (29)
Áo Lụa Hà Đông - Vũ Khanh & Sĩ Phú & Tuấn Ngọc (10)
Áo Tím Ngày Xưa (13)
Asia 01 - Dạ Vũ Hồng (13)
Asia 02 - Xuân Nghệ Sĩ (12)
Asia 03 - Dạ Vũ Xanh (12)
Asia 05 - Dạ Vũ Tím (13)
Asia 10 - Dạ Vũ Trắng (12)
Asia 11 - New Wave (10)
Asia 12 - New Wave Hè 86 (10)
Asia 13 - Nhạc Tuyển Top Hit (11)
Asia 15 - New Wave (11)
Asia 18 - Dạ Vũ Đỏ (11)
Asia 19 - Hải Âu Phi Xứ (Cassette version) (10)
Asia 22 - Rumba Chacha (10)
Asia 26 - New Wave - Shy Girl (10)
Asia 28 - Ngọc Hương (10)
Asia 32 - Dạ Vũ Xám (12)
Asia 34 - La Maritza (11)
Asia 39 - Mưa Rừng (10)
Asia 40 - Chuyện Tình Buồn (10)
Asia 41 - Hè 88 Luân Vũ (10)
Asia 43 - Tiếng Hát Kiều Nga 2 (10)
Asia 48 - Adios Amor (10)
Asia 49 - Dạ Vũ Tình (10)
Asia 51 - Tu Es Là - Ngày Nào Em Xa Anh (11)
Asia 52 - Nếu Một Mai (10)
Asia 56 - Tình Ghen Rực Rỡ (10)
Asia 57 - Tình Ca Sĩ (11)
Asia 6 - Tình Khúc Selection (12)
Asia 7 - Dạ Vũ Vàng (13)
Asia 8 - Tiếng Hát Kiều Nga (13)
Asia 9 - Tình Khúc Anna (12)
Asia CD 015 - Liên Khúc Tình Yêu 1 (4)
Asia CD 016 - Liên Khúc Tình Yêu 2 (4)
Asia CD 017 - Liên Khúc Tình Yêu Cuối Cùng (4)
Asia CD 029 - Dạ Vũ Rumba ChaChaCha Bebop (10)
Asia CD 033 - Liên Khúc Tình Yêu Tuyệt Vời (4)
Asia CD 047 - The Best Of Tango & Valse (10)
Asia CD 26 - Dạ Vũ (10)
Ba Con Mèo - Hạnh Ngộ (10)
Băng Nhạc Du Ca 1 (20)
Biển Tình 79 - Em Ơi Hà Nội Phố (10)
Biệt Ly (11)
Bơ Vơ Ngõ Hẹn Hò (10)
Bốn Phương 1 - Tháng Tư Buồn (14)
Bông Bưởi Chiều Xưa - Tình Ca Châu Đình An (10)
Cánh Bướm Vườn Xuân (10)
Caravelle 1 - Duyên Kiếp Cầm Ca (1)
Caravelle 1 - Duyên Kiếp Cầm Ca (13)
CBC2 - Tình Yêu Và Tuổi Trẻ (10)
Chansons Francaises Collection (4)
Chế Linh - Hát Cho Người Tình Phụ 2 (5)
Che Linh - Tinh Khuc Doan Truong (13)
Chế Linh - Tình Khúc Đoạn Trường (2)
CHE LINH 1 (17)
CHE LINH 3 (17)
Chiều Bên Giáo Đường - Kim Anh & Sĩ Phú & Uyên Ly (12)
Chieu Vang (1)
Co May 1 (17)
Co May 2 (18)
Continental - Nhac Hong Tinh Yeu (26)
Continental 06 (21)
CONTINENTAL 1 (19)
Continental 5 - Quê Hương Tìm Lại Ngày Vui (22)
Dạ Lan 01 - Như Một Nụ Hồng (13)
Dạ Lan 02 - Như Giọt Sương Mai (14)
Dạ Lan 03 - Hoa Trinh Nữ (1)
Dạ Lan 04 - Biệt Kinh Kỳ (12)
Dạ Lan 05 - Nét Son Buồn (12)
Dạ Lan 06 - Hoa Nở Về Đêm (2)
Dạ Lan 07 - Hạnh Phúc Lang Thang (15)
Dạ Lan 08 - Thuyền Viễn Xứ (13)
Dạ Lan 09 - Tình Ca (12)
Dạ Lan 10 - Mạc Phong Linh 1 - Ngày Đó Xa Rồi (14)
Dạ Lan 11 - Mưa Đầu Mùa (14)
Dạ Lan 12 - Xa Vắng (14)
Dạ Lan 13 - Đôi Bóng (14)
Dạ Lan 14 - Phượng Yêu (14)
Dạ Lan 15 - Hồi Tưởng (12)
Dạ Lan 16 - Đã Mười Năm Qua (12)
Dạ Lan 17 - Dạ Vũ (16)
Dạ Lan 18 - Cỏ Hoa (12)
Dạ Lan 20 - Nhạc Vàng (12)
DA LAN 3 - HOA TRINH NU (12)
Dạ Lan 38 - Ai Nói Với Em (12)
Da Lan 38 - Je T'aime - Duy Quang & Billy Shane (10)
Dạ Lan 41 - Dạ Vũ Tango Chacha (10)
Dạ Lan 53 - Dạ Vũ Nhung (12)
Da Lan 6 - Hoa No Ve Dem (11)
Dac Ky Ho Ga (1)
Dang Xua (19)
Dem Bo Vo - Thanh Phong & Huong Lan (12)
Dem Tien Don (11)
Dĩa Nhạc Nước Mắt Ngày Về (4)
Diã Nhựa - 4 Ca Khúc Vũ Thành An (4)
Dĩa Nhựa - Ai Nói Yêu Em Đêm Nay (4)
Dĩa Nhựa - Chai Đá (3)
Dĩa Nhựa - Chọn Lọc (4)
Dĩa Nhựa - Dem Giang Sinh (4)
Dĩa Nhựa - Em Sẽ Yêu Ai (4)
Diã Nhựa - Mấy Dặm Sơn Khê (4)
Dĩa Nhựa - Nét Đẹp Thiên Thần (4)
Dĩa Nhựa - Nếu Anh Còn Nhớ (4)
Dĩa Nhựa - Ngày Xuân Tái Ngộ (4)
Dĩa Nhựa - Những Ngày Trên Đà Lạt (4)
Dĩa Nhựa - Nó Và Tôi (4)
Dĩa Nhựa - Phượng Tìm Hoàng (4)
Dĩa Nhựa - Vàng Cánh Thiên Thu (4)
Dĩa Nhựa - Đất Bằng Nổi Sóng (4)
Dĩa Nhựa - Đêm Trắng Hậu Phương (4)
Dĩa Nhựa - Đêm Ước Hẹn (4)
Dĩa Nhựa - Đôi Tiếng Tự Do (4)
DIEM CA 1 (19)
DIEM CA 2 - KY NIEM CHUNG MINH (18)
DIEM CA 3 (17)
Diem Ca 4 (16)
Diem Ca 5 - Que Huong Khoi Lua (18)
Diem Ca Gold (17)
Diễm Hương 1 - Trên Đỉnh Tình Yêu (12)
Dong Dao - Bong Mat Viet Nam (19)
Dream Studio - Duy Quang - Sao Mà Quên Được (12)
Dream Studio - Duy Quang Nhạc Tuyển Chọn (12)
Dream Studio 08 - Bến Mơ 2 (12)
Dream Studio 21 - Con Đường Tình Ta Đi - Duy Quang & Thái Hiền (12)
Du Muc - Tieng Hat Trinh Cong Son (17)
Duy Khanh - Bao Gio Em Quen (10)
Duy Khanh - Gui Nguoi Ve Cat Bui (10)
Duy Khánh 1 - Tiếng Hát Duy Khánh (17)
Duy Khanh 2 - Hat Cho Que Huong Viet Nam (20)
Duy Quang - Em Yêu Dấu (12)
Duy Quang - Sao Ma Quen Duoc (12)
Duy Trac - Con Tieng Hat Gui Nguoi (10)
Duy Trac - Gia Tu (13)
DX2 - Dấu Vết Tình Ta 1 (12)
Elvis Phương Và Những Bài Tình Ca (19)
Em La Tat Ca - Minh Hieu 2 (10)
Giai Dieu Thu (17)
Giang Ngoc - Hue Dep Va Tho (7)
Giáng Ngọc 2 - Hà Thanh - Khúc Tình Ca Xứ Huế (13)
Giáng Ngọc 3 - Huế Đẹp Và Thơ (5)
Giáng Ngọc 6 - Nhạc Trẻ (12)
Giáng Ngọc 7 - Nhạc Trẻ 2 (12)
Giang Ngoc CD - Bao Gio Biet Tuong Tu (10)
Giao Linh - Thương Muộn (12)
Hà Thanh Lịch - Tiếng Hát Khôi Nguyên 1 (10)
Hà Thanh Lịch - Tiếng Hát Khôi Nguyên 2 - Ừ Thôi Anh Về (10)
Hà Thanh Lịch - Tiếng Hát Khôi Nguyên 3 - Somewhere Cõi Tình (10)
HAI LY - THIEU PHU NGAY THO (10)
Half Moon - Harold Mann (12)
Han Do Ban - Tieng Hat Truong Hai (12)
Hoạ Mi 1 (18)
HOA MI 2 - NHAC YEU CAU THOI TRANG (18)
Họa Mi 3 (1)
Hoa Mi 3 (16)
HOA MI 4 (17)
HOA MI 5 (20)
HOA MI 7 - TINH CA NGUYEN DINH TOAN (17)
Họa Mi 7 - Tình Ca Nguyễn Đình Toàn (1)
HOANG OANH 1 (17)
Hoàng Oanh 1 (1)
Hoang Oanh 2 - Rung Xua (14)
Hoang Oanh 3 (16)
Hoang Oanh 4 (16)
Hoang Oanh 5 (15)
Hoang Thi Tho 1 - Ruoc Tinh Ve Voi Que Huong (18)
Hoang Thi Tho 2 - Viet Nam Nhu Doa Hoa Xinh (20)
Hoang Thi Tho 3 - Dua Em Qua Canh Dong Vang (19)
Hoang Thi Tho 4 (1)
HONG NHUNG - DE GIO DUA VAO LANG QUEN (10)
Hung Cuong - 60 Nam Cuoc Doi (10)
Hung Cuong - Ong Lai Do (10)
Hùng Sơn 1 (18)
Huong Co Nhan (20)
Huong Lan - Hat Tu Coi Nguon (10)
HUONG QUE 1 - TIENG HAT PHUONG DUNG (17)
Hương Xưa 12 - Áng Mây Chiều (16)
Huyền Châu - Anh Ra Đi Mùa Thu (10)
Instrumental (1)
Jo Marcel - Cho Em 1 (1)
Jo Marcel - Cho Em 2 (12)
JO MARCEL - THOI TRANG NHAC TUYEN (25)
Jo Marcel - Tiếng Hát Anh Khoa (1)
Jo Marcel - Tieng Hat Anh Khoa (19)
Jo Marcel - Tieng Hat Khanh Ly (22)
Jo Marcel 04 - Nhạc Trẻ 60 (13)
Jo Marcel 15 - Tho Nhac Vong Co Giao Duyen (27)
Jo Marcel 2 - Cho Em 2 - Toi Muon (12)
JO MARCEL 2 - NHAC TIEN CHIEN (21)
Jo Marcel 20 (22)
JO MARCEL 23 (21)
Jo Marcel 25 (23)
Jo Marcel 26 (21)
Jo Marcel 27 (23)
Jo Marcel 4 - Nhạc Thời Trang (26)
Jo Marcel Nuoc Mat Mua Thu - Tieng Hat Le Thu (20)
Khanh Ha - Coi Tinh (14)
Khanh Ha 25 - Van Vuong (10)
Khanh Ha 39 - Nguoi Tinh Toi Yeu (10)
Khanh Ly & Trinh Cong Son - Quan Van (1967) (15)
Khánh Ly - Bài Tango Cho Em (14)
Khánh Ly - Ai Trở Về Xứ Việt (11)
Khanh Ly - Ban Tango Cuoi Cung (14)
Khanh Ly - Ben Doi Hiu Quanh (10)
Khánh Ly - Bên Ni Bên Nớ (14)
Khanh Ly - Bien Nho (15)
Khanh Ly - Bong Hong Cho Nguoi Nga Ngua (12)
Khánh Ly - Boston Buồn (14)
Khanh Ly - Con Tuoi Nao Cho Em (10)
Khanh Ly - Doc Mo (10)
Khanh Ly - Dung Yeu Toi - Tinh Khuc Vu Thanh An (12)
KHANH LY - GIOT LE CHO NGAN SAU (12)
Khanh Ly - Ha Trang (14)
KHANH LY - HAT CHO NGUOI O LAI (18)
Khanh Ly - Hat Cho Que Huong Viet Nam 1 (26)
Khanh Ly - Hat Cho Que Huong Viet Nam 2 (18)
Khanh Ly - Hat Cho Que Huong Viet Nam 3 (20)
Khanh Ly - Hat Cho Que Huong Viet Nam 4 (19)
Khanh Ly - Hat Cho Que Huong Viet Nam 5 (21)
Khanh Ly - Hat Cho Que Huong Viet Nam 6 (25)
Khanh Ly - Khi Toi Ve (16)
Khánh Ly - Khi Tôi Về (1)
Khanh Ly - La Do Muon Chieu - Tinh Khuc Doan Chuan & Tu Linh (10)
Khanh Ly - Lang Le Noi Nay (10)
Khanh Ly - Lo Chuyen Do (12)
Khanh Ly - Loi Buon Thanh (15)
Khanh Ly - Neu Co Yeu Toi (10)
Khanh Ly - Nhac Sau Tuong Tu (Tinh Khuc Hoang Trong) (12)
Khánh Ly - Như Cánh Vạc Bay (1976) (16)
Khanh Ly - Tam Mat Ngon Song Dao (12)
Khánh Ly - Tango Go Tango (12)
Khánh Ly - Thương Một Người (14)
Khanh Ly - Tinh Lo (10)
Khánh Ly - Tình Thu Trên Cao (10)
Khanh Ly - Trong Tay Anh Dem Nay (15)
Khanh Ly - Tui Nhuc Ca (Ha Thuc Sinh) (14)
Khanh Ly - Tuong Rang Da Quen (10)
Khanh Ly - U Thoi Em Ve (10)
Khanh Ly - Uot Mi (hat tieng Nhat) (14)
Khanh Ly - Vung Lay Cua Chung Ta (12)
Khanh Ly - Xin Mat Troi Ngu Yen (11)
KHI LOAI THU XA NHAU - LE UYEN PHUONG (12)
Kieu Nga & Anh Chuong - Lang Van 80 Nhung Tinh Khuc Tran Thien Thanh (10)
Kieu Nga & Duy Quang - Nga (12)
Kiều Nga & Duy Quang - Người Em Văn Khoa (10)
Kieu Nga & Khanh Ha - Uoc Hen (10)
Kieu Nga & Ngoc Lan - Paris Van Doi (10)
Kieu Nga & Ngoc Lan - Van Mai Yeu Em (11)
Kieu Nga - Asia 8 - Tieng Hat Kieu Nga (13)
Kiều Nga - Người Đẹp Bình Dương 14 - Tiếng Hát Kiều Nga Đặc Biệt (11)
Kieu Nga - Nhung Nu Tinh Xanh (10)
Kieu Nga - Tango Tuyet Voi (10)
Kieu Nga 1 - Doi Con Vang Buoc Em (10)
Kieu Nga 2 - Vi Em Yeu Anh (10)
Kieu Nga 3 - Tinh Tho Puppy Love (10)
Kieu Nga 4 - Khuc Tango Sau (10)
Kieu Nga 5 - Tinh Yeu Con Lai (10)
Kieu Nga 6 - Nhac Phap Yeu Cau (10)
KIM DANG 1 (18)
KIM DANG 2 (18)
Kim Dang 3 (18)
Kim Dang 4 (19)
Kim Dang 5 (38)
KIM LOAN - CAN NHA NGOAI O (12)
Kim Ngân 13 - Chinese Magic (10)
Kim Ngân 14 - Aline (10)
Kim Ngân 15 - Amor Amor - Tình Khúc Julio Iglesias (10)
Kim Ngân 26 - Giấc Mơ Nụ Cười (10)
Kim Tước - Ngàn Năm Mây Bay (12)
La Collection Francaise - Volume 1 (14)
La Collection Francaise - Volume 2 (14)
La Collection Francaise - Volume 3 (14)
La Collection Francaise - Volume 4 (14)
La Collection Francaise - Volume 5 (14)
La Roi Ben Them - Tinh Khuc Le Trong Nguyen (14)
Lang Van - Thu Sau: Ngoc Lan & Huong Lan (9)
Làng Văn 03 - Trưng Vương Khung Cửa Mùa Thu (13)
Làng Văn 08 - Dạ Vũ Nồng Nàn (14)
Làng Văn 100 - Sài Gòn Em Ở Đó ( Kiều Nga & Ý Lan) (10)
LANG VAN 11 - XIN LAM NGUOI TINH CO DON (11)
Làng Văn 123 - Căn Gác Lưu Đày (10)
LANG VAN 188 - MUA XUAN HOA DAO (14)
LANG VAN 29 - TINH KHUC TRAN THIEN THANH (10)
Làng Văn 35 - Loan Mắt Nhung (10)
Làng Văn 54 - Mai Hoa (13)
Lang Van 93 - Ai Ve Song Tuong (12)
Lê Dung - Dạ Khúc (10)
Lê Dung - Họa Mi Hót Trong Mưa (10)
Lê Dung - Kỷ Niệm Vàng Son 1 (10)
Lê Dung - Tiếng Hát Vượt Thời Gian (10)
Lệ Hằng 3 - Nhạc Pháp Trữ Tình (10)
Le Minh Bang 1 - Nhung Tam Hon Co Don (12)
Lê Minh Bằng 4 - Tình Là Sợi Tơ (14)
Le Thu & Si Phu - Tinh Lo (10)
Lệ Thu - Ai Đi Ngoài Sương Gió (9)
Lệ Thu - Album Mùa Thu Cho Em (9)
Lệ Thu - Bước Chân Dĩ Vãng (10)
Le Thu - Nhu Mot Tac Pham De Doi 5 (10)
Lệ Thu - Những Tình Khúc Biệt Ly (13)
Le Thu Tuyen Chon (14)
Linh Va Doi Linh - Duy Khanh (10)
Luu Hong - Ca Phe Dang (12)
Luu Hong - Chut Huong Cho Gio (17)
Luu Hong - Con Gio Thoang (10)
Luu Hong - Doi Nga Doi Ta (10)
Luu Hong - Han Tinh Trong Mua (12)
Luu Hong - Hoa No Ve Dem (12)
Luu Hong - Mua Dem Ngoai O (14)
Luu Hong - Tinh Hong Cho Anh (10)
Luu Hong - Tinh Hong Paris (12)
Luu Hong - Tinh Khuc Lam Phuong (12)
Luu Hong - Yeu Mot Minh (10)
Luu Hong 1 - Loi Cuoi Cho Anh (10)
Mai - Tieng Hat Elvis Phuong (10)
Mai Hương - Bóng Ngày Qua (10)
Mai Huong - Em Con Nho Mua Xuan (10)
Mai Huong - Khuc Nhac Ly Huong (10)
Mai Huong - Nhat Canh Sao Roi (12)
Mai Huong - Tinh Khuc Duong Thieu Tuoc (10)
Mai Huong - Vang Phai May La (12)
Mai Huong Va Nhung Tuyet Pham Doan Chuan Tu Linh (10)
Mai Ngọc Khánh 05 - Cuốn Theo Giòng Đời (12)
Mai Ngọc Khánh 36 - Về Với Em (10)
Mai Ngọc Khánh 9 - Dang Dở (1)
MAI NGOC KHANH 9 - DANG DO (9)
Mai Ngọc Khánh 91 - Vu Quy 8 (14)
Mắt Biếc 03 - Chiều Nghe Biển Hát - Như Mai & Ngọc Lan (10)
May Bon Phuong - Da Vu 1 (20)
May Bon Phuong - Da Vu 3 Mung Xuan (21)
May Bon Phuong - Da Vu 7 (19)
May Bon Phuong - Phi Khanh 2 Tinh Khuc Trinh Cong Son (13)
May Bon Phuong - Tu Ca Chuyen Tinh Buon (14)
May Bon Phuong 10 - Da Vu 5 (20)
Mây Bốn Phương 10 - Dạ Vũ 5 (1)
May Bon Phuong 11 - Em Hien Nhu Ma Soeur (13)
May Bon Phuong 12 - Tinh Ca Nhac Tre Tuoi Tre Buon (13)
Mây Bốn Phương 12 - Tình Ca Nhạc Trẻ Tuổi Trẻ Buồn (2)
MAY BON PHUONG 2 - TIENG HAT PHI KHANH (11)
Mây Bốn Phương 2 - Tiếng Hát PHI KHANH (1)
May Bon Phuong 3 (14)
May Bon Phuong 8 - Mua Thu Khong Tro Lai (16)
May Bon Phuong 9 - Da Vu 4 (21)
May Bon Phuong Da Vu 2 (20)
Mây Bốn Phương Dạ Vũ 2 (1)
May Hong 1 - Tinh Thien Thu (Tinh Khuc Y Van & Y Vu) (16)
May Hong 10 (17)
MAY HONG 2 - 18 TUYET PHAM TRU TINH (19)
May Hong 8 (18)
Mây Ngàn Phương - Thú Đau Thương (10)
Mây Ngàn Phương 18 - Ngày Ta Yêu Nhau (10)
Merci Cherie - Jo Marcel 2 (12)
Mien Duc Thang Va Tieng Hat Viet Nam (19)
Minh Cuong 3 - Tinh Khuc Mua Dong Xa (12)
Misc (4)
Moc Lan - Mot Doi Cho Am Nhac 1947 - 1975 (40)
Mộc Lan - Một Đời Cho Âm Nhạc 1947 - 1975 (1)
Mot Thoang Huong Xua - Tuan Ngoc & Le Thu (12)
Mua Saigon Nang Cali (10)
Mua Thu Oi - Tieng Hat Bich Loan (12)
Muoi Nam Tinh Cu - Tinh Khuc Tran Quang Nam (12)
Neu Xuan Nay Vang Anh (12)
Nghe Thuat Tam Anh - Doan Ket Nhung Chuyen Tinh (18)
Nghệ Thuật Tâm Anh 1 - Những Chuyện Tình Không Đoạn Kết (19)
Nghe Thuat Tam Anh 12 - Tam Anh Tuyen (13)
NGHE THUAT TAM ANH 2 - NHUNG CHUYEN TINH KHONG DI VANG (21)
NGHE THUAT TAM ANH 3 - NHUNG CHUYEN TINH KHONG HOI TIEC (20)
Nghe Thuat Tam Anh 4 - Nhung Chuyen Tinh Khong Suy Tu (20)
Nghe Thuat Tam Anh 5 - Nhung Chuyen Tinh Khong Dam Me (18)
Nghệ Thuật Tâm Anh 6 - Nhạc Chọn Lọc (1)
Nghe Thuat Tam Anh 6 - Nhac Chon Loc (16)
Nghe Thuat Tam Anh 7 - Mau Va Nuoc Mat (20)
Nghe Thuat Tam Anh 8 - Que Huong Va Chien Tranh (21)
Ngo Thuy Mien 3 (1)
Ngoc Cam Nguyen Huu Thiet 1 - Trang Rung Xuong Cau (17)
Ngoc Cam Nguyen Huu Thiet 2 -18 Tinh Khuc Que Huong Yeu Dau (19)
Ngoc Cam Nguyen Huu Thiet 3 (17)
NGOC CHANH 4 - XUAN NAY CON KHONG VE (16)
Ngọc Lan - Buồn (10)
Ngoc Lan - Nguoi Yeu Dau (10)
Ngoc Lan 1 - Tieng Hat Ngoc Lan (12)
Ngoc Lan Chon Loc (1)
Ngoc Minh - Ta Tinh (1)
Ngoc Minh 1 - Anh Giai Phong Toi Hay Toi Giai Phong Anh (11)
Ngoc Minh 10 - Nu Cuoi Son Cuoc (12)
Ngọc Minh 12 - Yêu (10)
Ngọc Minh 15 - Người Yêu Của Lính 2 (10)
Ngoc Minh 19 - Dung Trach Gi Nhau (12)
Ngoc Minh 3 - Dem Khong Cung (10)
Ngoc Minh 6 - Xuan Nghe Si (12)
Người Đẹp Bình Dương 35 - Tuyệt Tác Phẫm (10)
Nguyễn Anh Tuấn - Nắng Úa Tình Tôi (10)
Nguyen Huu Thiet - Tim Mai Thuong Yeu (10)
Nguyen Khang - Dong Doi (17)
Nguyên Khang - Ta Muốn Cùg Em Say (1)
Nguyên Khang - Ta Muốn Cùng Em Say (4)
Nguyen Khang - Ta Muon Cung Em Say (9)
Nguyên Thảo 1 - Mai Đây Hòa Bình (18)
Nguyen Thao 2 (17)
Nguyễn Đình Nghĩa 1 - 22 Giờ Đêm (18)
NGUYET ANH & VIET DZUNG - NGUOI YEU TOI DO (12)
NGUYET ANH - BAI THO TINH VIET TU NGUC TOI (12)
Nguyet Anh - Em Hieu Vi Sao Em Yeu Anh (10)
Nguyet Anh - Thap Lua Yeu Thuong (15)
NGUYET ANH - TIENG GOI NON SONG (11)
Nha Ca 1 - Net Dam Tinh Yeu (19)
Nha Ca 10 - Ngan Nam Tinh Van Dep (20)
Nha Ca 2 (21)
Nha Ca 4 (20)
NHA CA 5 - Y NHAC TINH THO (18)
NHA CA 6 - HUONG YEU (20)
NHA CA 7 (20)
Nha Ca 8 (20)
Nha Ca 9 - Ngay Ve Ke Bui Doi (18)
Nhac Chu De 1970 - Tinh Ca Viet Nam (Nguyen Dinh Toan) (16)
Nhac Linh (2)
Nhạc Tiền Chiến - Chiều Vàng (11)
Nhac Tre - Nhac Hong (28)
Nhac Tre - The Gioi Nhac Tre 1 (18)
Nhac Tre - The Gioi Nhac Tre 2 (21)
Nhac Tre - Tinh Ca Nhac Tre 1 (21)
Nhac Tre 1 - Elvis Phuong va ban Phuong Hoang (19)
Nhạc Trẻ 1 - Elvis Phương và ban Phượng Hoàng (1)
Nhac Tre 2 (19)
Nhạc Trẻ 2 (1)
Nhac Tre 3 - The Godfather (20)
Nhac Tre 4 (17)
Nhac Tre 5 (19)
Nhac Tre 6 - Tieng Hat Thanh Lan (16)
Nhac Tre 7 (16)
Nhac Tre 8 (18)
Nhac Vang 1 - Kich Dong Nhac (43)
Nhac Xuan (1)
Nhật Hạ - Mơ Ai (12)
Nhật Hạ - Những Tình Khúc Tuyệt Vời (12)
Nhat Truong 11 - Chien Tranh Va Hoa Binh (21)
Nhật Trường 12 - Tình Yêu Và Nước Mắt (18)
Nhật Trường 2 - Kỷ Vật Cho Em (14)
Nhật Trường 3 - Tình Yêu Và Ngăn Cách (20)
Nhat Truong 4 (40)
NHAT TRUONG 5 (18)
Nhat Truong 5 Reel (20)
Nhat Truong 6 - Tinh Yeu & Mua Dong (20)
Nhat Truong 7 - Nhung Bai Ca Phu Tinh (19)
Nhat Truong 8 (20)
Nhat Truong 9 (18)
Nhu Canh Vac Bay - tieng hat Khanh Ly (18)
Như Mai - Như Giọt Sương Khuya (10)
Như Mai Productions - Áo Trắng Tan Trường (11)
NHUNG TINH KHUC TIEN CHIEN 1 - BUC HOA DONG QUE (16)
Noi Buon Dang Hien - Tinh Khuc Le Uyen Phuong (10)
Paolo - Nhung Tuyet Pham Volum (10)
Pham Manh Cuong & Tu Quynh Nhac Tuyen 4 (18)
Pham Manh Cuong - Tu Quynh 2 (20)
Pham Manh Cuong 10 - Nhung Bai Ca Gia Tu (20)
Pham Manh Cuong 11 - Huong Xua (19)
PHAM MANH CUONG 12 - NHAC YEU CAU (21)
Pham Manh Cuong 15 - Nhac Si Voi Cay Dan (19)
Phạm Mạnh Cương 15 - Nhạc Sĩ Với Cây Đàn (1)
Pham Manh Cuong 16 - Mau Tim Va Tinh Yeu (20)
Pham Manh Cuong 17 - Khuc Tinh Ca Xu Hue (19)
Pham Manh Cuong 18 - Nhung Bai Ca Thang Ha (18)
Pham Manh Cuong 19 - Que Huong Va Long Me (18)
Pham Manh Cuong 2 - Hoa Voi Nghe Si (21)
Pham Manh Cuong 24 - Da Khuc (20)
Pham Manh Cuong 25 - Thanh Lan - Hat Cho Tinh Yeu Va Tuoi Tre (18)
Pham Manh Cuong 26 - Da Vu Mua Xuan (23)
Pham Manh Cuong 3 - Nhung Tinh Khuc Hom Nay (20)
Pham Manh Cuong 4 - Nhac Va Tho (20)
Pham Manh Cuong 5 - Giot Mua Tren La (20)
Pham Manh Cuong 6 - Nhac Chieu (20)
Pham Manh Cuong 7 - Hat Cho Tinh Yeu (20)
Pham Manh Cuong 8 - Nhung Dieu Thu Ca (21)
Pham Manh Cuong 9 HUONG XA (23)
PhamManhCuong14 - Xuan Que Huong 1971 (21)
Phan Van Hung - 20 Nam (12)
Phan Van Hung - Con Duong Ta Di (12)
Phan Van Hung - Trai Tim La Ben (10)
Phuong Hoang 14 - Ly Ruou Mung (10)
Phượng Hồng - Vùng Trời Mơ Ước (19)
Phượng Nga 19 - Tiếng Hát Phương Hồng Hạnh (1)
Phuong Nga 19 - Tieng Hat Phuong Hong Hanh (11)
Phượng Nga 7 - Bơ Vơ Ngõ Hẹn Hò (10)
Phương Thanh - Thương Một Người : Tình Khúc Trịnh Công Sơn (9)
Premier 1 (22)
Premier 1 - Buồn Trong Kỷ Niệm (1)
Premier 2 (19)
Premier 2 - Một Thuở Yêu Nhau (1)
Premier 3 (16)
Premier 3 - Tấm Ảnh Không Hồn (1)
Premier 4 - Kể Chuyện Tình Yêu (1)
Premier 4 - Ke Chuyen Tinh Yeu (18)
Premier 5 - Quê Hương Và Tình Người (21)
Premier 6 - Những Khúc Tình Ca Muôn Thuở (19)
Quang Dũng - Anh Sẽ Đến (15)
Quang Dũng - Bên Đời Có Em (11)
Quang Dũng - Biển Nghìn Thu Ở Lại (12)
Quang Dũng - Gợi Giấc Mơ Xưa (11)
Quang Dũng - Love Story Live Show (21)
Quang Dũng - Một Người Đi Một Người Quên (10)
Quang Dũng - Tình Cầm (16)
Quang Dũng - Và (11)
Quang Dũng - Xa Vắng (15)
Quang Tuan - 10 Ca Khuc Thanh Trang (10)
Quang Tuan - Bai Tinh Ca Trong Chieu (10)
Quang Tuan - Canh Hoa Duyen Kiep (10)
Quang Tuan - Gui Nguoi Em Gai (10)
Quê Hương Còn Đó Nổi Buồn - Khánh Ly & Sĩ Phú & Mai Hương (12)
Que Huong Viet Nam - Thanh Binh Ve Voi Que Huong (19)
Que Me 1 - Truong Cu Tinh Xua (16)
Quỳnh Giao - Tình Khúc Văn Phụng & Hoàng Trọng (10)
Quynh Lan - Voi Quynh - 11 Tinh Khuc Pham Anh Dung (11)
Recordings (2)
Ru Đời Phù Ảo - Tình Khúc Duyên Anh (12)
Selection Paris 2 - Mộng Phù Du (14)
Shotguns - Bang Vang 1971 (18)
Shotguns - Con Duong Moi 1 (21)
Shotguns 01 (15)
Shotguns 02 - Tiếng Hát Thanh Thúy (9)
Shotguns 05 (18)
Shotguns 09 - Những Tình Ca Thời Chiến (17)
Shotguns 10 - Giang Sinh Va Truyen Ca (18)
Shotguns 10 - Tieng Hat Thai Thanh (16)
Shotguns 11 (17)
Shotguns 12 - Xuân 72 (19)
Shotguns 14 (18)
Shotguns 15 (17)
Shotguns 16 - That Tinh Ca (20)
Shotguns 17 - Thương Ca (18)
Shotguns 18 - Chuyện Tình Love Story (16)
Shotguns 2 - Tieng Hat Thanh Thuy (7)
Shotguns 20 (Tu Quy) (19)
Shotguns 21 - Tuyet Dinh Tinh Yeu (15)
Shotguns 23 - Con Đường Mới (18)
Shotguns 25 - Tân Niên (16)
Shotguns 26 - Tieng Hat Elvis Phuong (17)
Shotguns 27 (16)
Shotguns 28 - Kỷ Niệm Sầu (17)
Shotguns 3 (20)
Shotguns 33 (18)
Shotguns 34 - Tiếng Hát Trúc Mai (18)
Shotguns 35 (18)
Shotguns 37 (16)
Shotguns 38 (17)
Shotguns 7 - Chu De Yeu (15)
Shotguns 7 - Chủ Đề Yêu (1)
Shotguns Bang Vang Ky Niem De Nhat Chu Niem (16)
Shotguns Chon Loc (19)
Shotguns Dac Biet 6 (16)
ShotGuns Tape - Giang Sinh - Noel (1)
Shotguns Xuan 1973 (19)
SHOTGUNS XUAN 74 (18)
SHOTGUNS XUAN 75 (20)
Sĩ Phú - Chờ Em (12)
Sĩ Phú - Còn Chút Gì Để Nhớ (10)
Sinh Hoat Nhac Tre Tung Giang 1 (23)
Sinh Hoat Nhac Tre Tung Giang 2 (25)
Sinh Hoat Nhac Tre Tung Giang 3 (24)
Sinh Hoat Nhac Tre Tung Giang 4 (25)
Sinh Hoat Nhac Tre Tung Giang 5 (23)
Son Ca 1 - Nhung Chuyen Di Mua Ly Biet (18)
SON CA 10 - THAI THANH VA BAN HOP CA THANG LONG (13)
Son Ca 11 - Tieng Hat Phuong Dung (18)
Son Ca 2 - Xuan Hanh Phuc Xuan Nho Nhau 72 (21)
Sơn Ca 3 - Nhạc Giáng Sinh (1)
Son Ca 3 - Nhac Giang Sinh (17)
Son Ca 5 - Tieng Hat Phuong Dung (18)
Son Ca 6 - Tieng Hat Giao Linh (19)
Son Ca 7 - Khanh Ly & Ca Khuc Trinh Cong Son (17)
Son Ca 8 - Tieng Hat Son Ca (19)
Son Ca 9 - Le Thu - Nhung Tinh Khuc Tien Chien (19)
Son Tuyen - Tinh Bo Vo (10)
Song Ngọc 1 - Chuyện Tình Và Kỷ Niệm (19)
Song Ngoc 2 - Nhung Ngay Xua Yeu Dau (1)
Song Ngọc 3 - Hoa Bướm Ngày Xưa (19)
Song Ngoc 4 - Tinh Yeu Va Ngan Cach (20)
Song Ngoc Xuan - Mua Xuan Hanh Phuc (20)
Song Nguyen 5 - Giot Nang Hong (10)
Song Nhac 1 (25)
Song Nhac 2 (22)
Sóng Nhạc 3 (14)
Song Nhac 4 (16)
Sóng Nhạc 5 - Lý Ngựa Ô (23)
Song Nhac 6 - Tieng Hat Phuong Dung (26)
Song Nhac 8 (20)
Ta Ao Xanh - Tieng Hat Si Phu (9)
Tà Áo Xanh - Tiếng Hát Sĩ Phú (1)
TekTronics CD - Comme Un Film - Như Cuốn Phim (10)
Thai Chau - Tinh Lo (6)
Thai Thanh a c (1)
Thai Thanh Tuyet Pham (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 10 (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 11 (9)
Thái Thanh Tuyệt Phẩm 11 (1)
Thai Thanh Tuyet Pham 12 (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 13 (11)
Thai Thanh Tuyet Pham 14 (11)
Thai Thanh Tuyet Pham 15 (11)
Thai Thanh Tuyet Pham 16 (11)
Thai Thanh Tuyet Pham 17 (11)
Thai Thanh Tuyet Pham 2 (9)
Thái Thanh Tuyệt Phẫm 2 (1)
Thai Thanh Tuyet Pham 3 (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 4 (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 5 (9)
Thai Thanh Tuyet Pham 6 (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 7 (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 8 (10)
Thai Thanh Tuyet Pham 9 (10)
Thanh Lan - Ban Tango Dam Say (10)
Thanh Lan - Những Tình Khúc Ưa Thích Nhất (19)
Thanh Lan - Tieng Hat Xon Xao Mong Tinh Dau (18)
Thanh Lan 14 - Mắt Lệ Người Tình : Kim Anh & Duy Quang (12)
Thanh Lan 34 - Khối Tình Trương Chi (14)
Thanh Lan CD 55 - Hoa Xuan (13)
Thanh Mai - Cho Nguoi Toi Yeu (12)
Thanh Phong & Huong Lan - Dung Noi Xa Nhau (12)
Thanh Phong 1 - Dem Tha Huong (13)
Thanh Phong 2 - Tim Ca Rung Chieu (12)
Thanh Phong 3 - Que Huong Ngan Dam (LV53) (12)
Thanh Thuy - Yeu Nhau Tron Doi (14)
Thanh Thúy 03 - Tình Buồn (18)
Thanh Thúy 09 - Nhớ Nhau Thương Nhau Cho Nhau (18)
THANH THUY 1 (18)
Thanh Thúy 10 - Thanh Thúy Đặc Biệt (16)
Thanh Thuy 11 (17)
Thanh Thuy 12 - Duong Nao Len Thien Thai (17)
Thanh Thủy 13 (5)
Thanh Thuý 13 (13)
Thanh Thúy 16 (17)
Thanh Thuy 17 - Quen Nguoi Tinh Cu (16)
Thanh Thuy 18 (17)
Thanh Thuy 2 - Khuc Nhac Tuong Tu (19)
Thanh Thuy 20 (18)
Thanh Thúy 21 (18)
Thanh Thúy 22 - Những Vùng Đất Mang Tên Anh (20)
Thanh Thuy 23 (19)
Thanh Thuy 24 Dac Biet (18)
Thanh Thuy 3 - Tinh Buon (17)
Thanh Thuy 4 (17)
Thanh Thuy 5 - Ve Nguon (18)
Thanh Thuy 6 - Tieng Hat Thanh Thuy (17)
Thanh Thuy 7 - tieng hat Thai Thanh (18)
Thanh Thuy 8 - Tim Quen (16)
Thanh Tuyền - Gọi Người Ngàn Dặm (8)
Thanh Tuyen 3 (20)
Thanh Tuyen-Goi Nguoi Ngan Dam (2)
The Son - Bat Chot Ta Nhin Nhau (11)
Thu Thủy - Nụ Hôn Đầu (13)
Thu Vang - Tieng Hat Phuong Hoai Tam (14)
Thuong Ca 1 - Ky Niem Tinh Yeu (20)
Thuong Ca 2 - Dinh Menh Trong Tinh Yeu (18)
Thuong Ca 4 (16)
Thuong Ca 5 Nhac Tinh Nam Cu (1)
Thuong ca 5 nhac tinh nam cu (2)
Thuong Ca 6 (17)
Thuong Ca 7 - Yeu Trong Thoi Loan (19)
Thương Ca 8 (19)
Thuong Tuong - Tieng Hat Hung Cuong (14)
Thúy Anh 13 - Nhớ Người Tình Xưa - Kiều Nga & Elvis Phương (10)
Thúy Anh 23 - Sa Mạc Tình Yêu (10)
Thúy Anh CD - Anh Là Tất Cả (10)
Thúy Anh CD 21 - Gót Hồng : Kiều Nga & Ngọc Lan & Thái Hiền (10)
Thúy Nga - Giã Biệt Sài Gòn (11)
Thúy Nga Paris 4 - Hoa Cài Mái Tóc (12)
Tien Chien (6)
TIENG HAT ANH KHOA (21)
Tieng Hat Da Huong (10)
Tieng Hat Giang Thu (11)
Tieng Hat Ha Thanh (20)
TIENG HAT MINH HIEU (11)
Tieng Hat Minh Trang (5)
Tieng Hat My The (12)
Tiếng Hát Ngọc Long (1)
Tieng Hat Ngoc Long (17)
Tieng Hat Thanh Vu (1)
Tiếng Hát Thiên Trang - Tình Khúc Anh Bằng (10)
Tieng Hat Van Huong Collection (13)
Tieng Thuy Duong 1 - Gui Tinh Yeu Ve Que Me - Co Kim Hoa Dieu (21)
Tieng To Dong 1 - Nhac Phim (22)
Tieng To Dong 2 (17)
Tieng To Dong 3 - Nhung Tinh Khuc Tango Ua Thich Nhat (22)
Tiếng Tơ Đồng Xuân (19)
Tinh Bo Vo - Tuan Vu & Thanh Tuyen (12)
TINH CA 1 - HOI QUAN CAY TRE (18)
Tinh Ca Bat Tu (16)
Tình Ca Diệu Hương 4 - Cho Dòng Sông Cuốn Trôi (12)
Tinh Ca Doc Duong - 18 Bai Ca Yeu Thuong Sau Muon (19)
Tinh Ca Mua Ha - 1977 (11)
TINH CA PHAM DUY - TIENG HAT JULIE QUANG (10)
TINH CA TREN LUA - NHUNG TINH KHUC QUE HUONG (13)
Tinh Da Vut Bay (1)
Tình Khúc Hoàng Nguyên (10)
Tình Khúc Huỳnh Anh: Khung Trời Tưởng Nhớ (18)
Tình Khúc Ngô Thụy Miên (1)
tinh khuc ngo thuy mien (1)
Tinh Lo (1)
Tinh Nhu May Coi La - Le Uyen & Phuong (9)
Tinh Tam Khuc - Tinh Khuc Hoang Quoc Bao (12)
Tình Đã Vụt Bay (2)
Tini's collection (1)
Tơ Vàng 4 - Thái Thanh: Tiếng Hát Vượt Thời Gian (15)
TO VANG 5 - TIENG HAT CHAU HA (16)
Toi Di Giua Hoang Hon - Kieu Nga & Elvis Phuong & Tuan Anh & Vu Khanh (10)
Trà Mi 4 - Thế Giới Nhạc Tuyển (12)
Trai Tim Ke La - Le Uyen Phuong (10)
Tran Ngoc Duc 1 - Hien Trong Khoi Lua (19)
Tran Ngoc Duc 2 - NHAC KHUC NGAY XANH (20)
Tran Ngoc Duc Gold - Bong Tinh Yeu (18)
Trần Ngọc Đức 3 - Đi Về Phía Mặt Trời (19)
Trang Mỹ Dung - Giọt Buồn Trong Mưa (12)
Trùng Dương Nhạc Tuyển 1 (27)
Truong Hai 10 (17)
Trường Hải 11 (16)
Truong Hai 12 (17)
Truong Hai 14 - Nhac Khieu Vu (21)
Trường Hải 14 pre 75 (15)
Trường Hải 15 - Nhạc Không Chủ Đề (19)
Trường Hải 16 (14)
Trường Hải 17 - Hồn Bướm Mơ Tiên (10)
Trường Hải 3 (1)
Trường Hải 4 (18)
Truong Hai 5 - Tieng Hat Thanh Thuy (17)
Trường Hải 6 (19)
Truong Hai 7 (18)
Truong Hai 8 - Tinh Ca Nguoi Di Bien (15)
Trường Hải 9 (16)
Truong Hai Nhac Tuyen (21)
Trường Sơn 01- Hát Giữa Quê Hương (17)
Trường Sơn 02 - Quê Hương & Tuổi Trẻ (16)
Trường Sơn 03 - Quê Hương Và Người Tình (18)
Trường Sơn 04 (18)
Trường Sơn 05 -Tình Trong Khói Lửa (17)
Trường Sơn 06 - Quê Hương Và Tuổi Lạ (18)
Trường Sơn 07 - Quê Hương - Mùa Trăng - Mùa Thu (18)
Trường Sơn 08 (18)
Truong Thanh 1 - Thuong Nho Mot Nguoi (12)
Trường Thanh 18 - Giây Phút Chạnh Lòng (10)
Truong Thanh 6 - Sau Lu Thu (11)
Tú Phương 3 - Hát Cho Ngàn Sau (14)
TU QUY - LE THU & KHANH LY & DUY TRAC & TUAN NGOC (20)
Tuan Khanh 1 - Tinh Dang Tren Dong Lua Tham (19)
Tuan Ngoc - Hay Yeu Nhau Di 2 (10)
Tuan Ngoc - Kiep Lang Du (12)
Tuan Ngoc - On Em (9)
Tùng Giang - Tôi Với Trời Bơ Vơ (10)
Vang Toc Roi - Tinh Khuc Mai Anh Viet (10)
Vết Thương Sỏi Đá (15)
Viet Dzung - Ben Bo Dai Duong (10)
VN2 - Thuong Qua Viet Nam (18)
VN3 - Rang Dong Tren Que Huong Viet Nam (21)
Vung Hoa Bien - Tieng Hat Anh Khoa (18)
Vy Vân 1 - Làm Sao Quên Được (13)
Vy Vân 4 - Tiếc Một Người (10)
Xin Con Goi Ten Nhau (12)
Xin Con Goi Ten Nhau - Minh Huyen & Duc Long (12)
Xoa Ten Nguoi Tinh 1 - Khanh Ly & Elvis Phuong (14)
Xoá Tên Người Tình 2 - Khánh Ly & Elvis Phương (14)
Xuan Ky Niem 74 (17)
Ý Lan - Phượng Yêu (1)
Đỗ Lễ 2 - Trên Đỉnh Tình Yêu (18)
Đóa Hoa Vô Thường - Nguyễn Hữu Thái Hoà (10)
Đời 11 - Dạ Vũ Biển (11)
Đời 43 - Sao Anh Nỡ Đành Quên (10)
Đời 73 - Dạ Vũ New Wave Màu Tím (10)
Đông Tây 3 - Hãy Dắt Em Về (10)
30/09/2009
Thursday, October 1, 2009
PHONG TRÀO THỢ THUYỀN TẠI TRUNG QUỐC
Phong trào thợ thuyền tại Trung Quốc
Ching Kwan Lee & Eli Fredman
Nguyễn Ước dịch
02/10/2009 1:27 sáng
http://www.talawas.org/?p=10982
Ching Kwan Lee là giáo sư môn xã hội học tại Ðại học California, Los Engeles, và tác giả cuốn Against the Law: Labor Protests in China’s Rustbelt and Sunbelt, (Trái với luật pháp: các phản đối của thợ thuyền ở vòng đai rỉ sét và vòng đai mặt trời tại Trung Quốc), 2007.
Eli Friedman là ứng viên tiến sĩ xã hội học tại Ðại học California, Berkeley.
------------------------------------
Hai chục năm kể từ 1989 đã đưa tới hai phát triển chính trong sinh hoạt vận động công nhân (worker activism) tại Trung Quốc (TQ).
Thứ nhất, tuy công nhân có tham gia cuộc nổi dậy tập thể trong phong trào Thiên An Môn nhưng chỉ là những đối tác phụ thuộc vào sinh viên, và kể từ lúc ấy, sinh hoạt vận động công nhân gần như hoàn toàn giới hạn trong giai cấp công nhân. Trong khi hàng ngũ thợ thuyền nhanh chóng chịu sự khổ sở càng lúc càng tăng (trải rộng từ công nhân trong khu vực quốc doanh cho tới các công nhân nhập cư, migrant workers), và các hình thức cùng sự cố xảy ra trong sinh hoạt vận động công nhân gia tăng gấp bội, thật khó có dấu hiệu nào cho thấy có sự huy động vượt quá lằn ranh giai cấp hoặc các khu vực địa phương.
Thứ hai, chúng ta nhận thấy sức mạnh của công nhân trong vấn đề sản xuất – một sức mạnh mới trước đó được định chế hóa bằng một hệ thống điều hành với các cấp lãnh đạo khôn khéo, tính chất đại diện của công đoàn, quản trị mang tính dân chủ, việc làm dài hạn hoặc thường xuyên và các điều kiện công tác khác, tất cả cùng nhau cấu thành một khế ước xã hội mang tính xã hội chủ nghĩa – ngày càng sa sút và tiếp tục sa sút dài hạn trong khi họ lại có nó rất nhiều (ít nhất trên giấy tờ) ở bên ngoài nơi làm việc. Các luật lệ lao động mới mẻ mở rộng quyền của công nhân và mở rộng các kênh quản lý và luật pháp để giải quyết những xung khắc lao động. Các thủ tục thư lại và luật pháp đó chẻ nhỏ và phi chính trị hóa sinh hoạt vận động công nhân nhưng đồng thời chúng cũng gây ra và làm gia tăng cường độ của sự huy động bên ngoài các giới hạn chính thức.
Ðã biến mất các điều kiện kinh tế và chính trị từng có thời làm cho công nhân có khả năng liên kết với sinh viên. Cuộc đàn áp đẫm máu khởi đi từ Quảng trường Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989 làm nản lòng nhiều nhà trí thức có óc cải cách, những kẻ từ thời điểm ấy buông bỏ ý tưởng cho rằng phong trào quần chúng có thể là phương tiện truyền bá sự thay đổi chính trị.
Diễn biến mang tính quyết định của chính quyền hướng tới sự tự do hóa kinh tế như một phản ứng đối với cuộc khủng hoảng về tính chính thống và các bất mãn xã hội nằm bên dưới cuộc nổi loạn Thiên An Môn, đã sắp xếp lại lợi ích của các giai cấp khác nhau. Trong thập niên 1990, cải cách theo kinh tế thị trường bắt đầu tạo phúc lợi rộng rãi cho rất nhiều thành phần dân chúng TQ và nó có ý nghĩa quan trọng nhất cho người có học cùng người mạo hiểm kinh doanh. Nó đồng thời cũng khiến cho viên chức của nhà nước cộng sản độc đảng được tiếp tục hưởng lợi lớn lao nhờ vị trí ở trong guồng máy chính quyền và các quan hệ của chúng.
Giai cấp công nhân của TQ bắt đầu có nhiều biến thái bên trong, và các thành phần khác nhau của nó đối mặt với những thách đố khác nhau khi sự thay đổi kinh tế chuyển dịch tới trước. Thí dụ, với luồng khổng lồ tư bản nước ngoài đổ vào và sự mở rộng kinh tế tư nhân đưa tới sự hình thành một khối thị trường rộng lớn các công nhân nhập cư – những dân quê lên thành thị, nhập cư làm công nhân hoặc thiên di theo nhu cầu nhân dụng – với tổng số hiện nay lên tới gần 130 triệu người, hoặc phỏng chừng 10 phần trăm dân số TQ.
Vào giữa thập niên 1990, việc “tái cơ cấu” (hay tái cấu trúc, restructuring; nên hiểu là: tư nhân hóa và phá sản) nhiều xí nghiệp kỹ nghệ quốc doanh, cùng với các cải cách lao động liên quan tới sự thay thế việc làm thường trực bằng việc làm theo hợp đồng, đã buông lỏng một thời kỳ thất nghiệp nặng nề, kéo dài một thập niên. Suốt thời kỳ ấy, các công ty xí nghiệp tập thể và nhà nước sa thải khoảng 45 triệu công nhân thành thị. Trong khi đó, tình trạng việc làm thất thường cùng khuynh hướng toàn cầu lại đi lên rất nhanh, thậm chí trong các kỹ nghệ nòng cốt, thí dụ ngành chế tạo ô-tô.
Hiện nay, người lao động do tự mình làm chủ, bán thời gian, tạm thời, thất thường, chiếm tới khoảng 40% dân số thợ thuyền đô thị, và công nhân như một toàn bộ thì ít có sức mạnh để thương thảo (mặc cả). Thế nhưng, cơn thịnh nộ vì tiền lương chưa thanh toán, tiền hưu dưỡng hay trợ cấp còn thiếu, đóng cửa nhà máy, và các điều kiện làm việc nghèo nàn, tiếp tục làm tăng thêm tình trạng bất ổn của công nhân, tuy tùy vào đặc tính địa phương mà rất khác nhau.
Bên trong giai cấp công nhân vẫn dai dẳng sự phân chia nông thôn với thành thị. Các qui chế đăng ký hộ khẩu khác nhau đưa tới những cung cấp khác nhau cho sự sống của thợ thuyền vượt quá tiền lương do việc làm mang lại, và như thế đưa tới kết quả là tạo ra các nhóm quyền lợi khác nhau bên trong giai cấp công nhân. Thật không lấy làm ngạc nhiên khi thấy công nhân quốc doanh hay công nhân không quốc doanh có khuynh hướng dùng lối tiếp cận khác nhau đối với hành động tập thể.
Cuối cùng, việc nhà nước quyết tâm sử dụng đàn áp để chống lại bất cứ cái gì có vẻ là hoạt động vận động công nhân tại các công ty xí nghiệp, đã và đang ngăn chặn sự phát sinh một phong trào của giai cấp công nhân có cơ sở rộng rãi.
Tước quyền ở nơi làm việc và trao quyền cho luật pháp
Vai trò đang biến đổi của công đoàn chính thức đã nói lên một cách hùng hồn sự tước quyền hạn tại nơi làm việc mà người dân TQ phải chịu. Trong nửa đầu của năm 1989, Tổng Công đoàn Trung Quốc (TCÐTQ) cũng bị tác động bởi cơn náo động quét ngang các vạt cỏ trơ trụi của xã hội TQ. Suốt sáu tháng ấy, những thảo luận nội bộ về tính chất tự trị lớn lao hơn của TCÐTQ càng lúc càng tăng nhiệt hơn trong khi một số viên chức của công đoàn gặp gỡ các sinh viên và bày tỏ lập trường ủng hộ các công đoàn độc lập.[1]
Thế nhưng như đã xảy ra tại rất nhiều góc khuất của sinh hoạt cả nước, cuộc tàn sát Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu đặt một dấu chấm hết đầy kịch tính cho việc mở ra những thảo luận về sự tự do hóa lớn lao hơn bên trong công đoàn. Kể từ lúc đó, không lãnh tụ công đoàn nào dám công khai đặt vấn đề về sự phụ thuộc chính thức của TCÐTQ vào Ðảng Cộng sản TQ. Sự kiện ấy có nghĩa rằng, ngoài công tác bảo vệ quyền lợi của người lao động, công đoàn còn có thêm các công tác hàng đầu khác theo đúng mục tiêu đã được thiết lập một cách kiên định của nhà nước, đó là giữ cho xã hội ổn định và đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Hậu quả là TCÐTQ giới hạn việc tích cực ủng hộ các lợi ích của công nhân vào trong một chuỗi những ràng buộc có tính quản lý và luật pháp, được vạch ra một cách lộ liễu và khá nghiêm ngặt – một kịch bản chứng tỏ tình trạng thiếu trầm trọng tính chất thật sự đại diện cho công nhân tại nơi làm việc.
Sự cực kỳ thiếu sức mạnh của công nhân TQ như kẻ sản xuất trực tiếp cũng được minh họa một cách kỳ quặc bằng một vấn đề lan rộng, đó là việc không thanh toán tiền lương. Một bản điều nghiên có thẩm quyền, được thực hiện toàn quốc, do Hội đồng Nhà nước (State Council) công bố, cho thấy năm 2006, gần một nửa (48%) lực lượng công nhân nhập cư được thanh toán đều đặn tiền lương, trong khi đó 52% được báo cáo là không được thỉnh thoảng hay đều đặn thanh toán tiền lương.[2]
Sự kiện việc thu thập tiền lương cho công nhân nhập cư trở thành chủ đề cho một cuộc vận động lớn của cá nhân Thủ tướng Ôn Gia Bảo trong năm 2004, đã làm nổi bật sắc nét sự thiếu những bảo vệ mang tính định chế cho công nhân. Các chuẩn mực lao động của TQ bị nhận chìm trong những vực thẳm mới, từ một chế độ lương bổng thấp nổi tiếng xuống một cuộc khủng hoảng cuộc sống gây ra bởi những công nhân đang không được trả lương cho công sức của mình.
Nếu chính quyền TQ có vẻ nhượng bộ kiểm soát tại nơi làm việc đối với tư bản nội địa và ngoại quốc (trong khi các xí nghiệp quốc doanh sử dụng ngày càng nhiều thêm các chế độ quản trị theo kiểu tư bản), nó cũng chủ trì một quá trình trao quyền hạn qua sự ban hành các đạo luật để công nhân có các quyền hợp pháp mới. Các đạo luật ấy gồm: Luật Lao động Toàn quốc (1995); Luật Công đoàn (2001); Luật Hợp đồng Lao động (2007); Luật Trọng tài và Hoà giải Lao động (2007); và Luật Thăng tiến Việc làm (2007). Mỉa mai thay, công nhân được trao quyền hạn như những cá thể pháp nhân đang hành xử các quyền theo hợp đồng không thể nào giải quyết sự thiếu sức mạnh của mình trong quá trình lao động. Công nhân chỉ có thể tìm kiếm sự bồi thường theo thực tế, và như thế, vẫn còn phó mình cho ý muốn chính trị và (vô) hiệu quả thất thường của Sở Lao động (Labor Bureau) và tòa án.
Vì thế, sự gia tăng số lượng pháp chế lao động dường như trùng khớp với những con số cao hơn các vi phạm lao động, các tranh chấp lao động liên quan tới các tài phán và các vụ kiện, với một ít chứng cớ cho thấy bất cứ cái nào trong những cái đó cũng đưa tới kết quả cải thiện điều kiện lao động. Sự gia tăng ý thức các quyền là năng lực có tính định chế đang phát triển nhanh chóng nhằm đáp ứng hoặc để kiềm chế các yêu cầu của công nhân. Thợ thuyền càng có nhiều quyền hơn trên giấy – và càng nhận biết chúng – hơn trước đây. Nhưng trong thực tế, chúng ít có tác dụng đòn bẩy tại nơi họ làm việc, và sự bảo vệ lợi ích mà may ra họ nhận được từ tòa án hay chính quyền thì thất thường. Thật không đáng ngạc nhiên khi đánh giá rằng những cuộc phản đối của công nhân sẽ không biến mất khỏi cuộc sống của TQ bất cứ lúc nào trong thời gian sắp tới.
Một điều kiện có tính lịch sử cho sự thành công choáng váng mà kiểu thức tư bản chủ nghĩa mang tính chuyên quyền (version of authoritarian capitalism) của TQ đăng ký suốt ba chục năm qua là sự lớn mạnh của thể chế tân tự do toàn cầu (global neoliberal regime) của thương mại tự do cùng lưu lượng tư bản đang gia tăng nhanh chóng. Ðiều ấy tạo ra luồng đầu tư tuôn vào, yêu cầu vô độ các sản phẩm của TQ, các cơ hội việc làm cho công nhân, và không gian cho kinh tế TQ tăng trưởng bằng cách đặt sức ép lên thợ thuyền.
Nhưng giải quyết mọi sự theo cách đó có thể đi tới điểm cạn kiệt. Khủng hoảng kinh tế và tài chính toàn cầu đang đẩy vấn đề nền tảng ấy – sự tước quyền sở hữu của công nhân như kẻ sản xuất trực tiếp – lên trên bề mặt, trong khi trắc nghiệm những giới hạn của lối tiếp cận của TQ vào phát triển. Nếu sự tích lũy phi tập trung thất thường theo cách đó không thể giữ cho bất ổn lao động quá lan rộng và cá biệt hóa để làm thành sự hăm dọa cho hệ thống như một toàn bộ, lúc đó việc đóng cửa trong cùng một lúc các xưởng máy khổng lồ nổ ra bởi thời kỳ suy thoái toàn cầu mới nhất có thể khuấy động những loại khác nhau về mặt phẩm chất của sinh hoạt vận động công nhân.
Thậm chí trước khi đi tới cuộc khủng hoảng vào nửa sau của năm 2008, một số công đoàn hạ tầng cơ sở thấy mình bị ép buộc phải nghĩ ra một kiểu tổ chức mới và sinh hoạt vận động mới, do bởi sự khuất phục đáng chê trách của các thành viên. Hiện nay có những chỉ dẫn cho thấy một số người điều khiển công đoàn cấp công ty xí nghiệp đang dấn thân tích cực hầu bảo vệ lợi ích của các đoàn viên nếu những cuộc phản đối ấy vẫn giữ được tính hợp pháp cao. Trong số đó, đặc biệt đáng chú ý có những nỗ lực nghiêm chỉnh của các lãnh đạo công đoàn tại các cửa hàng Wal Mart ở huyện Nam Chương (Nanzhang) và Thâm Quyến (Shenzhen), nhằm gây sức ép lên ban quản trị bằng chiến thuật thương thảo tập thể.
Các viên chức chóp bu của ÐCSTQ lẫn TCÐTQ đã tỏ cho biết ý muốn rằng các công đoàn sẽ theo đuổi việc thương thảo tập thể – và ý tưởng ấy hiện hữu là để giảm bớt sức ép đòi hỏi phải có những hình thức sinh hoạt vận động cấp tiến hơn. Tuy thế, trường hợp Wal Mart cũng như các trường hợp khác khắp TQ cho thấy các lãnh đạo ở cấp bậc cao hơn của hệ thống chỉ có ý muốn hỗ trợ những sinh hoạt vận động ở hạ tầng cơ sở tới một điểm nhất định. Những lãnh tụ công đoàn cấp công ty xí nghiệp nào thúc ép ban quản trị một cách mạnh bạo và quyết liệt, đều đang bị xem là “không hài hòa” và bị mất hậu thuẫn của nhà nước.
Tóm lại, vấn đề hiện nay là không biết TQ có thể biến cuộc chuyển tiếp từ chiến lược phát triển có tính vắt-ép-lao-động tới một phương pháp mở rộng hơn nhằm cung cấp phúc lợi cho người đáng được hưởng cùng sự cai trị của luật pháp và những bảo vệ căn bản cho thợ thuyền đối với mọi công nhân trên toàn xứ sở. Sự tăng cường và mở rộng những cơ cấu được hợp lý hóa trong việc thương thảo tập thể, và có lẽ một số điều khoản cho các cuộc đình công tập thể, là những chọn lựa mà chính phủ – vốn lúc nào lo lắng ngăn ngừa bất ổn – đang cân nhắc. Nhưng điều đó hẳn đòi hỏi phải buông bỏ niềm tin rằng có thể giải quyết xung khắc xã hội bằng cách luật hoá và quản lý, xa rời hiện thực, và hẳn sẽ đưa tới sự xuất hiện một giai cấp công nhân mới một khi có thêm sức mạnh chính trị có tính tổ chức hơn cái hiện có hôm nay – một viễn cảnh làm hãi hùng hầu hết các lãnh tụ ÐCSTQ. Tuy thế, rốt cuộc kiểu tranh đấu được hợp lý hóa có thể cung cấp nền tảng cho một hình thức ổn định hơn và có khả năng kéo dài hơn của chủ nghĩa tư bản tại Trung Quốc.
Nguồn: Dịch toàn văn từ bài The Labor Movement của Ching Kwan Lee và Eli Friedman đăng trong Journal of Democracy, số tháng Bảy 2009, Volume 20, Number 3, Nxb The Johns Hopkins University Press, Journals Division, Washingon DC, Hoa Kỳ, tt 21-24
Bản tiếng Việt © 2009 Nguyễn Ước
Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog
---------------------------------------------
[1] Jude Howell. “Trde Unionism in Chia: Sinking or Swimming?” Journal of Communist Studies and Transition Politics 19 (March 2003): Có ở www.ihlo.org/LRC/ACFTU/trade_unionism_in_china.pdf.
[2] State Council Research Office Team, Research Report on China’s Migrant Workers (Beijing: Zhongguo Yanshi Publishing, 2006), 116.
PHẢN KHÁNG TẠI NÔNG THÔN TRUNG QUỐC
Phản kháng tại nông thôn Trung Quốc
Kevin J. O’Brien
Nguyễn Ước dịch
01/10/2009 1:30 sáng
http://www.talawas.org/?p=10923
Kevin J. O’Brien là giáo sư môn Nghiên cứu Á châu và Khoa học Chính trị tại Ðại học California, Berkeley. Trong số tác phẩm của ông, có Rightful Resistance in Rural China, (Ðề kháng chính đáng tại nông thôn Trung Quốc), viết chung với Lianjiang Li, 2006, và Popular Protest in China (Phản kháng đại chúng tại Trung Quốc), 2008 (chủ biên).
-----------------------------------
Nông dân Trung Quốc (TQ) không đóng vai trò rộng lớn trong các cuộc phản kháng năm 1989, trừ phi được xem như tầng lớp hậu thuẫn bọc lót sau cùng cho chế độ mà Ðặng Tiểu Bình thấy thích hợp để xách động mỗi khi có cơ hội.[1] Thế nhưng kể từ lúc đó, dân quê bắt đầu phần đóng góp của mình bằng hàng trăm “sự cố tập thể” xảy ra hằng ngày. Hoặc nạp đơn thỉnh nguyện, trình bày chi tiết vụ tham nhũng của cán bộ, tạo sức ép làm tăng cao tình trạng phản kháng chính đáng chống lại việc thu các lệ phí bất hợp pháp hoặc thậm chí lao mình vào các cuộc đụng độ bạo động chống lại việc chiếm đất; cư dân nông thôn cho thấy ý nguyện muốn xúc tiến vấn đề với một sức mạnh mạnh mẽ hơn những gì được người ta kỳ vọng trong các tháng đàn áp tiếp theo sau biến cố Thiên An Môn ngày 4 tháng Sáu năm 1989.
Tình trạng bất ổn ấy nổ ra phần nào bởi một nhân tố quen thuộc với các sinh viên tranh đấu chính trị trước đây: cơ hội. Giống với những kẻ chịu khổ sở ở khắp nơi, nông dân TQ phản ứng lẹ làng mỗi khi có cơ hội thuận lợi hoặc họ cho là thuận lợi. Hễ lúc nào chính quyền nới lỏng kiểm soát việc bày tỏ ý kiến và sinh hoạt chính trị lên xuống thất thường, nông dân là một trong những giới hưởng thụ lớn lao nhất sự lơi lỏng đó.
Lúc mới bắt đầu giai đoạn cải cách, việc chấm dứt cuộc “đấu tranh giai cấp” và công xã từng được định chế hóa đã khiến cho nông dân ít sợ và ít lệ thuộc vào các lãnh đạo địa phương. Gần đây hơn, việc thị trường hóa và đi lại gia tăng đã ban cho dân quê nhiều không gian hơn để vận dụng, trong khi đó, các cuộc bầu cử hạ tầng cơ sở và các cải cách pháp luật tạo điều kiện phản kháng những hà lạm mới cũng như những che chở hơn để chống lại sự trả đũa. Dù vẫn còn nhiều loại thỉnh cầu bị cấm triệt để và Bắc Kinh vẫn giữ thái độ thù nghịch không chút nhân nhượng các đệ tử Pháp Luân Công, “bọn chủ trương ly khai” tại Tây Tạng và Tân Cương và bất cứ kẻ nào dám tổ chức một đảng chính trị mới, giới lãnh đạo chóp bu của Ðảng theo những quãng cách nhất định, phát tín hiệu rằng những gì đang được nông dân kêu ca thật ra đều hợp pháp. Những cái đó bao gồm các quan tâm liên can tới tham nhũng, việc áp dụng luật pháp mang tính chọn lựa và sinh kế của người dân.
Nhưng sự nới lỏng chính trị và thay đổi kinh tế-xã hội không hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính chất bột phát trong đấu tranh tại nông thôn. “Các thủ lãnh nông dân” khôn khéo biết nhanh chóng nắm lấy cơ hội và trong vài trường hợp tiêu biểu, họ mở rộng tầm cỡ của cơ hội thuận lợi ấy, góp phần “huých cùi chỏ”, đẩy các kiểu mẫu từng có thời bị cấm vào một cảnh giới có thể chấp nhận được. Như thế, sự đề kháng kinh niên đó có phần nào là sản phẩm mang tính quyết định, được hình thành bởi những người tổ chức phản kháng tài giỏi, biết cách uốn nắn các thỉnh cầu, vận động người đi theo mình và điều phối các hành động thách thức, và (thỉnh thoảng tùy cơ hội) nâng hành động lên vượt quá đường biên của một cộng đồng riêng lẻ.
Ðối mặt một cuộc xung đột dài ngày, những người sinh hoạt vận động nông dân ấy trắc nghiệm thường xuyên chân lý của danh ngôn: “Náo động lớn sinh kết quả lớn, náo động nhỏ sinh kết quả nhỏ, không náo động không sinh kết quả.” Trong khi nhiều người trả giá cho lòng dũng cảm của mình – việc đánh đập, bắt bớ, giam cầm vẫn có tính phổ biến – những người khác tiếp tục chĩa mũi dùi tranh đấu, theo sự thúc giục của một cộng đồng thường ca tụng thủ lãnh phản kháng là “anh hùng” nếu người ấy đương cự, hoặc chê bai là “hèn nhát”, thậm chí “phản bội” nếu người ấy lùi bước.[2]
Các thủ lãnh phản kháng được nhận thức ra sao bởi người đi theo mình và họ bị bình phẩm như thế nào bởi những người quan sát có quan tâm? Người ta dễ nhận rõ hơn câu trả lời trong hậu thuẫn của đại chúng, bằng sự quyên góp tiền bạc phẩm vật và cơn hứng khởi của dân làng khi hành động như kẻ bảo vệ hoặc dám liều mình giải cứu khi có người hoạt động bị bắt giữ. Trong những năm vừa qua, việc đàn áp nặng tay đôi khi mang lại kết quả trái ngược. Thay vì khiến cho “những tên gây rối” bị cô lập, nó lại làm cho họ nổi tiếng thêm và có uy tín hơn. Cho dù đe dọa, đánh đập, phạt vạ, tịch thu đồ đạc có giá trị và công khai nhục mạ có mục đích chấm dứt lẹ làng một sự cố và làm mất tinh thần kẻ can dự, sự đàn áp cũng cung cấp bằng chứng cho thấy cái giá mà những người hoạt động sẵn sàng chấp nhận trả và tinh thần vì công chúng của họ. Thậm chí những án tù dài ngày cũng không thể làm suy giảm địa vị của họ, thay vào đó, chúng còn khiến cho dân chúng sinh lòng ngưỡng mộ họ; bằng chứng hiển nhiên là có khi cả ngàn người túa ra cử hành cuộc đón mừng ngày trở về nhà của một thủ lãnh phản kháng được tại ngoại.[3]
Sự công nhận của xã hội có thể biến quyết tâm của người hoạt động thành sắt thép và còn đưa tới một thách đố mang tính tinh thần hơn. Cùng với thời gian trôi qua, nhiều người hoạt động đi tới kết luận rằng các hình thức tranh đấu tương đối mềm dẻo (thí dụ đệ nạp đơn thỉnh nguyện) đều chẳng mang lại kết quả nào, và rằng các chiến thuật mạnh mẽ và bắt phải chú ý (thí dụ chặn một con đường hay tổ chức biểu tình ngồi) là cần thiết. Các thí dụ cho những chiến thuật đương đầu gồm gắn loa phóng thanh vào các xe nhỏ chở đồ (pickup truck) để phổ biến cho công chúng biết những chính sách ích lợi đang bị [chính quyền] bỏ lơ; yêu cầu hội họp với chủ trường để gây sức ép làm đảo ngược việc tăng học phí; và bao vây viên chức thu thuế như một khúc dạo đầu nhằm đuổi đi. Khác với những năm trước đây, khi các thủ lãnh phản kháng thường có thái độ tiêu biểu là hướng tới những viên chức cấp cao hơn để thỉnh cầu sự giúp đỡ nhằm lành mạnh hóa tình trạng quản lý tồi tệ tại địa phương mình, giờ đây họ muốn thách thức trực tiếp hơn với chính quyền đồng thời tìm kiếm sự nhượng bộ tại chỗ và tức thời.
Bạo động cũng đang gia tăng.[4] Gần đây đã xảy ra một số đụng độ giữa nông dân và chính quyền địa phương về các vấn đề, thí dụ nơi đặt nhà máy điện trên đất trong xã hoặc không chịu triệu hồi viên chức tham nhũng. Còn nữa, có không ít sự cố dẫn tới con số thương vong có ý nghĩa quan trọng khi công an vũ trang hoặc côn đồ địa phương tới đàn áp người biểu tình.
Cũng trong khoảng thời gian ấy, Vu Kiến Vanh (Yu Jianrong), chuyên viên nghiên cứu thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc lập hồ sơ về những cuộc phản kháng “ngẫu nhiên”, ban đầu không có dự tính nhưng rồi lại lan rộng vì dân chúng bị khích động mà thành. Những nổ bùng, bất chợt lóe lên theo “cơn gió thịnh nộ”, thông thường phát sinh chủ yếu do bởi tia lửa ngẫu nhiên xẹt tới. Mùa hè năm ngoái, hàng chục ngàn người nổi loạn khi người ta tìm thấy xác một thiếu nữ bị giết ở huyện Ủng An (Weng’an), tỉnh Quí Châu (Guizhou), cho thấy tình trạng gia tăng “các bất mãn tích lũy” và “thất vọng xã hội” tại một số địa phương.[5] Nó cũng gợi cho thấy rằng những căng thẳng đang nằm bên dưới có cơ hội gia tăng trong thời kỳ suy thoái kinh tế hiện nay khi hàng triệu công nhân thất nghiệp từ thành thị trở về thôn quê.
Nhưng phải chăng nông thôn TQ sắp sửa nổ tung? Không có khả năng ấy. Các cuộc tranh đấu hầu hết đều rất yếu về mặt tổ chức và hiếm khi có sự hợp tác vượt qua lằn ranh giai cấp – dù đang có sự can dự ngày càng tăng của các nhà trí thức xã hội và “luật sư bảo vệ các quyền” vào các vụ phản kháng ở nông thôn. Những thỉnh nguyện ấy có khuynh hướng tự chế trong các giới hạn, và hành động đại chúng ấy thường chỉ ở qui mô nhỏ, mang tính địa phương. Thậm chí dù có kể tới các phát triển của chúng đi nữa, thí dụ việc kêu gọi tư nhân hóa đất canh tác đang lan rộng ở Hắc Long Giang, Hồ Nam và Nội Mông năm 2008, thì những đòi hỏi có cấp độ rộng lớn và có lãnh đạo lâu dài là trường hợp ngoại lệ. Và hiện ít có dấu hiệu của sự liên kết, phạm vi và phối hợp, là những yếu tố cần thiết cho một phong trào xã hội kéo dài. Các phản kháng ở nông thôn đóng vai trò tự vệ chống lại hành động bị bứng khỏi đất đai của mình, làm chệch hướng động thái cướp bóc hà lạm, xua đuổi các cán bộ không được dân chúng ưa thích, nhưng ít có bằng chứng cho thấy nó tạo thành một sự đe dọa sắp sửa xảy tới cho chế độ.
Sự kiện các cấp bộ của Ðảng Cộng sản chịu đựng rất nhiều cuộc tranh đấu ở nông thôn là dấu hiệu cho thấy sự tự tin của Đảng. Cùng với đôi chút thanh lý trách nhiệm [của viên chức địa phương] nhờ có các cuộc bầu cử xã ấp, sách lược chính thống hóa theo kiểu đi dây của chế độ trong đó cho phép có một mảng bất đồng ý kiến như một yếu tố của nó, và nó phản ánh đức tin của Đảng rằng có thể giữ mọi sự trong tầm kiểm soát và vận dụng của mình. Chính quyền các cấp vẫn còn có sức mạnh lớn lao để tùy ý sử dụng, và họ có thể phóng ra sức mạnh lấn lướt đó một khi họ kết luận rằng các lợi ích cốt tủy đang lâm nguy. Lúc ấy, các cơ hội thuận lợi lập tức bị đóng lại và các “khu vực cấm” mới mẻ được tuyên bố (hoặc thực hiện trở lại cái cũ).
Tới lúc nào đó, nếu trung ương bắt đầu đối xử với những bất mãn của nông dân giống như họ đang đối xử với những người ủng hộ Tây Tạng và Pháp Luân Công, lúc đó chúng ta biết rằng giới lãnh đạo đang rúng động và thậm chí có thể chế độ đang suy yếu. Giống như tại Ba Lan tiếp theo sau cuộc đàn áp Phong trào Ðoàn kết, đôi khi sự thiếu phản kháng, chứ không phải nhiều phản kháng, có thể là một dấu hiệu cho thấy chế độ đang lung lay. Tại TQ hôm nay, sức ép đang được hình thành, có thể nhanh hơn nó bị xả ra; và việc quan sát cuộc tranh đấu ở nông thôn cùng với cách thức xử lý nó là một cách tốt để xem hệ thống chính trị ấy vững chắc – hay dễ gãy đổ – như thế nào.
Nguồn: Dịch toàn văn từ bài “Rural Protest” của Kevin O’Brien, đăng trong Journal of Democracy, số tháng Bảy 2009, Volume 20, Number 3, Nxb The Johns Hopkins University Press, Journals Division, Washingon DC, Hoa Kỳ, tt. 25-28.
Bản tiếng Việt © 2009 Nguyễn Ước
Bản tiếng Việt © 2009 talawas blog
--------------------------------------------
[1] Xem, thí dụ, các diễn văn của Ðặng Tiểu Bình ngày 25 tháng Tư và 16 tháng Sáu năm 1989: Deng Xiaoping Nianga, 1975-1997 [Chronicles of Dang Xiaoping, 1975-1977] (Beijing: Zhongyang Wensian Chubanshe), 1273; và Selected Works of Dang Xiaoping, Vol III, 1982-1992 [Beijing Foreign Language Press, 1994), 30].
[2] Về bối cảnh nhân khẩu học và các đặc điểm của những thủ lãnh phản kháng, xem Kevin J. O’Brien và Lianjang Li, Rightful Resistance in Rural China (New York: Cambridge University Press, 2006), 88-90, 135-37.
[3] Một số nơi trong tỉnh Hồ Nam vào cuối thập niên 1990, địa vị xã hội của các thủ lãnh phản kháng đã vượt quá địa vị của các viên chức hạ tầng cơ sở. Nhiều dân làng ca tụng những người hoạt động ấy như là kẻ bảo vệ mình và hiến cho họ những bữa ăn miễn phí, chào đón họ như thân nhân ruột thịt mỗi khi họ ghé thăm. Một trong các thủ lãnh phản kháng tại Hành Dương (Henyang) được hưởng sự rộng lượng này, đã nói rằng ông được đối xử tốt hơn chủ tịch địa phương, người mà dân chúng không còn mời uống nước trà, thậm chí không mời ngồi. Phỏng vấn bởi Lijiang Li, 2003. Ðể biết thêm về đàn áp và hiệu quả của nó trên sự hậu thuẫn của đại chúng, xem Lianjiang và Kevin J. O’Brien, “Protest Leadership in Rural China”, China Quarterly 193 (March 2008): 17-27.
[4] Zhao Shukai, “Lishixing tiaozhan: Zhonguo nongcun de chongtu yu zhili” (A historial challenge: Conflicts and government in rural China, Thách thức lịch sử: Các xung khắc và chính quyền tại nông thôn Trung Quốc) trong Ru Xin et al.,eds., 2004 Nian: Zhonguo shehui xingshiyuce yu fenxi (2004: Forecasts and analyses of social trends in China, 2004: Các dự báo và phân tích những khuynh hướng xã hội tại Trung Quốc) (Beijing: Shehui Kexue Wenxian Chubanshe, 2004), 212-23. Về tranh chấp đất đai dẫn tới bạo động và xung khắc trên qui mô lớn như “rất có khả năng bùng nổ tại nông thôn chống lại các khu vực thành thị,” xem Yu Jiarong, “Social Conflict in Rural China, Xung khắc xã hội tại nông thôn Trung Quốc,” China Security 3 (Số Mùa xuân 2007): 3, 7.
[5] Yu Jiarong. “Emerging Trends in Violents Riots, Những khuynh hướng đang xuất hiện trong các cuộc nổi loạn bạo động,” China Security 4 (Số Mùa hè 2008): 75-76.
HUY ĐỨC điểm sách MAO TRẠCH ĐÔNG - NGÀN NĂM CÔNG TỘI
Quốc Khánh Trung Quốc
Ô Sin
October 01 2009
http://www.blogosin.org/?p=1029
Hôm nay, trong cái ngày mà Bắc Kinh gọi là quốc khánh, chắc chắn chính quyền Trung Quốc chỉ nói về sự trỗi dậy suốt hơn hai thập niên qua và những đích đến phỉnh nịnh cơn thèm khát của nhiều người dân mộng bá quyền Đại Hán. Mao Chủ Tịch vẫn cười tủm tỉm trước cửa Thiên An Môn. Sáu mươi năm trước Mao đã thắng trong một cuộc chiến “da thịt tàn nhau”, đuổi Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan. Người dân Trung Quốc được dạy đấy là công lao. Nhưng, rồi nhiều người trong số họ cay đắng nhận ra đó là ngày Mao bắt đầu biến Đại Lục thành địa ngục.
Sau đây là những thông tin lấy từ cuốn Mao Trạch Đông Ngàn Năm Công Tội, được viết bởi một nhà nghiên cứu và giảng dạy tại Học viện quân sự cấp cao Trung Quốc, đại tá Tân Tử Lăng.
Đại tá Tân Tử Lăng viết: “Mọi sai lầm lớn của Mao như giết hại công thần, gây bè phái trong đảng, bám chặt lấy chế độ lãnh đạo suốt đời và gia đình trị, dung túng phe đảng Giang Thanh, đều thuộc thuật cầm quyền của vua chúa”. Nhưng, cho dù lịch sử Trung Hoa có không ít hôn quân, có lẽ không một thiết chế nào trước đó cho phép một con người có thể táng tận như Mao tồn tại. Tháng 8-1958 khi cả nước mới chỉ sản xuất được 4,5 triệu tấn thép, Mao ra lệnh năm ấy phải nâng sản lượng thép lên 11 triệu tấn. Mao nói: “Phải chuyên chế, phải kết hợp giữa Karl Marx và Tần Thuỷ Hoàng”. Có lẽ không có nhà lãnh đạo quốc gia nào như Mao, ra lệnh “gom phế liệu và tháo dỡ cả đường sắt để đúc thép nhằm hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng”.
Cho dù các con số sắt thép làm ra chỉ là những báo cáo dối trá, việc huy động những người khoẻ mạnh đi làm “gang thép” đã khiến cho thóc lúa hư hỏng ngoài đồng không có người thu hoạch. Ở huyện Tỉnh Nghiên, Tứ Xuyên, năm 1959, vào lúc đói kém nhất, bình quân mỗi ngày một người chỉ được phân phối 100 gam lương thực; cứ 8 người dân, có một người chết đói. Sau gang thép, Mao phát động cao trào “đại tiến vọt” lần hai. Ngày 3-9-1958, Mao tuyên bố: “Sản lượng lương thực có thể tăng lên 370 triệu tấn, gấp 2 lần năm ngoái. Nếu năm 1959 lại tăng gấp 2 lần thì sản lượng lương thực sẽ là 750 triệu tấn”. Khi các địa phương báo lên sản lượng lương thực không những tăng mà còn xấu hơn, Mao sợ bẽ mặt bèn cho rằng ‘lương thực bị giấu bớt” rồi hăm: “Phải tiến hành một đợt giáo dục kiên quyết”. Để quán triệt tinh thần kiên quyết của Mao, Khu uỷ Tín Dương, tỉnh Hà Nam tập họp 6.000 người để đấu tố 60 người “giấu bớt lương thực” không nộp cho nhà nước. Nhưng, chính những người đi dự hôm ấy cũng đang không có lương ăn, một người chết đói tại chỗ, 19 người chết trên đường về nhà. Trên tinh thần ấy, tỉnh Hà Nam dù thu hoạch 9,75 triệu tấn vẫn báo cáo lên 22,5 triệu tấn. Năm 1959, trên toàn quốc, theo báo cáo: 270 triệu tấn lương thực, thực tế chỉ có 170 triệu tấn; năm 1960 giảm còn 143 triệu tấn.
Theo đại tá Tân Tử Lăng, mùa xuân 1960 nạn đói tràn lan, có làng 80 ngày người dân không có một hạt gạo vào bụng, vậy mà Bí thư Khu uỷ Tín Dương vẫn lên giọng: “Không phải thiếu lương thực, 90% là vấn đề tư tưởng”. Trước đó, khi Bí thư tỉnh uỷ An Huy Trương Khải Phong cho giải tán 4.000 nhà ăn tập thể vì không còn lương thực, Mao phê vào báo cáo: “Trương Khải Phong đứng trên lập trường giai cấp tư sản, mưu toan phá hoại nền chuyên chính vô sản”. Khu uỷ Tín Dương sau đó lại càng “chuyên chính” hơn, phong toả, không cho dân chúng ra khỏi làng. Theo tài liệu do Bộ Chính trị Trung Quốc “giải mật” sau này, những năm ấy Tín Dương có hơn một triệu người chết đói. Trịnh Đại Quân, một cán bộ Ban Công tác nông thôn huyện Sùng Khánh kể rằng, một đội sản xuất có 82 hộ, chỉ trong một năm, từ tháng 12-1959 đến 11-1960 có 48 bé gái 7 tuổi trở xuống bị người lớn làm thịt, chiếm 90% số bé gái cùng độ tuổi. Trịnh Đại Quân kể, người ta phát hiện ra vụ ăn thịt trẻ em đầu tiên do toán điều tra nhìn thấy “một làn khói mỏng toả ra từ mái nhà bần nông Mạc Nhị Oa”. Họ bao vây, vu hồi, rồi đồng loạt nhảy vào: “Nhà Nhị Oa 8 nhân khẩu, đã chết đói 2, nhưng chỉ còn lại 5. Bé gái Thụ Tài đang bị luộc trong nồi. Trong lúc tổ tuần tra tìm dây trói can phạm, Nhị Oa và mấy đứa con lao vào cướp thịt Thụ Tài nhai ngấu nghiến”. Nạn ăn thịt trẻ con sau đó còn lan ra: “Kẻ nhẫn tâm thì ăn thịt con ngay tại nhà mình. Kẻ mềm yếu hơn thì gạt nước mắt đổi con với hàng xóm”… Nạn đói có thể không tới mức như vậy nếu như tháng 6-1959 mặc dù tình hình lương thực giảm, Mao vẫn quyết định xuất khẩu 4,19 triệu tấn để lấy vàng và đô la. Theo số liệu chính thức do Bộ Chính trị Trung Quốc giải mật tháng 9-2005, sau 4 năm Mao phát động “cao trào xã hội chủ nghĩa ở nông thôn” có tới 37,55 triệu người chết đói.
Nhưng, “đói” chưa phải là bi kịch lớn nhất của người Trung Quốc. Ngày 30-4-1957, Mao gặp đại diện trí thức, động viên góp ý cho Đảng, giúp sửa chữa sai lầm. Mục tiêu của Mao là dùng đại hội này để xác lập vị trí lãnh đạo tư tưởng của mình trong giới trí thức, nhưng tình hình diễn biến không như Mao trông đợi. La Long Cơ, Bộ trưởng Lâm Nghiệp, lãnh tụ của giới trí thức từ Âu- Mỹ trở về phát biểu rằng: “Tiểu trí thức chủ nghĩa Marx- Lenin lãnh đạo đại trí thức của giai cấp tiểu tư sản là người mù chỉ đường cho người sáng mắt”. Mao nổi giận. Một mặt vẫn cho thảo luận để “dụ rắn ra khỏi hang”. Một mặt, dựng lên “Vụ án chống đảng”. Theo thống kê của Trung Quốc, có 552.877 trí thức là nạn nhân của “vụ án” do Mao lập ra này.
Nhưng, Cách mạng văn hoá mới là trung tâm của địa ngục. Cuộc Cách mạng do những thanh niên bị kích động được gọi là Hồng vệ binh, chỉ riêng hạ tuần tháng 8-1966, khi mới bắt đầu, “nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi. Nhiều người khi ấy được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người man rợ thời trung cổ”. Cả nước có 10 triệu gia đình bị lục soát. Sinh viên sư phạm Bắc Kinh kéo về Sơn Đông “san bằng” mộ Khổng Tử. Lăng mộ Hạng Vũ, Gia Cát Lượng, Ngô Thừa Ân… cũng bị đập phá. Ngay đến một người bạn chiến đấu của Mao, đang là Chủ tịch Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, ông Lưu Thiếu Kỳ, cũng bị Mao bỏ mặc cho Hồng vệ binh tàn sát. Năm ấy ông Lưu đã 69 tuổi, tay bị thương khi cùng Mao chiến tranh, tận mắt chứng kiến vợ là Vương Quang Mỹ bị bắt giam; ba người con đang tuổi đi học bị đưa vào trường thẩm tra; bé út 6 tuổi phải theo bảo mẫu ra khỏi Trung Nam Hải. Ông Lưu, bị giam ngay trong phòng Chủ tịch Nước, với 7 cái răng còn lại, cơm ăn thì thường là thiu, ông bị tiêu chảy, lại không thể thay quần áo, trong phòng hôi nồng. Đã thế, ngày nào cũng bị đấu tố, hạ nhục rồi bị lưu đày cho đến khi chết đau đớn hơn cả một kẻ ăn mày. Cuộc Cách mạng văn hoá kéo dài 10 năm đã lấy thêm sinh mạng của gần 20 triệu người dân Trung Quốc.
Đại tá Tân Tử Lăng giải thích: Thoạt đầu Mao làm “đại tiến vọt” để đưa Trung Quốc vượt qua các nước phương Tây hòng làm ‘lãnh tụ thế giới”. Khi thất bại, dẫn tới cái chết của hàng chục triệu dân thì Mao lại làm tất cả mọi việc để hòng che đậy những sai lầm ấy. Đại tá cho rằng: “Không có sai lầm của đại tiến vọt thì không có đại cách mạng văn hoá để bức hại Lưu Thiếu Kỳ, gạt bỏ Lâm Bưu, phế truất Đặng Tiểu Bình… nhằm đưa Giang Thanh lên nắm quyền”. Theo Đại tá: “ Mao truyền ngôi cho Giang Thanh là bất đắc dĩ. Nhưng, Mao cần có hai thế hệ: Giang Thanh và Mao Viễn Tân, đủ để viết lại lịch sử, chối phắt trách nhiệm làm 37,55 triệu người chết đói”.
Cuốn sách mô tả rất chi tiết những mưu mô của Mao. Nhưng, đại tá Tân Tử Lăng cho rằng nếu như người dân có tiếng nói, các thiết chế đảng và nhà nước có tiếng nói, những người có lương tri nói lên sự thật với Mao không bị quy kết là “chống Đảng” thì Mao không thể gây ra những tội ác đau thương cho nhân dân, cho đồng chí của mình như thế. Thật cay đắng khi theo đại tá Tân tử Lăng, chỉ khi “vị cứu tinh” chết đi nhân dân Trung Quốc mới có đường để sống. Những cải cách mà Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đặng Tiểu Bình khởi xướng là thực hiện lại một phần những gì mà người dân Trung Hoa đã có từ trước ngày 1-10-1949. Đại tá Tân Tử Lăng lý giải: “Chỉ cần trả lại quyền lợi và tự do cho nhân dân, tự họ sẽ lựa chọn con đường phát triển và sáng tạo tương lai xán lạn”.
Cuốn sách được xuất bản tháng 7-2007 và tái bản tháng 6-2008 tại Hong Kong, nhưng đã gây chú ý đặc biệt và gây tranh cãi trong người dân Đại lục. Có lẽ vẫn có những người dân Trung Quốc ngưỡng mộ Mao; có lẽ vì hơn 60 năm qua họ đã được dạy Mao là người vĩ đại; có lẽ họ không muốn phủ nhận chính họ vì một thời họ đã tôn sùng Mao, đã trở thành Hồng vệ binh gây nhiều tội ác. Nhưng, có lẽ, cũng có nhiều người Trung Quốc tự hỏi, nếu như không có ngày 1-10-1949, Trung Quốc có phải trải qua 3 thập kỷ địa ngục như vậy không. Lịch sử không có chữ “nếu”, cho dù có ai đó đang nghiên cứu về con đường mà Việt Nam lẽ ra đã đi nếu như Mao không nắm quyền kể từ năm 1949.
Nghe nói Thông Tấn Xã Việt Nam mới cho dịch và xuất bản cho các cơ quan, đơn vị cuốn sách của Đại tá Tân Tử Lăng. Mục tiêu của Thông tấn Xã Việt Nam thường không phải kinh doanh. Hy vọng là đã có nhiều người Việt Nam đọc được.
Huy Đức điểm sách
---------------------------
MAO TRẠCH ĐÔNG NGÀN NĂM CÔNG TỘI (nhanquyen)
MAO TRẠCH ĐÔNG : CÔNG LAO HƠN ĐỜI, TỘI ÁC TÀY TRỜI
Kỷ niệm ngày 1-10, quốc khánh Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa:
Lời tựa cho cuốn Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội*
Công lao hơn đời, tội ác tày trời
Lý Nhuệ (Trung Quốc)**
Cải cách và mở cửa trong hơn hai mươi năm qua, giống như múa ương ca, không thể tiến thẳng một mạch, xét cho cùng là do sự quấy rối không ngừng của “tả”, bao giờ cũng có người nói thế này thế nọ, thậm chí còn gây sự, giương ngọn cờ Mao Trạch Đông để công kích đường lối và chính sách đúng đắn. Cuốn sách Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội của Tân Tử Lăng***, căn cứ vào di ngôn của Đặng Tiểu Bình, đưa việc đánh giá Mao đi vào chiều sâu, là đột phá quan trọng trong lĩnh vực hình thái ý thức từ ngày cải cách mở cửa đến nay, đập tan triệt để hai cái khẩn cô chú dọa người được gọi là “phản đối con đường xét lại” và “ngăn ngừa chủ nghĩa tư bản phục hồi” do Mao Trạch Đông để lại, làm cho phái cải cách giành được quyền ăn nói, tranh được địa vị chính thống lịch sử. Từ nay trở đi, có thể quang minh chính đại, có lẽ phải không sợ, thúc đẩy sự nghiệp cải cách mở cửa, không bao giờ phải dùng ngọn đèn “tả” để rẽ phải (hữu) nữa. Bút pháp khúc chiết của tác giả kiêm thêm bình luận, nhất là những trình bày lý luận của phần “Mở đầu” và “Lời kết thúc” cực có sức thuyết phục, đã để lại cho tôi ấn tượng sâu sắc.
“Lời kết thúc”cuốn sách này chỉ rõ: “Nhảy vọt lớn và Đại cách mạng văn hóa vô sản là sự phát triển ác tính của chủ nghĩa xã hội bạo lực Mao Trạch Đông. Ba năm nhảy vọt lớn, cả nước có 37, 55 triệu người bị chết đói. Tổn thất khoảng 320 tỷ NDT. Mười năm cách mạng văn hóa, theo cách nói của Diệp Kiếm Anh tại lễ bế mạc hội nghị công tác TW ĐCSTQ tháng 12 năm 1978 là đã chỉnh 100 triệu người, làm chết 20 triệu người, lãng phí 800 tỷ NDT, nếu cộng thêm tổn thất thu nhập quốc dân là 500 tỷ NDT do Lý Tiên Niệm nói (tại hội nghị kế hoạch toàn quốc ngày 20 tháng 12 năm 1977) thì lãng phí và giảm thu tất cả là 1300 tỷ NDT. Từ lúc Trung Quốc thành lập tới lúc Mao Trạch Đông chết, không có nội chiến, không có thiên tai lớn, số người chết không bình thường lên tới trên 57, 55 triệu người, tổn thất kinh tế là 1400 tỷ NDT. Trong gần 30 năm ấy tổng mức đầu tư cho xây dựng cơ bản nhà nước là 650 tỷ NDT. Hai lần phá đi làm lại lớn đó đã gấp hơn hai lần tổng mức đầu tư xây dựng cơ bản của nước ta trong 30 năm đầu. Có nghĩa là nói, những đồng tiền vốn quí báu vốn có thể dùng để xây dựng đất nước cải thiện đời sống nhân dân đã có tới trên 2/3 bị Mao Trạch Đông phá đi làm lại mất sạch. Đó là bản kê tổng thành tích lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh xây dựng đất nước của Mao Trạch Đông. Lấy “bản kê tổng thành tích” này làm căn cứ, kết luận của tác giả là: sai lầm của Mao lớn hơn công lao, phải là tội bảy công ba, nhà cách mạng vĩ đại, nhà xây dựng thất bại. (Mao Trạch Đông lúc cuối đời đã tự nhận rằng mình công bảy tội ba).
Đầu năm 1979 khi trở lại cương vị công tác, tôi đã từng nói: Mao Trạch Đông, công lao hơn đời, tội ác tày trời. Cái trước chỉ (thời gian) cách mạng, cái sau chỉ (thời gian) cầm quyền. Bạn đọc, đọc chương 18 “Địa ngục chủ nghĩa cộng sản” (thượng), chương 19 “Địa ngục chủ nghĩa cộng sản” (hạ) của cuốn sách này sẽ hiểu được câu nói “tội ác tày trời” không phải là giả dối. Mao Trạch Đông lãnh đạo cách mạng dân chủ mới năm 1949 giành được thắng lợi. Thế nhưng cái công lao hơn đời đó so với những tai họa do ông cầm quyền tạo ra cho đất nước và nhân dân chỉ có thể là thứ yếu, là thứ hai thôi.
Năm 1980, TW ĐCSTQ triệu tập tại Bắc Kinh hội nghị thảo luận “Quyết nghị lịch sử” lần thứ hai, tôi được tham gia hội nghị này. Đối với vấn đề đúng, sai, công, tội của Mao Trạch Đông trong hơn 4.000 cán bộ cao cấp có khá nhiều người có ý kiến. Với tư cách là người lãnh đạo già của đảng, để hướng dẫn toàn đảng, nhân dân toàn quốc bước ra khỏi sai lầm mê muội sùng bái cá nhân, nhưng lại tránh được sự chia rẽ trong đảng, Đặng Tiểu Bình trong bài nói của mình đã khẳng định công lao của Mao Trạch Đông là thứ nhất, phải tiếp tục giương cao ngọn cờ Mao Trạch Đông, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở nhận thức đó, tháng 6 năm 1981, hội nghị TW lần thứ 6 khóa 11 đã đưa ra “Quyết nghị về một số vấn đề lịch sử của đảng từ khi xây dựng nước đến nay”.
Quyết nghị này, nhằm đoàn kết toàn đảng, bước đầu uốn nắn sai lầm của Mao Trạch Đông từ sau khi xây dựng nước, xoay chuyển đường lối sai lầm lịch sử trước đây, khiến Trung Quốc đi vào con đường đúng đắn cải cách mở cửa, đã có tác dụng có tính lịch sử. Trong bài viết của mình tôi đã từng nói, “Quyết nghị” này bắt đầu tổng kết những sai lầm cuối đời của Mao Trạch Đông. “Quyết nghị” được thông qua dưới sự chủ trì của Đặng Tiểu Bình, chỉ chú trọng uốn nắn những sai lầm của cách mạng văn hóa, đã không phủ định về căn bản đường lối xã hội chủ nghĩa không tưởng của Mao Trạch Đông.
Trong cuốn sách, tác giả ghi, 12 năm sau, tại hội nghị Thượng Hải, Đặng Tiểu Bình đã thẳng thắn nói: “trong việc đánh giá địa vị lịch sử cũng như công lao, sai lầm của Mao Trạch Đông, hội nghị TW lần thứ 6 khóa 11 đã bị sự hạn chế của tình hình trong đảng và trong xã hội đương thời, một bộ phận lịch sử đã không chân thực. Không ít đồng chí đã tiếp nhận nghị quyết một cách trái với lòng mình. Lịch sử là do chúng ta đi qua, không thể điên đảo, không thể thay đổi. Trong việc đánh giá công lao, sai lầm của cuộc đời Mao Trạch Đông luôn luôn có tranh luận. Tôi đã nói với Bành lão (Bành Chân), (Đàm) Chấn Lâm, (Lục) Định Nhất: ý kiến của các vị là đúng, thế nhưng cần phải suy tính tới cục diện bên dưới, có thể để đến đầu thế kỷ sau, để cho thế hệ sau đưa ra đánh giá toàn diện! Công lao, sai lầm của Mao Trạch Đông bày ra đấy, dọn đi không được, thay đổi không xong. Có người lo lắng đánh giá toàn diện Mao Trạch Đông sẽ dẫn tới thành tích lịch sử của ĐCSTQ bị phủ định, sẽ làm tổn hại địa vị lãnh đạo của ĐCSTQ. Tôi thấy không cần phải lo lắng. Tôi kiến nghị, có thể đợi sau khi thế hệ chúng ta ra đi sẽ có đánh giá toàn diện cuộc đời Mao Trạch Đông. Đến lúc đó môi trường chính trị sẽ càng có lợi, ý kiến cố chấp sẽ ít đi một chút. Đảng viên cộng sản là những người duy vật, uốn nắn những quyết nghị sai lầm, sơ suất, trái với lòng mình, không hoàn chỉnh, là sự thể hiện lòng tự tin, có sức mạnh của đảng cộng sản, phải tin tưởng đại đa số đảng viên, tin tưởng nhân dân sẽ hiểu được, sẽ ủng hộ” (Bài nói của Đặng Tiểu Bình tại hội nghị Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng ngày 15 tháng 1 năm 1993 tại Khách sạn Tây Giao Thượng Hải).
Đặng Tiểu Bình không cho rằng quyết nghị của hội nghị TW 6 khóa 11 là đánh giá cuối cùng về Mao Trạch Đông, để việc đánh giá lại Mao Trạch Đông cho thế hệ sau giải quyết. Mặc dù trong cuốn Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội tác giả đã tôn trọng di ngôn của Đặng Tiểu Bình nhưng có khả năng một số trình bày có liên quan trong cuốn sách vẫn có thể gây ra chấn động trên chính đàn Trung Quốc, có người sẽ có cảm giác kinh động. Sự ra đời của cuốn sách này khiến chúng ta lại có dịp nhìn thấy những năm tháng hoang đường, hỗn loạn và đẫm máu, là sự tự có ý nghĩa cực lớn đối với việc ngăn chặn trào lưu tư tưởng cực tả lưu luyến thời đại Mao Trạch Đông, kiên trì không dao động cải cách mở cửa.
Cuốn sách này về lý luận có những cống hiến có tính xây dựng. Trong “Lời kết thúc” đã có sự chỉnh lý, hướng dẫn về những phát triển chủ nghĩa Mác tiến cùng thời đại sau khi Tuyên ngôn cộng sản phát biểu. Tác giả cho rằng thời thanh niên, Mác, Enghen là những người cộng sản ‘lý luận chủ nghĩa xã hội không tưởng cộng thêm thủ đoạn cách mạng bạo lực’, còn vào cuối đời thì là người chủ nghĩa xã hội dân chủ. Sau khi giải tán Đồng minh những người cộng sản, họ không xây dựng đảng cộng sản, mà dưới sự chỉ đạo của họ đã xây dựng đảng xã hội dân chủ. “Chủ nghĩa cộng sản” là khẩu hiệu bị họ vứt bỏ lúc cuối đời. Trong tranh luận của Lênin với Quốc tế thứ hai, Quốc tế thứ hai là chính xác. Trên vấn đề cách mạng xã hội chủ nghĩa và chuyên chính giai cấp vô sản, những phê bình của Causky, Luxembourg, Plekhanov đối với Lênin là nhằm đúng điểm quan trọng. Những chính đảng thuộc Quốc tế thứ hai, trăm năm qua đã kiên trì mặt chính xác của học thuyết Mác, không thực hiện quyết liệt triệt để nhất đối với giai cấp tư sản, thông qua đấu tranh trong Quốc hội, phong trào công nhân đi con đường chủ nghĩa cải lương, từ đó thúc đẩy các quốc gia tư bản phương Tây không ngừng thay đổi, về mặt xóa bỏ ba chênh lệch lớn đã giành được những thành tựu vĩ đại mà mọi người đều thấy. Chủ nghĩa xã hội dân chủ châu Âu là chủ nghĩa Mác chính thống.
Tuyên ngôn cộng sản đã hướng dẫn sai những sứ đồ vĩ đại là Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông. Những sứ đồ vĩ đại này đã phát huy những không tưởng và bạo lực trong “Tuyên ngôn” lên tới cực đoan, hướng dẫn sai Quốc tế thứ ba và các đảng, nhân dân các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Sự tan rã và thất bại của phe xã hội chủ nghĩa trong những năm 90 của thế kỷ trước là do con đường “cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản” về căn bản là sai lầm. Một cuộc cách mạng lấy tiêu diệt chế độ tư hữu làm kết cục, một loại chế độ lấy bài xích sức sản xuất tiên tiến làm đặc trưng, bất kỳ là dùng danh nghĩa đường hoàng nào đều là không có tiền đồ. Giai cấp tư sản và chế độ tư hữu đại biểu cho sức sản xuất tiên tiến cho dù gặp phải sự hiểu sai lớn nhất, cho dù bị ma quỷ hóa như thế nào, cuối cùng vẫn được sự đồng thuận của loài người.
Loài người đã bất chấp những lời kêu gọi bình đẳng, chính nghĩa, sau khi thoát ly xã hội cộng sản nguyên thủy, trên con đường khoa học, dân chủ và pháp chế đã từng bước, từng bước đi tới văn minh. Nhà tư bản và phần tử trí thức đại biểu cho sức sản xuất tiên tiến và văn hóa tiên tiến là không thể tiêu diệt được, có tiêu diệt rồi thì cũng phải mời trở lại. Đó là bài học căn bản nhất mà thất bại của phong trào cộng sản quốc tế thế kỷ 20 để lại cho hậu thế.
Chủ nghĩa dân chủ mới thuộc hệ thống tư tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ, có thể nói đó là tinh hoa của tư tưởng Mao Trạch Đông. Kiên trì tư tưởng Mao Trạch Đông phải coi trọng chủ nghĩa dân chủ mới. Mao Trạch Đông tuyển tập do Đặng Tiểu Bình viết tên sách năm 1991 chỉ gồm 4 tập, không bao gồm những tác phẩm và bài nói sau tập 5, là có ý. Tác giả cho rằng : “Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là sản phẩm của sự cùng kết hợp tư tưởng chủ nghĩa xã hội dân chủ của Mác, Enghen với thực tiễn cụ thể của cải cách mở cửa Trung Quốc, nó sẽ xây dựng Trung Quốc thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa giàu có văn minh, công bằng và hài hòa như các nước châu Âu ngày nay. Đảng cộng sản Trung Quốc chuyển biến sang chủ nghĩa xã hội dân chủ là phục tùng những di giáo cuối đời của Mác, Enghen, kế thừa truyền thống cách mạng dân chủ mới, triệt để thoát ly mô hình Liên Xô, trở lại với chủ nghĩa Mác tiến cùng thời đại. Đó là sự định vị lịch sử của chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.” (‘Lời kết thúc’). Cái “định vị” đó đã lấp bằng con đường chuyển đổi quỹ đạo về hình thái ý rhức cho đảng và nhà nước: chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông, “ba ngọn cờ hồng” của chủ nghĩa xã hội đều không mất mà lại thoát khỏi sự ràng buộc của hình thái ý thức “tả”, vứt bỏ được những lý luận sai lầm, giáo điều cực tả – từ Mác, Enghen, Lênin, Stalin đến Mao Trạch Đông, đã hướng dẫn sai Trung Quốc ba mươi năm, mang lại cho đất nước sự nghèo nàn, động loạn và chuyên chế và cho đến nay vẫn còn ngăn cản và phủ định cải cách mở cửa.
Tác giả kiến nghị: “trong cải cách hình thái ý thức, phải lấy quan điểm phát triển khoa học lấy con người làm gốc của Hồ Cẩm Đào làm tổng cương, lấy chủ nghĩa xã hôi dân chủ của Mác, Enghen lúc cuối đời, chủ nghĩa dân chủ mới của Mao Trạch Đông cũng như lý luận Đặng Tiểu Bình và tư tưởng quan trọng ‘ba đại diện’ làm cơ sở, hấp thu kinh nghiệm trị quốc của đảng dân chủ xã hội chấp chính dân chủ, chấp chính liêm khiết và rút ngắn ba chênh lệch lớn (chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, chênh lệch giữa công nhân và nông dân, chênh lệch giữa lao động trí óc và lao động chân tay), xây dựng hình thái ý thức hài hòa với trào lưu dân chủ thế giới, hình thành một bộ lý luận chấp chính hoàn chỉnh thích nghi với tình hình đất nước. Hệ thống lý luận này nên đặt tên là lý luận chủ nghĩa xã hội dân chủ, ghi vào điều lệ đảng và Hiến pháp; từ nay trở đi, sẽ không bao giờ ghi họ tên bất kỳ người nào làm tư tưởng chỉ đạo đảng và quốc gia, nhằm loại bỏ tác phong còn lại và ảnh hưởng của sùng bái cá nhân, thiết lập quyền ăn nói của phái cải cách. Đảng cộng sản Trung Quốc đổi tên làm đảng xã hội Trung Quốc, tham gia quốc tế đảng xã hội, nhằm kế thừa trào lưu lịch sử đảng dân chủ xã hội mà Mác, Enghen đã xây dựng, xác lập địa vị chính thống lịch sử của phái cải cách, làm cho người trong nước nghe nhìn đều thấy mới mẻ đổi mới, làm cho thế giới nghe nhìn đều thấy mới mẻ. Đi được bước này, sẽ phát sinh ảnh hưởng trọng đại trong việc thống nhất Trung Hoa, trong việc cải tiến quan hệ giữa Trung Quốc với EU, Mỹ, Nga và mọi quốc gia dân chủ, sáng tạo môi trường quốc tế tốt nhất để Trung Hoa bay cao” (“Lời kết thúc”).
Những kiến nghị này của Tân Tử Lăng, thuộc vào đại chiến lược của sự phát triển đảng và nhà nước. Về vấn đề loại bỏ những tác phong còn lại và ảnh hưởng của sùng bái cá nhân, thiết lập quyền ăn nói của phái cải cách, đặc biệt đáng coi trọng.
Về vấn đề đổi tên đảng có khả năng dẫn tới kinh ngạc. Nhưng đó mới thực sự là tiến cùng thời đại. Tôn Trung Sơn lãnh đạo cách mạng dân chủ lật đổ chế độ hoàng đế, lúc bắt đầu gọi là Đồng minh, sau khi thiết lập Dân quốc để thích ứng với đòi hỏi nội các trách nhiệm, đã cùng với mấy đảng nhỏ liên hiệp cải tổ thành Quốc dân đảng, Viên Thế Khải cướp nước xưng đế, Tôn Trung Sơn phát động cuộc cách mạng lần thứ hai, đổi tên là Đảng cách mạng Trung Hoa, trong chiến tranh Hộ pháp**** để nhấn mạnh sự chính thống lại đổi tên là Quốc dân đảng. Theo hồi ức của Johnson. Stewart, người đã từng là thành viên của Tổ quan sát quân Mỹ tại Diên An thì tháng 8 năm 1944, khi nói chuyện với ông ta, Mao Trạch Đông đã nói: “để hợp tác với Mỹ, những người cộng sản đã suy tính tới vấn đề liệu có cần đổi tên mình hay không ”[1]. Vào lúc cuối đời khi nói chuyện với các cán bộ cao cấp, Đặng Tiểu Bình cũng đã nói, khi cần thiết sẽ đổi tên đảng. Đảng xã hội dân chủ là do Mác, Enghen xây dựng. Khi phát biểu Tuyên ngôn cộng sản chưa có đảng cộng sản, văn kiện này vốn gọi là Tuyên ngôn chủ nghĩa cộng sản [2]. Chỉ vào năm 1918 khi Lênin làm chuyện chia rẽ với Quốc tế thứ hai thì tên gọi đảng cộng sản mới được vang lên. Cho dù toàn bộ lý luận tiêu diệt chế độ tư hữu là sai (tỉ mỉ xem phần thứ nhất của “Lời kết thúc”, ở đây không triển khai trình bày), hiện nay trong nền kinh tế nước ta đã xuất hiện chế độ tư hữu, trong Hiến pháp đã có điều khoản bảo vệ tài sản tư hữu, với tư cách là đảng cầm quyền mà vẫn gọi là đảng cộng sản sẽ không thích hợp, còn chuẩn bị định “cộng” tài sản của ai?
Tôi thường nói, chủ nghĩa Mác là cái gì? Khảo sát từ lịch sử và thực tiễn thấy, những cái gì của chủ nghĩa Mác là chính xác, những cái gì là sai lầm, trước đây chúng ta đã chấp hành chủ nghĩa Mác như thế nào, chủ nghĩa Mác nên phát triển ra sao, chúng ta đã làm rõ chưa? Lâu nay, chủ nghĩa Mác giả ra sức thực hiện đạo của mình, còn chủ nghĩa Mác thật lại bị che lấp bởi lớp tro bụi “chủ nghĩa xét lại”. Điều này chủ yếu là do chủ nghĩa chuyên chế văn hóa được sùng bái, nó bắt nguồn từ chủ nghĩa chuyên chế chính trị. Chuyên chế một đảng dẫn tới hình thái ý thức được xác định là cái tuân theo duy nhất, mà cái “tuân theo duy nhất” này lại là phần sai lầm trong chủ nghĩa Lênin, chủ nghĩa Stalin, và lý luận Mao Trạch Đông xa rời chủ nghĩa Mác. Không ít người trong giới lý luận đang nhận thức lại chủ nghĩa Mác, một lần nữa từ trong cuốn sách của Tân Tử Lăng, tôi lại tìm thấy tri âm. Thì ra chủ nghĩa xã hội nghèo mà trước cải cách chúng ta đã làm, đã chấp hành những cái sai lầm trong chủ nghĩa Mác bị Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông phát triển, là những lý luận và chủ trương bị Enghen lúc cuối đời thừa nhận “chỉ là một ảo tưởng”[3] và còn coi những cái chính xác của nó là “chủ nghĩa xét lại” để phê phán trong mấy chục năm. Mặc dù sự trả lời của tác giả có chút đơn giản, nhưng đã nắm chắc được cái căn bản của vấn đề, cung cấp cho người ta những manh mối để đi sâu nghiên cứu và suy ngẫm hơn nữa
Trên vấn đề thế nào là chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội như thế nào, một thời gian dài chúng ta đã “Nhất biên đảo” (ngả về một bên), đi con đường kiểu Liên Xô, thực hiện chủ nghĩa xã hội bạo lực, tiêu diệt chế độ tư hữu, tiêu diệt giai cấp tư sản, càng làm càng nghèo, đã thất bại; sau cải cách mở cửa, trên thực tế là đi con đường kiểu Thụy Điển, thực hiện chủ nghĩa xã hội dân chủ, bảo vệ chế độ tư hữu, đoàn kết giai cấp tư sản, thu được thành công to lớn. Cho dù cải cách thể chế chính trị không cùng tiến lên đồng bộ với cải cách kinh tế, dẫn tới những vấn đề nghiêm trọng như hủ bại cùng phát sinh một lúc v.v. Nhưng tì vết không che nổi ánh ngọc, dòng chính là tốt, chỉ cần kiên trì đi con đường chủ nghĩa xã hội dân chủ là không khó giải quyết. Thành công này được thể hiện ở năng suất lao động sáng tạo trong năm 2003 cao gấp 33 lần năm 1978. Theo tính toán của Cục thống kê nhà nước, năng suất lao động trong cả năm 1978 chỉ tương đương với năng suất lao động trong 11 ngày của năm 2003.
Qui cho cùng thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất để chế độ mới chiến thắng chế độ cũ, đường lối chính xác chiến thắng đường lối sai lầm, chủ nghĩa xã hội dân chủ chiến thắng chủ nghĩa xã hội bạo lực. Rút kinh nghiệm những sai lầm đã mắc phải trước đây và con đường nên đi từ nay về sau, trong các bài viết mấy năm gần đây, tôi thường bàn đến 3 vấn đề có liên quan cần làm rõ sự phát triển, tiến bộ văn minh của lịch sử nhân loại rốt cuộc là dựa vào cái gì? Nên nhận thức như thế nào về “sự lãnh đạo lý luận” như chủ nghĩa Mác v.v. đã được ghi vào Hiến pháp? Tác dụng và quan hệ nhà nước mà đảng cộng sản đã có trong lịch sử, đảng nên cầm quyền như thế nào? Nội dung cuốn sách này đều có liên quan hoặc giải đáp đến nội dung của ba mặt này. Trong trao đổi bàn bạc, Tân Tử Lăng đã kể một chuyện cười chính trị: một người Trung Quốc tới thăm thành phố Trier, nước Đức – quê hương của Mác, hỏi người gác cửa: “nước Đức các anh có Mác làm sao không tôn thờ Mác?” Người gác cổng nói: “Mác là nhà đại học vấn, ông để lại hai bản kinh điển, một bản là chủ nghĩa Mác nghèo, một bản là chủ nghĩa Mác giàu. Nghe các người già nói, thế kỷ trước có một người tên là Lênin rất lợi hại, cướp lấy bản chủ nghĩa Mác nghèo mang đi, hơn nữa còn để lại lời, không cho phép chúng tôi tin theo chủ nghĩa Mác. Chúng tôi chỉ còn lại bản chủ nghĩa Mác giàu và cũng chẳng tranh lấy chính thống làm gì, thế mà cuộc sống ngày càng tốt, sống rất vui”. Câu chuyện này rất đáng để chúng ta suy ngẫm sâu sắc. Chúng ta nên tôn thờ chủ nghĩa Mác giàu có thể thúc đẩy sức sản xuất tiên tiến và phát triển văn hóa tiên tiến – chủ nghĩa xã hội dân chủ, và triệt để chia tay với chủ nghĩa Mác nghèo – lý luận và phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Lênin, Stalin, Mao Trạch Đông.
Tháng 4 năm 2006
Dương Danh Dy (dịch)
---------------------------------
Chú thích của tác giả :
[1] John.Stewart. Cơ hội bị đánh mất tại Trung Quốc. Công ty xuất bản Văn hóa quốc tế. Năm 1989, tr. 260.
[2] Truyện Enghen. Nhà sách Tam liên tân trí sinh hoạt độc thư. Năm 1975, tr. 137.
[3] Toàn tập Mác – Enghen, Quyển thứ 22. Nhà xuất bản Nhân dân. Năm 1965, tr. 595.
Chú thích của người dịch :
* Mao Trạch Đông – Ngàn năm công tội, tác giả Tân Tử Lăng, gồm hai tập 700 trang. Nhà xuất bản Thư tác bảng, Hồng Công, năm 2007.
** Lý Nhuệ, đảng viên lão thành Đảng cộng sản Trung Quốc đã từng là Phó Trưởng Ban Tổ chức TW ĐCSTQ, và có một thời gian làm thư ký cho Mao Trạch Đông.
*** Tân Tử Lăng, nguyên Đại tá, cấp Sư doàn trưởng quân Giải phóng Trung Quốc, người chuyên nghiên cứu về Mao Trạch Đông
**** Chiến tranh Hộ pháp: là cuộc chiến tranh do Tôn Trung Sơn phát động nhằm bảo vệ “Ước pháp lâm thời Dân quốc Trung Hoa” và phản đối sự thống trị độc tài chuyên chế của Quân phiệt Bắc Dương, từ năm 1917 đến năm 1922, trước sau đã tiến hành hai lần.
Tên sách: 千秋功罪-毛泽
Tác giả 新子棱
Nhà xuất bản 书作 榜 出版社,香港,2007 年
HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
15:26 ngày Thứ Năm, 01/10/2009
http://bauxitevietnam.info/c/11724.html
Subscribe to:
Posts (Atom)