Việt Nam thoát
khỏi ngã ba đường: Đến lúc phải thay đổi
Nguyễn quang Dy
https://nghiencuuquocte.org/2025/04/16/viet-nam-thoat-khoi-nga-ba-duong-den-luc-phai-thay-doi/
“Chúng
ta không thể giải quyết vấn đề bằng cách dùng chính kiểu tư duy mà chúng ta đã
sử dụng khi tạo ra nó” –
Albert Einstein
Việt
Nam đã quyết định đổi mới tại Đại hội Đảng VI (1986). Đổi mới lần một đến nay
đã 40 năm. Đến lúc phải đổi mới lần hai (renovation 2.0), tập trung tháo
gỡ về thể chế, như “Báo cáo Việt Nam 2035” (MPI & World Bank, 2016) đã đề
xuất. Bộ máy quan liêu cồng kềnh, chồng chéo, tốn kém (chiếm tới 70% ngân
sách), với nhiều thủ tục hành chính rắc rối, là nguyên nhân chính dẫn đến tham
nhũng và lãng phí. Các nhóm lợi ích đã thao túng thể chế để trục lợi, trói tay
doanh nghiệp và làm khổ người dân, cản trở đổi mới và phát triển, làm kinh tế tụt
hậu, sa vào “bẫy thu nhập trung bình”.
Đứng
trước bước ngoặt mới và kỷ nguyên mới, với những cơ hội lớn và thách thức khó
lường, phải đổi mới tư duy và cải tổ thể chế để tháo gỡ những điểm ách tắc đang
cản trở quá trình đổi mới và sáng tạo. Muốn phát triển đột phá nhằm xây dựng nội
lực mạnh để vươn mình trỗi dậy trước một thế giới bất an và bất định, phải tập
trung phát triển công nghệ cao và chuyển đổi số. Vì vậy, đổi mới tư duy là chìa
khóa để mở ra cánh cửa bước vào kỷ nguyên mới. Muốn phát triển đột phá, phải đoạn
tuyệt với tư duy cũ, coi “ổn định là an toàn”, quen dựa dẫm vào chủ nghĩa “đặc
thù” và “tiệm tiến”.
Trước
nguy cơ sụp đổ của hệ thống XHCN và trước chủ trương “cải tổ và cởi mở” của ông
Gorbachev, Việt Nam đã quyết định thực hiện chủ trương “Đổi mới” tại Đại Hội Đảng
VI (12/1986). Đó là một bước ngoặt lớn khi Việt Nam mở cửa và chuyển đổi nền
kinh tế “tập trung, bao cấp” thành nền kinh tế “đa thành phần”. Với khẩu hiệu
“đổi mới hay là chết”, lãnh đạo Việt Nam đã dám “biến nguy thành cơ”, đổi
mới kinh tế lần thứ nhất theo kinh tế thị trường.
Nhưng
sau đó “sự kiện Thiên An Môn” (4/1989), và “sự kiện bức tường Berlin” (11/1989)
là một cú sốc lớn đối với lãnh đạo Việt Nam. TBT Nguyễn Văn Linh đã quyết định
khép cửa lại (4/1990) để cứu vãn CNXH. Hội nghị Thành Đô (9/1990) là một bước
ngoặt khi Việt Nam đề xuất “giải pháp đỏ” cho Campuchia, và điều chỉnh lại mô
hình cải tổ theo kinh tế thị trường thành mô hình “định hướng XHCN” theo Trung
Quốc. Lúc đó, ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã chua chát nhận xét: “một thời kỳ
Bắc thuộc mới bắt đầu”.
Trong
suốt mấy thập kỷ, Quan hệ Việt-Trung “khăng khít như môi với răng”. Nhưng chiến
tranh biên giới (2/1979) đã biến Trung Quốc thành “kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm
nhất”. Sau gần một thập kỷ biến bạn thành thù, Việt Nam đã bình thường hóa quan
hệ với Trung Quốc theo “Bốn tốt và 16 Chữ vàng”, trở thành đối tác chiến lược
toàn diện, “cùng chung vận mệnh” và “chia sẻ tương lai”. Nói cách khác, đó là
nghịch lý và là định mệnh do ràng buộc về địa lý, văn hóa và ý thức hệ.
Trong
tam giác Việt-Trung-Mỹ, Trung Quốc luôn coi Mỹ là “ngoại đạo”, cũng như với Nga
trước đây. Trung Quốc tìm mọi cách gạt ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi Việt Nam và khu
vực, để họ có thể duy trì vị thế bá quyền của mình ở khu vực. Trung Quốc coi Biển
Đông là sân sau của mình, để đối phó với chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình
Dương” của Mỹ. Việt Nam phải chơi cờ thế (hedging) để duy trì “cân bằng
chiến lược” ở khu vực, tăng cường quan hệ với Mỹ làm đối trọng với Trung Quốc.
Ngay
trước khi giành được độc lập (1945), Hồ Chí Minh đã bắt tay với Mỹ làm đồng
minh để chống Nhật và Pháp. Ông đã lập ra mặt trận Việt Minh (Việt Nam Độc lập
Đồng Minh), như một tầm nhìn chiến lược, và đã thiết lập được quan hệ hợp tác với
OSS (tiền thân của CIA). Mỹ đã cử “nhóm Con Nai” vào Việt Bắc để huấn luyện lực
lượng Việt Minh và cử ông Archinmedes Patti vào Hà Nội làm phái đoàn đại diện.
Nhưng khi chiến tranh với Pháp nổ ra (12/1946), Mỹ đã điều chỉnh chiến lược để ủng
hộ Pháp.
Sau
Điện Biên Phủ và Hội nghị Geneva (5/1954), Mỹ đã không ủng hộ một nước Việt Nam
thống nhất qua tổng tuyển cử, mà lại ủng hộ Ngô Định Diệm để lập ra Việt Nam Cộng
Hòa tại Miền Nam, chống lại Miền Bắc (theo thuyết Domino). Đó là một
sai lầm chiến lược khi Mỹ quyết định can thiệp vào Việt Nam, dẫn tới cuộc chiến
tranh Việt Nam (1965-1973). Tạp chí FEER kết luận: Đó là một cuộc chiến sai lầm,
tại một địa điểm sai lầm, vào một thời điểm sai lầm, chống lại một kẻ thù sai lầm,
vì những lý do sai lầm.
Nếu
Mỹ không ủng hộ Pháp, mà công nhận Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa (1945), với Tuyên
ngôn Độc lập mà ông Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ, thì lịch
sử có thể đã rẽ theo hướng khác. Nếu Mỹ nghe theo lời khuyên của những người có
tầm nhìn xa như ông George Ball, đừng đưa quân can thiệp vào Việt Nam (1965),
thì lịch sử có thể đã rẽ theo hướng khác. Khi Mỹ và Việt Nam nâng cấp
quan hệ lên “đối tác chiến lược toàn diện” (9/2023), hai nước đã quyết định “trở
về tương lai”.
Lịch
sử quan hệ Việt-Trung và Việt-Mỹ đã trải qua nhiều thăng trầm, do tác động của
quan hệ Mỹ-Trung, qua các giai đoạn khác nhau của bàn cờ nước lớn. Để đối phó với
Liên Xô trong chiến tranh lạnh, Tổng thống Nixon đã nghe theo kế sách của ông
Kissinger, bắt tay với Trung Quốc, ký Tuyên bố Chung Thượng Hải (1972). Mỹ đã
thỏa hiệp với Trung Quốc, bỏ rơi Đài Loan, và sau đó là Việt Nam Cộng Hòa
(1975). Vì vậy, các nước nhỏ muốn duy trì độc lập và chủ quyền, phải tranh thủ
phát triển nhanh để có nội lực.
Đã
bốn thập kỷ kể từ khi Việt Nam đổi mới lần thứ nhất (1986). Đó là một thời kỳ
quá độ quá dài. Cải cách nhỏ lẻ vừa qua là “quá chậm và quá ít”. Vì vậy, đổi mới
lần hai cần phải đột phá về thể chế và công nghệ cao. Đó là yêu cầu cấp bách để
Việt Nam vươn mình trỗi dậy trong kỷ nguyên mới, trước khi quá muộn. Nếu không
phát triển đột phá để xây dựng nội lực đủ mạnh, Việt Nam khó giữ được độc lập
và chủ quyển, trước một thế giới bất an và bất định khó lường (như bài học
Ukraine).
Thách
thức mới
Tuy
chưa đầy 100 ngày của “tuần trăng mật”, nhưng Chính quyền “Trump 2.0” đã làm nước
Mỹ điên đảo bằng các sắc lệnh gây tranh cãi như giải thể một số cơ quan chính
phủ, và trục xuất người nhập cư, cùng vụ bê bối gây ồn ào Signalgate.
Trump còn làm cho thế giới náo loạn và thị trường chứng khoán chao đảo bằng các
quyết định gây sốc về thuế quan đối ứng nhắm vào 180 nước. Dù muốn hay không,
thế giới phải chung sống và thích ứng với các chính sách bất thường của “Trump
2.0” (còn bất thường hơn cả “Trump 1.0”).
Trong
bối cảnh Trump vừa đưa ra các quyết sách về thuế quan gây sốc đối với đồng minh
và đối thủ (chủ yếu nhắm vào Trung Quốc), Kurt Campbell và Rush Doshi (hai
chuyên gia hàng đầu về Châu Á và Trung Quốc trong Hội đồng An ninh Quốc gia thời
Biden) vừa xuất bản một cuốn sách mới, cho rằng: “đánh gía thấp Trung Quốc là
nguy hiểm”.
(Underestimating
China: Why America Needs a New Strategy of Allied Scale to Offset Beijing’s
Enduring Advantages, Kurt Campbell & Rush Doshi,
Foreign Affairs, April 10, 2025).
Tuy
Trump thích phủ nhận mọi chính sách thời Biden, nhưng chắc ông và các cố vấn chủ
chốt không thể bỏ qua các nhận xét và phân tích trong cuốn sách mới của
Campbell và Doshi, vì lợi ích cốt lõi của Mỹ tại khu vực Ấn Độ dương-Thái Bình
dương hầu như không thay đổi. Trong chính quyền Trump 2.0 tuy không thiếu các
nhân vật diều hâu chống Trung Quốc, nhưng lại thiếu các chuyên gia có cái đầu lạnh.
Theo các tác giả, đánh giá của Mỹ về Trung Quốc thường “nhảy từ thái cực này
sang thái cực khác”: trước đây bi quan lo Trung Quốc sắp vượt Mỹ, nay lại lạc
quan cho rằng Trung Quốc không thể vượt Mỹ. “Cách đánh giá bi quan là sai lạc,
còn cách đánh giá lạc quan coi nhẹ Trung Quốc là nguy hiểm”.
Để
đối phó với Trung Quốc đang trỗi dậy cạnh tranh với Mỹ về công nghệ nhằm vượt Mỹ
về kinh tế và quân sự, với quy mô lớn hơn và năng lực cao hơn, Mỹ cần tập hợp
và phối hợp với các đồng minh và đối tác. Nhưng thừa nhận vai trò của đồng minh
và đối tác chỉ là điểm bắt đầu, chứ không phải là điểm kết thúc. Để đạt được
quy mô, Mỹ phải cải tổ cơ cấu đồng minh từ một tập hợp các mối quan hệ thành một
nền tảng để nâng cao năng lực liên kết và cộng hưởng, cả về quân sự, kinh tế,
và công nghệ, chứ không chỉ thuế quan.
Nhưng
cách đề cập đó đòi hỏi phải định hướng lại một cách cơ bản, từ nghệ thuật điều
hành hệ thống đồng minh trở thành một quốc sách tập trung nâng cao năng lực.
Trung Quốc chờ thời cơ và chờ quy mô, nên Mỹ và đồng minh cũng phải tập hợp và
gắn kết. Nói cách khác, họ phải tập hợp lại như một bó đũa để không bị bẻ gãy từng
chiếc. Một số chuyên gia (như Jude Blanchette và Ryan Hass) cho rằng so với
Trung Quốc, Mỹ vẫn có lợi thế sống còn về tính năng động kinh tế và ảnh hưởng
toàn cầu, cũng như đổi mới công nghệ.
Phán
đoán sự trỗi dậy và suy tàn của các cường quốc thường sai vì thiếu thông tin,
còn nhiều định kiến, các sự kiện không rõ ràng, và khó xác định các tiêu chí để
đánh giá. Các chuyên gia chiến lược của Mỹ trước đây đã từng nhảy từ cực này
sang cực khác khi đánh giá Nhật Bản và Liên Xô. Yếu điểm đó cũng là đặc điểm
khi đánh giá Trung Quốc và Mỹ. Tuy nhiên, có hai thực tế đều đúng: đó là Trung
Quốc đang suy thoái về kinh tế, và đang trở thành đối thủ đáng gờm về kinh tế.
Nhấn mạnh chỗ yếu của Trung Quốc sẽ đánh giá thấp quy mô và năng lực theo tiêu
chí tại một thời điểm tương ứng với bàn cờ các nước lớn.
Về
năng lực sản xuất, Trung Quốc gấp 3 lần Mỹ. Về tỷ trọng sản xuất, Trung Quốc gấp
2 lần Mỹ tính đến 2025, và gấp 4 lần Mỹ tính đến 2030. Sản xuất điện gấp 2 lần
Mỹ, sản xuất xe hơi gấp 3 lần Mỹ, sản xuất thép gấp 13 lần Mỹ, sản xuất xi măng
gấp 20 lần Mỹ, khả năng đóng tàu gấp 200 lần Mỹ. Trung Quốc sản xuất 50% hóa chất,
50% tàu thuyền, 67% xe điện, 75% pin năng lượng, 80% máy bay không người lái,
90% pin điện mặt trời, 90% sản phẩm đất hiếm (FA, April 10).
Về
công nghệ, Trung Quốc lắp đặt 50% robot công nghiệp (gấp 7 lần Mỹ), dẫn đầu về
công nghệ hạt nhân thế hệ 4, công nghệ siêu âm và giao tiếp điện tử, động cơ phản
lực. Mỗi năm Trung Quốc sản xuất 100 máy bay chiến đấu thế hệ 4. Hải quân Trung
Quốc lớn nhất thế giới. Trung Quốc sẽ đóng thêm 65 tàu trong vòng 5 năm, quy mô
lớn hơn Mỹ 50% vào năm 2030. Tổng số tàu của Trung Quốc là 435 so với 300 của Mỹ.
Mỹ đánh giá thấp năng lực sáng tạo của Trung Quốc, hiểu sai Trung Quốc chỉ bắt
chước và nhái lại sáng tạo của Mỹ. Nhưng dân số của Trung Quốc là một kho tài
năng có quy mô cạnh tranh lớn.
Có
ba thực tế làm nền tảng cho mọi chiến lược cạnh tranh lâu dài. Thứ nhất, quy mô
là cốt yếu. Thứ hai, quy mô của Trung Quốc không giống những gì mà Mỹ đã từng
biết. Thứ ba, Mỹ cần một cách tiếp cận mới về đồng minh để kiến tạo quy mô đủ lớn
cho mình. Lần đầu tiên sau thế chiến II, các đồng minh của Mỹ không tăng cường
sức mạnh, mà chỉ duy trì sức mạnh. Quy mô GDP của các nước Mỹ, EU, Australia,
Canada, India, Japan, Korea, Mexico, New Zealand, là $60 ngàn tỷ, so với $18
ngàn tỷ của Trung Quốc. (FA, April 10).
Điều
đó có nghĩa họ có thể dành 1,5 ngàn tỷ USD cho ngân sách quốc phòng, gấp đôi của
Trung Quốc. Họ sẽ thay Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất với mọi quốc
gia (nay Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất với 120 quốc gia). Nhưng nếu
không phối hợp được sức mạnh của họ, thì lợi thế đó chỉ là lý thuyết. Vì vậy,
khai thác tiềm năng to lớn này của phe đồng minh là nhiệm vụ trung tâm trong quốc
sách của Mỹ trong thế kỷ này. Mỹ cần kiến tạo “sức mạnh của phe dân chủ”. Đó là
một mạng lưới công nghệ quốc phòng chung dựa trên sản xuất chung, sáng tạo
chung, và chuỗi cung ứng chung.
Trên
toàn cầu, Mỹ có thể theo đuổi một học thuyết mới như “Guam Doctrine” thời Tổng
thống Nixon, nhằm chia sẻ trách nhiệm với các đối tác. Điều đó sẽ tăng cường sức
mạnh cho các nước khu vực, để họ có thể dẫn dắt việc đối phó với các thách thức
trong khu vực của mình. Ví dụ, Australia chịu trách nhiệm về các đảo Thái Bình
dương, Ấn Độ về Nam Á, Việt Nam về lục địa Đông Nam Á, Nigeria về Châu Phi.
Trong khi đó, sự liên kết giữa các hệ sinh thái khoa học, để kết nối con người
với nhau, và đảm bảo kết quả nghiên cứu chung sẽ giúp các nước đồng minh và đối
tác của Mỹ có thể đối phó với quy mô của Trung Quốc.
Việc
trỗi dậy và suy tàn của các nước lớn thường bắt đầu bằng chẩn đoán sai. Rủi ro
lớn nhất không phải là suy thoái, mà là tự mãn. Nước Mỹ dưới thời Trump có xu
hướng đánh giá quá cao sức mạnh đơn phương của mình và đánh giá quá thấp năng lực
đối phó của Trung Quốc. Việc đánh giá quá lạc quan sức mạnh của Mỹ đang thúc đẩy
chủ nghĩa đơn phương, muốn Mỹ một mình một chợ. Vì vậy, chiến lược hiệu quả nhất
lúc này là phải nâng cao năng lực mới bền vững, mạnh mẽ, cho các nước đồng minh
và đối tác, để răn đe ý đồ phiêu lưu của Trung Quốc trong tương lai, cũng như
đã làm Trung Quốc bối rối vừa qua.
Các
nước lớn thường đánh giá quá cao khả năng tác động đến các nước khác. Hiện nay,
Mỹ và Châu Âu có nguy cơ bị chia rẽ, trong khi Mỹ định chia rẽ Trung Quốc với
Nga. Năng lực của phe dân chủ đã được tăng cường bởi chính sách “chiến lang” của
Trung Quốc. Nhưng Mỹ đang tiến hành những bước đi phản tác dụng, giúp Trung Quốc
có cơ hội đóng vai trò đối tác tốt. Kết cục là Mỹ suy yếu, nghèo hơn, mất ảnh
hưởng trong một thế giới Trung Quốc nắm luật chơi. Mỹ có nguy cơ tụt hậu như
Anh vào cuối thế kỷ 19. Mỹ từng dùng quy mô để chống lại Đức và Nhật. Nay Trung
Quốc sẽ dùng quy mô đối phó với Mỹ.
Theo
Hal Brands (Johns Hopkins) Donald Trump là người phá nhiều hơn xây. Rủi ro lớn
nhất trong nhiệm kỳ thứ hai của Trump không phải là ông sẽ bỏ rơi trật tự cũ,
mà ông sẽ làm cho nước Mỹ trở thành đồng lõa giúp nó suy thoái nhanh. Triển vọng
thế giới của Trump có thể rất đen tối, là nguyên nhân làm cho thế giới càng bất
ổn. Đó cũng là minh chứng cho tính chất hai mặt trong chủ nghĩa dân tộc cực
đoan mà Trump đại diện. Các ý tưởng tốt của Trump luôn xung đột với các ý tưởng
xấu, vì Chính quyền Trump luôn tự xung khắc. (The Renegade Order, Hal
Brands, Foreign Affairs, February 25, 2025).
Theo
James Palmer, việc Trump bỏ rơi đồng minh Châu Âu và bắt tay với Nga làm Bắc
Kinh vừa mừng vừa lo. Mỹ có thể chuyển lực lượng từ Châu Âu sang Ấn Độ
dương-Thái Bình dương. Điều chỉnh chiến lược đó đã được Eldridge Colby đề xướng
(Colby đã được đề cử làm thứ trưởng Quốc phòng). Nhưng về cơ bản, đến nay Chính
quyền Trump dường như vẫn chưa có một chiến lược về Trung Quốc. (As Trump
Abandons Allies, How Will China Respond? James Palmer, Foreign Policy,
February 25, 2025).
Về
cơ bản, chính sách đối với Trung Quốc hiện nay thường do các nhóm hay cá nhân
như Marco Rubio (ngoại trưởng) Elon Musk (lãnh đạo DOGE) và Kash Patel (giám đốc
FBI), thỏa thuận hay bất đồng với nhau. Sớm hay muộn, giữa họ với nhau sẽ dẫn đến
xung khắc. Nói cách khác, chủ trương chia rẽ Trung Quốc và Nga là một ảo tưởng
của Mỹ. Từ lâu, Trung Quốc và Nga tuy là “đồng sàng dị mộng” nhưng đã trở thành
đối tác. Trump đã nhiều lần tỏ ý muốn thỏa thuận với Trung Quốc, vì cho rằng
“mà cả với Trung Quốc dễ hơn”.
Theo
Derek Grossman (RAND), Mỹ có thể cải thiện quan hệ với Nga và Trung Quốc. Trump
có thể gặp Putin để chấm dứt chiến tranh Ukraine và sắp đặt lại toàn bộ quan hệ
của họ. Tương tự, Trump nói rằng ông muốn gặp Tập Cận Bình để nối lại đàm phán.
Thế giới đang phải điều chỉnh theo những biến động về địa chính trị tiềm ẩn.
Nhưng phản ứng tại khu vực Ấn Độ dương-Thái Bình dương hơi trái chiều. Trong
khi các đồng minh và đối tác của Mỹ tỏ ra lo lắng, thì các nước khác lại lạc
quan một cách thận trọng. (How US-Russia-China Ties Would Impact the
Indo-Pacific, Derek Grossman, Foreign Policy, March 6, 2025).
Điều
này đặc biệt đúng với các nước trong khu vực đang lo bị mắc kẹt ở giữa. Triển vọng
chiến lược đu dây của họ có thể suy giảm. Nhật Bản và Hàn Quốc có thể lo ngại
sâu sắc về chiến lược mới của Mỹ. Nhật Bản chủ yếu lo ngại rằng quan hệ Mỹ-Trung
được cải thiện có thể làm cho Bắc Kinh cứng rắn hơn và chiếm lấy các đảo đang
tranh chấp như Điếu Ngư, hay tấn công Đài Loan. Quan hệ được cải thiện giữa Mỹ
với Trung Quốc hay Nga nói chung sẽ được hoan nghênh tại vùng Thái Bình Dương,
trừ Australia và New Zealand.
Tại
Đông Nam Á, phản ứng đối với việc Mỹ có thể giảm căng thẳng với Trung Quốc và
Nga hầu như là tích cực. Indonesia, Singapore, và Việt Nam đã duy trì chính
sách đối ngoại không liên kết, tiếp tục phòng bị nước đôi (hedging) trước
các nước lớn, để bảo vệ mình. Sau khi Nga xâm lược Ukraine, Việt Nam là nước
duy nhất trên thế giới đã mời Biden, Tập Cận Bình, và Putin đến thăm, trong khi
Cămpuchia và Lào gắn chặt vào quỹ đạo Trung Quốc. Thailand, một đồng minh của Mỹ,
cũng có thể ủng hộ việc cải thiện quan hệ Mỹ-Trung. Chỉ có Philippines là sẽ bất
lợi nếu Mỹ điều chỉnh chiến lược đối với Trung Quốc và Nga.
Lãnh
đạo mới
Ngày
2/4/2025, Tổng thống Trump đã công bố một loạt mức thuế quan đối ứng nhắm vào
180 nước, trong đó Việt Nam đối mặt với mức thuế 46%, có hiệu lực từ 9/4. Tuy
sau đó Trump đã tuyên bố hoãn 90 ngày để đàm phán, nhưng nếu duy trì, mức thuế
đó sẽ giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế dựa vào xuất khẩu của Việt Nam. Điều
đó không chỉ gây rắc rối cho Việt Nam mà còn cho thương mại toàn cầu và người Mỹ.
(How Will Vietnam Deal With President Trump’s Shocking Tariffs? Le
Hong Hiep, Fulcrum, 4 April 2025).
Thứ
nhất, mức thuế 46% đã làm Hà Nội bối rối, nhất là khi phía Mỹ nói rằng nó phản
ánh mức thuế 90% mà Việt Nam áp dụng với các sản phẩm của Mỹ. Thứ hai, Mỹ muốn
hạn chế việc trung chuyển hàng hóa Trung Quốc đi qua Việt Nam để né hàng rào
thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc (hiện ở mức 54%). Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng
Peter Navarro nói (6/4): “Việt Nam là ví dụ hoàn hảo cho gian lận phi thuế
quan. Việt Nam là thuộc địa kinh tế của Trung Quốc. Họ dùng Việt Nam làm điểm
trung chuyển để lách thuế”.
Tuy
mức thuế cao gây sốc, nhưng Hà Nội sẽ dựa vào biện pháp ngoại giao và thương mại
để xoa dịu lo ngại của Washington, nhằm tránh đối đầu. Điều đáng mừng là lãnh đạo
Việt Nam đã thích nghi nhanh và ứng xử kịp thời trước các thách thức mới khó lường.
TBT Tô Lâm đã điện đàm với Tổng thống Trump (4/4) và mời Trump sang thăm Việt
Nam. Hà Nội đã cử PTT Hồ Đức Phớc sang Mỹ đàm phán (10/4). Nhưng điều đáng lo
là liệu các quan chức Việt Nam có nâng cao năng lực đàm phán kịp thời để đối
phó với “Trump 2.0”?
Theo
Alexander Vuving (APCSS), những biến đổi sâu sắc dưới thời TBT Tô Lâm không chỉ
là cải tổ chính sách, mà còn để định hình lại đất nước và cân bằng quyền lực.
Chương trình nghị sự của Tô Lâm tập trung chủ yếu vào hiện đại hóa, nhưng cũng
gắn chặt với đấu tranh quyền lực trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIV (2026). Bằng
cách gắn tương lai chính trị của cá nhân mình với sự thay đổi toàn diện của đất
nước, Tô Lâm đang thực hiện một ván cược lớn: Nếu tầm nhìn này thành công, ông
sẽ củng cố di sản của mình là nhà lãnh đạo mang lại nhiều thay đổi nhất cho Việt
Nam trong nhiều thập kỷ. (Vietnam’s
new leader is raising expectations to a new level, Alexander Vuving,
Nikkei Asia, February 28, 2025).
Trong
ba mươi năm qua, Việt Nam đã theo thuyết bốn nguy cơ (được xác
định năm 1994) gồm “diễn biến hòa bình”, tụt hậu về phát triển kinh tế, chệch
hướng khỏi CNXH, và tham nhũng. Nay Tô Lâm đang viết
lại kịch bản. Ông xem tình trạng trì trệ kinh tế là mối nguy lớn nhất. Đại chiến
lược của ông khác hẳn với những người tiền nhiệm. Tầm nhìn của ông không phải
là sự sống còn mà là sự trỗi dậy, Đó là sự chấm dứt kỷ nguyên đổi mới.
Ông gọi kỷ nguyên mới là kỷ nguyên vươn mình, nhấn mạnh vào sự phục
hưng đất nước hơn là quản lý khủng hoảng. Thay đổi này không chỉ là về chính
sách, mà còn là về quyền lực.
Từ
lâu, Việt Nam cho rằng ổn định về ý thức hệ, cải cách dần dần có tính kế tục (gradualism)
là điều quan trọng nhất. Nay Tô Lâm đang phá bỏ sách lược này. Việc tái cấu
trúc bộ máy hành chính của đảng và nhà nước là động thái lớn nhất trong lịch sử
Việt Nam sau đổi mới. Tuy Tô Lâm cam kết hiện đại hóa vượt qua bất
kỳ lãnh đạo nào trước đây, nhưng điều đó cũng vì quyền lực: Bằng cách định hình
lại quỹ đạo của đất nước, ông đang củng cố quyền lực của chính mình. Câu hỏi là
liệu đây có phải là một sự chuyển đổi dài hạn thực sự, hay chỉ là một vở kịch
chính trị trước thềm Đại hội Đảng XIV.
Nhiều
năm qua, Trung Quốc đã thống trị chuỗi cung ứng toàn cầu và đẩy Việt Nam xuống
nhóm nước sản xuất có giá trị gia tăng thấp. Việc tái cấu trúc chuỗi cung ứng
này trong bối cảnh căng thẳng Mỹ-Trung đã tạo cơ hội cho Việt Nam leo cao trong
chuỗi giá trị, nhưng vẫn đầy bất định. Dù sao, quyết định cải cách của Tô Lâm
đã nâng kỳ vọng lên một mức cao chưa từng có. Nếu không đạt được các mục tiêu
kinh tế, các nhà lãnh đạo sẽ buộc phải tìm cách biện minh cho thất bại của
mình, hoặc đối mặt với rủi ro chính trị. Điều đó có nghĩa là bất kể các cải
cách của Tô Lâm có thành công hay không, cũng phải thúc đẩy hành động.
TBT
Tô Lâm không phải là một nhà cải cách theo mô hình tự do dân chủ như “Đổi Mới
2.0”, tiếp theo “Đổi Mới 1.0” (năm 1986). Nói cách khác, ông theo chủ nghĩa hiện
đại hóa như mô hình chủ nghĩa phát triển chuyên chế kiểu Đông Á của Park
Chung-hee ở Hàn Quốc. Tuy chủ trương cải cách của Tô Lâm là thật sự và nó có thể
làm thay đổi nhà nước và nền kinh tế Việt Nam một cách sâu sắc, nhưng đồng thời
đó cũng là một phương tiện để củng cố quyền lực. Cho dù cuối cùng Tô Lâm có
thành công hay thất bại thì rõ ràng ông đang định hình lại Việt Nam. Cục diện
chính trị đất nước sẽ không bao giờ như trước nữa.
Muốn
đánh giá một chính khách thực thụ, đừng xem việc người ấy làm, mà phải xem “hệ
quả của việc người ấy làm”. Dường như Tô Lâm không chỉ “quản trị sự thay đổi”,
mà còn đang “thay đổi cách quản trị”. Nói cách khác, muốn dẫn dắt sự nghiệp “đổi
mới lần thứ hai” thành công, lãnh đạo phải kiên quyết cải tổ hệ thống bằng
“cách mạng”, chứ không chỉ bằng thay đổi cách quản trị. Vì vậy, lãnh đạo cần phải
có cả năng lực “đổi mới tư duy” về hệ tư tưởng, chứ không chỉ cần năng lực “kỹ
trị”.
Người
ta hay nói “thời thế tạo anh hùng”. Nhưng anh hùng phải biến thời cơ thành hiện
thực. Điều đó không dễ. Trong lịch sử, Việt Nam đã có nhiều cơ hội, nhưng cũng
để mất nhiều cơ hội hiếm có. Thế giới đang thay đổi chóng mặt, với những biến số
khó lường. Chưa bao giờ Việt Nam đứng trước thời cơ lớn và thách thức lớn như
hiện nay. Điều đó đòi hỏi lãnh đạo cũng như toàn dân phải đồng lòng và quyết
tâm “biến nguy thành cơ”, vươn mình kiến tạo một nước Việt Nam cường thịnh,
phát triển đột phá trong kỷ nguyên mới.
Một
số chuyên gia cho rằng “mô hình Tô Lâm” kết hợp giữa di sản của cố TBT Nguyễn
Phú Trọng theo truyền thống Việt Nam về đối nội (chống tham nhũng) và về đối
ngoại (ngoại giao cây tre) với tính năng động và quyết đoán của một nhà cải
cách theo mô hình Đông Á. Điều đó tạo ra biến số quyết định cuộc chơi trong bối
cảnh chuyển giao lãnh đạo ở Việt Nam. Biến số đó phá vỡ nguyên trạng dựa vào chủ
nghĩa “đặc thù” và “tiệm tiến”.
Thay
lời kết
Trong
bối cảnh đó, chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Tập Cận Bình (14-15/4/2025) là
cơ hội để Trung Quốc lấy lòng Việt Nam, chứng tỏ là đối tác đáng tin cậy trong
khu vực. Trong chuyến thăm, hai bên đã ký 45 văn kiện. Theo Nguyễn Khắc Giang
(ISEAS), chuyến thăm “vừa là cơ hội vừa có rủi ro”. Trong khi Tập viết “không
ai thắng trong chiến tranh thương mại”, Trump nhận xét “họ tìm cách chơi Mỹ” (how
to screw the US). Còn Hà Nội không muốn mọi người nghĩ rằng họ quá gần
Trung Quốc. (Guardian, 14-15 April 2025).
Dư
luận quan tâm đến chuyến thăm vì hàm ý đối với bàn cờ Mỹ-Trung và quan hệ Việt-Trung.
Cách đây gần 2 năm, Chủ tịch Tập Cận Bình đã đến thăm Việt Nam (12/2023) sau
khi Tổng thống Joe Biden đã đến thăm để nâng cấp quan hệ Việt-Mỹ lên CSP
(9/2023). Tuy còn quá sớm để cho rằng cái bóng của Hội nghị Thành đô đã mờ nhạt,
nhưng có thể nói rằng quan hệ Việt-Trung đã chuyển sang một giai đoạn mới cân bằng
hơn. Đó là một bước ngoặt quan trọng, mở ra cơ hội để Việt Nam vươn mình trỗi dậy
trong kỷ nguyên mới.
———–
Tham
khảo
1. The Renegade
Order, Hal
Brands, Foreign Affairs, February 25, 2025
2. As Trump Abandons
Allies, How Will China Respond? James Palmer, Foreign Policy, February 25,
2025
3. Vietnam’s
new leader is raising expectations to a new level, Alexander Vuving,
Nikkei, February 28, 2025
4. How US-Russia-China
Ties Would Impact the Indo-Pacific, Derek Grossman, Foreign Policy, March
6, 2025
5. Chinese
politics may be in a calm before storm, Katsuji Nakazawa, Nikkei, March
20, 2025
6. How Will Vietnam Deal
With President Trump’s Shocking Tariffs? Le Hong Hiep,
Fulcrum, 4 April 2025
7. China Prepares to
Endure a Trade War, James Palmer, Foreign Policy, April 8, 2025
8. Xi Jinping kicks off
a factional battle for survival, Katsuji Nakazawa, Nikkei, April 10, 2025
9. 9. Underestimating
China, Kurt
Campbell and Rush Doshi,
Foreign Affairs, April 10, 2025
10. No winners in a trade
war, says China’s Xi as he heads to Vietnam on charm offensive, Rebecca Ratcliffe,
Guardian, 14 April 2025; China’s Xi Jinping is in Vietnam to figure out
how to ‘screw’ the US, says Trump, Kate Lamp, Helen Davidson,
Guardian, 15 April, 2025.
No comments:
Post a Comment