Monday, February 1, 2010

PHẢI ĐA ĐẢNG MỚI CHỐNG ĐƯỢC LẠM QUYỀN (1)

Phải đa đảng mới chống được lạm quyền (phần 1)
Trân Văn, phóng viên đài RFA
2010-02-01
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Multiparty-can-fight%20the-abuse-of-power-part1-02012010062802.html
Cách nay vài ngày, ai đó ở Việt Nam đã đưa lên website youtube hai video clip ghi lại cảnh chính quyền quận Hoàng Mai, Hà Nội tổ chức cưỡng chế thu hồi đất ở nghĩa trang Thanh Mai để thực hiện dự án hợp tác kinh tế, xây dựng Khu Di dân Đền Lừ 3, bất chấp sự phản đối của dân chúng địa phương.
Cũng cách nay vài ngày, nhiều diễn đàn điện tử và blog cung cấp nhiều thông tin, hình ảnh cho thấy chính quyền phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội đã tổ chức đập hàng rào thuộc tư gia của ông Cù Huy Hà Vũ – một Tiến sĩ Luật từng khởi kiện Thủ tướng Việt Nam vì ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái Hiến pháp và pháp luật hiện hành, cũng như từng chỉ trích một số chủ trương, chính sách của chính quyền.
Hai sự kiện vừa kể có gì đáng chú ý? Mời qúy vị nghe Trân Văn tổng hợp và tường trình...

Từ chuyện cưỡng chế cả mồ mả liệt sĩ

Theo thông tin do một số diễn đàn điện tử như Dân Luận Việt Nam và một số blog cung cấp, nghĩa trang Thanh Mai (còn gọi là nghĩa trang Ao Đường), tọa lạc tại phường Hoàng Văn Thụ, quận Hoàng Mai, Hà Nội là nghĩa trang duy nhất, trong số 10 nghĩa trang của làng Hoàng Mai, còn sót lại sau các đợt quy hoạch của thành phố Hà Nội. Nghĩa trang này là nơi an nghỉ của khoảng 5.000 người quá cố, trong đó có cả mộ của một vị tướng thời Lê và một số liệt sĩ người làng Hoàng Mai.
Trên số ra ngày 8 tháng 12 năm ngoái, tờ Đại Đoàn Kết, cơ quan ngôn luận của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam cho biết, UBND thành phố Hà Nội đã từng phê duyệt dự án hợp tác kinh tế, xây dựng Khu di dân Đền Lừ 3 và giao cho chính quyền quận Hoàng Mai đứng ra thu hồi đất thuộc dự án này từ năm 2005, song chính quyền quận Hoàng Mai không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao: phá bỏ nghĩa trang Thanh Mai - vì bị dân làng Hoàng Mai phản đối.
Tờ Đại Đoàn Kết dẫn lời của một cụ ông tên là Nguyễn Tiến Hà, giải thích lý do làng Hoàng Mai phản đối việc giải tỏa nghĩa trang Thanh Mai: Phường Hoàng Văn Thụ đã ba lần buộc di chuyển mồ mả nên chúng tôi không muốn di dời thêm lần nào nữa...
Tờ Đại Đoàn Kết còn tường thuật thêm rằng, dân chúng làng Hoàng Mai mong muốn chính quyền duy trì nghĩa trang Thanh Mai để những người đã khuất được “mồ yên, mả đẹp”.
Tuy nhiên cả chính quyền thành phố Hà Nội lẫn chính quyền quận Hoàng Mai, phường Hoàng Văn Thụ không quan tâm đến nguyện vọng đó.
Sáng 18 tháng 12 năm ngoái, họ đã tổ chức giải tỏa nghĩa trang Thanh Mai, thẳng tay đập phá mồ mả của những người đã khuất, kể cả mộ liệt sĩ.

Hai video clip được đưa lên youtube cho thấy, bất chấp phản ứng của dân chúng về sự tùy tiện, trái pháp luật, trong việc thu hồi đất, kể cả khi người ta gào khóc về việc mồ mả cha mẹ mình bị đập phá: ...Mẹ tôi... nó đào thế này à? Giời ơi!.. Ôi mẹ ơi... mẹ ơi... Cán bộ quận vẫn thản nhiên hối thúc: Bây giờ nó đang vắng, cho người đập tiếp các cái mộ đàng kia đi... Để mỗi quận làm thế này biết đến bao giờ... Quân em thuê về đâu làm luôn đi...
Qúy vị có thể vào youtube, tìm hai video clip mà chúng tôi vừa đề cập bằng từ khoá “quận Hoàng Mai” để xem trực tiếp cảnh tượng này!

Đến chuyện sáng đập, chiều xây

Những hình ảnh liên quan đến vụ cưỡng chế giải tỏa nghĩa trang Hoàng Mai để thu hồi đất, thực hiện dự án hợp tác kinh tế, xây dựng Khu di dân Đền Lừ 3 đang còn làm nhiều người sửng sốt thì ngày 27 tháng 1, dư luận tiếp tục xôn xao trước sự kiện chính quyền phường Điện Biên Phủ, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, tổ chức cưỡng chế phá bỏ bức tường là hàng rào ở tư gia của ông Cù Huy Hà Vũ.
Theo lời ông Cù Huy Hà Vũ thì một trận bão đổ vào Hà Nội hồi tháng 9 năm ngoái đã khiến hai cổ thụ trong vườn nhà ông bị tróc gốc, làm sập hàng rào. Ông Vũ đã thuê người xây một hàng rào khác và đến ngày 27 tháng 1 vừa qua, chính quyền phường Điện Biên Phủ đã đưa người đến cưỡng chế, phá sập bức tường mới xây với lý do “xây dựng trái phép”.
Vụ cưỡng chế, phá bỏ hàng rào ở tư gia ông Cù Huy Hà Vũ đã được nhiều diễn đàn điện tử, blog, kể cả một số cơ quan truyền thông quốc tế, trong đó có Đài Á châu Tự do, loan báo gần như lập tức.
Cách nay vài ngày, trả lời phỏng vấn của đài chúng tôi, sau khi phân tích những dấu hiệu lạm quyền, vi phạm pháp luật của chính quyền địa phương trong vụ này, ông Cù Huy Hà Vũ khẳng định, có những dấu hiệu cho thấy, đó chính là một hình thức răn đe mà ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Việt Nam chỉ đạo thực hiện.

Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All rights reserved.


NHỮNG VANG VỌNG của MỘT CUỘC XUNG ĐỘT Ý HỆ

Những vang vọng của một cuộc xung đột ý hệ
Eli Clifton, Asia Times Online
Trần Ngọc Cư dịch
01/02/2010 1:00 chiều
Chưa có phản hồi.
http://www.talawas.org/?p=15606
Trung Quốc đã phản ứng mạnh mẽ đối với bài diễn văn của Hillary Clinton, trong đó bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi Trung Quốc phải điều tra những vi phạm an ninh đã dẫn đến quyết định tuần qua của Google chấm dứt cộng tác với Trung Quốc trong việc kiểm duyệt Internet tại quốc gia này.
Vào hôm Chủ nhật, một người phát ngôn của Bộ Công nghiệp Trung Quốc đã bác bỏ thẳng thừng dư luận cho rằng Trung Quốc đã đứng đằng sau những vụ tấn công Internet mới đây. “Lời cáo buộc cho rằng chính phủ Trung Quốc nhúng tay vào bất cứ một cuộc tấn công nào trên không gian cyber, dù được nói ra rõ ràng hay chỉ là ngụ ý, là hoàn toàn thiếu cơ sở,” người phát ngôn nói. “Chúng tôi cương quyết chống lại luận điệu này.”
Tờ báo nhà nước Trung Hoa Nhật báo (China Daily) nói rằng chiến lược của Hoa Kỳ là “khai thác những lợi thế về ngân quĩ Internet, về khoa học kỹ thuật và khả năng tiếp thị nhằm xuất khẩu đường lối chính trị, thương mại và văn hoá của mình để phục vụ lợi ích chính trị, thương mại và văn hoá của siêu cường duy nhất trên thế giới”.
Diễn văn tuần qua của bà Clinton nói rõ lập trường của chính quyền Obama về tự do Internet và công khai kêu gọi nhà cầm quyền Trung Quốc điều tra những vi phạm an ninh mà Google cho rằng đã đưa đến quyết định của công ty là chấm dứt sự cộng tác của mình trong việc kiểm duyệt Internet tại Trung Quốc.
“Bất cứ ai phá hoại dòng luân lưu tự do của thông tin trong xã hội chúng ta hay bất cứ một xã hội nào khác cũng đều đặt ra một mối đe dọa cho nền kinh tế của chúng ta, cho chính phủ chúng ta và cho xã hội dân sự của chúng ta,” bà Clinton tuyên bố.
Vào ngày 12-1, Google loan báo sẽ chấm dứt việc kiểm duyệt các kết quả tìm kiếm qua máy của mình (its search engine results) tại Trung Quốc và, nếu không đạt được một thoả ước nào với chính phủ Trung Quốc, công ty này sẽ đóng cửa văn phòng tại Trung Quốc.
Tuyên bố của Google đi kèm với những tố cáo cho rằng tin tặc Trung Quốc đã xâm phạm an ninh của công ty để vào các trương mục e-mail của nhiều nhà ngoại giao, ký giả nước ngoài và các nhà hoạt động nhân quyền Trung Quốc.
Quyết định của công ty này, trong việc công bố những vụ vi phạm an ninh internet và trong việc không chịu tiếp tục kiểm duyệt các kết quả tìm kiếm qua máy của Google, đã mang lại sự chú ý đối với những nỗ lực kiểm duyệt của Bắc Kinh, cũng như đối với các tệ nạn gián điệp kinh tế và ăn cắp tài sản trí tuệ đang hoành hành tại các công ty nước ngoài. Theo các tường trình, những tệ này diễn ra là do chính bàn tay của hoặc nhằm phục vụ quyền lợi của các công ty Trung Quốc.
Mặc dù chính phủ Trung Quốc đã bác bỏ mọi liên can đến việc xâm nhập các trương mục email của Google và lên tiếng cam kết bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nhưng nhiều người ở Hoa Kỳ vẫn cho rằng Trung Quốc chưa có nỗ lực nghiêm chỉnh để bài trừ những vi phạm như thế.
Theo báo cáo của Phòng Điều tra Liên bang (FBI) được báo Daily Beast tiết lộ, chính phủ Trung Quốc đã triển khai 180 ngàn gián điệp mạng, một hành động “tạo ra mối đe doạ khủng bố mạng duy nhất to lớn nhất cho Hoa Kỳ và có tiềm năng phá hủy cơ cấu hạ tầng trọng yếu, làm gián đoạn dịch vụ ngân hàng và thương mại, đồng thời gây thương tổn cho các cơ sở dữ liệu quốc phòng và quân sự nhạy cảm.”
Bản báo cáo, nếu đúng, sẽ làm cho lời tố cáo của Google về những mưu mô riêng lẻ nhằm xâm nhập các trương mục e-mail trở thành bé nhỏ như phần nổi của một tảng băng sơn, và gợi ý rằng khả năng Trung Quốc dùng gián điệp mạng để lấy các bí mật của công ty nước ngoài và dùng khủng bố mạng là một mối đe dọa chạy xuyên suốt qua các vấn đề như nhân quyền, dịch vụ ngân hàng và thương mại, cũng như an ninh quốc gia.
“Ngoại trưởng Clinton đã nâng tự do Internet lên hàng ưu tiên chủ yếu, bằng cách đối đầu với các chính phủ kiểm duyệt ngôn luận trên mạng và bằng cách ủng hộ các công ty dám đứng lên bênh vực nhân quyền,” Arvind Ganesan, giám đốc ban doanh nghiệp và nhân quyền của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) đã nói như vậy. “Cái khó khăn hiện nay là thực hiện cho được những tiêu chí này bằng cách đưa tự do Internet vào trong chính sách ngoại giao, chính sách mậu dịch và tạo sức ép đáng kể buộc các công ty phải hành động có trách nhiệm.”
Thật vậy, những người cổ vũ quyền riêng tư của cá nhân và những nhóm bảo vệ nhân quyền đã lên tiếng ủng hộ quyết định của Google khi công ty này đứng lên phản đối chế độ kiểm duyệt của Bắc Kinh. Bài diễn văn của bà Clinton không những điểm qua các ngụ ý thực tiễn liên quan đến an ninh quốc gia [của Mỹ] trong các cuộc tấn công mạng (cyber attacks) do người Trung Quốc thực hiện, mà lại còn nhắc nhở đến cuộc đấu tranh ý thức hệ rộng lớn hơn đang trực diện với những công ty đến làm ăn với Trung Quốc, hay với các quốc gia chủ trương kiểm duyệt truyền thông.
Bà Clinton đã đúc kết nhận định của mình trong bối cảnh Internet ngày càng trở nên quan trọng trong việc nối kết người dân từ các quốc gia đa dạng như Iran sau cuộc tuyển cử đầy biến động tháng Sáu năm ngoái và Haiti sau vụ động đất tuần qua. Những bình luận bà Clinton đưa ra đã định nghĩa một học thuyết nói rõ lập trường của chính quyền Obama về tự do Internet và quyền riêng tư của cá nhân.
“Bản thân các công nghệ hiện đại không đứng về phe nào trong cuộc đấu tranh vì tự do và tiến bộ, nhưng Hoa Kỳ thì có lập trường dứt khoát,” bà Clinton nói.
“Chúng tôi đấu tranh cho một Liên mạng duy nhất (a single Internet) mà toàn nhân loại được bình đẳng tiếp cận tri thức và các ý kiến khác nhau. Và chúng tôi nhìn nhận rằng cơ sở thông tin hạ tầng này của thế giới [tức Internet, ND] sẽ giúp chúng ta cũng như bao nhiêu người khác rút tỉa nhiều điều khác nhau.
“Hiện nay, thách thức này dù còn mới mẻ, nhưng nghĩa vụ của chúng ta trong việc góp phần đảm bảo quyền tự do trao đổi ý kiến có gốc rễ từ ngày khai sinh nước cộng hoà của chúng ta. Lời của Tu chính hiến pháp Thứ nhất (the First Amendment) được ghi khắc trên 50 tấn cẩm thạch Tennessee nằm ngay trước toà nhà này,” bà Clinton nói, nhắc nhở đến một bảng khắc cao 74 bộ Anh [trên 20m] ghi lại Tu chính Thứ nhất tại Viện Thông tin (the Newseum) ở Washington DC, nơi bà đọc diễn văn. “Mọi thế hệ người Mỹ đã ra sức bảo vệ các giá trị truyền thống được khắc ghi trên tảng đá ấy,” bà Clinton đã nói ở Viện Thông tin tại thủ đô Hoa Kỳ.
Tường trình của báo chí gợi ý rằng hiện nay lập trường của Google có lẽ đã trở nên mềm dẻo hơn so với lời tuyên bố tuần trước của công ty này, lời tuyên bố nói: “Chúng tôi đi đến quyết định không muốn tiếp tục kiểm duyệt các kết quả tìm kiếm trên Google.cn của chúng tôi, và vì vậy trong vài tuần lễ nữa chúng tôi sẽ thảo luận với chính phủ Trung Quốc về cơ sở theo đó chúng tôi có thể điều hành một máy tìm kiếm không sàng lọc thông tin (an unfiltered search engine) nằm trong khuôn khổ pháp luật, nếu chúng tôi còn tiếp tục nghiệp vụ tại Trung Quốc.”
Quyết định của Google thôi cộng tác trong việc kiểm duyệt các kết quả tìm kiếm có nghĩa là cư dân mạng Trung Quốc không thể tiếp tục sử dụng máy tìm kiếm của công ty này tại Trung Quốc, nhưng vẫn còn khả năng để hai bên đạt được một tương nhượng (compromise), theo đó Google sẽ giữ lại một số văn phòng tại Trung Quốc, gồm kỹ sư và nhân viên tiếp thị, đồng thời dự phần bé nhỏ vào công nghiệp điện thoại di động tại Trung Quốc.
(Theo tin của Inter Press Service cộng thêm phần tường thuật của Asia Times Online.)

Nguồn:
http://www.atimes.com/atimes/China/LA26Ad01.html

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Ngọc Cư
Bản tiếng Việt © 2010 talawas

TIN TẶC ĐẾN TỪ ĐÂU ?

Tin tặc đến từ đâu
Đinh Từ Thức
01/02/2010 10:15 sáng
4 phản hồi
http://www.talawas.org/?p=15598
Cuối tháng 12 vừa rồi, trong khi talawas đang sôi nổi thảo luận quanh đề tài kiểm duyệt trên Thơ đến từ đâu, thì bỗng nhiên, cùng với Bauxite Việt Nam, bị tin tặc tấn công gây thiệt hại nặng, vào đúng dịp nổ ra vụ đụng độ giữa hai khổng lồ cũng về vấn đề kiểm duyệt, là Google và Trung Quốc. Thành ra, vấn đề nên tìm hiểu bây giờ, là tin tặc đến từ đâu?
Mọi người sử dụng computer đều biết Google, công ty chủ quản bộ máy truy tìm lớn nhất thế giới. Mới thành lập năm 1998, chỉ trong một thập niên, Google đã có mức thu nhập tới 22 tỷ đô la một năm, và mỗi cổ phiếu giá 85 đô khi lần đầu tiên bán cho công chúng vào năm 2004, đã lên tới trên 500 đô hai năm sau.
Đầu năm 2006, Google vào làm ăn tại thị trường khổng lồ Trung Quốc, thiết lập bộ máy truy tìm tiếng Hán dưới thương hiệu Google.cn, với điều kiện chấp thuận kiểm duyệt do chính quyền Bắc Kinh đặt ra. Có một số đề tài không được tiếp cận. Ví dụ, khi người tìm kiếm đánh những chữ “Thiên an môn” (Tiananmen), hay “Đạt Lai Lạt Ma” (Dalai Lama) thì chỉ tìm được một màn ảnh trắng. Khi ấy, trước chỉ trích coi trọng lợi nhuận hơn nhân quyền là tự do thông tin, Google đã trả lời rằng mối lợi đem thông tin đến cho nhiều người dân Trung Quốc quan trọng hơn việc không thoải mái khi phải đồng ý kiểm duyệt một vài kết quả tìm kiếm. Quan điểm này khá giống với những người cho rằng thà có sách bị kiểm duyệt xuất bản ở Việt Nam, hơn là không có.
Việc Google chịu nhượng bộ về kiểm duyệt để được vào làm ăn ở Trung Quốc đã gây một cơn bão chính trị trong dư luận Hoa Kỳ. Quốc Hội đã phải mở cuộc điều trần, và trước những cố gắng giải thích của Google, vụ này vẫn bị coi là một khuyết điểm.
Một nhà bất đồng chính kiến tại Trung Quốc là Li Jian, tuy sống dưới sự theo dõi thường trực của công an, cũng cố phát biểu rằng sự nhượng bộ của Google là một phản bội. Vì Google là một công ty quốc tế lớn, đã bỏ mất cơ hội thuyết phục nhà cầm quyền Trung Quốc mở rộng hơn quyền tự do phát biểu. “Google đã rớt trong thử thách căn bản về đạo lý”. Li Jian còn tự đặt câu hỏi: “Nếu chính quyền Hoa Kỳ yêu cầu tự kiểm duyệt tại Mỹ, liệu Google có chịu không?”
Số người làm việc tại trụ sở Google.cn ở Bắc Kinh lên tới 700. Khách sử dụng Internet tại Trung Quốc hiện nay khoảng 386 triệu, một thị trường lớn nhất thế giới. Nhưng khách hàng của Google chỉ vào khoảng một phần ba.

Baidu (Bách Độ) vs. Google
Vào năm 2000, khi Google nở rộ trên thế giới Internet, người sử dụng computer tại Trung Quốc đã có thể truy cập dữ kiện qua mạng Google.com, nhưng rất chậm trễ và nhiều trở ngại. Lý do là các cơ sở chính cung cấp dịch vụ cho Google ở ngoài Trung Quốc, và kết quả tìm kiếm bị hệ thống kiểm duyệt sàng lọc trước khi tới mắt người tìm. Muốn làm ăn tại thị trường khổng lồ nhiều hứa hẹn, Google phải chịu điều kiện kiểm duyệt do Bắc Kinh đặt ra. Cùng mang DNA Google, nhưng đứa con ra đời tại Trung Quốc mang tên Google.cn có những giới hạn bẩm sinh “Made in China”, không hoàn toàn tự do như đứa con “Born in USA”.
Khi Google.cn ra đời tại Trung Quốc, ở đây đã có một công ty khác chuyên về truy tìm, là Baidu, do một thanh niên Trung Quốc đứng đầu; Robin Li, hay Li Yanhong, sinh năm 1968. Dù trẻ, Robin Li cũng vẫn già hơn người sáng lập ra Google tới 5 tuổi, là cặp bài trùng Sergey Brin và Larry Page, cả hai cùng sinh năm 1973. Khi vụ Thiên an môn bùng nổ năm 1989, Li mới đang học năm thứ nhì Đại học Bắc Kinh. Nhưng anh lo học hơn biểu tình, được yên ổn tốt nghiệp đại học, thay vì vào tù hay chạy trốn. Du học Mỹ, có bằng cao học về computer năm 1994, làm cho Wall Street Journal, và Infoseek tại Silicon Valley. Sau đó về nước, cùng với bạn (Eric Xu) lập ra Baidu năm 2000. Sau khi cổ phần Baidu bán cho công chúng, Li và Xu đã được Forbes.com liệt kê trong danh sách 400 người giàu nhất Trung Quốc.
Cuộc cạnh tranh giữa Google và Baidu quyết liệt ngay từ khởi đầu. Dưới mắt giới khoa bảng, trí thức, Google uy tín hơn, vì là một công ty lớn quốc tế, có tư thế độc lập, đáng tin cậy, nhưng bị coi là công ty của nước ngoài, tới Trung Quốc chỉ vì mục tiêu lợi nhuận. Baidu bị coi là phụ thuộc vào chính quyền, thiếu vô tư, không đáng tin. Nhưng có lợi thế là công ty của người Trung Quốc, phục vụ người Trung Quốc theo cách làm ăn của Trung Quốc; đôi khi lem nhem so với tiêu chuẩn quốc tế. Khách hàng trung lưu đông hơn khách hàng khoa bảng trí thức, khiến thị phần của Baidu cao gấp đôi thị phần Google: gần 64% so với trên 31% vào mùa Thu năm ngoái.

Google vs. China
Ngoài việc cạnh tranh ráo riết với Baidu, Google còn phải thường xuyên đối phó với chính quyền Trung Quốc. Nhà nước hay đưa ra những đòi hỏi mới. Thỉnh thoảng Google phải thêm vào danh sách kiểm duyệt một số đề mục, hay phải bỏ đi một số link để làm vừa lòng quan chức chủ nhà. Nhưng dù nhượng bộ, họ vẫn có vẻ không thỏa mãn. Căng thẳng giữa Google và chính quyền Trung Quốc ngày càng tăng. Vào năm 2009, chính quyền Trung Quốc đã làm xấu mặt Google qua khiển trách về những websites có sex. Nhưng quan trọng hơn cả là những vụ tin tặc tấn công vào mạng gmail mới đây. Điều này khiến Google không thể chịu đựng thêm, và phải có quyết định dứt khoát: Tự do hay ra đi.
Trong lời tuyên bố chính thức phổ biến vào trưa 12 tháng 1, Google viết: “Vào giữa tháng 12, chúng tôi khám phá thấy một cuộc tấn công tinh vi cao độ có mục tiêu nhắm vào hạ tầng cơ sở của chúng tôi, phát xuất từ Trung Quốc, đưa tới kết quả là lấy cắp sở hữu trí tuệ từ Google…”
Bản tuyên bố cho biết ba chi tiết đáng lưu ý:
1. Cuộc tấn công không phải chỉ nhắm vào Google, mà còn nhắm tới ít nhất 20 công ty lớn khác.
2. Có bằng chứng gợi ý rằng mục tiêu sơ khởi của các tin tặc là đột nhập các mạng trên google của các nhà vận động nhân quyền Trung Quốc.
3. Mạng của hàng chục nhà vận động nhân quyền tại Trung Quốc sử dụng email có cơ sở tại Hoa Kỳ, Trung Quốc và Âu châu đã thường xuyên bị phía thứ ba xâm nhập.
Lời tuyên bố đưa đến quyết định:
“Những vụ tấn công này và hành vi theo dõi đã bị khám phá – cùng với những toan tính trong năm qua để tăng thêm hạn chế về tự do ngôn luận – đã khiến chúng tôi đi đến kết luận rằng chúng tôi sẽ phải xét lại sự khả thi trong việc kinh doanh tại Trung Quốc. Chúng tôi đã quyết định sẽ không tiếp tục kiểm duyệt kết quả truy tìm trên Google.cn, và trong vài tuần tới chúng tôi sẽ thảo luận với nhà cầm quyền Trung Quốc về cơ sở trên đó chúng tôi có thể hoạt động không sàng lọc việc truy tìm trong khuôn khổ luật pháp, nếu có. Chúng tôi thừa nhận rằng việc này có thể mang ý nghĩa phải đóng cửa Google.cn và có thể rút khỏi Trung Quốc.”

Đạo đức vs. kinh doanh
Nhà báo Fareed Zakaria của Newsweek, trên số báo đề ngày 25 tháng 1, 2010, đã ghi lại cuộc phỏng vấn Chủ tịch điều hành của Google là Eric Schmidt. Được hỏi chuyện gì đã xảy ra trong mấy tháng qua khiến Google phải đi đến quyết định như vậy? Trả lời: Chúng tôi có rất nhiều bằng chứng về việc theo dõi các nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc trên Web. Chúng tôi không có bằng chứng rõ ràng ai làm công việc theo dõi, xin quý vị tự tìm ra kết luận. Hỏi: Có ai nói rằng nhệm vụ chính của ông là đem lại lợi nhuận tối đa cho cổ đông? Trả lời: Đây không phải là một quyết định về kinh doanh – quyết định kinh doanh rõ ràng là phải tiếp tục tham dự thị trường Trung Quốc. Đó là quyết định dựa trên giá trị [đạo đức] (values). Chúng tôi ráng hỏi cái gì tốt nhất trên bình diện toàn cầu. Hỏi: Ông có nghĩ rằng Trung Quốc vẫn có thể toàn cầu hóa trong khi duy trì chế độ kiểm duyệt? Trả lời: Trung Quốc đặt ra giới hạn thông tin chỉ có vài nước làm như vậy. Trung Quốc là nước duy nhất trên thế giới Google sẵn sàng cung cấp một mạng địa phương tuân theo chế độ kiểm duyệt. Chúng tôi không làm như vậy tại bất cứ đâu… Như vậy, Trung Quốc đặt ra giới hạn duy nhất về thông tin.
Cứ như lời lẽ từ nhân vật cao cấp nhất của Google thì quyết định đương đầu với Trung Quốc là thái độ coi trọng giá trị tinh thần hơn vật chất, chọn tự do trên lợi nhuận. Chính vì thế, Google đã được ca tụng như hiệp sĩ chống lại cường quyền để bênh vực lẽ phải. Các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới, trước đây từng chỉ trích Google nhượng bộ Trung Quốc, đã khen ngợi quyết định chấm dứt kiểm duyệt của Google là thái độ dũng cảm. Nhiều người Trung Quốc đã đem hoa tới đặt tại bảng hiệu Google.cn trước trụ sở chính ở Bắc Kinh để bày tỏ cảm tình, và cho biết sẽ rất tiếc nếu Google cuối cùng phải cuốn gói ra đi.
Nhưng cũng có lập luận khác cho rằng, việc Google đến hay đi, hoàn toàn chỉ là chuyện kinh doanh. Đến để làm tiền, và đi, vì mọi chuyện không suôn sẻ như đã tưởng. Không suôn sẻ, vì chủ trương khép kín của Bắc Kinh: Bảo vệ thị trường Trung Quốc cho người Trung Quốc.
Một bài báo trên Foreignpolicy.com ngày 15 tháng 1 viết rằng:
Hành động của Google không phải là thái độ can đảm đương đầu với Trung Quốc về việc thiếu tự do Internet. Thật ra, nó chỉ giản dị là một giọt nước cuối cùng không tránh được tràn ly. Google, cũng như Yahoo trước đó đã bị tống khứ khỏi thị trường Trung Quốc bởi chính quyền ở đây quyết tâm loại bỏ mọi cạnh tranh của ngoại quốc trên công nghệ Internet của họ, mà dự trù sẽ thu được 8 tỷ đô la quảng cáo trong ba năm tới.
Bài báo này còn chỉ ra rằng việc Google ra đi chỉ là công ty cuối cùng sau một loạt xí nghiệp Internet ngoại quốc đã phải âm thầm ra đi, để được thay thế bằng các công ty nội địa: Tháng Ba năm 2009, YouTube bị ngăn chặn hoàn toàn, dồn khách hàng sang mạng nội địa tương tự là Youku và Tudou. Rồi đến tháng Bảy, Facebook bị chặn để thay bằng Ren Ren Wang và Kai Xin Wang.

Tin tặc đến từ đây

Dù có trong tay bộ máy truy cập khổng lồ bao trùm cả thế giới, Google chỉ có thể chính thức nói chắc là tin tặc đến từ nội địa Trung Quốc, mặc dầu để cố đánh lạc hướng, họ đã tấn công từ sáu bảy ngả khác nhau, và bằng những con đường quanh co qua Đài Loan, và cả Mỹ. Về mặt công khai, Google cũng như nhiều chuyên viên an ninh mạng khác nêu rõ nơi tin tặc phát xuất là Trung Quốc, nhưng không thể nói chắc là chính quyền hay tư nhân, hoặc tư nhân được chính quyền hỗ trợ hay khuyến khích. Nhưng về mặt riêng tư, các chuyên viên này nghiêng về phỏng đoán thủ phạm là chính quyền.
Theo tin Reuters gửi đi từ Thượng Hải ngày 18 tháng 1, có dấu hiệu cho thấy rất có thể một hay nhiều nhân viên người Trung Quốc làm cho Google đã tiếp tay cho công tác phá hoại. Dựa theo tin địa phương, nguồn tin cho biết kể từ sau ngày 13 tháng 1, một số nhân viên Google người Trung Quốc đã mất quyền vào hệ thống mạng nội bộ, trong khi một số khác bị cho tạm nghỉ, hay bị thuyên chuyển tới các văn phòng khác ở Á châu Thái Bình Dương. Làm việc cho Google, nếu phá hoại thay vì bảo vệ công việc của mình, chắc phải theo chỉ thị quan trọng từ cấp cao.
Nếu tin tặc đến từ nhà cầm quyền Trung Quốc, họ tấn công để làm gì? Tuyên bố chính thức của Google cho biết có ít nhất 20 công ty lớn bị tấn công. Tin Washington Post sau đó cho biết có tới 34 cơ sở bị xâm phạm. Rồi lại có tin số người bị phá nhiều hơn nữa, và hầu hết đều có liên hệ tới hoạt động của các nhà vận động dân chủ và nhân quyền. Bản tin Việt ngữ của đài RFI phát đi từ Pháp ngày 19 tháng 1 cho hay:
Thông tin đến từ Bắc Kinh cho biết, hội các nhà báo nước ngoài tại Trung Quốc đã khẳng định trong một bản thông cáo là, nhiều phóng viên vừa mới phát hiện ra rằng hộp thư điện tử của họ đã bị tin tặc xâm nhập, và các e-mail bị chuyển đến một địa chỉ lạ. Các nhà báo này sử dụng hệ thống Gmail của Google.
Một trong số các phóng viên trên đã bày tỏ sự phẫn nộ và lo lắng của mình, được hãng thông tấn Pháp AFP trích lại như sau: “Đời tư của tôi đã bị xâm phạm, và nhất là điều đó làm cho nhiều người bị nguy hiểm”.
Theo tổ chức Phóng viên không biên giới của Pháp, việc xâm nhập này là nhằm mục đích giúp cho chính quyền Trung Quốc có được những thông tin về các nhà hoạt động cho nhân quyền vẫn cung cấp tin tức cho báo chí.

Như thế, mục tiêu tấn công của tin tặc là chính trị. Nhưng bài báo đã dẫn của Foreign Policy lại có nhận xét khác:
Khi truyền thông tường trình rằng quyết định của Google là hành động chống lại cố gắng của Trung Quốc cần kiểm duyệt Internet và do thám các nhà vận động, và không nhằm bảo vệ thị trường, là sai. Trong một nước mà các nhà đối kháng thường bị bỏ tù hàng năm không xét xử với tội trạng “vận động lật đổ nhà nước”, và dân khiếu kiện nghèo ở nông thôn bị ném vào trong các nhà giam ghê tởm ở Bắc Kinh chỉ vì phát tán khiếu nại, thì có vẻ lạ lùng nếu Trung Quốc thật sự cần đột nhập mạng email của các nhà vận động nhân quyền.

Đúng là những chế độ độc tài như Trung Quốc hay Việt Nam, muốn bắt ai thì bắt, muốn xử án nặng bao nhiêu cũng được, cần gì phải đột nhập mạng để tìm bằng chứng buộc tội. Nhưng độc tài cai trị trên sự sợ hãi của người dân, và chính họ cũng có nỗi sợ hãi thường trực, là lo bị lật đổ. Họ đột nhập mạng, ngoài việc tìm bằng chứng trừng phạt kẻ chống đối, còn muốn biết rõ đường đi nước bước của những cá nhân hay tổ chức bị nghi có âm mưu lật đổ chế độ, để đề phòng. Ngoài ra, trong thời đại toàn cầu hóa ngày ngay, mỗi cá nhân hay tổ chức không phải chỉ có liên lạc trong phạm vi biên giới quốc gia. Những người nhà cầm quyền bắt bỏ tù lúc nào cũng được, còn có những liên hệ ngoài tầm tay của chế độ, trong khi Internet có thể cho biết những liên hệ của một cá nhân hay tổ chức với khắp nơi trên thế giới.
Trong một nước thực sự dân chủ, mọi sự đều minh bạch, người dân được phơi bày ý kiến bằng mọi hình thức, người ta thay đổi chính quyền bằng lá phiếu, không bằng đảo chánh, nên không cần moi tìm bí mật của dân. Thật là nghịch lý tới mức khôi hài, tại những nước độc tài, người ta bịt miệng, không cho dân nói ra những ý nghĩ sâu kín trong lòng, rồi lại dùng bạo lực hay việc làm phi pháp ám muội để theo dõi, tìm hiểu những điều bí ẩn ấy. Vì thế, tin tặc ngày nay có thể là đạo quân quan trọng nhất để bảo vệ chế độ.

Một công, đôi việc
Trong vụ Google, đã biết tin tặc đến từ Trung Quốc, và nhằm mục tiêu chính trị, hay ít nhất, vừa thương mại vừa chính trị. Nhưng tin tặc đánh phá talawas và Bauxite.vn vào trước lễ Giáng Sinh, và sau đó một số mạng khác vào đầu năm như Cao trào Nhân bản, Dân Luận và X-Café…, có liên hệ gì tới Trung Quốc?
Nhìn chung, tuy ở mức độ nhiều it khác nhau, nhưng các website Việt Nam bị tấn công phá hoại đều có điểm giống nhau, là không thân thiện với Trung Quốc, và có số khách truy cập cao. Nhìn vào trang nhà talawas, không cần biết tiếng Việt cũng có thể nhận ra vấn đề được thảo luận nhiều hơn cả, là Hoàng Sa Trường Sa. Còn Bauxite.vn, chỉ cần nhìn hay đọc lên cái tên mạng, cũng đã đủ làm “người lạ” ngứa ngáy.
Ngoài điểm làm phiền lòng Trung Quốc, talawas và Bauxite còn có điểm chung là không vừa lòng nhà cầm quyền Việt Nam. Một cỗ máy truy cập khổng lồ như Google, vẫn chỉ có thể nói tin tặc phát xuất từ Trung Quốc, không biết chắc là từ chính phủ hay thường dân. Vậy, nếu talawas và Bauxite không có đủ bằng chứng để nói rõ tin tặc đã phá mình là ai, từ Việt Nam hay Trung Quốc, thì cũng dễ hiểu.
Trong trường hợp không bắt được quả tang thủ phạm, chỉ còn một cách là suy luận theo sự khôn ngoan của quan tòa, và quý vị phụ tá công lý, là tìm thủ phạm bằng cách trả lời hai câu hỏi: Một là nạn nhân có thù hằn với ai và, hai là kẻ nào được hưởng lợi? talawas và Bauxite có thể là thù của Trung Quốc không? Nhìn vào lịch sử Trung Quốc, ngay cả các thành phần trong hoàng tộc thời phong kiến, hay cả các đảng viên cao cấp thời chính quyền nhân dân, hoặc cả nước anh em khắng khít răng môi, nếu không vừa lòng người cai trị, đều có thể dễ dàng mất mạng, hay bị cho một bài học. talawas và Bauxite, dù nhỏ như cái gai, để lâu khó chịu.
Tại sao tin tặc không đến từ Việt Nam? Ở Việt Nam hiện nay, hầu như cái gì cũng đến từ Trung Quốc, nên tin tặc cũng đến từ Trung Quốc, là suy luận có vẻ hợp logic. Nếu suy luận chưa đủ, xin kể vài bằng chứng: Gần đây, có một trang web về hợp tác Biển Đông, trên danh nghĩa, do một Bộ của chính phủ Việt Nam chịu trách nhiệm, nhưng do Trung Quốc phụ trách giúp về kỹ thuật. Vụ thứ nhì, là các cơ quan thông tin chính thức của Việt Nam, như Thông Tấn Xã và báo Đảng Cộng sản, đã đăng lại tin của Trung Quốc xác nhận chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Làm tin chính thống, Việt Nam còn chê, lẽ đâu làm tin tặc.
Trung Quốc đánh phá talawas và Bauxite là làm một việc, mà lợi gấp đôi. Lợi một là triệt hạ được những kẻ dám động tới “Thiên triều”, lợi hai là gia ân cho các đồng chí “Vịt Nằm”.
Riêng trong vụ đánh phá Bauxite, ngoài việc gây thiệt hại về kỹ thuật, còn kèm theo một cố gắng đê tiện hơn, là giả mạo thư tín để chia rẽ nội bộ ban điều hành. Phần phá hoại về kỹ thuật, có thể do tin tặc “lạ” phụ trách, nhưng cái phần bịa đặt để chia rẽ, có vẻ gần gũi “bản sắc dân tộc”, chắc do “ta” chủ trương.

USA Google China
Mới đầu, quyết định của Google có vẻ như tranh chấp giữa một công ty tư nhân Hoa Kỳ, và chính phủ một nước ngoài, không cần đến sự can thiệp trực tiếp của chính phủ. Theo tin VOA loan đi từ Bắc Kinh ngày 15 tháng 1 về thái độ của Đại Sứ Hoa Kỳ Jon Huntsman: “Giới chức Mỹ cấp cao nhất ở Trung Quốc cho biết chính phủ Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài các cuộc thương nghị giữa đại công ty điện toán Google và chính phủ Trung Quốc. Tuy nhiên, cùng lúc đó, giới chức này nhấn mạnh rằng vấn đề tự do Internet có liên quan đến tự do ngôn luận, là một giá trị cốt lõi của Mỹ”. Nhưng mười ngày sau, chính phủ Hoa Kỳ đã nhập cuộc bằng những lời tuyên bố mạnh mẽ về tự do Internet của Ngoại trưởng Hillary Clinton, và chính quyền Trung Quốc đáp lại một cách gay gắt hơn.
Trong cuộc họp có sự hiện diện của nhiều nghị sĩ, dân biểu và giới truyền thông tại Bảo tàng Truyền thông (Newseum) ở Washington vào sáng 21 tháng 1, bà Clinton đã công bố đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ trong Thế kỷ 21, mang tên “21st Century Statecraft” mà trọng tâm là tự do Internet.
Bà Clinton nói: “Một tấm màn thông tin mới đã hạ xuống che phủ nhiều phần của thế giới”.
Trong bài diễn văn dài một tiếng về điều BBC gọi là “Học thuyết Clinton” (Clinton Doctrine), bà tuyên bố: “Năm ngoái, chúng tôi đã nhìn thấy dấu hiệu đe dọa tự do thông tin. Trung Quốc, Tunisia, và Uzbekistan đã gia tăng kiểm duyệt Internet. Tại Việt Nam, tiếp cận với các mạng xã hội nổi tiếng đã thình lình biến mất”.
Bà nói tiếp:
Một số quốc gia đã dùng Internet như một dụng cụ để bịt miệng dân chúng về tín ngưỡng. Ví dụ, năm ngoái, một người đã bị tù nhiều tháng tại Saudi Arabia, vì đã viết trên blog về Thiên chúa giáo, và một nghiên cứu của Harvard cho biết chính quyền Saudi đã chặn nhiều websites về Ấn giáo, Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, và ngay cả Hồi giáo. Nhiều nước kể cả Việt Nam và Trung Quốc đã dùng kỹ thuật tương tự để hạn chế tiếp cận thông tin tôn giáo.

Vẫn trong khuôn khổ bài diễn văn trên, bà Clinton thẳng thừng phủ nhận kiểm duyệt. Bà nói: “Và kiểm duyệt không nên được chấp nhận dưới mọi hình thức bởi bất cứ công ty nào từ bất cứ đâu. Và tại Hoa Kỳ, các công ty Mỹ cần phải đề ra một lập trường về nguyên tắc. Điều này cần được coi như một phần trong thương hiệu quốc gia của chúng ta. Tôi tin rằng giới tiêu thụ toàn cầu sẽ tưởng thưởng những công ty theo các nguyên tắc đó”.
Một ngày sau lời phát biểu của bà Clinton, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng những lời cáo buộc của Hoa Kỳ về việc kiểm soát Internet trái ngược với thực tế và có thể làm tổn hại quan hệ Hoa Kỳ-Trung Quốc, và: “Chúng tôi yêu cầu Hoa Kỳ tôn trọng các sự kiện thực tế và chấm dứt cái gọi là tự do Internet để chống lại Trung Quốc vô căn cứ”.

Như vậy, chính phủ Hoa Kỳ đã chạy theo thái độ đương đầu với Trung Quốc của Google, hay Google đã được sắp xếp mở đường cho chính phủ? Ông Rao Jin, người sáng lập ra mạng hội luận Anti-CNN.com và có lập trường bênh chính quyền Trung Quốc cho rằng Google đã quyết định dưới áp lực của bà Clinton, vì bà đã gặp chủ tịch điều hành của Google trước đó, như là một phần trong nỗ lực thăng tiến tự do Internet trên toàn thế giới.

Không hiểu mối liên hệ giữa bà Clinton và Google ra sao, nhưng sau đây là vài sự kiện dễ dàng kiểm chứng:
- Trước chuyến đi đầu tiên sang Trung Quốc vào năm ngoái, bà Clinton đã tuyên bố bà không muốn để cho vấn đề nhân quyền gây trở ngại cho mối giao hảo với Trung Quốc, vì Hoa Kỳ còn cần sự hợp tác của Trung Quốc trên nhiều lãnh vực khác về kinh tế, an ninh, môi sinh…
- Trong chuyến viếng thăm Trung Quốc tháng 11 năm ngoái, Tổng thống Obama đã bị miệt thị: Bị kiểm duyệt tại Thượng Hải, và không được trả lời báo chí tại Bắc Kinh. Rồi sau đó, bị Thủ tướng Ôn Gia Bảo khinh thường tại hội nghị về môi sinh tại thủ đô Đan Mạch.
- Ông Eric Schmidt, nhân vật cao cấp nhất của Google vốn là cố vấn không chính thức cho ông Obama, đã từng đi vận động cho ông Obama khi ông này tranh cử tổng thống.

Khởi đầu là Google đụng độ với Trung Quốc, tiếp theo là Hoa Kỳ đụng độ với Trung quốc vì Google.
Giống như máy in và máy hơi nước trong thiên niên kỷ trước là những cỗ xe tiến bộ của nhân loại, Internet là cỗ xe tiến bộ của đầu thiên nên kỷ này. Phá hoại Internet là làm chậm lại đà tiến của nhân loại, hay tệ hơn, đi ngược hướng tiến của nhân loại. Trong một cuộc thi, những kẻ chạy ngược chiều, tất nhiên, không bao giờ tới đích.
Ngoài ra, những ai nghĩ rằng có thể kiểm soát, hay kiểm duyệt được Internet, là quá ngây thơ. Ngày xưa, khi thực dân Pháp muốn bịt miệng một người yêu nước như cụ Phan Bội Châu, chỉ cần mang cụ về nhốt ở Bến Ngự, là xong. Hay muốn triệt hạ một anh hùng dân tộc như Nguyễn Thái Học, chỉ việc mang lên đoạn đầu đài. Nhưng với Internet thì vô phương. Phá cái này, bung ra cái khác. Triệt hạ một mạng, có thêm hàng chục, hàng trăm mạng khác mọc lên.
Sự trở lại của talawas,
Bauxite là kinh nghiệm cụ thể.

© 2010 Đinh Từ Thức
© 2010 talawas



NGƯỜI NGHÈO, CHÓ DỮ và NHỮNG ÔNG CHỦ GIÀU

Người nghèo, chó dữ và những ông chủ giàu
Phạm Duy Nghĩa
Tuổi Trẻ Cuối Tuần – Thứ Bảy, 30/01/2010
LBT – Đằng sau những lời lẽ kiềm chế của nhà Luật học, giáo sư Phạm Duy Nghĩa, là những giọt nước mắt lặn vào trong của người trí thức còn khá xa mới đến tuổi sáu mươi. Xin anh Nghĩa cho phép đưa bài anh lên trang mạng mới phục hồi có cái tên hẳn là quen thuộc với anh.
Bauxite Việt Nam
http://boxitvn.blogspot.com/2010/02/nguoi-ngheo-cho-du-va-nhung-ong-chu.html

TTCT – Suy nghĩ từ vụ chó bécgiê cắn chết một phụ nữ đi mót cà phê ở Buôn Ma Thuột (Coi hộp nêm dưới).
Lại một phận nghèo lìa đời trong nỗi sợ hãi cùng cực. Đàn chó dữ là những con vật, song nhân viên bảo vệ là một con người, ông ta hô “diệt” đàn chó sẽ lao vào cắn xé, hô “ngưng” người đàn bà xấu số kia có cơ may thoát nạn. Trời phương Nam ấm áp mà đôi khi lạnh lẽo. Bởi đâu mà nhân phẩm và mạng sống con người bị xem rẻ chẳng bằng mấy hạt cà phê còn sót trên cây.

Người giàu giữ của, điều ấy đúng, song có của cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng. Nuôi chó dữ giữ nhà là quyền của người giàu, song người nuôi chó phải cảnh báo cho cộng đồng về các mối hiểm nguy ấy, phải có tường bao che chắn, nếu chó tấn công người – dù người ấy phạm tội, chủ nuôi chó cũng phải ra tay bảo vệ mạng sống con người trước hết.


Loài người biết nuôi chó, kể cả chó dữ, từ ngàn vạn năm nay, những quy tắc chung sống ấy tự nhiên ai cũng hiểu. Chỉ có điều nhiều người bây giờ giàu lên một cách khó hiểu, của cải mang đến cho họ nhiều quyền năng tới bất ngờ. Với nhiều người ấy, quy tắc sống quen được dàn xếp bằng tiền bạc và những hàm răng chó dữ.

Luật pháp chính là những quy tắc sống. Muốn bảo vệ nhân phẩm, Nhà nước ta phải nghiêm trị những hành vi coi rẻ mạng sống con người. Tôi không hề tin nước ta thiếu luật. Từ trách nhiệm của chủ vật nuôi, trách nhiệm đền bù dân sự cho tới các tội gây thương tích và vô ý gây chết người không hề thiếu luật, nước ta chỉ thiếu sự nghiêm minh. Muốn yên dân, Nhà nước phải mạnh đủ để bảo vệ trật tự công cộng, tức là gắn người giàu vào những khuôn khổ của cuộc cộng sinh với người nghèo.

Đối mặt với tội phạm và sự hung dữ gia tăng trong thói sống thời nay, pháp luật cần không chỉ răn đe và trừng trị. Pháp luật còn phải góp phần làm cho nhân viên bảo vệ và ông chủ chó thêm nhân văn, thêm tình người hơn nữa.

Muốn làm được điều ấy, tôn chỉ của pháp luật phải bảo vệ nhân phẩm và các quyền làm người. Chính quyền và tòa án làm điều gì cũng nên nâng niu nhân phẩm, kể cả của các bị can, bị cáo. Cũng như vậy, khi người giàu được cuộc đời ban thưởng cho những cố gắng của mình, có của cải nhiều hơn cũng đồng nghĩa với có trách nhiệm hơn với đồng loại. Chó dữ và những ông chủ giàu, thêm một nỗi ưu tư về công bằng và trách nhiệm xã hội trong thời đại đua nhau làm giàu bằng mọi giá.
PHẠM DUY NGHĨA
Tuổi Trẻ – Thứ Bảy, 23/01/2010

Đàn chó bécgiê cắn chết một phụ nữ
TT – Người phụ nữ xấu số đó là bà Phạm Thị Ngắn (55 tuổi, trú tại buôn H’drát, xã Ea Kao, TP Buôn Ma Thuột, Đắc Lắc). Bà bị đàn chó bécgiê thuộc trang trại cà phê của một công ty cùng địa phương cắn chết khi mót cà phê rụng ở trang trại này chiều 21-1.
Các nhân chứng cùng đi mót cà phê với bà Ngắn cho biết khi đang mót thì một đàn chó bécgiê lao ra, những người khác nhanh chân leo lên cây còn bà Ngắn bị chó táp quật ngã xuống đất. Một người đàn ông của trang trại chứng kiến sự việc nhưng không can thiệp dù nạn nhân kêu la. Tại hiện trường, hầu hết các phần cơ đều bị chó cắn nát và ăn mất, toàn bộ da đầu, mặt bị mất.
Hiện cơ quan chức năng đang điều tra làm rõ vụ việc.
H.V



NHẬP SIÊU TỪ TRUNG QUỐC : MỘT THẤT BẠI TRONG THƯƠNG MẠI của VN

Nhập siêu từ Trung Quốc: một thất bại rõ rệt về thương mại với anh ba Tàu
Mạnh Quân
Đăng ngày: 1-2-2010
http://vn.myblog.yahoo.com/quan5791/article?mid=565
Suốt từ đầu năm 2009 đến nay, bộ Công thương vẫn loay hoay với các giải pháp, chủ yếu nhằm vào hoạt động nhập khẩu hàng tiêu dùng như: cấp phép nhập khẩu tự động, nhờ ngân hàng Nhà nước can thiệp để hạn chế cho vay ngoại tệ nhập khẩu ôtô, điện thoại và một số mặt hàng tiêu dùng khác...Nhưng tỷ lệ nhập siêu vẫn cao (21,6% năm 2009) cho thấy, hiệu quả của các giải pháp này là hạn chế.

Một trong những vấn đề dễ thấy nhất, nếu nhìn vào trong cơ cấu, thị trường nhập khẩu của Việt Nam đấy chính là Việt Nam hiện nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc. Theo ý kiến của một tham tán thương mại tại hội nghị tham tán thương mại Việt Nam tổ chức năm 2009, chỉ cần giải quyết được vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc là cơ bản hạn chế dược nhập siêu ở mức chấp nhận được.

Có thể nói, nhập siêu từ Trung Quốc đã tăng nhanh nhưng cũng thể hiện sự mất cân bằng trong quan hệ thương mại Việt Trung. Nếu như năm 2006, kim ngạch thương mại 2 nước mới chỉ trên 10,4 tỷ USD thì hết năm 2009, theo nhiều nguồn thống kê: tổng cục Hải quan, tổng cục Thống kê…kim ngạch xuất, nhập khẩu Việt-Trung đã đạt trên 21,3 tỷ USD (chiếm khoảng 17% tổng kim ngạch xnk của Việt Nam nhưng chiếm chưa tới 1% tổng kim ngạch xnk của Trung Quốc).

Nhưng những con số nhập siêu từ Trung Quốc quả thật rất đáng…giật mình, cho dù, tỷ lệ nhập siêu từ nước này có giảm xuống trong năm 2009. Theo các con số thống kê từ cơ quan chức năng, nhập siêu từ Trung Quốc năm 2007 là trên 9,1 tỷ USD, tăng 109,7% so với năm 2006. Năm 2008, nhập siêu từ Trung Quốc đã lên đến 12,6 tỷ USD, tăng 21,7%. Năm 2009, nhập siêu từ Trung Quốc chỉ lên tới khoảng 11,5 tỷ USD giảm 8,4% so với năm 2008. Nhưng có thể khẳng định đó là con số rất lớn nếu so với tổng kim ngạch nhập siêu cả nước năm 2009 là 12 tỷ USD. Nhập siêu từ Trung Quốc trong tổng số số nhập siêu cả nước như vậy đã lên tới gần 90%. Trong khi năm 2008, tỷ lệ này là 61,6% và năm 2007, tỷ lệ này là 65,3%.

Đây là một con số rất đáng báo động trong quan hệ thương mại Việt-Trung. Nên nhớ rằng, năm 2001, là năm Việt Nam lần đầu nhập siêu từ Trung Quốc (và kéo dài tình trạng nhập siêu suốt 9 năm qua), nhập siêu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập siêu cả nước khi đó mới chỉ là 17,7%. Ở đây là chưa kể đến kim ngạch nhập khẩu tiểu ngạch và số lượng vô cùng lớn hàng buôn lậu mà ai cũng có thể thấy nếu một lần đến các vùng cửa khẩu: Tân Thanh, Móng Cái, Lào Cai…

Nguyên nhân nào dẫn đến nhập siêu từ Trung Quốc rất bất bình thường như vậy ?.

Trước hết về xuất khẩu, có thể nói, trong khi mà các doanh nghiệp Trung Quốc tung hoành xuất khẩu sang Việt Nam thì xuất khẩu của Việt Nam qua Trung Quốc là rất khó khăn. Nếu không kể cao su, than, dầu thô..thì hàng xuất của Việt Nam thường là các mặt hàng mà Trung Quốc cũng dư thừa năng lực sản xuất nên khó cạnh tranh nổi. Còn những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như than, dầu thô..thì lại có xu hướng giảm do hạn chế về khả năng khai thác và chủ trương dần hạn chế xuất khẩu tài nguyên. Xuất khẩu dầu thô sang Trung Quốc năm 2009 đã giảm trên 23%.

Còn về nhập khẩu, cũng có yếu tố khách quan là một số mặt hàng nhập về từ Trung Quốc cho cả sản xuất và tiêu dùng là những mặt hàng Việt Nam chưa sản xuất được hoặc có nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu như sắt thép, nguyên phụ liệu dệt may, phân bón, linh kiện, phụ tùng ôtô, xe máy…Hàng Trung Quốc lại rẻ và gần Việt Nam nên việc nhiều doanh nghiệp lựa chọn nhập khẩu

Một vấn đề lớn dường như chưa được bộ Công thương nhìn nhận đúng đắn trong việc kiềm chế nhập siêu nói chung và trong vấn đề nhập siêu từ Trung Quốc nói riêng chính là ở khâu nhập khẩu máy móc, thiết bị. Theo một số chuyên gia của hiệp hội cơ khí, lượng hàng hoá nhập khẩu là các mặt hàng sản xuất, cơ khí, máy móc…chiếm tỷ lệ rất lớn. Như năm 2008, giá trị nhập khẩu các mặt hàng cơ khí (không kể nguyên liệu sắt, thép) đã lên tới gần 19 tỷ USD. 10 tháng đầu năm 2009 đã nhập 13,5 tỷ USD các mặt hàng này…Thiếu các chính sách đầu tư thích đáng để sản xuất hàng cơ khí thay thế nhập khẩu cũng là một nguyên nhân lớn khiến nhập siêu cao (chứ không phải hàng tiêu dùng, chỉ chiếm tỷ lệ 9%). Và điều này rất đúng khi nhìn vào số lượng nhập khẩu máy móc, thiết bị, hàng cơ khí từ Trung Quốc. Trong mấy năm qua, các nhà thầu Trung Quốc trúng thầy ở hàng loạt dự án lớn: dự án khai thác, luyện đồng Sin Quyền (Lào Cao), nhà máy Nhiệt điện Hải Phòng…và có thể khẳng định, hiện tại, Trung Quốc là nước có số lượng nhà thầu, cố số dự án trúng thầu nhiều nhất tại Việt Nam. Theo ông Phạm Hùng, tổng giám đốc tổng công ty Lắp máy Việt Nam thì các nhà nhà thầu Trung Quốc mang theo hầu như tất cả những gì họ có (từ Trung Quốc) để phục vụ công trình từ máy móc, công nghệ đến nguyên, vật liệu…vì vậy, trong giá trị nhập siêu lớn từ Trung Quốc có phần đáng kể từ hoạt động nhập khẩu cho các công trình, dự án mà phía Trung Quốc trúng thầu.

Cho nên, có thể nói, giải bài toán nhập siêu hiện nay không thể không xem xét đến các giải pháp chống nhập siêu từ Trung Quốc. Tất nhiên, với những lợi thế hiện nay của người khổng lồ này, việc đưa kim ngạch xuất-nhập khẩu giữa 2 bên về trạng thái cân bằng là vô cùng khó khăn nhưng để giảm nhanh chóng nhập siêu từ Trung Quốc là hoàn toàn có thể. Các giải pháp ấy, theo quan điểm người viết bài này, có thể là: đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tăng cường xuất khẩu sang Trung Quốc; chuyển hướng nhập khẩu (nhất là nhập khẩu máy móc, công nghệ) sang các thị trường khác, nhất là các thị trường có công nghệ cao: Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ; hạn chế nhập khẩu những mặt hàng Việt Nam đã sản xuất được hoặc có chính sách đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng để thay thế nhập khẩu từ Trung Quốc; tăng cường kiểm soát về chất lượng hàng hoá, vệ sinh an toàn thực phẩm của hàng hoá nhập từ Trung Quốc, chống nhập lậu, buôn lậu tại các vùng biên, cửa khẩu giáp với Trung Quốc …
Mạnh Quân

“Nhập siêu triền miên nhưng lại phân bổ không đều cho các thị trường. Nhập siêu chỉ dồn vào mấy thị trường ở Châu Á, đặc biệt là nước láng giềng Trung Quốc, chiếm chủ yếu trong tổng số nhập siêu của cả nước. Hậu quả là không nhập khẩu được công nghệ nguồn, kỹ nghệ mới mà chỉ là công nghệ sao chép, lạc hậu. Dù được lý giải là gần, hợp trình độ của ta, song ai quên được bài học từ những nhà máy xi măng lò đứng”
(Ý kiến một chuyên gia của cục Xúc tiến thương mại, bộ Công thương)-giấu tên


Giải pháp nào chống nhập siêu từ Trung Quốc? (SGTT).


VỊ ĐẮNG CỦA ĐẦU TƯ TRUNG QUỐC Ở AUSTRALIA

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM
VỊ ĐẮNG CỦA ĐẦU TƯ TRUNG QUỐC Ở ÔXTRALIA
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ Ba, ngày 26-1-2010

Đăng bởi
anhbasam on 01/02/2010
http://anhbasam.com/2010/02/01/457-v%e1%bb%8b-d%e1%ba%afng-c%e1%bb%a7a-d%e1%ba%a7u-t%c6%b0-trung-qu%e1%bb%91c-%e1%bb%9f-oxtralia/

Công ty đường CSR của Ôxtraylia vừa mới bác bỏ đề nghị mua lại bộ phận sản xuất, kinh doanh đường và năng lượng tái sinh với giá 1,5 tỷ USD từ Tập đoàn thực phẩm lớn nhất Thượng Hải là Bright Food Group để tiếp tục chiến lược phát triển của mình “vì lợi ích tốt nhất của các cổ đông”.
Trong bài bình luận mang tựa đề “Vị đắng của một đề nghị ngọt ngào” đăng trên tờ “Người đưa tin Xítni buổi sáng” ngày 16/1, tác giả Ian Verrender nhận định việc Trung Quốc muốn mua lại các cơ sở sản xuất đường của CSR, công ty mía đường lớn nhất Ôxtraylia và lớn thứ sáu thế giới, đã làm tăng thêm những thách thức trong cuộc tranh luận về lợi ích quốc gia ở Ôxtraylia.

Trong những hoàn cảnh bình thường, việc Công ty Bright Food của Trung Quốc đặt vấn đề mua lại hoạt động kinh doanh đường của tập đoàn CSR tại Ôxtraylia lẽ ra sẽ là lý do để ăn mừng, vì cái giá trên hầu như chắc chắn sẽ cao hơn những gì mà Giám đốc điều hành CSR Jerry Maycock có thể mang lại cho những cổ đông thông qua việc chia tách tập đoàn này. Thay vào đó, cách tiếp cận này đã làm “sưng tấy một vết thương đang mưng mủ”. CSR đã trở thành tâm điểm cho một cuộc tranh luận đang đe doạ gây chia rẽ Ôxtraylia mà kết quả của nó có thể gây ra những hậu quả cho nhiều thế hệ. Đó là một vấn đề mà sẽ chi phối không chỉ thế giới kinh doanh mà còn cả viễn cảnh chính trị trong nhiều năm tới.
Tình thế tiến thoái lưỡng nan của Canbơrơ là làm thế nào để bảo đảm Ôxtraylia lợi dụng sự tăng trưởng kinh tế phi thường đang diễn ra ở Trung Quốc mà không làm tổn hại đến sự toàn vẹn và chủ quyền quốc gia, đồng thời không phải bán rẻ cái gì. Liệu Canbơrơ có nên cho phép một chính phủ nước ngoài mua các tài sản chiến lược ở Ôxtraylia? Đây là một cuộc tranh luận mà dự kiến sẽ được phủ đầy bởi những quyền lợi bất di bất dịch trong cả hai phía của sự phân tích chính trị, đồng thời là nơi lý lẽ lôgích và lý trí sẽ là nạn nhân của những cáo buộc rẻ tiền về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và sự bài ngoại.
Ôxtraylia có những gì mà Trung Quốc cần: các nguồn tài nguyên dồi dào, cả khoáng sản lẫn nông nghiệp, những thứ rất cần thiết để Trung Quốc cuối cùng giành được điều mà Bắc Kinh tin là vị trí chính đáng của Trung Quốc trong trật tự xã hội toàn cầu. Thế nhưng, Trung Quốc không đơn giản bằng lòng là một khách hàng. Trung Quốc muốn là người sở hữu, tăng cường các nguồn cung cấp chất lượng cao chừng nào Bắc Kinh vẫn cần và với giá thấp nhất có thể.
Ôxtraylia lâu nay luôn dựa vào vốn nước ngoài. Kể từ khi những người định cư châu Âu đến Ôxtraylia vào cuối thế kỷ 18, đất nước này đã đầu tư nhiều hơn những gì tiết kiệm được và sự thiếu hụt đó ban đầu được tài trợ từ Anh và gần đây hơn là từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản. Điều khiến Trung Quốc khác biệt là đầu tư nước ngoài trước đây được tài trợ bởi những nhà đầu tư và các tập đoàn với động cơ chính là lợi nhuận, trong khi làn sóng mới từ Bắc Kinh do Chính phủ Trung Quốc kiểm soát – một chế độ lấy việc chế ngự các quyền của cá nhân để thiên về đám đông quần chúng làm giá trị cốt lõi. Thậm chí khi Trung Quốc đã tỏ thái độ mở rộng tự do đối với thương mại, buôn bán và chủ nghĩa tư bản trong những thập niên gần đây, Bắc Kinh chưa bao giờ từ bỏ cách tiếp cận độc đoán đối với sự bất đồng chính kiến trong chính các công dân của họ.
Khi thực hiện ngoại giao quốc tế, Trung Quốc làm những gì Trung Quốc muốn. Bắc Kinh đều đặn đe doạ các nhà lãnh đạo nước ngoài, những người nuôi dưỡng những ý tưởng gặp Đạtlai Lạtma. Bắc Kinh nổi cơn thịnh nộ hồi năm 2009 khi Ôxtraylia cấp thị thực nhập cảnh cho một nhà lãnh đạo độc lập của người Duy Ngô Nhĩ để tới dự Liên hoan phim quốc tế Melbourne. Tháng 7/2009, Trung Quốc bắt giam 4 nhân viên cấp cao của Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto, buộc tội họ là tham nhũng trong những hợp đồng mua quặng sát. Các vụ bắt giam này diễn ra chỉ vài tuần sau khi Rio Tinto từ chối một thoả thuận trao quyền kiểm soát công ty này cho doanh nghiệp quốc doanh Chinalco của Trung Quốc.
Các tập đoàn của Trung Quốc cho đến nay hằunh chỉ nhằm vào những công ty khai thác tài nguyên của Ôxtraylia, nhất là quặng sắt, than đá và những thành phần chủ chốt khác nhằm giữ cho ngành thép đang bành trướng nhanh chóng của nước này hoạt động hết công suất. Động thái vừa qua nhằm vào một công ty nông nghiệp là sự chuyển hướng khỏi chủ đề đó và cho thấy một sự thúc đẩy của Bắc Kinh nhằm mở rộng các mục tiêu đầu tư.
Trong hầu hết thập niên qua, mục tiêu đầu tư chính của Trung Quốc là thiên đường an toàn trái phiếu Chính phủ Mỹ. Tác động cuối cùng của chiến lược này là quỹ tiết kiệm quốc gia của Trung Quốc đã tài trợ cho nước Mỹ tiêu pha hoang phí. Trung Quốc hiện là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, với gần 800 tỷ USD đầu tư vào các loại trái phiếu Chính phủ Mỹ, chiếm gần ¼ nợ quốc gia của Mỹ.
Các quan chức Đảng Cộng sản Trung Quốc ở Bắc Kinh công khai thừa nhận họ đã sai lầm khi đầu tư quá nhiều tiền tiết kiệm quốc gia vào các trái phiếu Chính phủ Mỹ, nhất là dựa vào sự giảm giá có phần ác ý của đồng USD trong năm qua, trong khi lẽ ra họ nên mua các hoạt động khai thác tài nguyên ở những nơi như Ôxtraylia.
Cho đến 2 năm trước đây, quan tâm của Trung Quốc ở Ôxtraylia vẫn ở mức độ thấp và thận trọng. Chỉ thị từ Bắc Kinh cho những người đứng đầu các doanh nghiệp là hoạt động dưới tầm rađa, không gây ầm ĩ. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm thay đổi mọi thứ. Sau khi được gọi đến để cứu Phố Uôn và sau đó kích thích nền kinh tế của mình để giữ cho Mỹ và châu Âu cùng trụ lại, các nhà lãnh đạo Trung Quốc quyết định đã đến lúc phải có một cách tiếp cận táo bạo hơn đối với các vấn đề kinh tế.
Vở diễn quốc tế lớn đầu tiên của Trung Quốc là đầu tư vào Rio Tinto 2 năm trước đây thông qua công ty quốc doanh Chinalco khi Rio Tinto tìm cách chống trả nỗ lực tiếp quản từ BHP Billiton. Sau đó vào năm 2009, khi BHP không còn mặn mà với việc tiếp quản, ban giám đốc Rio Tinto đầy tuyệt vọng vì đã tự đẩy mình vào cảnh nợ nần do một kế hoạch mở rộng tốn kém đã đồng ý để Chinalco nâng cổ phần từ 9% lên 18%, điều sẽ khiến cho Bắc Kinh, khách hàng lớn nhất của công ty, trở thành cổ đông chính. Dưới sức ép của các cổ đông, Rio Tinto phá ngang thoả thuận này vào năm 2009, khiến cho các quan chức Chinalco bị bẽ mặt trong con mắt các ông chủ chính trị của họ. Sự báo thù diễn ra mau lẹ. Trong vòng vài tuần, 4 quan chức cấp cao của Rio Tinto, trong đó có một công dẫn Ôxtraylia là Stern Hu, đã bị bắt giam, mở ra một cửa sổ trong cách tiếp cận độc nhất vô nhị của Bắc Kinh đối với chủ nghĩa tư bản cũng như sự tích hợp liền mạch của chính phủ, kinh doanh và luật pháp.
Canbơrơ nên đáp lại sự công kích được mong đợi từ Trung Quốc như thế nào? Có lẽ Canbơrơ có thể bắt chước Oasinhtơn và Brucxen, những nơi ngày càng trở nên lớn tiếng trong chỉ trích đối với các chính sách kinh tế của Trung Quốc.
Trung Quốc có thể đang phát triển rất nhanh, nhưng nước này vẫn là một quốc gia tương đối nghèo. Tuy nhiên, Trung Quốc có các trữ lượng vốn rất lớn, được xây dựng thông qua sự mất cân bằng thương mại trên diện rộng với thế giới phát triển. Trong hai thập niên qua, ngành công nghiệp nặng đã di chuyển từ thế giới phát triển sang Trung Quốc, ban đầu là do sức hấp dẫn của giá nhân công rẻ. Không có ai phàn nàn vì sản lượng công nghiệp hiệu quả và giá rẻ của Trung Quốc giữ cho giá cả ở mức thấp, giữ cho lạm phát toàn cầu ở mức thấp. Thế nhưng, trong những năm gần đây hơn, một nhân tố khác đã bắt đầu có hiệu lực. Trung Quốc đã chủ tâm giữ cho đồng tiền của họ ở mức thấp một cách giả tạo, làm suy giảm khả năng cạnh tranh của quốc gia khác và trên thực tế trợ cấp cho các ngành xuất khẩu.
Trung Quốc vừa mới chính thức vượt Đức để trở thành nước xuất khẩu lớn nhất của thế giới, với 10% thị phần toàn cầu. Một thập niên trước đây, Trung Quốc chỉ chiếm có 3% thị phần. Sự thay đổi nhanh chóng này đã dẫn đến việc đáp lại ngày càng thù địch từ Mỹ và Liên minh châu Âu (EU), những nơi đang gia tăng những lời kêu gọi ban lãnh đạo Trung Quốc để đồng nhân dân tệ tăng giá. Những lời kêu gọi này đã liên tiếp bị Bắc Kinh bác bỏ và bác bỏ với một thái độ dẫn đến việc bùng lên các căng thẳng giữa Trung Quốc và phương Tây. Phản ứng trước sự chỉ trích này, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố: “Một mặt, người ta yêu cầu để cho đồng nhân dân tệ tăng giá, và mặt khác, người ta đang áp dụng mọi cách thức của những biện pháp bảo hộ”.
Paul Krugman, người đoạt giải Nôben kinh tế năm 2008, gần đây viết trong một bài báo phê phán về chiến lược tiền tệ của Trung Quốc trên tờ “Thời báo Niu Yóoc”, cáo buộc Bắc Kinh từ chối thừa nhận vấn đề mà họ đang gây ra. Ông Paul Krugman dự báo rằng các quốc gia khác sẽ buộc phải bảo vệ các ngành công nghiệp của chính họ nhằm duy trì việc làm, trừ phi Trung Quốc cho phép đồng nhân dân tệ tăng giá. Ông Krugman cho rằng chiến lược tiền tệ của Trung Quốc có thể kết thúc bằng việc giảm khoảng 1,4 triệu việc làm ở Mỹ trong vòng vài năm tới.
Ông Krugman nói: “Điểm mấu chốt là tính vụ lợi của Trung Quốc trở thành một vấn đề ngày càng trầm trọng, và những nạn nhân của tính hám lợi đó có ít thứ để mất nếu có một sự đối đầu thương mại. Do đó, Chính phủ Trung Quốc nên cân nhắc lại tính kiên quyết không chịu nhượng bộ của họ. Nếu không, chủ nghĩa bảo hộ rất ôn hoà mà Trung Quốc hiện đang phàn nàn sẽ là sự khởi đầu của một điều gì đó lơn hơn nhiều”.
Trung Quốc đã tích luỹ khoảng 2.000 tỷ USD dự trữ ngoại tệ thông qua chiến lược tiền tệ của mình và một phần lớn trong số tiền này hiện được nhằm trực tiếp vào Ôxtraylia. Phản ứng của Chính phủ Ôxtraylia cho đến nay vẫn khó dự báo và không nhất quán. Thủ tướng Kevin Rudd và Bộ trưởng Ngân khố Wayne Swan đã nói rõ rằng những thực thể do chính phủ nước ngoài kiểm soát sẽ phải dối mặt với sự xem xét kỹ lưỡng hơn nếu họ tìm cách mua những tài sản chiến lược của Ôxtraylia. Tuy nhiên, cả hai nhân vật này đều không muốn làm Bắc Kinh khó chịu và làm tổn hại đến hàng xuất khẩu của Ôxtraylia. Chính nhu cầu không ngừng của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên của Ôxtraylia đã giúp cho Ôxtraylia tránh được suy thoái trong cuộc khủng hoảng kinh tế được cho là một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới.
Cơ quan duy nhất đứng giữa Bắc Kinh và các nguồn tài nguyên mà Trung Quốc rất thèm muốn là Uỷ ban Thẩm định Đầu tư Nước ngoài (FIRB) của Ôxtraylia, nơi trước đây dường như chỉ đóng vai trò như một nơi đóng dấu. Trong năm qua, FIRB đã chịu sức ép to lớn từ các doanh nghiệp Ôxtraylia vốn đang rất muốn nhận tiền từ Trung Quốc. FIRB đã đáp lại bằng cách nói lập lờ, trì hoãn và hy vọng vấn đề tự được giải quyết.
Người chỉ trích FIRB nặng nề nhất là nhà doanh nghiệp chuyên về khai mỏ ở Tiểu bang Queensland, Clive Palmer, người có những mối liên hệ kinh doanh trên diện rộng với các tập đoàn của Trung Quốc và là người hy vọng gặt hái hơn 3 tỉ AUD từ việc làm ăn của tập đoàn khai thác khoáng sản của ông ở Hồng Công. Trong bài phát biểu ở Brisbane tháng 9/2009, ông Clive Palmer cáo buộc FIRB là một “cơ quan phân biệt chủng tộc” và Giám đốc điều hành FIRB Patrick Colmer có “một lập trường không thể bào chữa được”, đồng thời đe doạ có hành động trước Toà án Tối cao khi có thể.
Trong khi những cáo buộc của ông Clive Palmer có thể là điều gây tranh cãi, chúng chỉ ra một dấu hiệu của trận chiến đang hé lộ về đầu tư của Chính phủ Trung Quốc ở Ôxtraylia giữa những người muốn gặt hái lợi nhuận từ một thị trường đang bùng nổ và những người lo ngại về các hậu quả lâu dài của hành động như vậy.


TRUNG QUỐC TĂNG CƯỜNG KIỂM DUYỆT TRUYỀN THÔNG

Trung Quốc tăng cường kiểm duyệt các phương tiện truyền thông
(blog Kichbu). Bài dịch từ báo Nga.

31.01.2010, 11:50:23
http://kichbu.multiply.com/journal/item/531/531

Trung Quốc tăng cường kiểm duyệt các phương tiện truyền thong
Власти Китая усилили цензуру СМИ
Kichbu theo:
http://lenta.ru/news/2010/01/31/intensify/
Kichbu

Hai năm gần đây giới quan chức Trung Quốc đã tăng cường kiểm duyệt báo chí trong nước một cách đáng kể,
BBC News dẫn theo báo cáo của Liên đoàn quốc tế các nhà báo (IFJ) được công bố 31 tháng một đưa tin. Theo các số liệu của tổ chức này, từ mùa hè 2008 ở Trung Quốc đã bắt đầu áp dụng hàng trăm điều hạn chế, trong đó các báo-internet và báo vàng chịu kiểm duyệt khốc liệt hơn tất cả các loại báo chí khác.

Trong báo cáo, ví dụ, nói rằng các phóng viên của các báo mạng đã bị từ chối cấp giấy phép đối với các hoạt động chính thức này hay khác. Ngoài ra, các quan chức Trung Quốc cũng kiểm tra ngặt nghèo các mạng xã hội mà những người sử dụng chúng đã xem đó như một nguồn tổ chức các cuộc chống đối hay biểu tình.

Các tác giả của báo cáo dẫn ra những ví dụ cụ thể: chẳng hạn,
Sify dẫn theo IANS, báo chí màu vàng bị cấm công bố những bức ảnh khỏa thân của nữ nghệ sỹ Chzan Tszyn. Ngoài ra, sau trận động đất ở Tứ Xuyên (землетрясения в Сычуани)báo chí Trung Quốc bị cấm đưa tin về những khiếu kiện của các bậc phụ huynh có con em bị mất tích hoặc chết do thảm họa (Nhắc lại rằng ở Tứ Xuyên gần 70 nghìn người, trong đó hơn năm nghìn trẻ em tuổi học sinh đã thiệt mạng).

Thêm một ví dụ nữa của sự giám sát IFJ gọi đó rằng trong thời gian chuyến đi thăm đến Trung Quốc của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tháng mười một 2009 tất cả các cơ quan báo chí của Trung Quốc bị chỉ thị khi đưa tin sự kiện này phải sử dụng các thông tin của hãng thông tấn chính thống quốc gia Tân Hoa Xã.

Trong báo cáo cũng cho thấy rằng các quan chức Trung Quốc đang tạo ra những trở lực đối với tác nghiệp không chỉ của các nhà báo trong nước mà còn đối với các nhà báo quốc tế, những người thường xuyên bị tấn công. Mặc dù có những biện pháp tăng cường như vậy và kết quả kiểm duyệt tương đối, các tác giả của báo cáo nhấn mạnh, Trung Quốc về thực chất không có khả năng cản trở việc phổ biến thông tin về các xung đột trong nước ra ngoài biên giới của nó.
-Kichbu-

TQ ‘tăng cường’ hạn chế truyền thông (BBC)