Từ chuyện đổi tên một ngôi trường
Nam Phong
Gửi cho BBCVietnamese.com từ Hà Nội
Cập nhật: 16:13 GMT - thứ bảy, 30 tháng 1, 2010
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2010/01/100127_ams_school_name.shtml
Báo chí trong nước gần đây loan tin rằng toàn bộ giáo viên và học sinh trường Ams sẽ chuyển về địa điểm mới vốn có giá khoảng 400 tỷ đồng ở quân Cầu Giấy – Hà Nội. Ngôi trường cũ, thành lập năm 1985 nhờ tiền viện trợ của thành phố Amsterdam (Hà Lan), sẽ được chuyển cho một trường trung học khác.
Có hai phương án được đưa ra cho lãnh đạo trường lựa chọn (tại sao lại chỉ có hai thì không thấy nói): mất tên cũ để có trường mới, hoặc giữ tên cũ và ở nguyên chỗ cũ.
Dư luận xôn xao với phần lớn ý kiến là phản đối và tỏ ra bất ngờ với tin này. Nhưng nhìn lại cách hành xử của chính quyền – hay đúng hơn là của Đảng Cộng sản - thì chuyện hóa ra xưa như Trái Đất.
Bình mới rượu nhạt?
Dưới thời Pháp, Hà Nội là một trung tâm giáo dục quan trọng của cả xứ Đông Dương với các trường đại học và trung học lớn như Đại học Y khoa Đông Dương (nay là Đại học Y Hà Nội) hay trường Bưởi (nay là trường Chu Văn An) – những ngôi trường mà không chỉ xứ Đông Dương mà toàn Đông Nam Á, thậm chí phần lớn Châu Á phải nhắc đến với tất cả sự ngưỡng mộ.
Sau khi đánh đuổi người Pháp, chính quyền của Đảng Cộng sản ngay lập tức đổi tên các cơ sở giáo dục của Pháp vốn là nơi đào tạo ra vô số nhân tài cho đất nước và cho chính Đảng. Tất nhiên, nhiều cá nhân ưu tú xuất thân từ các trường Pháp cũng chịu vạ.
Có lẽ các lãnh tụ cộng sản cho rằng cứ đổi tên trường thì ngay lập tức vinh quang sẽ tự động chuyển sang cho Đảng và cho chủ nghĩa xã hội chăng? Dù sao thì sự thật đã hoàn toàn không như vậy.
Trong khi chính quyền Hà Nội bận ảo tưởng về nền giáo dục “xã hội chủ nghĩa” thì ở Miền Nam, ông Ngô Đình Diệm – chỉ trong một thập niên cầm quyền - đã kịp dựng nên những trường đại học mới, đạt chuẩn quốc tế.
Sau khi kết thúc chiến tranh và khi bước sang thời đổi mới, Việt Nam còn khai tử thêm vài đại học danh tiếng. Viện Đại học Sài Gòn bị xóa sổ còn Đại học Tổng hợp bị xé thành mấy mảnh – cả hai đều biến mất khỏi bản đồ giáo dục thế giới và đến nay chưa hề có hy vọng sẽ được công nhận trở lại.
Chất lượng giáo dục – như mọi người đều thấy - lao dốc cũng nhanh không kém gì nền kinh tế từng được cố thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố là “năm 70 vượt Nhật, năm 80 vượt Mỹ”.
Thế nhưng, các trường vẫn nói rất hay về thành tích của mình. Chẳng hạn như Nhạc viện Hà Nội, mỗi lần kể công đều nhắc tới nghệ sĩ piano Đặng Thái Sơn, coi ông Sơn là niềm tự hào. Thật ra, nghệ sĩ này dành phần lớn thời gian học tập ở Liên Xô chứ không phải ở Hà Nội. Và đó chỉ là ví dụ nhỏ - còn nhiều trường hợp tương tự khác.
Thế còn vấn đề gìn giữ truyền thống và cách ứng xử với quốc tế thì sao?
Cần nhớ rằng chính các lãnh tụ cộng sản đã ra lệnh phá dỡ đình chùa để đến nỗi đất nước mất bao nhiêu công trình quý giá (trong khi các vị ấy miệng chửi mắng Pháp mà luôn luôn chọn những biệt thự do người Pháp xây làm chỗ ở].
Mấy năm nay, Trung Quốc liên tục gây hấn, khiến cho người Việt phẫn uất. Nhưng người Trung Quốc cũng có thừa quyền trách tội những người đồng minh Việt Nam đã nhận của họ bao nhiêu giúp đỡ để rồi lại viết vào hiến pháp rằng Trung Quốc là kẻ thù.
Trung Quốc có quyền hỏi: Hà Nội sẽ làm được gì nếu không có Bắc Kinh?
Chiến tranh biên giới 1979 liệu có nổ ra không nếu như Hà Nội không xua đuổi Hoa kiều nhẫn tâm đến thế?
Chính quyền Hà Nội nói rằng ngôi trường mới là do công sức và tiền của người Hà Nội xây nên (vì thế, chuyển về địa điểm mới thì phải đổi tên).
400 tỷ đồng, nghe có vẻ hoành tráng thật. Theo giá đôla chợ đen thì có thể làm tròn là 20 triệu Mỹ kim. Số tiền ấy mua được 25 năm truyền thống của ngôi trường hàng đầu đất nước.
Nếu cứ theo giá đó mà tính thì nền giáo dục Việt Nam cũng rẻ thôi!
Bài viết nêu quan điểm riêng của tác giả, cựu học sinh Hà Nội – Amsterdam, khóa 2001-2004.
Monday, February 1, 2010
TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN của BỘ TRƯỞNG VN, MỸ, ÚC
Trình độ học vấn của bộ trưởng Việt Nam, Mĩ và Úc
Nguyễn Văn Tuấn
Sunday, January 31, 2010
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/01/trinh-o-hoc-van-cua-bo-truong-viet-nam.html
Một trong những đặc điểm đáng chú ý trong giới quan chức Việt Nam là họ thường có bằng cấp rất cao.
Thật vậy, chỉ nhìn qua những danh thiếp của cấp thứ trưởng, vụ trưởng, hay thỉnh thoảng đọc báo về chức danh của các bộ trưởng, chúng ta thấy họ thường là tiến sĩ hay thạc sĩ.
Ngược lại, đối với giới quan chức nước ngoài, ấn tượng tôi có qua các danh thiếp của họ là trình độ học vấn trung bình, thường thường là bậc cử nhân, rất hiếm thấy bộ trưởng các nước phương Tây có bằng tiến sĩ.
Nhưng đó chỉ là ấn tượng, chứ chưa có bằng chứng nào để so sánh cụ thể. Theo tôi biết, cho đến nay, vẫn chưa có ai làm thống kê để biết trình độ học vấn của quan chức Việt Nam và ngoại quốc như thế nào. Có được những thông tin này tôi thiết nghĩ cũng thú vị vì nó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về trình độ của các quan chức chính phủ.
Tôi chọn các quan chức cấp bộ trưởng, vì thông tin về các vị này tương đối đầy đủ hơn. Các thông tin về chức vụ, năm sinh, trình độ học vấn của các bộ trưởng (hay quan chức tương đương cấp bộ trưởng) của Việt Nam, Mĩ, và Úc được thu thập cho từng cá nhân. Riêng trường hợp Việt Nam, tôi còn thu thập thêm thông tin về quê quán để xem sự phân phối giữa 3 miền ra sao.
Kết quả cho thấy nội các của Việt Nam có 26 thành viên, ít hơn Úc (28 người), nhưng đông hơn Mĩ (23 người). Tuy nhiên, có sự mất cân đối nghiêm trọng về phân bố giới tính. Trong số 26 thành viên nội các chính phủ Việt Nam, chỉ có 1 nữ duy nhất: đó là bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Trong khi đó, nội các chính phủ Mĩ có đến 7 người là nữ, và con số này chiếm gần 1/3 chính phủ Obana, nhiều hơn cả chính phủ Úc với 4/28 thành viên (hay 14%) là nữ giới.
Về tuổi tác,
các bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam tương đối cao tuổi hơn so với đồng nghiệp của họ ở Mĩ và Úc. Tuổi trung bình của các bộ trưởng Việt Nam là 59, kế đến là Mĩ (tuổi trung bình 56) và Úc (50 tuổi). Người trẻ nhất trong chính phủ Việt Nam là ông Hoàng Trung Hải (50 tuổi), nhưng người trẻ tuổi nhất trong chính phủ Úc chỉ 33 tuổi (Kate Ellis, bộ trưởng thể thao), còn bộ trưởng trẻ nhất của Mĩ cũng chỉ 42 tuổi (ông Peter R. Orszag, giám đốc ngân sách quốc gia, với bằng tiến sĩ từ London School of Economics).
Về trình độ học vấn,
chính phủ Việt Nam có trình độ cao nhất so với Mĩ và Úc. Trong số 26 thành viên trong nội các chính phủ Việt Nam, có đến 50% (13 người) có bằng tiến sĩ, 10 người có bằng cử nhân, và 3 người có bằng thạc sĩ. Phân tích kĩ hơn thì tôi thấy trong số 13 tiến sĩ bộ trưởng Việt Nam, phần lớn là tiến sĩ về kinh tế (7 người, gồm các ông Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Khôi Nguyên, Vũ Huy Hoàng, Lê Doãn Hợp, Trần Văn Tuấn, Cao Đức Phát, và Nguyễn Văn Giàu), phần còn lại là xã hội học (ông Nguyễn Quốc Triệu), luyện kim (ông Phạm Gia Khiêm), điều khiển học (ông Nguyễn Thiện Nhân), luật (ông Hà Hùng Cường), kiến trúc (Nguyễn Hồng Quân), và toán lí (ông Hoàng Văn Phong).
Tỷ lệ bộ trưởng và thành viên nội các với bằng tiến sĩ
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgrSaxNuGfuGz8qMnVbpzTOsDV7xqP-S8OBlxEayWou6nyYRIpviAjjovgfaevjJE6x2Jb_Aguv746dHLcjlj36otD2fZlFcQdmIwEU5CIEHGoeP9gKVDUTlCto7_YL8-SrpezpXvr4AoiN/s400/PhD+proportion.jpg
Ở Úc, trong số 28 thành viên chính phủ, chỉ có 1 người duy nhất có bằng tiến sĩ (ông Craig Emerson), 5 người có bằng thạc sĩ, và đa số (22 người ) có bằng cử nhân. Nội các chính phủ Obama có trình độ học vấn cao hơn Úc một chút, nhưng vẫn còn thua xa so với Việt Nam. Trong số 23 thành viên, 7 người có bằng tiến sĩ, 8 người với bằng thạc sĩ, và 8 người với bằng cử nhân.Nếu [tạm] tính PhD là 10 năm theo học đại học, thạc sĩ 6 năm, và cử nhân 4 năm, thì tính trung bình mỗi hay thành viên trong nội các chính phủ VN có 7.2 năm học đại học, kế đến là Mĩ (6.5 năm), và thấp nhất trong nhóm là Úc (4.6 năm).
Phân tích theo vùng.
Nói đến Việt Nam là phải nói đến chính trị vùng. Tình hình phân bố các thành viên và trình độ học vấn trong nội các chính phủ Việt Nam không đồng đều giữa 3 vùng. Trong số 26 thành viên, đa số là từ miền Bắc (12 người, hay 46%), miền Trung và miền Nam mỗi miền có 7 người. Điều thú vị ở đây là trong số 12 thành viên từ miền Bắc, có đến 8 người (67%) có bằng tiến sĩ. Số thành viên có bằng tiến sĩ từ miền Trung là 3/7 (43%), và miền Nam là 2/7 (28%).
Vài nhận xét
Trong loạt bài về những bất cập trong việc đào tạo tiến sĩ trên Sài Gòn Giải Phóng, tác giả viết như sau: “Nhà khoa học, nhà quản lý các nước cũng sẽ rất ngạc nhiên khi biết được trong đội ngũ cán bộ của ta hiện nay, tỷ lệ TS rất cao! […] Trên các nước, TS nếu có trong bộ máy quản lý nhà nước thì cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất ít.” Những phân tích trong bài này phù hợp với nhận xét đó. Phân nửa các bộ trưởng (hay quan chức tương đương bộ trưởng) Việt Nam có bằng tiến sĩ, và con số này cao hơn so với chính phủ Mĩ và Úc, hai nước mà trình độ dân trí cao hơn Việt Nam. Tôi chưa có bằng chứng, nhưng tôi nghi rằng tỉ lệ tiến sĩ trong chính phủ Việt Nam có lẽ là cao nhất thế giới.
Ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lí lạ lùng: muốn đề bạt chức vụ nào đó thì phải có bằng cấp tương xứng. Chẳng hạn như điều kiện tiên quyết cho chức vụ giám đốc sở thì phải là bằng cử nhân hay thạc sĩ, trưởng khoa một bộ môn trong bệnh viện thì cần phải có bằng tiến sĩ và … đảng viên. Do đó, người ta đổ xô nhau đi “làm” tiến sĩ, tìm mọi cách và mọi giá để có một cái bằng tiến sĩ chỉ để thăng quan tiến chức, hơn là phục vụ cho khoa học. Chú ý là người ta “làm” tiến sĩ, chứ không hẳn là “học” tiến sĩ. Động từ “làm” ở đây bao gồm nhiều hành động, kể cả “bôi trơn” với những cái giá khá cụ thể tùy theo ngành học và tùy vào trung tâm đào tạo.
Tuy nhiên, qui định bằng cấp và chức vụ đó là ở cấp địa phương và cơ sở, còn đối với các cấp bộ trưởng hay tương đương thì tôi nghĩ không có qui định bằng cấp càng cao mới được bổ nhiệm chức cao, vì ở cấp này, vị thế và thành tích chính trị đóng vai trò quan trọng hơn là bằng cấp. Nhưng trước khi làm bộ trưởng thì các vị này cũng đã trải qua các chức vụ thấp hơn, nên nhu cầu bằng cấp lúc đó ắt phải có. Điều này có nghĩa là phong trào tiến sĩ và chức vụ đã xảy ra trước đây, và bây giờ chính là giai đoạn gặt hái thành quả. Hiểu theo nghĩa này, tôi nghĩ trong tương lai chúng ta sẽ còn thấy nhiều tiến sĩ trong chính phủ hơn nữa. Nhiệm kì tới biết đâu con số bộ trưởng có bằng tiến sĩ không phải là 50% như bây giờ mà có thể là 2/3.
Tiến sĩ là học vị cao nhất trong hệ thống bằng cấp đại học. Thông thường, con số người có bằng tiến sĩ thấp hơn con số thạc sĩ, và số người với bằng thạc sĩ ít hơn số người với bằng cử nhân. Đó là xu hướng mà chúng ta thấy ở Mĩ và Úc. Ở Úc, chỉ có 1 bộ trưởng duy nhất có bằng tiến sĩ. Nhưng trong chính phủ Việt Nam thì ngược lại: số người có bằng tiến sĩ nhiều hơn số người có bằng cử nhân và thạc sĩ. Đó là một sự phân bố bất bình thường. Sự bất bình thường đó đặt ra câu hỏi có phải bằng tiến sĩ ở Việt Nam quá dễ “lấy”. Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng những lem nhem và bất cập về cách đào tạo tiến sĩ ở trong nước mà báo chí phản ảnh trong thời gian qua làm cho xã hội đánh một dấu hỏi lớn.
Thật ra, nhìn một cách tích cực hơn, chính phủ có nhiều tiến sĩ là một tín hiệu tốt. Con số 50% bộ trưởng có bằng tiến sĩ cho thấy nước ta đúng là nước có trình độ học vấn cao, có lẽ cao nhất thế giới. Phần lớn các tiến sĩ bộ trưởng học về kinh tế, và điều này nói lên rằng chúng ta có thể tin tưởng rằng kinh tế VN sẽ phát triển bượt bực nay mai. Trong khi chưa có bằng chứng cho phát biểu đó, chúng ta hãy cứ tin và hi vọng vậy.
Ở các nước tiên tiến, phần lớn tiến sĩ làm việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu, với một thiểu số nhỏ làm việc trong ngành quản lí. Ở Việt Nam thì ngược lại: phần lớn tiến sĩ làm trong ngành quản lí hành chính, rất ít người giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Thật vậy, chỉ có khoảng ~20% giảng viên trong các đại học lớn ở VN có văn bằng tiến sĩ. Trong khi đó, 50% bộ trưởng VN có bằng tiến sĩ. Một câu hỏi khác cũng cần đặt ra là chính phủ có cần nhiều tiến sĩ như thế hay không trong khi các trường đại học rất thiếu giảng viên ở trình độ tiến sĩ?
NVT
Nguyễn Văn Tuấn
Sunday, January 31, 2010
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2010/01/trinh-o-hoc-van-cua-bo-truong-viet-nam.html
Một trong những đặc điểm đáng chú ý trong giới quan chức Việt Nam là họ thường có bằng cấp rất cao.
Thật vậy, chỉ nhìn qua những danh thiếp của cấp thứ trưởng, vụ trưởng, hay thỉnh thoảng đọc báo về chức danh của các bộ trưởng, chúng ta thấy họ thường là tiến sĩ hay thạc sĩ.
Ngược lại, đối với giới quan chức nước ngoài, ấn tượng tôi có qua các danh thiếp của họ là trình độ học vấn trung bình, thường thường là bậc cử nhân, rất hiếm thấy bộ trưởng các nước phương Tây có bằng tiến sĩ.
Nhưng đó chỉ là ấn tượng, chứ chưa có bằng chứng nào để so sánh cụ thể. Theo tôi biết, cho đến nay, vẫn chưa có ai làm thống kê để biết trình độ học vấn của quan chức Việt Nam và ngoại quốc như thế nào. Có được những thông tin này tôi thiết nghĩ cũng thú vị vì nó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng quan về trình độ của các quan chức chính phủ.
Tôi chọn các quan chức cấp bộ trưởng, vì thông tin về các vị này tương đối đầy đủ hơn. Các thông tin về chức vụ, năm sinh, trình độ học vấn của các bộ trưởng (hay quan chức tương đương cấp bộ trưởng) của Việt Nam, Mĩ, và Úc được thu thập cho từng cá nhân. Riêng trường hợp Việt Nam, tôi còn thu thập thêm thông tin về quê quán để xem sự phân phối giữa 3 miền ra sao.
Kết quả cho thấy nội các của Việt Nam có 26 thành viên, ít hơn Úc (28 người), nhưng đông hơn Mĩ (23 người). Tuy nhiên, có sự mất cân đối nghiêm trọng về phân bố giới tính. Trong số 26 thành viên nội các chính phủ Việt Nam, chỉ có 1 nữ duy nhất: đó là bà Nguyễn Thị Kim Ngân. Trong khi đó, nội các chính phủ Mĩ có đến 7 người là nữ, và con số này chiếm gần 1/3 chính phủ Obana, nhiều hơn cả chính phủ Úc với 4/28 thành viên (hay 14%) là nữ giới.
Về tuổi tác,
các bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam tương đối cao tuổi hơn so với đồng nghiệp của họ ở Mĩ và Úc. Tuổi trung bình của các bộ trưởng Việt Nam là 59, kế đến là Mĩ (tuổi trung bình 56) và Úc (50 tuổi). Người trẻ nhất trong chính phủ Việt Nam là ông Hoàng Trung Hải (50 tuổi), nhưng người trẻ tuổi nhất trong chính phủ Úc chỉ 33 tuổi (Kate Ellis, bộ trưởng thể thao), còn bộ trưởng trẻ nhất của Mĩ cũng chỉ 42 tuổi (ông Peter R. Orszag, giám đốc ngân sách quốc gia, với bằng tiến sĩ từ London School of Economics).
Về trình độ học vấn,
chính phủ Việt Nam có trình độ cao nhất so với Mĩ và Úc. Trong số 26 thành viên trong nội các chính phủ Việt Nam, có đến 50% (13 người) có bằng tiến sĩ, 10 người có bằng cử nhân, và 3 người có bằng thạc sĩ. Phân tích kĩ hơn thì tôi thấy trong số 13 tiến sĩ bộ trưởng Việt Nam, phần lớn là tiến sĩ về kinh tế (7 người, gồm các ông Nguyễn Sinh Hùng, Phạm Khôi Nguyên, Vũ Huy Hoàng, Lê Doãn Hợp, Trần Văn Tuấn, Cao Đức Phát, và Nguyễn Văn Giàu), phần còn lại là xã hội học (ông Nguyễn Quốc Triệu), luyện kim (ông Phạm Gia Khiêm), điều khiển học (ông Nguyễn Thiện Nhân), luật (ông Hà Hùng Cường), kiến trúc (Nguyễn Hồng Quân), và toán lí (ông Hoàng Văn Phong).
Tỷ lệ bộ trưởng và thành viên nội các với bằng tiến sĩ
https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgrSaxNuGfuGz8qMnVbpzTOsDV7xqP-S8OBlxEayWou6nyYRIpviAjjovgfaevjJE6x2Jb_Aguv746dHLcjlj36otD2fZlFcQdmIwEU5CIEHGoeP9gKVDUTlCto7_YL8-SrpezpXvr4AoiN/s400/PhD+proportion.jpg
Ở Úc, trong số 28 thành viên chính phủ, chỉ có 1 người duy nhất có bằng tiến sĩ (ông Craig Emerson), 5 người có bằng thạc sĩ, và đa số (22 người ) có bằng cử nhân. Nội các chính phủ Obama có trình độ học vấn cao hơn Úc một chút, nhưng vẫn còn thua xa so với Việt Nam. Trong số 23 thành viên, 7 người có bằng tiến sĩ, 8 người với bằng thạc sĩ, và 8 người với bằng cử nhân.Nếu [tạm] tính PhD là 10 năm theo học đại học, thạc sĩ 6 năm, và cử nhân 4 năm, thì tính trung bình mỗi hay thành viên trong nội các chính phủ VN có 7.2 năm học đại học, kế đến là Mĩ (6.5 năm), và thấp nhất trong nhóm là Úc (4.6 năm).
Phân tích theo vùng.
Nói đến Việt Nam là phải nói đến chính trị vùng. Tình hình phân bố các thành viên và trình độ học vấn trong nội các chính phủ Việt Nam không đồng đều giữa 3 vùng. Trong số 26 thành viên, đa số là từ miền Bắc (12 người, hay 46%), miền Trung và miền Nam mỗi miền có 7 người. Điều thú vị ở đây là trong số 12 thành viên từ miền Bắc, có đến 8 người (67%) có bằng tiến sĩ. Số thành viên có bằng tiến sĩ từ miền Trung là 3/7 (43%), và miền Nam là 2/7 (28%).
Vài nhận xét
Trong loạt bài về những bất cập trong việc đào tạo tiến sĩ trên Sài Gòn Giải Phóng, tác giả viết như sau: “Nhà khoa học, nhà quản lý các nước cũng sẽ rất ngạc nhiên khi biết được trong đội ngũ cán bộ của ta hiện nay, tỷ lệ TS rất cao! […] Trên các nước, TS nếu có trong bộ máy quản lý nhà nước thì cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất ít.” Những phân tích trong bài này phù hợp với nhận xét đó. Phân nửa các bộ trưởng (hay quan chức tương đương bộ trưởng) Việt Nam có bằng tiến sĩ, và con số này cao hơn so với chính phủ Mĩ và Úc, hai nước mà trình độ dân trí cao hơn Việt Nam. Tôi chưa có bằng chứng, nhưng tôi nghi rằng tỉ lệ tiến sĩ trong chính phủ Việt Nam có lẽ là cao nhất thế giới.
Ở Việt Nam đang tồn tại một nghịch lí lạ lùng: muốn đề bạt chức vụ nào đó thì phải có bằng cấp tương xứng. Chẳng hạn như điều kiện tiên quyết cho chức vụ giám đốc sở thì phải là bằng cử nhân hay thạc sĩ, trưởng khoa một bộ môn trong bệnh viện thì cần phải có bằng tiến sĩ và … đảng viên. Do đó, người ta đổ xô nhau đi “làm” tiến sĩ, tìm mọi cách và mọi giá để có một cái bằng tiến sĩ chỉ để thăng quan tiến chức, hơn là phục vụ cho khoa học. Chú ý là người ta “làm” tiến sĩ, chứ không hẳn là “học” tiến sĩ. Động từ “làm” ở đây bao gồm nhiều hành động, kể cả “bôi trơn” với những cái giá khá cụ thể tùy theo ngành học và tùy vào trung tâm đào tạo.
Tuy nhiên, qui định bằng cấp và chức vụ đó là ở cấp địa phương và cơ sở, còn đối với các cấp bộ trưởng hay tương đương thì tôi nghĩ không có qui định bằng cấp càng cao mới được bổ nhiệm chức cao, vì ở cấp này, vị thế và thành tích chính trị đóng vai trò quan trọng hơn là bằng cấp. Nhưng trước khi làm bộ trưởng thì các vị này cũng đã trải qua các chức vụ thấp hơn, nên nhu cầu bằng cấp lúc đó ắt phải có. Điều này có nghĩa là phong trào tiến sĩ và chức vụ đã xảy ra trước đây, và bây giờ chính là giai đoạn gặt hái thành quả. Hiểu theo nghĩa này, tôi nghĩ trong tương lai chúng ta sẽ còn thấy nhiều tiến sĩ trong chính phủ hơn nữa. Nhiệm kì tới biết đâu con số bộ trưởng có bằng tiến sĩ không phải là 50% như bây giờ mà có thể là 2/3.
Tiến sĩ là học vị cao nhất trong hệ thống bằng cấp đại học. Thông thường, con số người có bằng tiến sĩ thấp hơn con số thạc sĩ, và số người với bằng thạc sĩ ít hơn số người với bằng cử nhân. Đó là xu hướng mà chúng ta thấy ở Mĩ và Úc. Ở Úc, chỉ có 1 bộ trưởng duy nhất có bằng tiến sĩ. Nhưng trong chính phủ Việt Nam thì ngược lại: số người có bằng tiến sĩ nhiều hơn số người có bằng cử nhân và thạc sĩ. Đó là một sự phân bố bất bình thường. Sự bất bình thường đó đặt ra câu hỏi có phải bằng tiến sĩ ở Việt Nam quá dễ “lấy”. Tôi không có câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng những lem nhem và bất cập về cách đào tạo tiến sĩ ở trong nước mà báo chí phản ảnh trong thời gian qua làm cho xã hội đánh một dấu hỏi lớn.
Thật ra, nhìn một cách tích cực hơn, chính phủ có nhiều tiến sĩ là một tín hiệu tốt. Con số 50% bộ trưởng có bằng tiến sĩ cho thấy nước ta đúng là nước có trình độ học vấn cao, có lẽ cao nhất thế giới. Phần lớn các tiến sĩ bộ trưởng học về kinh tế, và điều này nói lên rằng chúng ta có thể tin tưởng rằng kinh tế VN sẽ phát triển bượt bực nay mai. Trong khi chưa có bằng chứng cho phát biểu đó, chúng ta hãy cứ tin và hi vọng vậy.
Ở các nước tiên tiến, phần lớn tiến sĩ làm việc trong các đại học và trung tâm nghiên cứu, với một thiểu số nhỏ làm việc trong ngành quản lí. Ở Việt Nam thì ngược lại: phần lớn tiến sĩ làm trong ngành quản lí hành chính, rất ít người giảng dạy đại học và nghiên cứu khoa học. Thật vậy, chỉ có khoảng ~20% giảng viên trong các đại học lớn ở VN có văn bằng tiến sĩ. Trong khi đó, 50% bộ trưởng VN có bằng tiến sĩ. Một câu hỏi khác cũng cần đặt ra là chính phủ có cần nhiều tiến sĩ như thế hay không trong khi các trường đại học rất thiếu giảng viên ở trình độ tiến sĩ?
NVT
Sunday, January 31, 2010
GOOGLE CHINH PHỤC ĐƯỢC BÁO GIỚI TRUNG QUỐC
Google chinh phục được báo giới Trung Quốc
Mai Vân
Bài đăng ngày 31/01/2010 - Cập nhật lần cuối ngày 31/01/2010 17:31 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6701.asp
Trong lãnh vực tự do thông tin, tạp chí Le Courrier International tuần này, trở lại hồ sơ Google ở Trung Quốc. Tuần báo Pháp ghi nhận là giới truyền thông Trung Quốc tỏ vẻ tiếc việc Google có thể bỏ đi.
Dưới tựa đề báo chí bị Google quyến rũ, Le Courrier International trích báo trên mạng ftchinese.com ở Luân Đôn, đã đánh giá là người Trung Quốc có vẻ chia rẽ trước thông tin của Google, theo đó họ có thể rút ra khỏi Trung Quốc.
Một số tỏ vẻ tán đồng quyết định của tập đoàn Internet Mỹ "không muốn gây hại" và sẵn sàng rút lui. Theo họ thì quyết định này hợp lý, truớc việc chính quyền Bắc Kinh kiểm soát thông tin, nhất là trên mạng Internet. Nhưng cũng có người cho đấy chỉ là một chiến lược để Google mặc cả với Bắc Kinh, tập đoàn sẽ không rút đi.
Đấy chỉ là những giả thuyết của người ngoài cuộc, và hồ sơ này đã trở thành một chủ đề cấm kỵ ở Trung Quốc. Thế nhưng Courrier International cũng kịp ghi nhận phản ứng của giới truyền thông Trubf Quốc, đã cho thấy rõ là họ thiên về Google, trước khi đươc chỉ thị của cơ quan tuyên truyền của nhà nước.
Ngay sau khi Google tuyên bố ý định rút lui như nói trên, ngày 13/01, nhiều tờ báo đã bày tỏ cảm tình, khen ngợi Google, như tờ Đông Phương tuần báo ở Nam Kinh, đã bình luận sự kiện một cách rộng rãi, và tiếc nuối về việc nhiều chức năng tiện lợi của Google sẽ biến mất. Một số báo khác còn đăng ảnh những ''bó hoa phi pháp'' mà những người sử dụng Internet đặt trước cổng trụ sở Google.
Chủ nhiệm một số tờ báo viết, và ngay báo giới truyền hình trong ngày đầu tiên này, tỏ ra rất tin tưởng vào Google. Họ hoan nghênh phát biểu của ông David Drummond, phó chủ tịch Google khi ông tổ nổi lo ngại về việc thông tin bị kiểm soát. Tóm lại những phản ứng trên cho thấy Google đã chinh phục được giới truyền thông Trung Quốc.
Tuy nhiên Courrier International cũng nhắc lại là các phản ứng trên diễn ra vào ngày 13/01. Ngay sau đó một hôm thì gió đã đổi chiều, báo giới bắt đầu nói đến phương cách hành động của Google vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Truyền thông Trung Quốc đã thu mình trở lại trong khuôn khổ chính quyền mà chính quyền đặt ra.
Mai Vân
Bài đăng ngày 31/01/2010 - Cập nhật lần cuối ngày 31/01/2010 17:31 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6701.asp
Trong lãnh vực tự do thông tin, tạp chí Le Courrier International tuần này, trở lại hồ sơ Google ở Trung Quốc. Tuần báo Pháp ghi nhận là giới truyền thông Trung Quốc tỏ vẻ tiếc việc Google có thể bỏ đi.
Dưới tựa đề báo chí bị Google quyến rũ, Le Courrier International trích báo trên mạng ftchinese.com ở Luân Đôn, đã đánh giá là người Trung Quốc có vẻ chia rẽ trước thông tin của Google, theo đó họ có thể rút ra khỏi Trung Quốc.
Một số tỏ vẻ tán đồng quyết định của tập đoàn Internet Mỹ "không muốn gây hại" và sẵn sàng rút lui. Theo họ thì quyết định này hợp lý, truớc việc chính quyền Bắc Kinh kiểm soát thông tin, nhất là trên mạng Internet. Nhưng cũng có người cho đấy chỉ là một chiến lược để Google mặc cả với Bắc Kinh, tập đoàn sẽ không rút đi.
Đấy chỉ là những giả thuyết của người ngoài cuộc, và hồ sơ này đã trở thành một chủ đề cấm kỵ ở Trung Quốc. Thế nhưng Courrier International cũng kịp ghi nhận phản ứng của giới truyền thông Trubf Quốc, đã cho thấy rõ là họ thiên về Google, trước khi đươc chỉ thị của cơ quan tuyên truyền của nhà nước.
Ngay sau khi Google tuyên bố ý định rút lui như nói trên, ngày 13/01, nhiều tờ báo đã bày tỏ cảm tình, khen ngợi Google, như tờ Đông Phương tuần báo ở Nam Kinh, đã bình luận sự kiện một cách rộng rãi, và tiếc nuối về việc nhiều chức năng tiện lợi của Google sẽ biến mất. Một số báo khác còn đăng ảnh những ''bó hoa phi pháp'' mà những người sử dụng Internet đặt trước cổng trụ sở Google.
Chủ nhiệm một số tờ báo viết, và ngay báo giới truyền hình trong ngày đầu tiên này, tỏ ra rất tin tưởng vào Google. Họ hoan nghênh phát biểu của ông David Drummond, phó chủ tịch Google khi ông tổ nổi lo ngại về việc thông tin bị kiểm soát. Tóm lại những phản ứng trên cho thấy Google đã chinh phục được giới truyền thông Trung Quốc.
Tuy nhiên Courrier International cũng nhắc lại là các phản ứng trên diễn ra vào ngày 13/01. Ngay sau đó một hôm thì gió đã đổi chiều, báo giới bắt đầu nói đến phương cách hành động của Google vi phạm chủ quyền của Trung Quốc. Truyền thông Trung Quốc đã thu mình trở lại trong khuôn khổ chính quyền mà chính quyền đặt ra.
Nhà Văn NAM LÊ, NGƯỜI HOẠ SĨ của TÂM HỒN
Nhà văn Nam Lê, người họa sĩ của tâm hồn
Mai Vân
Bài đăng ngày 31/01/2010 - Cập nhật lần cuối ngày 31/01/2010 17:31 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6701.asp
Trên bình diện văn học, tạp chí Pháp L'Express dưới tựa đề : một bậc thầy, không ngớt lời khen ngợi nhà văn trẻ tuổi người Úc gốc Việt, Nam Lê và tác phẩm vừa được dịch ra tiếng Pháp với tựa đề "Le bateau" (Con thuyền). Theo L'Express, đây là một tác phẩm tuyệt vời, với 7 định mệnh đươc mô tả với sự tinh tế của một họa sĩ tâm hồn.
L'Express nhắc lại hành trình của nhà văn trẻ Nam Lê : Chiếc thuyền trong tập truyện là chiếc thuyền của hy vọng cuối cùng. Nam Lê chỉ mới đươc vài tháng tuổi khi đươc cha mẹ bồng lên thuyền vượt biên năm 1979. Tỵ nan ở Melbourne (Úc), Nam Lê trở thành luật sư trước khi sang Mỹ.
Tại đây vị luật sư trẻ đã bảo vệ cho sự nghiệp mới : sự nghiệp văn chương, khi đến trại sáng tác ở Iowa. ''Con thuyền'', là tác phẩm đầu tay nhưng cũng là tác phẩm bậc thầy : tất cả những nổi cảm xúc đươc gợi lên một cách tinh tế trong 7 câu chuyện. Điều đáng khen khác là không có sự trùng lập, nhại đi nhại lại : các câu chuyện hoàn toàn khác nhau.
Nếu trong hai câu chuyện, Nam Lê có thể nói lên thảm kịch Việt nam và thảm cảnh của gia đình anh, thì nhà văn cũng nhập vai một kẻ giết mướn Nam Mỹ ở Medellin (Colombia), hay dựng một cách tài tình cảnh một phụ nữ Iran phản đối chính quyền bị công an truy nã, hoặc là nhập vai một bé gái ở Hiroshima sau đệ nhị thế chiến, quan sát bầu trời, nơi lấp ló bóng dáng ghê rợn các oanh tạc cơ Mỹ.
Nam Lê vẽ lên những định mệnh mong manh có thể tan vỡ ở những nẻo đuờng đầy sợ hãi, bạo động, cô đơn, nhưng không rơi vào sự thống thiết giả tạo. L'Express nói đến một sự khám phá mới, lý thú.
Mai Vân
Bài đăng ngày 31/01/2010 - Cập nhật lần cuối ngày 31/01/2010 17:31 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6701.asp
Trên bình diện văn học, tạp chí Pháp L'Express dưới tựa đề : một bậc thầy, không ngớt lời khen ngợi nhà văn trẻ tuổi người Úc gốc Việt, Nam Lê và tác phẩm vừa được dịch ra tiếng Pháp với tựa đề "Le bateau" (Con thuyền). Theo L'Express, đây là một tác phẩm tuyệt vời, với 7 định mệnh đươc mô tả với sự tinh tế của một họa sĩ tâm hồn.
L'Express nhắc lại hành trình của nhà văn trẻ Nam Lê : Chiếc thuyền trong tập truyện là chiếc thuyền của hy vọng cuối cùng. Nam Lê chỉ mới đươc vài tháng tuổi khi đươc cha mẹ bồng lên thuyền vượt biên năm 1979. Tỵ nan ở Melbourne (Úc), Nam Lê trở thành luật sư trước khi sang Mỹ.
Tại đây vị luật sư trẻ đã bảo vệ cho sự nghiệp mới : sự nghiệp văn chương, khi đến trại sáng tác ở Iowa. ''Con thuyền'', là tác phẩm đầu tay nhưng cũng là tác phẩm bậc thầy : tất cả những nổi cảm xúc đươc gợi lên một cách tinh tế trong 7 câu chuyện. Điều đáng khen khác là không có sự trùng lập, nhại đi nhại lại : các câu chuyện hoàn toàn khác nhau.
Nếu trong hai câu chuyện, Nam Lê có thể nói lên thảm kịch Việt nam và thảm cảnh của gia đình anh, thì nhà văn cũng nhập vai một kẻ giết mướn Nam Mỹ ở Medellin (Colombia), hay dựng một cách tài tình cảnh một phụ nữ Iran phản đối chính quyền bị công an truy nã, hoặc là nhập vai một bé gái ở Hiroshima sau đệ nhị thế chiến, quan sát bầu trời, nơi lấp ló bóng dáng ghê rợn các oanh tạc cơ Mỹ.
Nam Lê vẽ lên những định mệnh mong manh có thể tan vỡ ở những nẻo đuờng đầy sợ hãi, bạo động, cô đơn, nhưng không rơi vào sự thống thiết giả tạo. L'Express nói đến một sự khám phá mới, lý thú.
SUY NGHĨ DÂN CHỦ TRỞ THÀNH ĐIỀU NGUY HIỂM TẠI VIỆT NAM
Suy nghĩ dân chủ trở thành điều nguy hiểm tại Việt Nam
Mai Vân
Bài đăng ngày 31/01/2010 - Cập nhật lần cuối ngày 31/01/2010 17:31 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6701.asp
Dưới đề mục ''Đàn áp tại Việt Nam'', tạp chí Anh Quốc The Economist số ra tuần này đã chạy tựa ''Lòng tin nguy hiểm'' bên trên tiểu tựa ''Học bổng ở nước ngoài, phiền toái ở trong nước". Bài báo tìm hiểu về cuộc đàn áp những tiếng nói không lọt tai đối với chính quyền Việt Nam đang diễn ra trong nước và ghi nhận rằng những người bị truy bức thường có đi học ở ngoại quốc.
The Economist nêu lên trước tiên trường hợp giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong ba người khởi xướng trang blog Bauxite, từ trung tuần tháng giêng, hầu như ngày nào cũng bị công an mời lên thẩm vấn. Tuần báo Anh nhắc lại là trang blog này chỉ trích việc Trung Quốc khai thác bauxite ở Việt Nam, và giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã có những quan hệ tốt với đồng nghiệp ngoại quốc. Vào năm 2000, ông đã trải qua một thời gian tại Đại Học Massachusetts, Hoa Kỳ.
Theo The Economist, vì hệ thống đại học và sau đại học Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước, cho nên việc đi học ở các đại học Phương Tây được đánh giá cao. Có điều những người được đi học lại có nguy cơ trở thành nạn nhân đàn áp chính trị.
Tạp chí Anh nêu lại bản án ngày 20/01 vừa qua ở Thành Phố Hồ Chí Minh, theo đó luật sư Lê Công Định, 41 tuổi, và thác sĩ Nguyễn Tiến Trung, 26 tuổi, đã bị từ 5 đến 7 năm tù, vì bảo vệ dân chủ đa nguyên. Theo bài báo, đối với hai người này, con đường tù tội đã bắt đầu từ việc qua phương Tây du học.Lê Công Định có bằng cấp luật ở Hoa Kỳ, còn Nguyễn Tiến Trung đậu bằng thạc sĩ ở Pháp.
Bài báo cũng nhắc lại quá trình của hai người sau khi tốt nghiệp. Nguyễn Tiến Trung lúc ở Pháp đã có lập một trang web bảo vệ dân chủ, và đã thu hút chú ý những người Việt hải ngoại chống chế độ Cộng sản Việt Nam. Năm 2007, Nguyễn Tiến Trung đươc mời sang Mỹ, và một Việt kiều đã giới thiệu anh gặp tổng thống Bush. Trở về Việt Nam, Nguyễn Tiến Trung tham gia vào Đảng Dân Chủ Việt Nam, vừa mới được khôi phục lại sau một thời gian bị giải thể, và có liên hệ với cộng đồng người Việt ở California.
Luật sư Lê Công Định khi về nước đã làm việc cho nhánh tại Việt Nam của văn phòng luật sư New York, White & Case, cố vấn cho Việt nam về luật chống bán phá giá của Mỹ. Luật sư Lê Công Định đã có quan hệ với đảng Việt Tân ở hải ngoại , và vào tháng 3 năm ngoái đã từng tham dự cuộc hội thảo về cách phản đối không bạo động, do đảng này tổ chức ở Thái Lan.
Bắi báo còn nêu chi tiết về việc các ông Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định bị bắt vào tháng sáu năm ngoái cùng với 2 chủ công ty Internet, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long. Nhưng nếu thái độ cứng đầu của ông Thức đã khiến ông bị đến 16 năm tù thì ngược lại Lê Công Định có phản ứng của một người đầy kinh nghiệm. Ông công nhận là đã có vi phạm luật, vì theo hiến pháp, đảng Cộng sản nắm vai trò lãnh đạo, và việc ủng hộ một đảng chính trị khác là bất hợp pháp. Ông Lê Công Định đã kêu gọi đến sự khoan dung vì ông bị ảnh hưởng của ý tưởng Phương Tây.
The Economist thắc mắc là chưa rõ tại sao Việt Nam lại thực hiện chiến dịch đàn áp như hiện nay. Một số người giải thích đó là do sự căng thẳng trước Đại hội Đảng tổ chức vào năm tới đây. Một số người khác thì nói đến một cuộc đối đầu trong bộ chính trị giữa phe thân Trung Quốc và phái thân Phương Tây.
Trong phần kết luận, The Economist cho là việc cởi mở chính trị ở Việt Nam không khác gì thị trường chứng khoán, lúc trồi lúc sụt. Có điều tạp chí Anh nhân thấy là xu hướng phản kháng hiện nay có thể gia tăng, tuy là một cách khiêm tốn. Vì cho đến khi nào mà hệ thống giáo dục Việt Nam còn thúc đẩy những thành phần ưu tú trẻ ra học ở ngoài thì họ sẽ trở về nước với ảnh hưởng tư tưởng Phương Tây.
Mai Vân
Bài đăng ngày 31/01/2010 - Cập nhật lần cuối ngày 31/01/2010 17:31 TU
http://www.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6701.asp
Dưới đề mục ''Đàn áp tại Việt Nam'', tạp chí Anh Quốc The Economist số ra tuần này đã chạy tựa ''Lòng tin nguy hiểm'' bên trên tiểu tựa ''Học bổng ở nước ngoài, phiền toái ở trong nước". Bài báo tìm hiểu về cuộc đàn áp những tiếng nói không lọt tai đối với chính quyền Việt Nam đang diễn ra trong nước và ghi nhận rằng những người bị truy bức thường có đi học ở ngoại quốc.
The Economist nêu lên trước tiên trường hợp giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong ba người khởi xướng trang blog Bauxite, từ trung tuần tháng giêng, hầu như ngày nào cũng bị công an mời lên thẩm vấn. Tuần báo Anh nhắc lại là trang blog này chỉ trích việc Trung Quốc khai thác bauxite ở Việt Nam, và giáo sư Nguyễn Huệ Chi đã có những quan hệ tốt với đồng nghiệp ngoại quốc. Vào năm 2000, ông đã trải qua một thời gian tại Đại Học Massachusetts, Hoa Kỳ.
Theo The Economist, vì hệ thống đại học và sau đại học Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước, cho nên việc đi học ở các đại học Phương Tây được đánh giá cao. Có điều những người được đi học lại có nguy cơ trở thành nạn nhân đàn áp chính trị.
Tạp chí Anh nêu lại bản án ngày 20/01 vừa qua ở Thành Phố Hồ Chí Minh, theo đó luật sư Lê Công Định, 41 tuổi, và thác sĩ Nguyễn Tiến Trung, 26 tuổi, đã bị từ 5 đến 7 năm tù, vì bảo vệ dân chủ đa nguyên. Theo bài báo, đối với hai người này, con đường tù tội đã bắt đầu từ việc qua phương Tây du học.Lê Công Định có bằng cấp luật ở Hoa Kỳ, còn Nguyễn Tiến Trung đậu bằng thạc sĩ ở Pháp.
Bài báo cũng nhắc lại quá trình của hai người sau khi tốt nghiệp. Nguyễn Tiến Trung lúc ở Pháp đã có lập một trang web bảo vệ dân chủ, và đã thu hút chú ý những người Việt hải ngoại chống chế độ Cộng sản Việt Nam. Năm 2007, Nguyễn Tiến Trung đươc mời sang Mỹ, và một Việt kiều đã giới thiệu anh gặp tổng thống Bush. Trở về Việt Nam, Nguyễn Tiến Trung tham gia vào Đảng Dân Chủ Việt Nam, vừa mới được khôi phục lại sau một thời gian bị giải thể, và có liên hệ với cộng đồng người Việt ở California.
Luật sư Lê Công Định khi về nước đã làm việc cho nhánh tại Việt Nam của văn phòng luật sư New York, White & Case, cố vấn cho Việt nam về luật chống bán phá giá của Mỹ. Luật sư Lê Công Định đã có quan hệ với đảng Việt Tân ở hải ngoại , và vào tháng 3 năm ngoái đã từng tham dự cuộc hội thảo về cách phản đối không bạo động, do đảng này tổ chức ở Thái Lan.
Bắi báo còn nêu chi tiết về việc các ông Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định bị bắt vào tháng sáu năm ngoái cùng với 2 chủ công ty Internet, Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long. Nhưng nếu thái độ cứng đầu của ông Thức đã khiến ông bị đến 16 năm tù thì ngược lại Lê Công Định có phản ứng của một người đầy kinh nghiệm. Ông công nhận là đã có vi phạm luật, vì theo hiến pháp, đảng Cộng sản nắm vai trò lãnh đạo, và việc ủng hộ một đảng chính trị khác là bất hợp pháp. Ông Lê Công Định đã kêu gọi đến sự khoan dung vì ông bị ảnh hưởng của ý tưởng Phương Tây.
The Economist thắc mắc là chưa rõ tại sao Việt Nam lại thực hiện chiến dịch đàn áp như hiện nay. Một số người giải thích đó là do sự căng thẳng trước Đại hội Đảng tổ chức vào năm tới đây. Một số người khác thì nói đến một cuộc đối đầu trong bộ chính trị giữa phe thân Trung Quốc và phái thân Phương Tây.
Trong phần kết luận, The Economist cho là việc cởi mở chính trị ở Việt Nam không khác gì thị trường chứng khoán, lúc trồi lúc sụt. Có điều tạp chí Anh nhân thấy là xu hướng phản kháng hiện nay có thể gia tăng, tuy là một cách khiêm tốn. Vì cho đến khi nào mà hệ thống giáo dục Việt Nam còn thúc đẩy những thành phần ưu tú trẻ ra học ở ngoài thì họ sẽ trở về nước với ảnh hưởng tư tưởng Phương Tây.
THỜI CƠ MỚI, ĐẢNG CSVN BIẾT CHĂNG ?
Thời cơ mới, Đảng Cộng sản Việt Nam biết chăng?
Nhất Hướng
Đăng ngày 31-1-2010
http://danchimviet.com/articles/1995/1/Thi-c-mi-ng-Cng-sn-Vit-Nam-bit-chng/Page1.html
Thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin (1809-2882) cho rằng con người là con khỉ qua hàng triệu năm chuyển biến mà hóa thành. Thuyết này không đề cập đến con khỉ được chuyển hóa từ con gì hay cái gì sanh ra con khỉ. Thuyết này không thể được cho là đúng mà cũng chẳng có thể cho là sai vì sự tiến hóa xảy ra trong hàng triệu năm mà con người có được văn minh và chữ viết chỉ vài ngàn năm nên không có được gì để chứng minh đúng sai cả.
Các Mát dùng thuyết Tiến Hóa để hổ trợ cho duy vật sử quan. Người cộng sản Việt Nam cũng thường đề cao thuyết Tiến Hóa.
Theo lời kể của một người cộng sản già : Lê Duẫn, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, lúc còn bị giam trong ngục ở đảo Côn Sơn rất mê đọc chuyện Tề Thiên Đại Thánh, y có viết vào trang đầu bộ sách Tây Du Ký hàng chữ chủ nghĩa Duy Vật phát sinh từ Trung Hoa và có lần họp chi bộ đảng trong nhà tù để học tập và thảo luận về chuyện Tôn Ngộ Không được sanh ra từ trong hòn đá. Chuyện này tôi nghe lại từ miệng con của người cộng sản già kia không biết có hay không nhưng tôi cứ viết ra để những người đang vận động xây thư viện cho anh Ba Duẫn đi tìm cuốn sách có bút phê kia bỏ vào thư viện để làm kỷ niệm cho một nhà chính trị gia lão luyện đã đòi chiếm Miền Nam Việt Nam bằng bất cứ giá nào và đã cho tiêu cái giá là 1 triệu mạng sống thanh niên để đưa nửa đất nước còn lại vào thiên đường mù cộng sản.
Văn hóa Việt Nam có trước thuyết Tiến Hóa nên không biết khỉ là thủy tổ loài người, chẳng những không trọng ông tổ mà còn đem tất cả những từ ngữ có liên quan đến khỉ đều dùng cho nghĩa xấu cả như: Đồ Mặt Khỉ. Cười Như Khỉ. Làm Trò Khỉ, Khỉ Bắt Chước v.v... đều được dùng để chỉ một con người chưa được tiến hóa thành người mà còn có những hành động như con khỉ.
Khi chiếm được Miền Nam Việt Nam bộ chính trị đảng cộng sản chia nhau 16 tấn vàng trong ngân khố Sài Gòn (nếu không chia thì 16 tấn vàng ấy là tài sản của quốc gia mà nay ở đâu chẳng ai biết và dám hỏi) vẫn chưa thõa mãn lòng tham nên mới huy động từng đoàn quân nói là đánh tư sản nhưng lại mang theo máy dò kim loại quí đi rà từng nhà một kiếm thêm chút nữa. Tàn nhẫn nhất là lập kế hoạch bán bãi công khai thâu một người từ 3 đến 5 lượng vàng để đẩy dân Miền Nam Việt Nam ra biển trên những chiếc thuyền mong manh làm mồi cho cá mập, theo tính toán số người chết trên biển Đông phải gần 1 triệu và số vàng thu được phải trên 25 tấn. Nhốt hàng triệu viên chức quân đội Việt Nam Cộng Hòa lên dãy núi Trường Sơn vẫn chưa nguôi hận thù còn cướp nhà đẩy vợ con họ ra khỏi thành phố đi miền rừng thiêng nước độc. Điều ngu nhất là nghe theo lời sư phụ Cắt Mát, một tên làm biếng không bao giờ lao động sống nhờ ngã tay xin tiền bằng hữu, đem cả nước đi làm thí điểm xây đựng thiên đường mù cộng sản. Xây hoài dựng mãi chẳng ra được cái thiên đường mù kia mà chỉ làm cho đất nước tan hoang. Ruộng không có người cày, chợ chẳng ai mua bán, phố phường cửa đóng then cài, dân ăn sắn bắp thay cơm.
Năm 1986 Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, thấy toàn dân quá đói rách liền tuyên bố chính sách Đổi Mới. Y đến Đà Nẳng họp thành phần tiểu tư sản kêu gọi tư nhân tham gia đầu tư vào những hoạt động kinh tế. Ai cũng ngồi yên không dám nhúc nhích chỉ có một bà thật già đứng lên có ý kiến "Ông tổng bí thư kêu gọi chúng tôi đầu tư lỡ nay mai ông khác lên đổi ý kiến tịch thâu tài sản của chúng tôi thì chúng tôi biết kêu ai ?" .Y thấy dân tình không tin tưởng nên về họp bộ chính trị bàn về cách huy động vốn và vàng của nhân dân, đang sợ hãi chôn trong nhà, ra thị trường đầu tư cho nhanh. Nhờ tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, Những đỉnh cao trí tuệ ấy có thể đã nhìn qua tận Phương Tây nơi họ dùng Thị Trường Chứng Khoán huy động cho các công ty tư nhân một cách hữu hiệu và bắt chước Phương Tây rặn ra được một nghị quyết cho phép các công ty tư nhân được quyền huy động vốn. Nghị quyết vĩ đại này (!) đã làm cho nhiều người dân nhẹ dạ khóc ròng và náo loạn Sài Gòn một thời gian. Các công ty tư nhân chuyển qua làm nhiệm vụ nhà băng. Chúng quảng cáo tiền lời từ 50% đến 100% trong một năm. Chúng nhận tiền người gởi sau trả tiền cho người gởi trước. Sau một thời gian các công ty mà nổi bậc nhất hãng nước hoa Thanh Hương v.v… hốt một mớ tiền lớn và chạy mất.
Những năm cuối thế kỷ XX hai nước cộng sản lớn ở châu Á là Trung Quốc và Việt Nam nhờ cai trị với bàn tay sắt nên còn đứng vững không sụp đổ như các nước cọng sản Đông Âu. Thế hệ cộng sản già truyền ngôi lại cho con cháu với một thế hệ cai trị trẻ hơn, đứa có học đứa bằng giả. Chúng kế tục bắt chước, như cha ông ngày trước, mở Thị Trường Chứng Khoán để huy động vốn của nhân dân.
Trong những năm gần đây, Thủ Tướng Phan Văn Khải, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, chủ tịch sàn Chứng Khoán Sài Gòn Phan Đắc Sinh và các phái đoàn lãnh đạo chính trị của hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đến New York đều được mời đến thăm Thị Trường Chứng Khoán tại phố Wall Street. Tôi thấy cần phải trình bày đôi chút vế Thị Trường Chứng Khoán New York để người lãnh đạo cộng sản biết tại sao họ hay được mời đến thăm.
Thị Trường Chứng Khoán New York là một định chế tài chánh tập hợp bởi nhiều công ty tư nhân và chính phủ nhắm mục đích quản trị số tài sản và số cổ phiếu của các công ty có tên trên sàn chứng khoán và của các người đầu tư. Các công ty muốn có tên trên sàn chứng khoán phải gởi một số tiền vào quỉ (3.000 đô ở sàn Pinksheets). Khi nộp tiền xong các công ty được sở hữu một số lượng cổ phiếu từ 10 tỉ đến 30 tỉ hoặc nhiều hơn tùy theo từng công ty. Trị giá các cổ phiếu này là 0.0000 cent để các công ty này bán ra tập trung vốn cho công ty mình. Khi giá trị cổ phiếu từ 0.0000 cent đi lên được từ 0.05 đến 0.10 cent, các công ty đó có thể chuyển qua sàn chứng khoán OTC và sau đó nếu giá cổ phiếu cao hơn nữa là thị trường đã xác nhận được giá trị của công ty đã tập trung vốn cho công ty thì có thể chuyển cổ phiếu qua dòng chính là Thị Trường Chứng Khoán New York trên các sàn chứng khoán Nasdaq; Down Jones; S&P 500; Amex thì số tiền ký quỉ cao hơn.Vì số tiền nộp vào quỉ quá ít nên sàn chứng khoán Pinksheets hiện nay có đến 9000 công ty có tên nhưng cứ 100 công ty thì có đến 80 công ty dổm, 10 công ty đã chết, 8 công ty có thật nhưng không hoạt động tốt và 1 hay 2 công ty tốt và cứ 1000 công ty thì có được 1 hay 2 công ty có thể chuyển được qua dòng chính, Thị Trường Chứng Khoán New York.
Người đầu tư là bất cứ cá nhân nào đang cư ngụ tại Hoa Kỳ chỉ cần bỏ ra 2000 đô để mở một tài tài khoản ở các công ty TDameritrade, Scottrade v.v.... là thành người đầu tư. Người đầu tư cũng là hàng ngàn quỉ đầu tư đang sỡ hữu hàng chục đến hàng trăm tỉ mỹ kim khắp nước Hoa Kỳ. Người đầu tư cũng là những Quỉ Để Dành của công nhân các công ty hoặc quỉ vốn của các công ty. Người Đầu Tư lại chia làm 2 loại : Loại đầu tư ngắn hạn và loại đầu tư dài hạn. Nếu mua lên (buy) mà giá cổ phiếu đi lên là có lời. Nếu mua xuống (Short) mà giá cổ phiếu đi xuống là có lời. Nếu giá cổ phiếu đi ngược lại là lỗ.
Người đầu tư và các công ty có tên trên sàn chứng khoán đều có nhiều chiến thuật khác nhau để đầu tư nhưng có 2 chiến thuật cổ xưa nhất được dùng nhiếu nhất và dùng cho muôn đời đó là : Mua Khi Có Tin Đồn Bán Khi Có Tin Thật ( Buy On The Rumor Sell On The New) và Bơm và Dụt (Pump and Dump). Trước khi muốn mua lên hay mua xuống (Short) một cổ phiếu thì phải tạo ra hay phải dựa theo những tin đồn (Rumor) về cổ phiếu ấy. Khi đã bỏ tiền ra mua lên thi phải bơm (Pump) những thông tin tốt cho giá trị cổ phiếu đó đi lên. Khi đã bỏ tiền ra mua xuống (short) hay bán (dump) thì cũng phải bơm những thông tin xấu cho giá trị cổ phiếu đó đi xuống. Người đầu tư cá nhân và các quỉ đầu tư tìm đủ mọi cách như thuê người gọi pumpers hay bashers vào trong các Message Board của các trang mạng lớn như lớn như Yahoo finance, investorshub, Google v.v.. hay dùng các cơ quan truyền thông liên hệ tung ra những tin thật tin dổm tin đồn sao cho cổ phiếu mình đã mua đi lên hay đi xuống theo ý mình. Khi có nhiều người bơm (Pumpers) thì cổ phiếu sắp bị bán. Khi có nhiều người nói xấu (Bashers) thì có phiếu sắp được mua. Cứ như thế Thị Trường Chứng Khoán New York hoạt động ngày ngày thật là sôi động.
Thị Trường Chứng Khoán New York là một bãi chiến trường của thông tin nên chính phủ cần phải để cho thông tin được tự do.Nhiều thông tin khác nhau đến từ nhiều nguồn truyền thông khác nhau giúp cho Người Đầu Tư phân biệt được ở đâu là dổm ở đâu là thật. Nhìn sâu hơn thì đó là một sòng bài mà chính phủ là chủ sòng bài nên cần phải tạo sự công bằng để cho sòng bài có người tham gia giải trí, các công ty là những chủ cái từng chiếu bài phải biết khôn ngoan minh bạch trong thông tin để chiếu bài mình đứng cái có người đến chơi. Khi thị trường biết được công ty dổm và cùng nhau dụt (dump)công ty thì công ty ấy đã không tập trung được vốn mà còn mất tiền ký quỉ và mất tiền hàng ngày. Nhìn sâu hơn nữa thì đây là một cái chợ buôn bán tài chánh nên cần có bên mua bên bán, mua đi bán lại cuối cùng kẻ có lợi nhất vẫn là các công ty có tên trên thị trường, họ tập trung được vốn để phát triển hoạt động. Các công ty phát triển thì công nhân được thuê, chính phủ thâu thêm thuế, xã hội phát triển theo.
Chính phủ không điều hành hoạt động của Thị Trường Chứng Khoán New York nhưng lại tham gia vào những khâu như An Ninh, Điều Hợp, và Luật Pháp để điều chỉnh cho thị trường hoạt động thông suốt và công bằng. Tổ chức An Ninh chỉ chú trọng đến những báo cáo tài chánh và nhân viên từng công ty vì nó có liên quan đến việc thu thuế và an toàn cho xã hội chứ không chú trọng đến những thông tin khác. Tổ chức Điều Hợp và Luật Pháp có đằng sau toàn bộ chính phủ và Quốc Hội vừa yểm trợ tài chánh và bổ sung luật lệ để giữ Thị Trường Chứng Khoán hoạt động hữu hiệu.
Vì xã hội được tự do thông tin nên ai muốn tung tin gì mặc ai nên Thị Trường Chứng Khoán New York hiện có 3 kênh truyền hình và hàng chục tờ tuần báo, nguyệt san và bất cứ tờ báo lớn nào cũng có chuyên mục về Thị Trường Chứng Khoán và hàng trăm trang mạng chuyên cung cấp thông tin phục vụ cho Thị Trường Chứng Khoán.
Việt Nam bắt chước Thị Trường Chứng Khoán New York đã lập một sàn Chứng Khoán Tại Sài Gòn và một tại Hà Nội. Trung Quốc lập một sàn Chứng Khoán tại Thượng Hải một tại Cẩm Xuyến. Lúc mới khai trương thì người dân chưa biết nhiều về Thị Trường Chứng Khoán nên đua nhau bỏ tiền ra đầu tư chỉ số chứng khoán tăng vùn vụt. Nhưng sau đó lại rớt vùn vụt và nay thì vắng hoe giống như những buổi chợ chiều. Có nhiều ngày số tiền giao dịch 45 triệu đống là khoảng 3.000 đô. Người Mỹ gọi Thị Trường Chứng Khoán 2 nước cộng sản này là thị trường dổm (Scam Market). tại sao ? Vì các công ty có tên trên Thị Trường Chứng Khoán phần đông là công ty quốc doanh thuộc chính phủ. Chính phủ lại chặn đầu vào cản đầu ra và nắm giữ thông tin thì làm sao công bằng được. Đây là trò lường gạt rẽ tiền hay vừa đá bóng vừa thổi còi chỉ có những thằng ngu mới bỏ tiền váo một sòng bài đầy gian lận. Riêng Việt Nam còn có điều luật 88 chuyên bỏ tù những người phao tin thất thiệt làm người đầu tư khi bỏ tiền đầu tư chẳng dám chơi trò tạo tin đồn tin dổm hay bơm và dụt, đó là chiến thuật chính của đầu tư.
Từ lâu tôi sống rất bình yên nhờ áp dụng đúng câu quốc gia hưng vong thất phu vô trách nhiệm nhưng một hôm về thăm quê hương trên đường phố hỗn độn tại Sàigòn tôi nhìn thấy hai bé gái tuổi khoảng 9 hay 10 tuổi nắm tay nhau đứng trên đống rác lượm đồ phế thải. Đống rác thì nhớp nhúa như chẳng có gì để lượm. Ánh mắt của 2 khuôn mặt ngây thơ lem luốt đáng thương theo mãi trong trí tôi, người lính Miền Nam Việt Nam bại trận năm nào, cảm thấy tội mình ngày càng lớn và thúc dục tôi ngồi vào bàn viết mà tôi có phải dân viết lách đâu nhưng tôi cứ viết. Trước khi viết những hàng chữ tiếp theo tôi xin bạn đọc, nhất là những người đang đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trong và ngoài nước và các chiến hữu của tôi ngày xưa, cho tôi có đôi lời phi lộ để sau này các bạn đừng trách tôi chỉ đường cho hưu chạy. Tôi đến Mỹ năm 1990 theo chương trình HO sau khi bị bọn cọng sản giam trên dãy núi Trường Sơn 12 năm 6 tháng 27 ngày. Tôi có về thăm lại quê hương vài lần, mỗi lần về là mỗi lần càng thấy mình không còn hòa đồng cùng với người cùng chủng tộc không thể sống nơi mình đã sinh ra đã cho mình bao kỷ niệm vui ít nhiều buồn. Từ đó Việt Nam nay chỉ còn là một bóng mờ trong trí tôi hay đã bị tôi đã tự đánh mất trong trái tim mình từ hồi nào mà tôi cũng chẳng biết. Trở lại Mỹ suốt ngày ăn đồ Mỹ nói tiếng Mỹ làm việc với Mỹ nhưng càng giao tiếp sâu với người Mỹ tôi mới biết rằng tôi cũng chẳng phải là người Mỹ dẫu đã có được cái bằng công dân Mỹ từ lâu. Vậy tôi là người gì ? Quê hương cũ thì xa vời vợi đang mờ dần trong trí óc đang muốn quên đi như muốn quên những chuyện đau buồn, quê hương mới thì bên cạnh nhưng sao vẫn thấy không phải của mình. Tôi thấy tôi chẳng giống ai cả nhưng tôi biết chắc tôi là một trong những sản phẩm của trò chơi chiến tranh và chính trị của những người đi trước. Vì cái tôi như thế ấy nên khi tham gia một vài bài viết trong các diễn đàn của thế giới ảo không có nghĩa tôi là một nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Tôi luôn luôn trọng những con người dấn thân đấu tranh cho dân chủ nhân quyền trong và ngoài nước. Chính cái việc dấn thân ra đấu tranh trước một bạo lực sẳn sàng làm những việc hèn hạ độc ác đã làm cho tôi cúi đầu nễ phục các anh rồi. Các anh nói gì làm gì cũng rất khó làm cho người cộng sản thay đổi nhưng tôi biết tương lai các anh xán lạn vì bên cạnh anh có các nhà tư bản tài chánh Hoa Kỳ đang tham gia. Họ cứ mời các quan chức cộng sản tham quan phố Wall Street mãi thì tình hình sẽ đổi thay. Dẫu sao người cộng sản cũng là những người có tài, nhất là tài bắt chước. Tôi viết là vì tôi có đôi giờ rãnh rỗi và đề tài viết là tùy vào lúc viết tôi đã nghĩ đến thứ gì chứ chẳng nhắm vào mục đích đấu tranh hay chống cái gì cả, riêng bài viết hôm nay là vì ánh mắt hai em bé trên đống rác giữa Sài Gòn, nếu bạn đọc là người đàn bà đã từng nhìn vào đôi mắt của đứa con mới sinh ra với lòng dạt dào đầy tình thương thì bạn sẽ hiểu được lòng tôi đối với ánh mắt hai đứa bé đang kiếm ăn trên đống rác, đã thôi thúc tôi bỏ qua những từ ngữ cộng sản hay quốc gia, hận thù hay bằng hữu, độc tài hay tự do để làm sao đạt được mục đích cho những em bé Việt Nam được đến trường học không còn kiếm ăn trên những đống rác bẩn thỉu nửa, muốn cho việc khó khăn này thành công tôi phải có đôi lời tuy hơi dài dòng với người cộng sản mà tôi tin chắc những điều mình viết là đúng nhưng chỉ sợ không ai chịu đọc và khi đọc được rồi thì chẳng ai chịu thi hành nhưng tôi cứ viết để cho lòng mình thanh thản :
- Kraft Food một công ty chuyên bán đồ ăn tại Hoa Kỳ có 98 ngàn nhân viên. Những nhân viên này được công ty và chính phủ giúp đở có được 2 quỉ là Quỉ Về Hưu (Pension) và Quỉ Để Dành (401K). Quỉ Về Hưu thì trao cho nhà băng quản lý để khi về già người nhân viên lãnh một lần hay hàng tháng cọng thên với tiền về hưu của Quỉ An Sinh Xã Hội của chính phủ nên người công nhân không lo lắng khi tuổi ngày càng cao. Quỉ Để Dành thì tùy theo từng công nhân được đầu tư lại vào công ty Kraft Food và 8 quỉ đầu tư khác trên Thị Trường Chứng Khoán New York, mỗi quỉ đầu tư đó có đến 15 hay 20 cổ phiếu giá trị. Quỉ Để Dành của công ty Kraft Food có người đã để dành trên 500.000 đô, nhiều Quỉ Để Dành của các công ty khác (Chợ PuBlic ) có người để dành được trên triệu đô. Toàn nước Mỹ có đến hàng ngàn công ty lớn nhỏ đều có những chương trình như công ty Kraft Food. Hai quỉ này đã làm cho dân Mỹ giàu hơn các dân tộc khác và biến xã hội Mỹ thành một xã hội tiêu dùng. Cách hoạt động này nếu giải thích theo chủ nghĩa cọng sản thì gọi là làm chủ tập thể vì người công nhân có sở hữu số cổ phiếu của công ty. Cách hoạt động này giúp cho chính phủ Hoa Kỳ tập trung vốn của toàn dân vào việc đầu tư. Số tiền công nhân Mỹ đầu tư là tảng băng chìm trên Thị Trường Chứng Khoán New York có thể nói lên đến hàng trăm ngàn tỷ Đô la. Số tiền khổng lồ này giao dịch trong 15 phút khi thị trường chứng khoán New York đóng cửa hàng ngày không ành hưởng đến giá trị cổ phiếu. Tảng băng nổi trên Thị Trường Chứng Khoán New York là những quỉ đầu tư do nhiều cá nhân hay tập thể nổi tiếng dẫn đầu (phần đông là người Do Thái, muốn biết tên những quỉ đầu tư này xin vào trang mạng MFFAIS rồi điền ký hiệu một cổ phiếu như BAC hay F để xem tên và số liệu giao dịch của các quỉ đâu tư trên cổ phiếu ấy), mỗi công ty thuộc lãnh vực tài chánh cũng có quỉ đầu tư riêng và nhất là những cá nhân với số tiền để dành riêng của mình (IRA account) v.v.... Nói tóm lại Thị Trường Chứng Khoán New York là nơi tập trung vốn kết sù của toàn bộ nước Mỹ. Chính phủ Mỹ có nhiệm vụ tìm chỗ cho số vốn này đầu tư. Nguyên tắc của đầu tư là phải : Có lợi nhuận, an toàn và khi rút lui là có thể rút lui được.
- Sau thế chiến thứ II, Thị Trường Chứng Khoán New York hướng tài chánh vào đầu tư vào 2 nước Nhật và Đức đã biến 2 quốc gia này từ hoang tàn đổ nát thành giàu mạnh, nhất là nước Đức trở thành một quốc gia xuất cảng đứng đầu thế giới. Thị trường hai quốc gia này sau thế chiến thứ II được gọi là thị trường Pump. Các công ty của 2 quốc gia làm ra lợi nhuận phải chia cho dân Mỹ. Năm 1971, tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc. Thị Trường Chứng Khoán New York ngưng đầu tư vào hai quốc gia trên đã biến thị trường 2 quốc gia này thành thị trường Dump làm cho kinh tế 2 quốc gia khựng lại nhất là Nhật bị suy thoái liên miên. Trung Quốc là một quốc gia với số dân đang chết đói hàng triệu người nhờ số tài chánh của Thị Trường Chứng Khoán New York đổ vào đầu tư mà trở thành nước giàu mạnh xuất cảng nhiều nhất thế giới qua mặt nước Đức.Thị Trường Trung Quốc sau năm 1975 được gọi là thị trường Pump.
- Trung quốc là một nước cộng sản, nền kinh tế cũng giống Việt Nam, không thể đầu tư tài chánh trực tiếp nên các nhà tư bản tài chánh tại Thị Trường Chứng Khoán New York đã dùng ba đầu cầu tài chánh để xâm nhập vào thị trường Trung Quốc đó là Đài Loan, Hồng Kông và Nam Hàn. Nhờ vậy mà nền kinh tế của Đài Loan, Hồng Kông và Nam Hàn cũng giàu mạnh theo.
Nguyên tắc để đầu tư tài chánh vào một cổ phiếu là tìm một cổ phiếu có giá trị thật thấp để mua và bắt đầu pump and dump, nếu thấy cổ phiếu ấy có giá trị cao hơn khi dump thì pump and dump tiếp và cứ thế cho đến lúc giá trị cổ phiếu không thể lên cao được nữa thì dump thật và đi tìm một cổ phiếu khác để đầu tư. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho việc đầu tư tài chánh vào một thị trường. Các nhà tư bản tài chánh phải tìm cho ra một thị trường giá lao động thật rẻ để đầu tư cho có lợi nhuận mới nhảy vào. Đức và Nhật là nơi đầu tư lý tưởng nhất sau thế chiến thứ II. Sau gần 30 năm thâu lợi nhuận hã hê các nhà tư bản tài chánh Dump thật 2 thị trường này và nhảy sang thị trường Trung Quốc là nơi anh nông dân Mao tàn phá đến mức dân phải chết đói hàng triệu. Sau gần 30 năm thâu lợi nhuận hã hê ở thị trường Trung quốc các nhà tư bản tài chánh đã bắt đầu Dump thị trường Trung Quốc từ trước năm 2000 và rút tài chánh từ 3 đầu cầu Hồng Kông, Đài Loan, Đại Hàn về làm số tài chánh trong nước thặng dư quá mức và đem ra cho vay một cách tắc trách dễ dãi mới sanh ra cuộc khủng hoảng tiền tệ hiện nay.
- Năm 2006 chỉ số của thị trường chứng khoán của Trung Quốc tăng 130%. Nửa năm 2007 tăng 50%. Đó là thời gian Thị Trưòng Chứng Khoán Thượng Hãi lên tới cao điểm. Người Trung Quốc huênh hoang bắt đầu diệu võ dương oai chơi trò bá quyền nước lớn và và mở đầu ra cho Thị Trường Chứng khoán Thượng Hãi thông thương với thị trường thế giới bằng cách : Ngày 21-5-2007 Chính quyền Trung Quốc tuyên bố đầu tư 4 tỷ đô vào nhóm Blackstone Group ở Thị Trường Chứng Khoán New York. Hai ngày sau chính quyền Trung Quốc tuyên bố sẽ bỏ ra 60 tỷ để đầu tư vào thị trường chứng khoán ngoại quốc. Ngày 27-6-2007 chính quyền Trung Quốc tuyên bố sẽ đầu tư thêm vào thị trường chứng khoán thế giới 200 tỷ đô trích từ 1.300 tỷ đô của ngoại tệ thặng dư. Ngày 29-6-2007 quốc hội Trung Quốc chuẩn chi 200 tỷ đô để đầu tư ra ngoại quốc và thành lập công ty kinh doanh ngoại hối. Chính quyền Trung Quốc đăng tên những công ty Trung Quốc lên Thị Trrường Chứng Khoán New York, mua công khố phiếu của Hoa Kỳ và hướng đầu tư nghiêng về vùng Trung Đông vì sợ thế giới Tây Phương sẽ làm thay đổi chế độ chính trị của họ.
- Người cộng sản Trung Quốc phần đông không có đạo nên có lẽ không biết chuyện tên Do Thái Juda bán chúa Jesus Christ chỉ vì vài đồng xu, tên Do Thái Kissinger bán Miền Nam Việt Nam để cho ngưới Do Thái chiếm thị trường Trung Quốc, nên cả tin người Mỹ gốc Do Thái đang ngự trị trên Thị Trường Chứng Khoán New York đang điều khiển cả thế giới để rồi Cổ phiếu của Trung Quốc trên Thị Trường Chứng Khoán New York đều bị đánh xuống tới đáy, tiền đầu tư qua Trung Đông thì bị không cho gia hạn nợ bắt khai phá sản, mua công khố phiếu thì bị Hoa kỳ phá giá đồng Đô La (Tôi không nắm rõ số tiền mua công khó phiếu có lẽ phải trên 600 tỷ đô). Cũng cần nhắc lại vào những năm 1990 người Nhật đã bị lừa đem tiền hàng chục tỷ đô trong quỉ thặng dư đầu tư mua các cao ốc của Mỹ để rồi bán lại lỗ một số lớn. Những năm vừa qua Truyền Thông của Hoa kỳ (cũng do người Do Thái điều khiển) bắt đầu tạo tin đồn như hàng hóa thực phẩm Trung Quốc có chất độc, quốc phòng Trung quốc là mối họa cho thế giới, Trung Quốc kiềm hảm đồng nhân dân tệ để thủ lợi, hàng nhái, ăn cắp tác quyền v.v... để Dump thật thị trường Trung Quốc. Nước cọng sản này chưa biết sẽ đi về đâu sau khi các nhà tư bản tài chánh tại New York hoàn tất việc Dump thật.
- Hoa Kỳ đang sở hữu số số tài chánh kết sù tại Thị Trường Chứng Khoán New York thì việc chính là phải tìm nơi để đầu tư và đầu tư vào đâu được an toàn, sinh lợi nhuận và khi rút lui thì có thể rút được. Đầu tư vào thị trường chung Âu Châu ? Không ăn được vì thị trường đó cũng giống như một cổ phiếu đã tới giá. Đầu tư vào Nam Mỹ ? Không cần thiết vì không ai lại kiếm tiền ở sân sau nhà mình mà nên kiếm tiến từ xa mang về nhà. Đầu Tư vào Châu Phi ? không được vì đó là vùng đất hỗn loạn không an ninh. Đầu Tư vào Trung Đông ? Mau chết vì nhiếu khủng bố Hồi Giáo. Chỉ có một nơi đáng đầu tư nhất là khối APEC mà tốt nhất 3 nước Việt Miên Lào vì 3 nước này là vùng đất giá lao động còn thấp và theo đạo Phật nên rất an toàn. Từ 3 nước này làm đầu cầu xâm nhập vào số còn lại của khối APEC theo đạo Hồi và dùng APEC tiến vào các quốc gia Hồi Giáo, một vùng đất đông dân rộng lớn rất màu mở chưa khai phá nhưng nhiều kẻ thù với người Do Thái.
- Kinh tế và chính trị thường đi đôi với nhau. Nhu cầu của kinh tế đưa đến hành động chính trị. Nhu cầu kinh tế hiện nay của Hoa kỳ là phải tìm cho ra vị trí để đầu tư số tiền đang sở hữu nên Tổng thống Barrak Obama và ngoại trưởng Hillary Clinton đều hướng về Khối APEC. ngày 23-7 bà Hillary Clinton gặp đại diện 3 nước Việt Miên Lào tại Phuket, Thái Lan. Ngày 15-11 Tổng thống Barrack Obama gặp lãnh đạo 10 nước ASEAN. Để khôi phục lại những quan hệ đối tác của vùng này và mở đường cho các nhà tư bản tài chánh bước vào đầu tư.
- Trước khi đầu tư vào một cổ phiếu người đầu tư phải làm một việc gọi là làm DD (Due Diligence) tức là đọc tất cả hồ sơ về an ninh và tin tức liên quan đến công ty mang cổ phiếu ấy, hay nói rõ hơn là nghiên cứu cổ phiếu mình muốn đầu tư. Trước khi đầu tư vào một thị trường mới các nhà đầu tư cũng làm như đầu tư vào cổ phiếu là làm DD và họ đã gởi một phái đoàn chuyên viên của đại học Harward đến Hà nội để nghiên cứu thị trường nước Việt Nam trước khi đầu tư.
- Thị trường Việt Nam ngày nay là một thị trường không thể đầu tư tài chánh trực tiếp được. Không thể dùng 3 đầu cầu tài chánh Hồng Kông, Đài Loan, Nam Hàn để đầu tư vào Việt Nam như đã làm với Trung Quốc trước đây lý do 3 đầu cầu đã cũ rồi, tức là đã tới gíá rồi nên không có ăn. Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thân hữu (Crony Economy) tức là bà con anh em đảng viện thân hữu sở hữu từng công ty nên không thể hùn hạp chia lời được, nghĩa là các công ty từ thượng tầng đến hạ tầng chưa được cổ phần hóa. Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam là con vịt què cần phải cần phải chửa trị mới đi được, nghĩa là không thể phát huy do sự can thiệp quá sâu của giới chính trị.
- Năm 2009 số tiền đầu tư vào Việt Nam là 25 tỷ đô sau khi Việt Nam đưa hàng chục phái đoàn đi kêu gọi đầu tư. Số tiền này chỉ bằng 1 phần 5 của quỹ đầu tư Berkshire Hathaway, bằng 1 phần 2 của quỹ đầu tư Putnam quỹ đầu tư Vanguard. Đó là những quỹ đầu tư trong hàng trăm quỹ đầu tư tại Thị Trường Chứng Khoán New York vì hai điểm chính : 1.- Các quỹ đầu tư là cha là mẹ của các công ty. Việt Nam đi hỏi con cái để xin tiền trong lúc cha mẹ chưa cho thì tiền đâu để con cái cho kẻ khác, hay nói cách khác là Việt Nam đã gỏ không đúng cửa để kêu gọi đầu tư. 2.- Môi trường của Việt Nam chưa thích hợp cho tư bản tài chánh đầu tư dẫu ràng các nhà chính trị và các nhà tư bản tài chánh đã nhìn thấy được Việt Nam là một vị trí thuận lợi để đầu tư.
- Để thu hút số tài chánh của Thị Trường Chứng Khoán New York đầu tư vào Việt Nam đảng cộng sản Việt Nam cần làm những điểm sau :
- Lập những Quỹ Về Hưu và Quỹ Để Dành cho người công nhân trong các công ty để tập trung vốn đầu tư trong nước.
- Gởi 1 phái đoàn qua Nga và Đông Âu để nghiên cứu cách cổ phần hoá các công ty sau khi các đảng cộng sản ở đó sụp đổ và chuyển qua kinh tế thị trường. Dẫu cho sự cổ phần hóa không được công bằng có lợi cho các đảng viên cọng sản cũng cứ làm vì họ nói cho cùng cũng là người Việt Nam và là sẽ là đầu tàu đưa đất nước đi lên.
- Gởi một phái đoàn qua Thị Trường Chứng Khoán New York và tìm cách kết thân cũng như mời một số chuyên gia sang cố vấn để làm chuyển biến Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam như mở sàn chứng khoán Pinksheets, sàn chứng khoán OTC, bổ túc các luật lệ, cách hoạt động v.v...
- Bỏ điều luật 88 và tuyên bố tự do thông tin.
Trong 4 điểm để thi hành này thì 3 điểm trên có thể thi hành được nhưng điểm tạo tự do thông tin là một đề nghị khó được đảng cộng sản chấp nhận bởi họ sợ khi có tự do thông tin thì bao nhiêu điều dối trá tàn ác của họ không thể che đấu trước nhân dân được.Họ đã lầm to toàn dân đã biết tất cả những dối trá tội ác của đảng cộng sản Việt Nam từ lâu vì mạng điện toán đã kết nối khắp toàn cầu . Đảng cộng sản Việt Nam là một mối họa của dân Việt Nam từ lâu ai cũng đã biết nên nhân cơ hội này cần trả lại quyền tự do cho nhân dân và tạo môi trường cho Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam đi lên để chuộc lại lỗi lầm xưa và thoát ra được vòng tay của tên đại Hán bá quyền Trung Quốc bên cạnh.
Tôi hy vọng người cộng sản đã chơi trò bắt chước thì cần bắt chước cho đúng bằng cách gởi một phái đoàn hùng hậu do chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết dẫn đầu đi vào phố Wall Street kêu gọi đầu tư và nói các nhà tư bản tài chánh rằng nước Việt Nam ngày nay đã thay đổi : Chúng tôi có Thị Trường Chứng Khoán, các công ty Việt Nam đã được cổ phần hóa, Chúng tôi đã cho tự do thông tin để các người đầu tư được áp dụng mọi phương pháp đầu tư. Nhất là đừng nói chúng tôi có gái đẹp xin mời các anh đến đầu tư như lần đến Mỹ trước đây. Mỗi người con gái Việt Nam bị bán qua Đài Loan, Đại Hàn là một tội ác của đảng cộng sản. Hai bé gái kiếm ăn trên đống rát tại Sài Gòn ngày nay đã trở thành những cô gái. Tôi cầu nguyện họ không phải làm nghề bán trôn nuôi miệng.
© Đàn Chim Việt Online
Nhất Hướng
Đăng ngày 31-1-2010
http://danchimviet.com/articles/1995/1/Thi-c-mi-ng-Cng-sn-Vit-Nam-bit-chng/Page1.html
Thuyết Tiến Hóa của Charles Darwin (1809-2882) cho rằng con người là con khỉ qua hàng triệu năm chuyển biến mà hóa thành. Thuyết này không đề cập đến con khỉ được chuyển hóa từ con gì hay cái gì sanh ra con khỉ. Thuyết này không thể được cho là đúng mà cũng chẳng có thể cho là sai vì sự tiến hóa xảy ra trong hàng triệu năm mà con người có được văn minh và chữ viết chỉ vài ngàn năm nên không có được gì để chứng minh đúng sai cả.
Các Mát dùng thuyết Tiến Hóa để hổ trợ cho duy vật sử quan. Người cộng sản Việt Nam cũng thường đề cao thuyết Tiến Hóa.
Theo lời kể của một người cộng sản già : Lê Duẫn, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, lúc còn bị giam trong ngục ở đảo Côn Sơn rất mê đọc chuyện Tề Thiên Đại Thánh, y có viết vào trang đầu bộ sách Tây Du Ký hàng chữ chủ nghĩa Duy Vật phát sinh từ Trung Hoa và có lần họp chi bộ đảng trong nhà tù để học tập và thảo luận về chuyện Tôn Ngộ Không được sanh ra từ trong hòn đá. Chuyện này tôi nghe lại từ miệng con của người cộng sản già kia không biết có hay không nhưng tôi cứ viết ra để những người đang vận động xây thư viện cho anh Ba Duẫn đi tìm cuốn sách có bút phê kia bỏ vào thư viện để làm kỷ niệm cho một nhà chính trị gia lão luyện đã đòi chiếm Miền Nam Việt Nam bằng bất cứ giá nào và đã cho tiêu cái giá là 1 triệu mạng sống thanh niên để đưa nửa đất nước còn lại vào thiên đường mù cộng sản.
Văn hóa Việt Nam có trước thuyết Tiến Hóa nên không biết khỉ là thủy tổ loài người, chẳng những không trọng ông tổ mà còn đem tất cả những từ ngữ có liên quan đến khỉ đều dùng cho nghĩa xấu cả như: Đồ Mặt Khỉ. Cười Như Khỉ. Làm Trò Khỉ, Khỉ Bắt Chước v.v... đều được dùng để chỉ một con người chưa được tiến hóa thành người mà còn có những hành động như con khỉ.
Khi chiếm được Miền Nam Việt Nam bộ chính trị đảng cộng sản chia nhau 16 tấn vàng trong ngân khố Sài Gòn (nếu không chia thì 16 tấn vàng ấy là tài sản của quốc gia mà nay ở đâu chẳng ai biết và dám hỏi) vẫn chưa thõa mãn lòng tham nên mới huy động từng đoàn quân nói là đánh tư sản nhưng lại mang theo máy dò kim loại quí đi rà từng nhà một kiếm thêm chút nữa. Tàn nhẫn nhất là lập kế hoạch bán bãi công khai thâu một người từ 3 đến 5 lượng vàng để đẩy dân Miền Nam Việt Nam ra biển trên những chiếc thuyền mong manh làm mồi cho cá mập, theo tính toán số người chết trên biển Đông phải gần 1 triệu và số vàng thu được phải trên 25 tấn. Nhốt hàng triệu viên chức quân đội Việt Nam Cộng Hòa lên dãy núi Trường Sơn vẫn chưa nguôi hận thù còn cướp nhà đẩy vợ con họ ra khỏi thành phố đi miền rừng thiêng nước độc. Điều ngu nhất là nghe theo lời sư phụ Cắt Mát, một tên làm biếng không bao giờ lao động sống nhờ ngã tay xin tiền bằng hữu, đem cả nước đi làm thí điểm xây đựng thiên đường mù cộng sản. Xây hoài dựng mãi chẳng ra được cái thiên đường mù kia mà chỉ làm cho đất nước tan hoang. Ruộng không có người cày, chợ chẳng ai mua bán, phố phường cửa đóng then cài, dân ăn sắn bắp thay cơm.
Năm 1986 Nguyễn Văn Linh, tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam, thấy toàn dân quá đói rách liền tuyên bố chính sách Đổi Mới. Y đến Đà Nẳng họp thành phần tiểu tư sản kêu gọi tư nhân tham gia đầu tư vào những hoạt động kinh tế. Ai cũng ngồi yên không dám nhúc nhích chỉ có một bà thật già đứng lên có ý kiến "Ông tổng bí thư kêu gọi chúng tôi đầu tư lỡ nay mai ông khác lên đổi ý kiến tịch thâu tài sản của chúng tôi thì chúng tôi biết kêu ai ?" .Y thấy dân tình không tin tưởng nên về họp bộ chính trị bàn về cách huy động vốn và vàng của nhân dân, đang sợ hãi chôn trong nhà, ra thị trường đầu tư cho nhanh. Nhờ tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, Những đỉnh cao trí tuệ ấy có thể đã nhìn qua tận Phương Tây nơi họ dùng Thị Trường Chứng Khoán huy động cho các công ty tư nhân một cách hữu hiệu và bắt chước Phương Tây rặn ra được một nghị quyết cho phép các công ty tư nhân được quyền huy động vốn. Nghị quyết vĩ đại này (!) đã làm cho nhiều người dân nhẹ dạ khóc ròng và náo loạn Sài Gòn một thời gian. Các công ty tư nhân chuyển qua làm nhiệm vụ nhà băng. Chúng quảng cáo tiền lời từ 50% đến 100% trong một năm. Chúng nhận tiền người gởi sau trả tiền cho người gởi trước. Sau một thời gian các công ty mà nổi bậc nhất hãng nước hoa Thanh Hương v.v… hốt một mớ tiền lớn và chạy mất.
Những năm cuối thế kỷ XX hai nước cộng sản lớn ở châu Á là Trung Quốc và Việt Nam nhờ cai trị với bàn tay sắt nên còn đứng vững không sụp đổ như các nước cọng sản Đông Âu. Thế hệ cộng sản già truyền ngôi lại cho con cháu với một thế hệ cai trị trẻ hơn, đứa có học đứa bằng giả. Chúng kế tục bắt chước, như cha ông ngày trước, mở Thị Trường Chứng Khoán để huy động vốn của nhân dân.
Trong những năm gần đây, Thủ Tướng Phan Văn Khải, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, chủ tịch sàn Chứng Khoán Sài Gòn Phan Đắc Sinh và các phái đoàn lãnh đạo chính trị của hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đến New York đều được mời đến thăm Thị Trường Chứng Khoán tại phố Wall Street. Tôi thấy cần phải trình bày đôi chút vế Thị Trường Chứng Khoán New York để người lãnh đạo cộng sản biết tại sao họ hay được mời đến thăm.
Thị Trường Chứng Khoán New York là một định chế tài chánh tập hợp bởi nhiều công ty tư nhân và chính phủ nhắm mục đích quản trị số tài sản và số cổ phiếu của các công ty có tên trên sàn chứng khoán và của các người đầu tư. Các công ty muốn có tên trên sàn chứng khoán phải gởi một số tiền vào quỉ (3.000 đô ở sàn Pinksheets). Khi nộp tiền xong các công ty được sở hữu một số lượng cổ phiếu từ 10 tỉ đến 30 tỉ hoặc nhiều hơn tùy theo từng công ty. Trị giá các cổ phiếu này là 0.0000 cent để các công ty này bán ra tập trung vốn cho công ty mình. Khi giá trị cổ phiếu từ 0.0000 cent đi lên được từ 0.05 đến 0.10 cent, các công ty đó có thể chuyển qua sàn chứng khoán OTC và sau đó nếu giá cổ phiếu cao hơn nữa là thị trường đã xác nhận được giá trị của công ty đã tập trung vốn cho công ty thì có thể chuyển cổ phiếu qua dòng chính là Thị Trường Chứng Khoán New York trên các sàn chứng khoán Nasdaq; Down Jones; S&P 500; Amex thì số tiền ký quỉ cao hơn.Vì số tiền nộp vào quỉ quá ít nên sàn chứng khoán Pinksheets hiện nay có đến 9000 công ty có tên nhưng cứ 100 công ty thì có đến 80 công ty dổm, 10 công ty đã chết, 8 công ty có thật nhưng không hoạt động tốt và 1 hay 2 công ty tốt và cứ 1000 công ty thì có được 1 hay 2 công ty có thể chuyển được qua dòng chính, Thị Trường Chứng Khoán New York.
Người đầu tư là bất cứ cá nhân nào đang cư ngụ tại Hoa Kỳ chỉ cần bỏ ra 2000 đô để mở một tài tài khoản ở các công ty TDameritrade, Scottrade v.v.... là thành người đầu tư. Người đầu tư cũng là hàng ngàn quỉ đầu tư đang sỡ hữu hàng chục đến hàng trăm tỉ mỹ kim khắp nước Hoa Kỳ. Người đầu tư cũng là những Quỉ Để Dành của công nhân các công ty hoặc quỉ vốn của các công ty. Người Đầu Tư lại chia làm 2 loại : Loại đầu tư ngắn hạn và loại đầu tư dài hạn. Nếu mua lên (buy) mà giá cổ phiếu đi lên là có lời. Nếu mua xuống (Short) mà giá cổ phiếu đi xuống là có lời. Nếu giá cổ phiếu đi ngược lại là lỗ.
Người đầu tư và các công ty có tên trên sàn chứng khoán đều có nhiều chiến thuật khác nhau để đầu tư nhưng có 2 chiến thuật cổ xưa nhất được dùng nhiếu nhất và dùng cho muôn đời đó là : Mua Khi Có Tin Đồn Bán Khi Có Tin Thật ( Buy On The Rumor Sell On The New) và Bơm và Dụt (Pump and Dump). Trước khi muốn mua lên hay mua xuống (Short) một cổ phiếu thì phải tạo ra hay phải dựa theo những tin đồn (Rumor) về cổ phiếu ấy. Khi đã bỏ tiền ra mua lên thi phải bơm (Pump) những thông tin tốt cho giá trị cổ phiếu đó đi lên. Khi đã bỏ tiền ra mua xuống (short) hay bán (dump) thì cũng phải bơm những thông tin xấu cho giá trị cổ phiếu đó đi xuống. Người đầu tư cá nhân và các quỉ đầu tư tìm đủ mọi cách như thuê người gọi pumpers hay bashers vào trong các Message Board của các trang mạng lớn như lớn như Yahoo finance, investorshub, Google v.v.. hay dùng các cơ quan truyền thông liên hệ tung ra những tin thật tin dổm tin đồn sao cho cổ phiếu mình đã mua đi lên hay đi xuống theo ý mình. Khi có nhiều người bơm (Pumpers) thì cổ phiếu sắp bị bán. Khi có nhiều người nói xấu (Bashers) thì có phiếu sắp được mua. Cứ như thế Thị Trường Chứng Khoán New York hoạt động ngày ngày thật là sôi động.
Thị Trường Chứng Khoán New York là một bãi chiến trường của thông tin nên chính phủ cần phải để cho thông tin được tự do.Nhiều thông tin khác nhau đến từ nhiều nguồn truyền thông khác nhau giúp cho Người Đầu Tư phân biệt được ở đâu là dổm ở đâu là thật. Nhìn sâu hơn thì đó là một sòng bài mà chính phủ là chủ sòng bài nên cần phải tạo sự công bằng để cho sòng bài có người tham gia giải trí, các công ty là những chủ cái từng chiếu bài phải biết khôn ngoan minh bạch trong thông tin để chiếu bài mình đứng cái có người đến chơi. Khi thị trường biết được công ty dổm và cùng nhau dụt (dump)công ty thì công ty ấy đã không tập trung được vốn mà còn mất tiền ký quỉ và mất tiền hàng ngày. Nhìn sâu hơn nữa thì đây là một cái chợ buôn bán tài chánh nên cần có bên mua bên bán, mua đi bán lại cuối cùng kẻ có lợi nhất vẫn là các công ty có tên trên thị trường, họ tập trung được vốn để phát triển hoạt động. Các công ty phát triển thì công nhân được thuê, chính phủ thâu thêm thuế, xã hội phát triển theo.
Chính phủ không điều hành hoạt động của Thị Trường Chứng Khoán New York nhưng lại tham gia vào những khâu như An Ninh, Điều Hợp, và Luật Pháp để điều chỉnh cho thị trường hoạt động thông suốt và công bằng. Tổ chức An Ninh chỉ chú trọng đến những báo cáo tài chánh và nhân viên từng công ty vì nó có liên quan đến việc thu thuế và an toàn cho xã hội chứ không chú trọng đến những thông tin khác. Tổ chức Điều Hợp và Luật Pháp có đằng sau toàn bộ chính phủ và Quốc Hội vừa yểm trợ tài chánh và bổ sung luật lệ để giữ Thị Trường Chứng Khoán hoạt động hữu hiệu.
Vì xã hội được tự do thông tin nên ai muốn tung tin gì mặc ai nên Thị Trường Chứng Khoán New York hiện có 3 kênh truyền hình và hàng chục tờ tuần báo, nguyệt san và bất cứ tờ báo lớn nào cũng có chuyên mục về Thị Trường Chứng Khoán và hàng trăm trang mạng chuyên cung cấp thông tin phục vụ cho Thị Trường Chứng Khoán.
Việt Nam bắt chước Thị Trường Chứng Khoán New York đã lập một sàn Chứng Khoán Tại Sài Gòn và một tại Hà Nội. Trung Quốc lập một sàn Chứng Khoán tại Thượng Hải một tại Cẩm Xuyến. Lúc mới khai trương thì người dân chưa biết nhiều về Thị Trường Chứng Khoán nên đua nhau bỏ tiền ra đầu tư chỉ số chứng khoán tăng vùn vụt. Nhưng sau đó lại rớt vùn vụt và nay thì vắng hoe giống như những buổi chợ chiều. Có nhiều ngày số tiền giao dịch 45 triệu đống là khoảng 3.000 đô. Người Mỹ gọi Thị Trường Chứng Khoán 2 nước cộng sản này là thị trường dổm (Scam Market). tại sao ? Vì các công ty có tên trên Thị Trường Chứng Khoán phần đông là công ty quốc doanh thuộc chính phủ. Chính phủ lại chặn đầu vào cản đầu ra và nắm giữ thông tin thì làm sao công bằng được. Đây là trò lường gạt rẽ tiền hay vừa đá bóng vừa thổi còi chỉ có những thằng ngu mới bỏ tiền váo một sòng bài đầy gian lận. Riêng Việt Nam còn có điều luật 88 chuyên bỏ tù những người phao tin thất thiệt làm người đầu tư khi bỏ tiền đầu tư chẳng dám chơi trò tạo tin đồn tin dổm hay bơm và dụt, đó là chiến thuật chính của đầu tư.
Từ lâu tôi sống rất bình yên nhờ áp dụng đúng câu quốc gia hưng vong thất phu vô trách nhiệm nhưng một hôm về thăm quê hương trên đường phố hỗn độn tại Sàigòn tôi nhìn thấy hai bé gái tuổi khoảng 9 hay 10 tuổi nắm tay nhau đứng trên đống rác lượm đồ phế thải. Đống rác thì nhớp nhúa như chẳng có gì để lượm. Ánh mắt của 2 khuôn mặt ngây thơ lem luốt đáng thương theo mãi trong trí tôi, người lính Miền Nam Việt Nam bại trận năm nào, cảm thấy tội mình ngày càng lớn và thúc dục tôi ngồi vào bàn viết mà tôi có phải dân viết lách đâu nhưng tôi cứ viết. Trước khi viết những hàng chữ tiếp theo tôi xin bạn đọc, nhất là những người đang đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền trong và ngoài nước và các chiến hữu của tôi ngày xưa, cho tôi có đôi lời phi lộ để sau này các bạn đừng trách tôi chỉ đường cho hưu chạy. Tôi đến Mỹ năm 1990 theo chương trình HO sau khi bị bọn cọng sản giam trên dãy núi Trường Sơn 12 năm 6 tháng 27 ngày. Tôi có về thăm lại quê hương vài lần, mỗi lần về là mỗi lần càng thấy mình không còn hòa đồng cùng với người cùng chủng tộc không thể sống nơi mình đã sinh ra đã cho mình bao kỷ niệm vui ít nhiều buồn. Từ đó Việt Nam nay chỉ còn là một bóng mờ trong trí tôi hay đã bị tôi đã tự đánh mất trong trái tim mình từ hồi nào mà tôi cũng chẳng biết. Trở lại Mỹ suốt ngày ăn đồ Mỹ nói tiếng Mỹ làm việc với Mỹ nhưng càng giao tiếp sâu với người Mỹ tôi mới biết rằng tôi cũng chẳng phải là người Mỹ dẫu đã có được cái bằng công dân Mỹ từ lâu. Vậy tôi là người gì ? Quê hương cũ thì xa vời vợi đang mờ dần trong trí óc đang muốn quên đi như muốn quên những chuyện đau buồn, quê hương mới thì bên cạnh nhưng sao vẫn thấy không phải của mình. Tôi thấy tôi chẳng giống ai cả nhưng tôi biết chắc tôi là một trong những sản phẩm của trò chơi chiến tranh và chính trị của những người đi trước. Vì cái tôi như thế ấy nên khi tham gia một vài bài viết trong các diễn đàn của thế giới ảo không có nghĩa tôi là một nhà đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Tôi luôn luôn trọng những con người dấn thân đấu tranh cho dân chủ nhân quyền trong và ngoài nước. Chính cái việc dấn thân ra đấu tranh trước một bạo lực sẳn sàng làm những việc hèn hạ độc ác đã làm cho tôi cúi đầu nễ phục các anh rồi. Các anh nói gì làm gì cũng rất khó làm cho người cộng sản thay đổi nhưng tôi biết tương lai các anh xán lạn vì bên cạnh anh có các nhà tư bản tài chánh Hoa Kỳ đang tham gia. Họ cứ mời các quan chức cộng sản tham quan phố Wall Street mãi thì tình hình sẽ đổi thay. Dẫu sao người cộng sản cũng là những người có tài, nhất là tài bắt chước. Tôi viết là vì tôi có đôi giờ rãnh rỗi và đề tài viết là tùy vào lúc viết tôi đã nghĩ đến thứ gì chứ chẳng nhắm vào mục đích đấu tranh hay chống cái gì cả, riêng bài viết hôm nay là vì ánh mắt hai em bé trên đống rác giữa Sài Gòn, nếu bạn đọc là người đàn bà đã từng nhìn vào đôi mắt của đứa con mới sinh ra với lòng dạt dào đầy tình thương thì bạn sẽ hiểu được lòng tôi đối với ánh mắt hai đứa bé đang kiếm ăn trên đống rác, đã thôi thúc tôi bỏ qua những từ ngữ cộng sản hay quốc gia, hận thù hay bằng hữu, độc tài hay tự do để làm sao đạt được mục đích cho những em bé Việt Nam được đến trường học không còn kiếm ăn trên những đống rác bẩn thỉu nửa, muốn cho việc khó khăn này thành công tôi phải có đôi lời tuy hơi dài dòng với người cộng sản mà tôi tin chắc những điều mình viết là đúng nhưng chỉ sợ không ai chịu đọc và khi đọc được rồi thì chẳng ai chịu thi hành nhưng tôi cứ viết để cho lòng mình thanh thản :
- Kraft Food một công ty chuyên bán đồ ăn tại Hoa Kỳ có 98 ngàn nhân viên. Những nhân viên này được công ty và chính phủ giúp đở có được 2 quỉ là Quỉ Về Hưu (Pension) và Quỉ Để Dành (401K). Quỉ Về Hưu thì trao cho nhà băng quản lý để khi về già người nhân viên lãnh một lần hay hàng tháng cọng thên với tiền về hưu của Quỉ An Sinh Xã Hội của chính phủ nên người công nhân không lo lắng khi tuổi ngày càng cao. Quỉ Để Dành thì tùy theo từng công nhân được đầu tư lại vào công ty Kraft Food và 8 quỉ đầu tư khác trên Thị Trường Chứng Khoán New York, mỗi quỉ đầu tư đó có đến 15 hay 20 cổ phiếu giá trị. Quỉ Để Dành của công ty Kraft Food có người đã để dành trên 500.000 đô, nhiều Quỉ Để Dành của các công ty khác (Chợ PuBlic ) có người để dành được trên triệu đô. Toàn nước Mỹ có đến hàng ngàn công ty lớn nhỏ đều có những chương trình như công ty Kraft Food. Hai quỉ này đã làm cho dân Mỹ giàu hơn các dân tộc khác và biến xã hội Mỹ thành một xã hội tiêu dùng. Cách hoạt động này nếu giải thích theo chủ nghĩa cọng sản thì gọi là làm chủ tập thể vì người công nhân có sở hữu số cổ phiếu của công ty. Cách hoạt động này giúp cho chính phủ Hoa Kỳ tập trung vốn của toàn dân vào việc đầu tư. Số tiền công nhân Mỹ đầu tư là tảng băng chìm trên Thị Trường Chứng Khoán New York có thể nói lên đến hàng trăm ngàn tỷ Đô la. Số tiền khổng lồ này giao dịch trong 15 phút khi thị trường chứng khoán New York đóng cửa hàng ngày không ành hưởng đến giá trị cổ phiếu. Tảng băng nổi trên Thị Trường Chứng Khoán New York là những quỉ đầu tư do nhiều cá nhân hay tập thể nổi tiếng dẫn đầu (phần đông là người Do Thái, muốn biết tên những quỉ đầu tư này xin vào trang mạng MFFAIS rồi điền ký hiệu một cổ phiếu như BAC hay F để xem tên và số liệu giao dịch của các quỉ đâu tư trên cổ phiếu ấy), mỗi công ty thuộc lãnh vực tài chánh cũng có quỉ đầu tư riêng và nhất là những cá nhân với số tiền để dành riêng của mình (IRA account) v.v.... Nói tóm lại Thị Trường Chứng Khoán New York là nơi tập trung vốn kết sù của toàn bộ nước Mỹ. Chính phủ Mỹ có nhiệm vụ tìm chỗ cho số vốn này đầu tư. Nguyên tắc của đầu tư là phải : Có lợi nhuận, an toàn và khi rút lui là có thể rút lui được.
- Sau thế chiến thứ II, Thị Trường Chứng Khoán New York hướng tài chánh vào đầu tư vào 2 nước Nhật và Đức đã biến 2 quốc gia này từ hoang tàn đổ nát thành giàu mạnh, nhất là nước Đức trở thành một quốc gia xuất cảng đứng đầu thế giới. Thị trường hai quốc gia này sau thế chiến thứ II được gọi là thị trường Pump. Các công ty của 2 quốc gia làm ra lợi nhuận phải chia cho dân Mỹ. Năm 1971, tổng thống Nixon sang thăm Trung Quốc. Thị Trường Chứng Khoán New York ngưng đầu tư vào hai quốc gia trên đã biến thị trường 2 quốc gia này thành thị trường Dump làm cho kinh tế 2 quốc gia khựng lại nhất là Nhật bị suy thoái liên miên. Trung Quốc là một quốc gia với số dân đang chết đói hàng triệu người nhờ số tài chánh của Thị Trường Chứng Khoán New York đổ vào đầu tư mà trở thành nước giàu mạnh xuất cảng nhiều nhất thế giới qua mặt nước Đức.Thị Trường Trung Quốc sau năm 1975 được gọi là thị trường Pump.
- Trung quốc là một nước cộng sản, nền kinh tế cũng giống Việt Nam, không thể đầu tư tài chánh trực tiếp nên các nhà tư bản tài chánh tại Thị Trường Chứng Khoán New York đã dùng ba đầu cầu tài chánh để xâm nhập vào thị trường Trung Quốc đó là Đài Loan, Hồng Kông và Nam Hàn. Nhờ vậy mà nền kinh tế của Đài Loan, Hồng Kông và Nam Hàn cũng giàu mạnh theo.
Nguyên tắc để đầu tư tài chánh vào một cổ phiếu là tìm một cổ phiếu có giá trị thật thấp để mua và bắt đầu pump and dump, nếu thấy cổ phiếu ấy có giá trị cao hơn khi dump thì pump and dump tiếp và cứ thế cho đến lúc giá trị cổ phiếu không thể lên cao được nữa thì dump thật và đi tìm một cổ phiếu khác để đầu tư. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho việc đầu tư tài chánh vào một thị trường. Các nhà tư bản tài chánh phải tìm cho ra một thị trường giá lao động thật rẻ để đầu tư cho có lợi nhuận mới nhảy vào. Đức và Nhật là nơi đầu tư lý tưởng nhất sau thế chiến thứ II. Sau gần 30 năm thâu lợi nhuận hã hê các nhà tư bản tài chánh Dump thật 2 thị trường này và nhảy sang thị trường Trung Quốc là nơi anh nông dân Mao tàn phá đến mức dân phải chết đói hàng triệu. Sau gần 30 năm thâu lợi nhuận hã hê ở thị trường Trung quốc các nhà tư bản tài chánh đã bắt đầu Dump thị trường Trung Quốc từ trước năm 2000 và rút tài chánh từ 3 đầu cầu Hồng Kông, Đài Loan, Đại Hàn về làm số tài chánh trong nước thặng dư quá mức và đem ra cho vay một cách tắc trách dễ dãi mới sanh ra cuộc khủng hoảng tiền tệ hiện nay.
- Năm 2006 chỉ số của thị trường chứng khoán của Trung Quốc tăng 130%. Nửa năm 2007 tăng 50%. Đó là thời gian Thị Trưòng Chứng Khoán Thượng Hãi lên tới cao điểm. Người Trung Quốc huênh hoang bắt đầu diệu võ dương oai chơi trò bá quyền nước lớn và và mở đầu ra cho Thị Trường Chứng khoán Thượng Hãi thông thương với thị trường thế giới bằng cách : Ngày 21-5-2007 Chính quyền Trung Quốc tuyên bố đầu tư 4 tỷ đô vào nhóm Blackstone Group ở Thị Trường Chứng Khoán New York. Hai ngày sau chính quyền Trung Quốc tuyên bố sẽ bỏ ra 60 tỷ để đầu tư vào thị trường chứng khoán ngoại quốc. Ngày 27-6-2007 chính quyền Trung Quốc tuyên bố sẽ đầu tư thêm vào thị trường chứng khoán thế giới 200 tỷ đô trích từ 1.300 tỷ đô của ngoại tệ thặng dư. Ngày 29-6-2007 quốc hội Trung Quốc chuẩn chi 200 tỷ đô để đầu tư ra ngoại quốc và thành lập công ty kinh doanh ngoại hối. Chính quyền Trung Quốc đăng tên những công ty Trung Quốc lên Thị Trrường Chứng Khoán New York, mua công khố phiếu của Hoa Kỳ và hướng đầu tư nghiêng về vùng Trung Đông vì sợ thế giới Tây Phương sẽ làm thay đổi chế độ chính trị của họ.
- Người cộng sản Trung Quốc phần đông không có đạo nên có lẽ không biết chuyện tên Do Thái Juda bán chúa Jesus Christ chỉ vì vài đồng xu, tên Do Thái Kissinger bán Miền Nam Việt Nam để cho ngưới Do Thái chiếm thị trường Trung Quốc, nên cả tin người Mỹ gốc Do Thái đang ngự trị trên Thị Trường Chứng Khoán New York đang điều khiển cả thế giới để rồi Cổ phiếu của Trung Quốc trên Thị Trường Chứng Khoán New York đều bị đánh xuống tới đáy, tiền đầu tư qua Trung Đông thì bị không cho gia hạn nợ bắt khai phá sản, mua công khố phiếu thì bị Hoa kỳ phá giá đồng Đô La (Tôi không nắm rõ số tiền mua công khó phiếu có lẽ phải trên 600 tỷ đô). Cũng cần nhắc lại vào những năm 1990 người Nhật đã bị lừa đem tiền hàng chục tỷ đô trong quỉ thặng dư đầu tư mua các cao ốc của Mỹ để rồi bán lại lỗ một số lớn. Những năm vừa qua Truyền Thông của Hoa kỳ (cũng do người Do Thái điều khiển) bắt đầu tạo tin đồn như hàng hóa thực phẩm Trung Quốc có chất độc, quốc phòng Trung quốc là mối họa cho thế giới, Trung Quốc kiềm hảm đồng nhân dân tệ để thủ lợi, hàng nhái, ăn cắp tác quyền v.v... để Dump thật thị trường Trung Quốc. Nước cọng sản này chưa biết sẽ đi về đâu sau khi các nhà tư bản tài chánh tại New York hoàn tất việc Dump thật.
- Hoa Kỳ đang sở hữu số số tài chánh kết sù tại Thị Trường Chứng Khoán New York thì việc chính là phải tìm nơi để đầu tư và đầu tư vào đâu được an toàn, sinh lợi nhuận và khi rút lui thì có thể rút được. Đầu tư vào thị trường chung Âu Châu ? Không ăn được vì thị trường đó cũng giống như một cổ phiếu đã tới giá. Đầu tư vào Nam Mỹ ? Không cần thiết vì không ai lại kiếm tiền ở sân sau nhà mình mà nên kiếm tiến từ xa mang về nhà. Đầu Tư vào Châu Phi ? không được vì đó là vùng đất hỗn loạn không an ninh. Đầu Tư vào Trung Đông ? Mau chết vì nhiếu khủng bố Hồi Giáo. Chỉ có một nơi đáng đầu tư nhất là khối APEC mà tốt nhất 3 nước Việt Miên Lào vì 3 nước này là vùng đất giá lao động còn thấp và theo đạo Phật nên rất an toàn. Từ 3 nước này làm đầu cầu xâm nhập vào số còn lại của khối APEC theo đạo Hồi và dùng APEC tiến vào các quốc gia Hồi Giáo, một vùng đất đông dân rộng lớn rất màu mở chưa khai phá nhưng nhiều kẻ thù với người Do Thái.
- Kinh tế và chính trị thường đi đôi với nhau. Nhu cầu của kinh tế đưa đến hành động chính trị. Nhu cầu kinh tế hiện nay của Hoa kỳ là phải tìm cho ra vị trí để đầu tư số tiền đang sở hữu nên Tổng thống Barrak Obama và ngoại trưởng Hillary Clinton đều hướng về Khối APEC. ngày 23-7 bà Hillary Clinton gặp đại diện 3 nước Việt Miên Lào tại Phuket, Thái Lan. Ngày 15-11 Tổng thống Barrack Obama gặp lãnh đạo 10 nước ASEAN. Để khôi phục lại những quan hệ đối tác của vùng này và mở đường cho các nhà tư bản tài chánh bước vào đầu tư.
- Trước khi đầu tư vào một cổ phiếu người đầu tư phải làm một việc gọi là làm DD (Due Diligence) tức là đọc tất cả hồ sơ về an ninh và tin tức liên quan đến công ty mang cổ phiếu ấy, hay nói rõ hơn là nghiên cứu cổ phiếu mình muốn đầu tư. Trước khi đầu tư vào một thị trường mới các nhà đầu tư cũng làm như đầu tư vào cổ phiếu là làm DD và họ đã gởi một phái đoàn chuyên viên của đại học Harward đến Hà nội để nghiên cứu thị trường nước Việt Nam trước khi đầu tư.
- Thị trường Việt Nam ngày nay là một thị trường không thể đầu tư tài chánh trực tiếp được. Không thể dùng 3 đầu cầu tài chánh Hồng Kông, Đài Loan, Nam Hàn để đầu tư vào Việt Nam như đã làm với Trung Quốc trước đây lý do 3 đầu cầu đã cũ rồi, tức là đã tới gíá rồi nên không có ăn. Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thân hữu (Crony Economy) tức là bà con anh em đảng viện thân hữu sở hữu từng công ty nên không thể hùn hạp chia lời được, nghĩa là các công ty từ thượng tầng đến hạ tầng chưa được cổ phần hóa. Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam là con vịt què cần phải cần phải chửa trị mới đi được, nghĩa là không thể phát huy do sự can thiệp quá sâu của giới chính trị.
- Năm 2009 số tiền đầu tư vào Việt Nam là 25 tỷ đô sau khi Việt Nam đưa hàng chục phái đoàn đi kêu gọi đầu tư. Số tiền này chỉ bằng 1 phần 5 của quỹ đầu tư Berkshire Hathaway, bằng 1 phần 2 của quỹ đầu tư Putnam quỹ đầu tư Vanguard. Đó là những quỹ đầu tư trong hàng trăm quỹ đầu tư tại Thị Trường Chứng Khoán New York vì hai điểm chính : 1.- Các quỹ đầu tư là cha là mẹ của các công ty. Việt Nam đi hỏi con cái để xin tiền trong lúc cha mẹ chưa cho thì tiền đâu để con cái cho kẻ khác, hay nói cách khác là Việt Nam đã gỏ không đúng cửa để kêu gọi đầu tư. 2.- Môi trường của Việt Nam chưa thích hợp cho tư bản tài chánh đầu tư dẫu ràng các nhà chính trị và các nhà tư bản tài chánh đã nhìn thấy được Việt Nam là một vị trí thuận lợi để đầu tư.
- Để thu hút số tài chánh của Thị Trường Chứng Khoán New York đầu tư vào Việt Nam đảng cộng sản Việt Nam cần làm những điểm sau :
- Lập những Quỹ Về Hưu và Quỹ Để Dành cho người công nhân trong các công ty để tập trung vốn đầu tư trong nước.
- Gởi 1 phái đoàn qua Nga và Đông Âu để nghiên cứu cách cổ phần hoá các công ty sau khi các đảng cộng sản ở đó sụp đổ và chuyển qua kinh tế thị trường. Dẫu cho sự cổ phần hóa không được công bằng có lợi cho các đảng viên cọng sản cũng cứ làm vì họ nói cho cùng cũng là người Việt Nam và là sẽ là đầu tàu đưa đất nước đi lên.
- Gởi một phái đoàn qua Thị Trường Chứng Khoán New York và tìm cách kết thân cũng như mời một số chuyên gia sang cố vấn để làm chuyển biến Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam như mở sàn chứng khoán Pinksheets, sàn chứng khoán OTC, bổ túc các luật lệ, cách hoạt động v.v...
- Bỏ điều luật 88 và tuyên bố tự do thông tin.
Trong 4 điểm để thi hành này thì 3 điểm trên có thể thi hành được nhưng điểm tạo tự do thông tin là một đề nghị khó được đảng cộng sản chấp nhận bởi họ sợ khi có tự do thông tin thì bao nhiêu điều dối trá tàn ác của họ không thể che đấu trước nhân dân được.Họ đã lầm to toàn dân đã biết tất cả những dối trá tội ác của đảng cộng sản Việt Nam từ lâu vì mạng điện toán đã kết nối khắp toàn cầu . Đảng cộng sản Việt Nam là một mối họa của dân Việt Nam từ lâu ai cũng đã biết nên nhân cơ hội này cần trả lại quyền tự do cho nhân dân và tạo môi trường cho Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam đi lên để chuộc lại lỗi lầm xưa và thoát ra được vòng tay của tên đại Hán bá quyền Trung Quốc bên cạnh.
Tôi hy vọng người cộng sản đã chơi trò bắt chước thì cần bắt chước cho đúng bằng cách gởi một phái đoàn hùng hậu do chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết dẫn đầu đi vào phố Wall Street kêu gọi đầu tư và nói các nhà tư bản tài chánh rằng nước Việt Nam ngày nay đã thay đổi : Chúng tôi có Thị Trường Chứng Khoán, các công ty Việt Nam đã được cổ phần hóa, Chúng tôi đã cho tự do thông tin để các người đầu tư được áp dụng mọi phương pháp đầu tư. Nhất là đừng nói chúng tôi có gái đẹp xin mời các anh đến đầu tư như lần đến Mỹ trước đây. Mỗi người con gái Việt Nam bị bán qua Đài Loan, Đại Hàn là một tội ác của đảng cộng sản. Hai bé gái kiếm ăn trên đống rát tại Sài Gòn ngày nay đã trở thành những cô gái. Tôi cầu nguyện họ không phải làm nghề bán trôn nuôi miệng.
© Đàn Chim Việt Online
BỐN BỊ CÁO "LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN" KHÁNG ÁN
Bốn bị cáo "lật đổ chính quyền nhân dân" kháng án
Đàn Chim Việt
Đăng ngày 31-1-2010
http://danchimviet.com/articles/1996/1/Bn-b-cao-lt--chinh-quyn-nhan-dan-khang-an/Page1.html
SÀI GÒN: Cả 4 bị cáo bị tòa án Tp. HCM kết án "âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân" hôm 20/1/2010 đều nộp đơn kháng án.
Một bản tin vỏn vẹn vài dòng và chỉ tồn tại vài giờ trước khi bị rút xuống trên trang web www.laodong.com.vn cho biết như sau:
"Ngày 29.1, lãnh đạo TAND TP.Hồ Chí Minh cho biết, TAND TP đã nhận được đơn kháng cáo xin giảm án trong hạn luật định.
Theo bản án sơ thẩm của TAND TPHCM, Lê Công Định, Lê Thăng Long cùng mức án 5 năm tù; Nguyễn Tiến Trung (7 năm tù). Lãnh đạo TAND TPHCM cũng cho biết cả 3 bị cáo trên có mức án khoan hồng vì đã thành khẩn khai báo, ăn năn. Riêng bị cáo Trần Duy Huỳnh Thức (16 năm tù), tất cả đều vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền...”.
Hiện ngoài bản tin đã bị Lao Động rút xuống chưa thấy báo chí trong nước loan tin này.
Bốn người bị kết án hôm 20/1. Tội danh của họ bị đổi từ "Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam" theo điều 88 sang tội "lật đổ" theo điều 79 bộ luật Hình sự.
Ngay sau khi phiên tòa kết thúc, chính phủ Mỹ, Anh, EU... và các tổ chức Nhân quyền đã ra lên tiếng phản đối chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền.
Tại Mỹ, một số dân biểu trong đó có ông Cao Quang Ánh, người vừa thăm Việt Nam hồi tháng trước, lên tiếng kêu gọi chính phủ Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt.
Thân nhân các bị cáo cũng như giới báo chí và ngoại giao phàn nàn về chuyện họ không được vào dự phiên xử mà chỉ được theo dõi ở phòng bên cạnh. Trong khi đó, có dư luận rằng nhà nước đã bố trí người của họ, thậm chí hàng xóm của các bị cáo ngồi đầy trong phòng xử án.
Loa cũng bị làm rè hoặc làm câm đi khi các bị cáo có những tranh luận bị cho là "nhạy cảm" nhất là phần tranh luận của Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và luật sư Triệu Quốc Mạnh (người bào chữa cho THDT). Mặc dù bị cáo Thức bác bỏ toàn bộ cáo trạng và yêu cầu dời phiên xử sang ngày hôm sau nhưng tòa vẫn tuyên án.
Một số nhà quan sát chính trị cho rằng, không mấy hy vọng vào việc các bị cáo sẽ được giảm án trong phiên phúc thẩm. Hai phiên tòa phúc thẩm xử 9 bị cáo là những người bất đồng chính kiến trong tháng qua diễn ra ở Hà Nội và Hải Phòng đều tuyên y án sơ thẩm.
© Đàn Chim Việt Online 2010
Bốn bị can vụ 'lật đổ chính quyền' kháng án (BBC 31-1-10)
Đàn Chim Việt
Đăng ngày 31-1-2010
http://danchimviet.com/articles/1996/1/Bn-b-cao-lt--chinh-quyn-nhan-dan-khang-an/Page1.html
SÀI GÒN: Cả 4 bị cáo bị tòa án Tp. HCM kết án "âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân" hôm 20/1/2010 đều nộp đơn kháng án.
Một bản tin vỏn vẹn vài dòng và chỉ tồn tại vài giờ trước khi bị rút xuống trên trang web www.laodong.com.vn cho biết như sau:
"Ngày 29.1, lãnh đạo TAND TP.Hồ Chí Minh cho biết, TAND TP đã nhận được đơn kháng cáo xin giảm án trong hạn luật định.
Theo bản án sơ thẩm của TAND TPHCM, Lê Công Định, Lê Thăng Long cùng mức án 5 năm tù; Nguyễn Tiến Trung (7 năm tù). Lãnh đạo TAND TPHCM cũng cho biết cả 3 bị cáo trên có mức án khoan hồng vì đã thành khẩn khai báo, ăn năn. Riêng bị cáo Trần Duy Huỳnh Thức (16 năm tù), tất cả đều vì tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền...”.
Hiện ngoài bản tin đã bị Lao Động rút xuống chưa thấy báo chí trong nước loan tin này.
Bốn người bị kết án hôm 20/1. Tội danh của họ bị đổi từ "Tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam" theo điều 88 sang tội "lật đổ" theo điều 79 bộ luật Hình sự.
Ngay sau khi phiên tòa kết thúc, chính phủ Mỹ, Anh, EU... và các tổ chức Nhân quyền đã ra lên tiếng phản đối chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền.
Tại Mỹ, một số dân biểu trong đó có ông Cao Quang Ánh, người vừa thăm Việt Nam hồi tháng trước, lên tiếng kêu gọi chính phủ Mỹ đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt.
Thân nhân các bị cáo cũng như giới báo chí và ngoại giao phàn nàn về chuyện họ không được vào dự phiên xử mà chỉ được theo dõi ở phòng bên cạnh. Trong khi đó, có dư luận rằng nhà nước đã bố trí người của họ, thậm chí hàng xóm của các bị cáo ngồi đầy trong phòng xử án.
Loa cũng bị làm rè hoặc làm câm đi khi các bị cáo có những tranh luận bị cho là "nhạy cảm" nhất là phần tranh luận của Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long và luật sư Triệu Quốc Mạnh (người bào chữa cho THDT). Mặc dù bị cáo Thức bác bỏ toàn bộ cáo trạng và yêu cầu dời phiên xử sang ngày hôm sau nhưng tòa vẫn tuyên án.
Một số nhà quan sát chính trị cho rằng, không mấy hy vọng vào việc các bị cáo sẽ được giảm án trong phiên phúc thẩm. Hai phiên tòa phúc thẩm xử 9 bị cáo là những người bất đồng chính kiến trong tháng qua diễn ra ở Hà Nội và Hải Phòng đều tuyên y án sơ thẩm.
© Đàn Chim Việt Online 2010
Bốn bị can vụ 'lật đổ chính quyền' kháng án (BBC 31-1-10)
Subscribe to:
Posts (Atom)