Friday, May 1, 2020

[1] NGƯỜI VIỆT MÌNH NGỘ GHÊ! [2] THIỆT KHÓ HIỂU GHÊ!? (DT Trinh)






Khi MN viết lên sự thật đang diễn ra tại nước Mỹ hoặc trước đó ông NNN chia sẻ thực trạng nước Mỹ dưới thời TT Mỹ Donald Trump thì ôi chao hàng chục ngàn người từ Mỹ ra đến các nước khác nhao nhao dậy sóng chửi bới rồi ký thỉnh nguyện thư yêu cầu trục xuất, cấm nhập cảnh Mỹ này nọ.

Thậm chí không ít người trổ tài văn hóa dưới thắt lưng quần để chửi rủa không tiếc lời bất cứ ai đụng đến ông Trump và nước Mỹ.

Nhưng nay bỗng dưng họ ngoan hiền đến mức một kẻ từng đến Mỹ mấy chục năm và ăn học thành tài với học vị Luật sư là Hoàng Duy Hùng đang sống tại Houston vừa qua sỉ nhục lá cờ Vàng bằng cách trơ trẽn gọi cái tấm giẻ rách đượm máu mà trùm khủng bố Việt cộng Hcm rước về cùng với cái chủ nghĩa cộng sản mọi rợ để hãm hại con dân nước Việt là cờ tổ quốc đồng thời chế nhạo nỗi đau của hàng triệu người dân VNCH nhân kỷ niệm ngày 30 tháng Tư đau buồn mà không thấy họ la ó, chửi cho sướng miệng hay làm cái thỉnh nguyện thư tống cổ kẻ ăn cơm tư bản bưng bô cộng sản về VN sống với bầy cộng phỉ.

Mặc dù người ta không thích, không ủng hộ ông Trump thôi mà vẫn bị những kẻ này chụp cho hàng đống nón cối với vẻ mặt vênh vênh tự đắc là mình đang chống cộng. Còn Hoàng Duy Hùng hiện nguyên hình là một kẻ mặt trơ trán bóng bưng bô cộng sản không một chút áy náy và chửi thẳng mặt dân hải ngoại yêu tự do, dân chủ rằng cố chấp, không hòa hợp hòa giải với bầy cẩu cộng mà nhìn quanh trên facebook của hắn chỉ lèo tèo một hai người lên tiếng.

Ôi máu anh hùng chống cộng đâu hết rồi ? Hoàng Duy Hùng nằm vùng công khai luôn đó. Sao không thể hiện bản lĩnh và hào khí chống cộng cho xứng với những gì đã đem ra chửi rủa MN và ông NNN ?

Có mạnh thường quân nào sẵn sàng bỏ tiền thuê luật sự kiện sấp mặt kẻ ăn cháo đái bát Mỹ nữa không ? Có ai tình nguyện bỏ tiền vé máy bay tiễn Hoàng Duy Hùng về với cộng phỉ không ?

Hay khi gặp cộng sản thực thụ thì ai cũng bỗng dựng hiền hòa đến thảm hại ?

Mong các anh hùng chống cộng hãy thể hiện tinh thần chống cộng lần này để một kẻ như Hoàng Duy Hùng đừng trở mòi nhục mạ dân hải ngoại và bưng bô cộng sản ngay trên đất Mỹ.

Mong lắm thay !

Facebook HDH


.

.
Bộ tứ 4 tên Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Phương Hùng, Nguyễn Thanh Tú và Hoàng Duy Hùng rồi cũng chung số phận với Nguyễn Thành Trung thôi.
Cộng sản không dùng tụi nó lâu vì chả thằng cộng sản nào tin tưởng cái đám trở cờ.
Bản thân là con cái công dân VNCH, bao năm sống ở nước Mỹ mà còn phản trắc như vậy thì cộng sản là cái quái gì để tụi nó trung thành cả đời. Cho nên cs luôn theo dõi và đến lúc chết những loại này cũng chả sơ múi gì được với cs cả.

.
Thêm Phùng Tuệ Châu,Nguyễn Ngọc Lập, Đinh Viết Tứ nữa.. Những tên này sẽ có ngày xuống âm phủ bị cắt lưỡi..

.
Ừa hén ! Cái này mới thiệt là ngộ à nha ! Ông Nguyễn Ngọc Ngan hay Mẹ Nấm có tuyên bố, hay phát biểu gì đó có vẻ không đồng tình, hay ủng hộ, sùng ái, mê thích ông Trump lắm lắm thì đó là quyền tự do suy nghĩ của họ. Hổng lẻ, tui khoái anh chàng hay cô ca sĩ này hát hay là tui bắt mọi người phải cùng bắt chước giống tui sao ? Rồi thấy ai đi ngược lại thì tui phạng, phang, chửi rủa người ta tới tấp mặc dù là họ cũng có quan điểm và cái lý riêng của họ, và cũng chưa chắc là ai đúng ai sai nữa. Xét cho cùng, thì họ cũng chưa có làm gì một cách khốn nạn, bỉ ổi là đi bưng bô, liếm đít, nịnh bợ, tô hồng, đánh bóng cho bọn bạo quyền CSVN để kiếm chút ân huệ, lợi lộc, hứa hẹn gì đó, thì tại sao lại dồn sức, nổi giận, tức tối hè nhau ném đá, liệng chai vào họ cho Đảng nó cười, Bác nó khi vậy ? Ai có lợi nhất trong cái vụ phân hóa, chia rẽ, làm tản lực đấu tranh của người Quốc Gia mình vậy ? Hãy để dành tâm trí, sức lực, phương tiện mà đập cho nát, tát cho đau cái bọn "trái gió" trở cờ, ăn cơm quốc gia mà đội mông CS kìa ! Bọn này có tên có tuổi, có địa chỉ đàng hoàng và đang sống trên đất Mỹ một cách huyênh hoang, vênh váo như : Hoàng Duy Hùng, Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn Phương Hùng,...mà sao chẳng thấy có nhiều nhân vật có "máu mặt", hay các nhà truyền thông nổi cộm chịu khó lên tiếng để tẩy chay, nguyền rủa, sỉ vả cho chúng biết thế nào là sự phản bội, và nên câm mồm lại thì hơn nếu biết nhục. Mong lắm thay !

------------------------------------------------------------------------------------
.

Sáng đọc báo thấy có bài về việc bác Trump sẽ trừng phạt Trung cộng nếu tìm ra bằng chứng rõ ràng virus SARS-CoV-2 phát xuất từ Trung cộng, nhất là đầy đủ chứng cớ virus này xổng ra từ labor Virology Institute Wuhan thì sẽ đánh thuế kiểu trừng phạt lên hàng hóa nhập khẩu của Trung cộng và không hoàn trả số nợ cho trung quốc.

3M China Co., Ltd. tại Thượng Hải, Hoa lục. Nguồn: https://m.hexun.com

Ủa, nợ gì mà trả? Thật khó hiểu quá. Vì hôm qua thấy một “nàng” bên Bỉ dăng lại bài ai đó cho rằng 8000 công ty của Đức, Pháp và nhiều nước khác đã hoạt động trở lại tại Trung cộng sau khi Trung cộng nới lỏng tình trạng giới nghiêm vì virus SARS-CoV-2 là làm giàu cho Trung cộng và khi Trung cộng bị xóa sổ thì bà Thủ tướng Đức cũng như ông Tổng thống Pháp phải ra đi.

Phụ họa với bài đã đăng lại “nàng” ấy mỉa mai Đức và Pháp làm ăn với Trung cộng nên soi kỹ hóa ra “nàng” cũng rất hâm mộ bác Trump (có vẻ dân Việt bên Bỉ rất khoái bác Trump, thần tượng mà) nên cho rằng dân châu Âu thân cộng chứ không như bác Trump luôn chống cộng.

Ừ, có thể 4 năm tới nếu bác Trump tiếp tục làm tổng thống và sẽ chống cộng thật sự như mong đợi của không ít người Việt trong và ngoài nước để họ sướng rơn, vỡ òa trong hạnh phúc vì chả cần ra tay, dấn thân mà vẫn có bác Trump thế thiên hành đạo, cứu nhân độ thế.

Nhưng tui thắc mắc một điều rằng thật sự bác Trump và Mỹ tẩy chay Trung cộng hay vẫn đi đêm làm ăn với tụi nó mà những kẻ hâm mộ bác ấy cố tình lờ đi để chỉ xoáy vào việc các nước khác đang làm kinh tế với Trung cộng là dân chủ cuội, là thân cộng, là bộ mặt cộng sản trá hình.

Thậm chí một người Việt ở Bỉ khác trước đó còn “thẳng thừng” gọi bà Thủ tướng Đức Angela Merkel là con đĩ già ngu dốt bợ dái Tập Cận Bình và chửi ông Tổng thống Pháp Manuel Macron là thằng nứng c. tay sai của Trung cộng dù người này là dân Công giáo.

OK, nếu thật sự bác Trump và Mỹ dứt khoát không chơi với Trung cộng tui ủng hộ hết mình. Chứ thấy đang lúc thiên hạ loay hoay vật lộn với Coronavirus mà đám Trung cẩu lại ngang nhiên lập ra tỉnh lỵ mới của chúng là Tam Sa để hợp thức hóa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chúng ăn cướp thành lãnh thổ của chúng là tui đã cay lắm rồi.

Nhưng sự thật bác Trump và Mỹ đâu hoàn toàn không dính líu đến Trung cộng mà chỉ vì quá thần tượng bác Trump và đang tìm cách vu khống, chụp mũ — những ai không ủng hộ hay không thích, không màng đến bác Trump — là cộng sản, là thân cộng mà họ bịa đặt, suy diễn rằng thì là người ta đi đêm với Trung cộng, nuôi mập Trung cộng rồi toa rập với Trung cộng để chống bác Trump vĩ đại của họ.

Giám đốc điều hành Apple Tim Cook tại một bàn làm việc của nhân viên Foxconn (làm iPhone). Nguồn: https://9to5mac.com/

Thực tế thì sao? Apple vẫn đặt Foxconn sản xuất iPhone, iPad, MacBook, AirPod và cả iMac tại Trung cộng. Hãng 3M chuyên về khẩu trang, keo dán, băng keo vẫn sản xuất tại Trung cộng bao năm nay. IBM vẫn hổ trợ kỹ thuật và công nghệ cho Lenovo mặc dù Lenovo đã mua đứt bộ phận Computer của IBM từ lâu.

Xưởng chế tạo xe Tesla khổng lồ tại Thượng Hải. Nguồn: https://cleantechnica.com

Mới đây nhất Elon Musk khánh thành nhà máy Gigafactory sản xuất xe hơi chạy điện Tesla lớn thứ hai bên ngoài nước Mỹ tại Trung cộng và dự tính sẽ xây thêm một hãng khổng lồ nhất thế giới chuyên sản xuất pin cho loại xe hơi này tại đó.

Còn bản thân con gái và chính bác Trump tung ra thị trường các sản phẩm may mặc mang nhãn mác có tên mình nhưng toàn Made in China.

Nón vận động của Trump làm tại Hoa lục. Nguồn: DT Trinh

Và đặc biệt trong bản tin hôm nay trên báo lemartin24 dẫn lời bác Trump rằng Mỹ sẽ không hoàn trả số nợ cho Trung cộng nếu có bằng chứng Trung cộng gây ra cơn đại dịch Coronavirus.

Lạ nhỉ, bác Trump và Mỹ tẩy chay Trung cộng mà, sao lại nợ tụi nó? Hay sự thật bác Trump đâu hề chống cộng mà còn đi đêm làm ăn, dựa hơi Trump cộng nên mới có chuyện vay mượn Trung cộng và chẳng qua quá thần tượng bác Trump mà lắm kẻ bô bô chụp mũ người khác là cộng sản này nọ. Để giờ lòi ra Mỹ cũng hợp tác với Trung cộng đều đều nên bác Trump luôn miệng khen:

“Xi is my best friend. He is fantastic. I like him!”
Donald J. Trump

(Tập là người bạn tốt nhất của tôi. Ông ta rất tuyệt vời. Tôi thích ông ta!)
Donald J. Trump

Thôi nhé. Tỉnh ngủ dùm đi mấy mợ mấy cậu. Sau đại dịch Coronavirus kinh tế thế giới còn thê thảm gấp trăm ngàn lần hiện nay. Từ nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, du lịch, hàng hải, hàng không đến ngân hàng gì cũng bị khủng hoảng trầm trọng. Để rồi coi ai thân cộng hay cả thế giới mạnh ai kẻ nấy lăn xả vào bấu véo cái thị trường khổng lồ, béo bở của Trung cộng để có cơ hội tồn tại. Lúc đó tha hồ chụp mũ ai thân cộng, ai là cộng sản vẫn chưa muộn. Còn bây giờ khi được Văn phòng công thương của Mỹ tại Trung cộng trưng cầu ý kiến thì 59% các thương gia, chủ hãng của Mỹ đều mong muốn tiếp tục đầu tư vào Trung cộng và chỉ vỏn vẹn 11% từ chối điều đó.

Vậy đi nhé. Cộng sản sẽ không bị bác Trump xóa sổ đâu mà còn nuôi cho mập để gia đình bác ấy còn rủng rỉnh đô la trong túi khi bao năm làm ăn bết bát tại Mỹ và dùng đủ trò để thoát nợ.

VIDEO :
SMCP.com








30 THÁNG 4 : MỘT GƯƠNG HÒA GIẢI ĐẸP (Nguyễn Thị Cỏ May)




01/05/2020


«30 tháng 4» thật sự là chỉ một ngày như bao nhiêu ngày khác trên tờ lịch . Nhưng từ sau 30 tháng 4 năm 1975, nó trở thành một ngày trọng đại vì nó ghi lại một biến cố lớn, đau thương, bám chặc ký ức của người Việt nam . Nó đánh thức lòng trắc ẩn và lương tâm thế giới văn minh do những hệ quả kéo dài của nó .

Đối với người Việt nam, đó là «Ngày Quốc hận», «Ngày Mất nước», …Nhưng với người cộng sản hà nội, cũng là ngày đó, nó trở thành  ngày «Giải phóng Miền Nam», ngày «Đất nước thống nhứt»,…Ngày lễ hội vui mừng.

Kẻ mất buồn, người được vui ! Thông thường thôi . Nói theo Võ văn Kiệt thì ngày 30 tháng 4 «Có một triệu người vui, có một triệu người buồn» . Phải chăng Ông Kiệt đã nghĩ tới những người không phải bên thắng cuộc? Nhưng thật lòng thì ông buồn hay vui? Cái nào nhiều, cái nào ít? Nhưng giờ đây chắc chắn cả nước buồn ! Cả người cộng sản phản tỉnh và đông đảo thanh niên . Trừ những người cộng sản làm giàu nhờ cầm quyền . Những người này nói cách mạng, làm chánh quyền cách mạng nhưng không ai có thành tích cách mạng . Du đảng mà mặt không dính thẹo thì không thể nói là du đảng hay anh chị được . Chỉ là những tên điếm đàng mà thôi . Đó là những Nguyễn Phú Trọng, những Tô Lâm, những Lê Thanh Hải, …  Nguyễn Tấn Dũng ít ra còn có thành tích lúc 16 tuổi làm y tá, xức thuốc đỏ cho du kích vc trong mật khu Rạch giá, Cà Mau .

Giữa hai lớp người buồn vui đó, có một ít người không thấy buồn, trái lại thấy vui vì tự «chia vui» với «Bên thắng cuộc» . Tất cả họ đều thuộc lớp khá giả trong xã hội Miền Nam nhưng lại chạy theo cộng sản, làm tay sai cộng sản chống lại chánh quyền miền nam .

Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài “Nối vòng tay lớn”, bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu. Trong bài phát biểu trên đài, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:

“Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta… Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này… Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó… Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước… Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này…”

Những ngày sau đó, Trịnh Công Sơn cũng không có chỗ đứng. Nghe bạn khuyên nên về Huế sống yên lành hơn vì quê hương và bạn bè củ . Nhưng ở Huế, ông thấy có nhiều khó khăn . Bạn lại khuyên ông nên trở vào Sài gòn tốt hơn . Và ông ở Sài gòn luôn từ đó . May mà ông không bị đi cải tạo tập trung như nhiều văn nghệ sĩ khác .

Sau gần nửa thế kỷ “thắng cuộc ”, đất nước về một mối xã hội chủ nghĩa, những điều họ tranh đấu đòi hỏi ngày trước như dân chủ, tự do, xã hội công bằng, người không bóc lột người, no cơm ấm áo, không có bóng dáng ngoại bang,…thì nay, những điều đó chẳng những chưa có, trái lại còn trầm trọng hơn đang trở thành thực tế xã hội Việt Nam nhưng không thấy những người đó đứng lên, biểu tình, tuyệt thực, đói hỏi như trước kia . Đó là những người của «Thành phần Thứ ba» hay của «Lực lượng Thứ ba»

Thành phần thứ ba

Tổ chức “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba” ra đời trong hoàn cảnh nào, không rõ ràng lắm.Theo ký giả Pomonti của nhựt báo Le Monde, “Thành phần thứ ba” xuất hiện năm 1960 sau khi Nhóm Caravelle đưa ra bản Tuyên ngôn với 18 nhân sĩ ký tên đòi hỏi ông Tổng thống Ngô Đình Diệm cải tổ đường lối cai trị, chấm dứt tình trạng độc tài gia đình trị. Sau đó thì xuất hiện phong trào quần chúng nổi lên chống chế độ Ngô Đình Diệm độc tài, kỳ thị tôn giáo.

Nhưng theo ký giả Decornoy, cũng của Le Monde, thì vào cuối năm 1969, có một phong trào quần chúng xuất hiện ở Sài gòn chống chánh phủ Nguyễn văn Thiệu, đòi hòa bình, đi theo chủ trương “Hòa giải dân tộc” của Tướng Dương văn Minh.

“Thành phần thứ ba” gồm một số Dân biểu như Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Lý Quí Chung, Dương văn Ba, Ngô Công Đức; Sinh viên có Huỳnh Tấn Mẩm, Nguyễn Hũu Thái,…; trí thức có Bà Ngô Bá Thành,…; tu sĩ có Ni sư Huỳnh Liên,… các Linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ,…

Năm 1971, Sài gòn tổ chức bầu cử Quốc hội. Nguyễn Hũu Thái được Mặt trận Giải phóng Miền Nam bí mật móc nối đề nghị ra tranh cử với lập trường “hòa bình đứng giữa ” chuẩn bị cho Thành phần thứ ba khi có Chánh phủ 3 thành phần theo Hiệp định Paris tuy lúc đó Hội nghị Paris chưa kết thúc.

Nhưng “Thành phần thứ ba” trở thành một danh xưng chánh thức từ khi Hà Nội đưa ra tại hòa đàm Paris đề nghị thành lập một chánh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần. Xin nhắc lại thành phần thứ ba của Hà Nội đề cập không có phong trào sinh viên, Dân biểu, trí thức, tu sĩ, như trên đây .

Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa trước sau vẫn cương quyết phủ nhận thành phần thứ ba. Năm 1972, Hà Nội chánh thức lên tiếng bênh vực phong trào này.

Chẳng những phủ nhận “Thành phần thứ ba” hay “Lực lượng thứ ba”, chánh phủ Sài gòn cũng từ chối đề nghị một Chánh phủ Liên hiệp 3 Thành phần như phía Việt cộng đòi hỏi. Tuy nhiên, khi “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình” ký kết tháng giêng 1973 ở Paris thì có điều 12 qui định thành lập một “Hội đồng quốc gia hòa giải và hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần ngang nhau”.

Hà Nội coi trọng thành phần thứ ba như là một yếu tố giúp họ thắng lợi bằng chánh trị: “Việc thành lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ở miền Nam là chìa khóa dẫn đến hòa bình, và lực lượng thứ ba là một thành phần không thể thiếu được của giải pháp này…” (Phạm văn Đồng trả lời nhà báo pháp Jean Lacouture, Etudes vietnamiennes, Paris).

Để làm áp lực ở hòa đàm Paris, Hà Nội cho thành lập Chánh phủ Cách mạng Lâm thời. Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị “8 điểm” có đề cặp thành lập một Chánh phủ Liên hiệp Lâm thời gồm 3 thành phần: những người của Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời, những người yêu chuộng hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ trong chánh quyền Sài Gòn, và những nhân vật của các lực lượng chánh trị và tôn giáo, trong hay ngoài nước, có lập trường ủng hộ hòa bình, độc lập, trung lập và dân chủ phản ánh các khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam về hòa bình, độc lập, trung lập, dân chủ, và hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Tiếp theo, vào cuối 1973, rầm rộ xuất hiện ở Sài gòn nhiều phong trào đều do Hà nội thổi lên như:

-Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống (Bà Ngô Bá Thành sáng lập).
-Phong trào Thi hành Hiệp Định Paris.
-Mặt trận Nhân dân Cứu đói (Tổ chức lớn nhất ở Miền Nam với sự tham gia của các nhóm Công giáo, Phật giáo, Hòa Hảo và Cao Đài. Linh mục Phan Khắc Từ là một trong 3 phó chủ tịch.)
-Mặt trận các Tôn giáo vì Hòa bình, Hòa hợp, và Hòa giải (Dương Văn Minh sáng lập).
-Lực lượng Hòa hợp Hòa giải Dân tộc (Một tổ chức Phật giáo do Vũ Văn Mẫu lãnh đạo).
-Tổ chức Nhân dân đòi Thi hành Hiệp định Paris (Ngô Bá Thành sáng lập).
-Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất Bản (Dân biểu Nguyễn Văn Binh, anh vợ Ngô Công Đức đứng đầu).
-Ủy ban đòi trả tự do cho tù Chính trị của Lực lượng thứ ba.
-Ủy ban bảo vệ quyền lợi người lao động (Linh mục Phan Khắc Từ lãnh đạo).
-Nhóm các Nhà Lập Pháp Tranh đấu cho Tự do, Dân chủ và Hòa bình.

Nhưng hiện tượng quần chúng này chỉ là những đòi hỏi giai đoạn của người cộng sản để chờ đợi đạt trọn vẹn mục tiêu cuối cùng. Đó là ngày 30 tháng 4/1975 .

 Sau 30-4-75 có hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập LHQ?

Cuộc chiến Nam-Bắc Việt nam kết thúc ngày 30-04-1975 thì qua tháng 4/1976 hai miền Việt Nam được thống nhứt thành một nước có tên gọi là “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” . Không đợi thi hành Hiệp định Paris .

Nhơn đây xin nhắc lại cái chết của một cựu Nam Bộ kháng chiến Khu 7 liên hệ tới quyết định thống nhứt 2 Miền sớm hơn thời hạn. Trong Hội nghị Hiệp thương chánh trị bàn về thống nhứt, Tướng Huỳnh văn Nghệ, tức 8 Nghệ, cụu Bộ trưởng Lâm nghiệp, phản đối việc quyết định thống nhứt sớm . Giận dử, ông rút khẩu súng cá nhơn dằn lên bàn, gằn giọng “Ai quyết định thống nhứt ngay, hảy bước qua xác chết của tôi” . Qua đầu năm 1977, Huỳnh văn Nghệ một hôm bị đau bụng, Ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương đảng vội cho chở ông vào Chợ Rẫy để chữa trị . Bác sĩ ở Hà Nội phải vào để săn sóc ông theo tiêu chuẩn cán bộ đảng viên. Vài hôm sau, ông thấy tình trạng sức khỏe của mình không có gì nặng nên muốn về nhưng bác sĩ không cho . Đưa ông đi chụp hình, liền sau đó, đưa ông qua phòng mổ và mổ . Bình thường gặp bác sĩ thứ thiệt của Hà nội mổ thì cũng khó sống . Nay ông lại được bác sĩ Hà nội đặc biệt quan tâm mổ theo ý kiến của Ban Bảo vệ sức khoẻ Trung ương đảng thì dĩ nhiên ông không thể không ra về bằng ngỏ sau của nhà thương . Chuyện này, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa biết nên bà có lên tiếng trong nôi bộ và bà tỏ thái độ bằng cách trả thẻ đảng . Phạm văn Đồng can thiệp không được, đành chấp nhận và yêu cầu bà giữ tiếng trong 10 năm . Đúng 10 năm, bà công bố việc trả thẻ đảng của bà trên nhựt báo Le Monde của Pháp . Về cái chết của Huỳnh văn Nghệ, bà chỉ nói riêng trong vòng thân mật mà thôi .

Thống nhứt xong, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc vào năm 1977, và trở thành thành viên thứ 149 của LHQ vào ngày 20 tháng 9/1977.

Nhưng ít người biết rằng trước khi thống nhứt đã từng có hai nước Việt Nam nộp đơn cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc. Một là nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa, thủ đô Hà Nội, với cờ đỏ sao vàng. Và nước Việt nam kia là Cộng hòa Miền Nam Việt nam, thủ đô Sài Gòn, có cờ nửa đỏ trên, nửa xanh dưới, ngôi sao vàng giữa .

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh này xuất hiện vào cuối năm 1960, khi một số trí thức miền Nam tuyên bố thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” trong vùng rừng núi Lộc Ninh, để đối lập với chánh phủ Việt Nam Cộng hòa tại Sài Gòn . Sau thời gian dài hoạt động khủng bố nhờ đó tư cách Mặt trận được thừa nhận . Và cũng từ đó Mặt trận này thành lập một chánh phủ có tên là “Chánh phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam”.

Trong thời gian đó, Hà nội cứ nói lấy được cuộc chiến ở Miền nam là cuộc chiến giữa quân đội Việt Nam Cộng hòa với lực lượng võ trang của Mặt trận . Tức do nhơn dân Miền nam nổi lên đòi độc lập và thống nhứt chớ không do Miển Bắc can thiệp . Khi chánh phủ Sài gòn đưa bằng chứng cán binh của Hà nội xâm nhập vào Nam thì Nguyễn thị Bình trả lời “Họ là người việt nam thì dĩ nhiên họ có quyền đi trong vùng lảnh thổ của họ”.

Ngày 30/4/1975, khi Sài Gòn sụp đổ, thì cờ của Mặt trận Giải phóng được kéo lên nóc dinh Độc lập ở Sài Gòn . Chánh phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố thừa kế Chánh phủ Việt Nam Cộng hòa, xác nhận lảnh thổ từ vĩ tuyến 17 tới mủi Cà mau, với cả 2 Quần đảo Hoàng sa và Trường sa .

Giữa tháng 7/1975, hai nước Việt Nam cùng đề nghị nộp đơn gia nhập Liên Hiệp Quốc . Đại diện cho Hà nội là ông Nguyễn Văn Luu, ông Đinh Bá Thi đại diện cho Sài Gòn.
Ngày 11/8/1975, Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu đồng ý cho hai nước Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc, nhưng bị Huê kỳ phủ quyết nên việc gia nhập LHQ của 2 nước của cùng Hà nội không thành .

Giải thích lý do Huê kỳ dùng quyền phủ quyết, Gs Ngô Vĩnh Long cho rằng vì họ không muốn có 2 nước Việt nam “độc lập” cùng Hội viên LHQ mà để 2 Việt nam thống nhứt theo Hà nội, tức trở thành cộng sản . Huê kỳ sẽ có cớ không bang giao, mà còn dùng Việt Nam như một nơi thực hiện một cuộc chiến tranh ủy nhiệm chống Liên-Xô (Joaquin Nguyễn Hòa, BBC. 20/4/19)

Còn theo Gs Đoàn Viết Hoạt, hiện sống tại Mỹ, thì quyết định của Mỹ không cho hai miền Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc có thể liên quan đến những thỏa thuận giữa Mỹ và Trung Quốc vào năm 1972 khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao sau tuyên bố Thượng Hải. Lúc đó, Mỹ toan tính liên minh với Trung Quốc để chống Liên Xô, giao vùng Đông Nam Á cho Trung Quốc, và Bắc Kinh không muốn có một miền Nam Việt Nam độc lập, không theo cộng sản . Theo giải thích này, Gs Hoạt tin rằng Chánh phủ Lâm thởi Cộng hòa Miền nam không phải của cộng sản hà nội nặn ra ?

Vẫn theo Giáo sư Ngô Vĩnh Long thì cho đến 30/4/1975, quan điểm về sự thống nhất Việt Nam của Hà Nội cũng như Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, khi chiến tranh kết thúc, sẽ là một quá trình nhiều bước kéo dài từ 12 đến 14 năm . Vì việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai nước Việt Nam thất bại đã thúc giục những thành phần cứng rắn tại Hà Nội kết thúc dự án thống nhất đất nước kéo dài đó.

Nhưng sau khi việc gia nhập Liên Hiệp Quốc của hai miền Việt Nam bị thất bại, Đảng Lao động Việt Nam, tức đảng cộng sản hà nội hiện nay, họp Hội nghị trung ương lần thứ 24, quyết định gấp rút thống nhứt Việt Nam “Đứng trước yêu cầu của tình hình cách mạng mới, tháng 9/1975 tại Hội nghị lần thứ 24, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước“(Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới “HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT TỔ QUỐC VÀ ĐƯA CẢ NƯỚC TIẾN NHANH, TIẾN MẠNH, TIẾN VỮNG CHẮC LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” ) ..

Thế là Mặt trận và cả Chánh phủ Lâm thời Cộng hòa Miền nam cùng dẹp tiệm vì đã “hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ lịch sử” (Nguyễn thị Bình tuyên bố) .

Tuy tài liệu không thấy nhắc tới đã có 2 nước Việt nam chánh thức xin gia nhập LHQ nhưng Gs Đoàn Viết Hoạt nhớ lại, lúc còn ở Sài Gòn, ông có nghe một bản tin của đài BBC về sự kiện hai nước Việt Nam cùng xin gia nhập Liên Hiệp Quốc rồi bị thất bại vào tháng 8/1975. Tức chuyện đã có 2 Việt nam cùng xin gia nhập LHQ là thật .

Chứng kiến sự quản lý nhà nước tại Sài gòn sau ngày 30/4/1975 ông Hoạt kể lại ông thấy tất cả những quyết định của nhà cầm quyền đều mang danh nghĩa Cộng hòa miền Nam Việt Nam, kèm theo tiêu đề: “Độc lập, tự do, Trung lập”.

Với bản tin thế giới nghe qua đài BBC, cộng với sự kiện mình không bị bắt, Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho rằng những người cộng sản lúc đó đang thật sự tính tới dự án cho miền Nam một qui chế riêng, chứ không gấp rút thống nhất Việt Nam dưới màu áo cộng sản duy nhất (Theo trích dẫn trên).

Đâu là sự thật ?

Sáng ngày 1 tháng 5/1975, tại Sài gòn có cuộc diển binh lớn do chánh quyền mới tổ chức để ăn mừng Đại thắng mùa xuân. Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời ngồi trên khán đài danh dự coi diễn binh . Chờ hoài không thấy Đoàn Quân Giải phớng đi qua, bèn nghiêng qua hỏi một sĩ quan Quân đội nhân dân. Vị sĩ quan này trả lời rất vui vẻ «Ủa anh không biết sao? Quân đội ta đã thống nhứt tối hôm qua rồi kia mà!» (Trương Nhu Tảng kể lại lúc tỵ nạn ở Paris).

Qua ngày 2 tháng 5/1975, chánh quyền mới ra lệnh giải tán tất cả các tổ chức chánh trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo… được thành lập dưới chế độ cũ. Còn các tổ chức mới thành lập để chống Mỹ Ngụy cúu nước đều bị hoặc tự giải tán, hoặc sáp nhập vào các tổ chức chánh thức của Hà Nội như Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ Gỉải phóng, cả Chánh phủ cách mạng Lâm thời, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, các cơ sở vật chất ở hải ngoại…đều không còn vết tích!

Điều đáng ngạc nhiên là việc giải tán không có một lời phản đối hay than phiền nào của những người trong các tổ chức đó hết cả, mặc dầu họ đã từng can trường đương đầu với chế độ cũ, không hề sợ sệt dùi cui, hơi cay, tù đày. Hay nay họ cũng hiểu nhiệm vụ “cách mạng” chạy theo cộng sản của họ đã hoàn tất !

Thái độ của trí thức

Ai cũng biết triết gia Jean-Paul Sartre là người không có chánh kiến chắc chắn. Đúng hơn ông là người có tinh thần tiến bộ. Mà hơi «ba phải», nặng cá nhơn chủ nghĩa, khuynh hướng vô chánh phủ, chống chủ nghĩa quân phiệt, và hơn hết chống tư sản nên ông dễ ngã theo cộng sản .

Từ những năm 1950, Sartre ủng hộ Liên-xô mạnh mẻ . Cho đến nổi ông đã không ngần ngại lớn tiếng chửi thẳng ai không theo cộng sản là thứ con chó ! Đến khi Liên-xô đưa xe tăng qua đàn áp cuộc nổi dậy của nhơn dân Hung-gary ông mới từ bỏ cộng sản . Cộng sản pháp lên án ông đã đầu hàng giai cấp.Trong lúc đó, Raymond Aron, bạn của Sartre, lại tôn thờ tinh thần dân chủ tự do . Vì vậy hai người ghét nhau trong thời chiến tranh lạnh . Họ không hề nói chuyện với nhau, không gặp nhau suốt từ những năm 47 .

Thế mà tháng 6/1979, trước thảm họa cộng sản ở Việt nam và Miên, cả 2 cùng tới Điện Elysée yêu cầu Tổng thống Giscard d’Estaing hãy mở rộng cửa đón nhận người Miên và Việt nam, hàng chục ngàn, hằng trăm ngàn đang chạy trốn cộng sản .

Sartre trả lời báo chí «Riêng cá nhơn tôi, tôi ủng hộ những ngưởi tuy không phải là bạn của tôi trong thời gian Việt nam tranh đấu cho tự do (Việt minh) . Nhưng điều đó không có gì quan trọng, bởi vì điều quan trọng ở đây, chính họ là những con người . Những người đang bị nguy hiểm» .

Lời tuyên bố trên đây cho thấy Sartre không ngụ ý vì đã phủ nhận ý thức hệ cộng sản mà thật sự chỉ là lương tâm con người trí thức thúc đẩy ông hành động .

Qua cách ứng xử này, Aron và Sartre bắt tay nhau. Hai người nắm tay nhau cùng bước ra khỏi Elysée .

Các đảng phái khác, cả Xã hội, RPR, đều hưởng ứng cùng vận động giúp đỡ người tỵ nạn cộng sản . Hồng Y  Etchegaray kêu gọi mỗi gia đình giáo dân hảy đón nhận 1 gia đình người tỵ nạn .

Hơn tháng sau, tháng 7/1979, Pháp đón nhận và định cư 128 531 người tỵ nạn cộng sản Đông Dương .

Nguyễn thị Cỏ May





SỰ TỬ TẾ LÀ CÓ THẬT (Tuấn Khanh)





----------------
Ghi lại một câu hỏi đã cũ
----------------

Người đánh giày xuất hiện mỗi buổi sáng, qua lại trước mắt tôi đến quen thuộc. Hình ảnh đó tạo thành một thói quen, là cứ mỗi khi bước vào quán cafe cóc, tôi lại nhìn xem ông ở đâu.

Người đánh giày, có một gương mặt thật điềm đạm và nhẫn nại. Ông luôn xuất hiện với chiếc áo bộ đội màu xanh lá mạ cũ mèn, quần tây sẫm màu đã sờn và đôi dép tổ ong, tay xách theo chiếc hộp đồ nghề.

Ông ít khi mời tôi đánh giày. Cái lối ăn mặc xuềnh xoàng của tôi, có lẽ khiến ông tin rằng đánh giầy đánh dép là chuyện miễn cưỡng của tay đầu trọc kính cận ấy, vốn chỉ luôn chăm chú nhìn vào máy điện thoại.

Có một lần, ông ghé qua hỏi chỉ vừa đủ nghe “anh đánh giầy không?”. Giọng ông trầm, nhẹ nhàng, phảng phất chất Bắc mà ông thầy dạy nhạc của tôi vẫn hay nói. Giọng nói của một người tử tế, kiếm sống với tự trọng. Có thể ông cầm bút trước khi phải cầm súng.

Không hiểu sao tôi rất thích nhìn theo ông. Công việc của ông chỉ loanh quanh ở khu vực có quán cóc mà tôi ngồi. Có khách mới đến thì ông đứng lên mời, rồi cười, khi bị từ chối và quay về góc nhà, nơi có chiếc ghế nhỏ của ông. Trong trang phục rất biểu trưng bộ đội, giống như hàng hàng đàn ông khác nói giọng Bắc và từ phương khác đến miền Nam, nhưng với ông có cái gì đó rất khác khi ông im lặng, ngồi nhìn ra đường lúc chờ khách.

Ông làm tôi nhớ đến những ngày đến trường, chuẩn bị thi đại học. Con đường băng qua ngã tư nhỏ gần công viên Tao Đàn để đến chỗ luyện thi, tôi hay nhìn thấy một người đàn ông đạp xích lô với mái tóc hoa râm, đeo kính dày chắc phải trên chục diop. Có vẻ như ông không thích công việc của mình vì gương mặt ông rất ít khi có được nụ cười. Ông cũng nhẫn nại ngồi chờ khách, lưng áo đẫm mồ hôi vào những trưa hè bức bối. Chỉ biết ông là một người miền Nam sa cơ, trong thời cũng đầy bức bối.

Ấn tượng cuối cùng của tôi về ông (mà sau này không gặp lại) là một buổi trưa đi sớm, tôi bắt gặp ông nằm ngủ ở vỉa hè, trước cửa ngôi nhà ai đó đang khóa bằng xích. Ông lót đầu bằng một cuốn sách. Bên cạnh, mắt kính của ông đặt trên một cuốn sách tiếng Pháp, như ông đang đọc nửa chừng. Tôi đọc được tên tác giả là Marcel Proust, một nhà văn lớn của thế kỷ 20.

“Chú biết tiếng Pháp?” Tôi hỏi trong buổi chiều hôm đó. Ông ừ nhỏ trong miệng, báo hiệu không muốn nói gì thêm, cũng như không muốn nối tiếp một cuộc chuyện trò có thể dẫn đến khai mở đời mình.

Người đánh giày và người đạp xích lô đó, là những cuốn sách đóng kín đối với tôi – dù không thể mở ra, không đọc được – Nhưng tôi tin chắc đó là những ghi chép ít niềm vui và hiện thực nhất của đất nước này.

Người đàn ông mặc chiếc áo bộ đội, sau khi chấm dứt chuyện phải mang vác sứ mạng giải phóng của mình, đã chọn ở lại, sống với người dân ở vùng đất mình cầm súng đến ngày hôm qua, phong kín đời mình bằng nụ cười và im lặng.

Người đàn ông đạp xích lô đọc sách tiếng Pháp đã không thể rời đi nơi nào khác, nhưng lại bị buộc phải dịch chuyển một cách bất đắc dĩ vào một thân phận không quen, với dấu vết tri thức như một căn cước của dày vò về nơi chốn.

Số phận những con người Việt như vậy đó, vẫn tồn tại âm thầm, bí mật lơ lửng chung quanh quỹ đạo sống náo nhiệt của chúng ta, qua rất nhiều ngày tháng. Số phận như hạt li ti aerosol không hại nhưng thỉnh thoảng vẫn khiến ta hắt hơi và chợt chạnh lòng khi nghĩ về hai chữ Việt Nam.

Vào một ngày, tôi thấy người đánh giày ngồi im lặng trước một ly cafe. Mắt ông hướng ra đường, trầm tư, nhìn mà không nhìn gì cả. Tôi gọi cô chủ quán và nói khẽ là sẽ trả tiền luôn cho cả ông. Cô chủ quán, có người nhà từng đi học tập cải tạo sau 1975, cười và thì thầm “anh đừng lo, mỗi khi chú ấy gọi cafe, em vẫn mời và không nhận tiền“.

Thật thú vị. Tôi đã tưởng chừng mình là một người tử tế, nhưng có đầy những người tử tế – im lặng – hơn tôi ngoài kia.

Người Việt vẫn luôn đáng yêu, khi họ không bị xích xiềng vào một lý tưởng hay xô vào một cuộc chiến do bọn làm chính trị dựng nên, sơn phết nên.

Người Việt vẫn nghĩ đến nhau bằng tấm lòng, tử tế khi trái tim không bị cấy đặt thù ghét hay sợ hãi, khi ý thức mình chỉ là nạn nhân, bị xô vào những khát vọng không có gương mặt con người.

Tôi băng qua ngã tư về nhà, nhìn thấy chiếc thùng đựng nước miễn phí mát lạnh, mỗi ngày vẫn được lặng lẽ đặt ở vỉa hè. Không ai biết được sự tử tế ấy đều đặn đến từ đâu, kể cả trong những ngày bị giãn cách vắng hoe vì dịch Covid-19. Và chắc cũng không ai đặt thùng nước ở đó, để đếm xem bao nhiêu người đã nhận được. Chỉ nghĩ cho nhau thôi đã là đủ. Sự tử tế có thật, không phân loại hay chọn lựa. Sự tử tế mở lòng đợi chờ. Tử tế như nụ cười bí mật, hiền lành của cô chủ quán cafe.

Và bất chợt, tôi lại nhớ đến người đàn ông đạp xích lô có cuốn sách tiếng Pháp. Ông đã nhận được sự tử tế nào trong những ngày tháng cay nghiệt và bức bối ấy? Và giờ ông đã về đâu?






VẠCH BỨC MÀN CHE về CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT (Nguyễn Thông)




Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

Nhà văn nữ không trẻ lắm Phan Thúy Hà (sinh năm 1979) vừa ra mắt cuốn sách mới, nóng hổi, sau một loạt cuốn để lại nhiều rung động trong đời sống xã hội và văn chương, như “Đừng kể tên tôi”, “Tôi là con gái của cha tôi”, “Qua khỏi dốc là nhà”... Với ai thế nào thì tôi không biết, chứ riêng mình, sau khi đọc xong mấy cuốn vừa kể, thầm nghĩ đã lâu lắm trên văn đàn bàng bạc nhàn nhạt xứ này, lại có cái đáng để ta bỏ thời gian và sự say mê vào mà không uổng phí. Có thể xem đây là hiện tượng, sự khởi sắc giữa buổi chợ chiều văn nghệ kéo dài đã quá lâu.


Tôi có may mắn được tác giả cho đọc sớm, khi sách đang còn trong thời gian nộp lưu chiểu, cơ quan quản lý xuất bản đang thẩm định lần cuối cùng trước khi ra đại trà. Cũng từng rụt rè góp ý với tác giả, cái tên cuốn sách hiền lành quá - “Gia đình”, dễ làm cho người mua sách lơ đễnh, lướt mắt lướt chân vụt qua, dễ gây hiểu nhầm là thứ văn chương ngôn tình đang phổ biến của bọn trẻ 8X, 9X, nhất là thời buổi vàng thau lẫn lộn khó phân biệt được giá trị “văn dĩ tải đạo”.

Vậy thì phải nói ngay, cuốn sách trang nhã, độ dày vừa phải, 274 trang, mang cái tên “Gia đình” nhẹ bẫng ấy lại chứa trong nó tấn siêu bi kịch của một thời đại bi thảm cách nay đã gần 70 năm, mang tên Cải cách ruộng đất (CCRĐ). Một cụm từ mà những người đã chứng kiến, đã trải qua, và con cháu họ, chỉ nghe lại thôi đã rùng mình khiếp sợ.

Sự có mặt của “Gia đình” khơi chuyện CCRĐ vào thời điểm này dù là chậm muộn, thậm chí cực muộn nhưng lại vô cùng cần thiết. Thông tin về CCRĐ bấy lâu nay bị nhà cầm quyền che giấu, bưng bít, cố tình lờ đi khiến tấn bi kịch thời đại rơi vào vòng mù mờ hư thực, nửa có nửa không, nửa sai nửa đúng. Dòng thời gian trôi đi cuồn cuộn, kiếp người mong manh, phận người như chiếc lá, chỉ mươi năm nữa thôi những nhân chứng, người trong cuộc sẽ rơi rụng dần, CCRĐ sẽ rơi vào quên lãng. Thế hệ trẻ lớn lên ngơ ngác không biết CCRĐ là cái gì mà sao cha ông chúng ngày xưa từng hãi hùng làm vậy.

Lại nhớ, sau khi đọc xong cuốn “Đừng kể tên tôi” của Phan Thúy Hà, tôi cảm nhận rất rõ rằng nếu nói “văn sử bất phân” (văn và sử không thể chia ra rành mạch) thì có lẽ rất đúng với Hà và tác phẩm của Hà. Cuốn đó, và cả cuốn “Gia đình” này, Phan Thúy Hà không làm văn chương, cô chỉ làm nhiệm vụ của người biên sử, chép lại những phần mà người ta cố tình chép thiếu, để làm thứ tư liệu cho mai sau những người làm sử tử tế nếu có thực hiện một cuốn toàn thư chân thật khách quan thì dựa vào đó mà bổ sung vào.

Cô không viết tiểu thuyết, không một chút hư cấu, cũng không hề thấy chút nào trữ tình ngoại đề theo dòng cảm xúc. Tác giả chỉ tỉ mẩn nhặt những số phận, con người, cảnh đời, máu, nước mắt, bi kịch, những u gồ bướu cục của lịch sử chắp lại cho có hàng có lối. Tất cả đều người thực việc thực, người mà không tin thì còn có trời xanh kia chứng giám. Suốt hơn hai trăm trang chữ, nhiều khi đọc tới đoạn nào đó chỉ muốn hét lên. Ví dụ:

“Hai dân quân giải cha về. Cha không được vào nhà. Phải đứng ngoài chuồng lợn.

Cha đứng dưới mái chuồng lợn. Một sợi dây thừng nối từ chỗ trói tay buộc vào gốc cây.

Hai cánh tay trói sát sườn. Bàn tay vẫn cử động được.

Chị em tôi ra với cha. Tôi bưng bát cơm mời cha. Bàn tay cha giơ ra đón. Sợi dây trói giật mạnh. Bát cơm rơi xuống. Người dân quân đứng trong bụi cây cầm sợi dây hả hê đứng nhìn.

Cha ngồi xuống, nhặt từng hạt cơm vào miệng.

Ba năm sau, tôi cùng mẹ lên nghĩa địa trại giam đưa cốt cha về” (truyện số 3, Trần Lệ kể)

“Nhà tôi chẳng có của cải gì mà tịch thu. Trong bếp có vài cái nồi. Mở vung nồi ra thấy có cơm nguội. Là phần cơm chiều mẹ để dành cho chúng tôi, nhưng giờ là cơm của nông dân. Họ vốc ăn hết ngay trong bếp. Ngoài vườn có cái sành đựng nước tiểu, họ đổ nước tiểu, lấy sành.

Nơi bắn cha tôi là trường cơ bản ở bên Minh Sơn.

“Oan quá trời ơi”. Cha tôi kêu lên một tiếng. Một nắm giẻ nhét vào mồm. Phát súng đầu tiên không nổ. Phát thứ hai không nổ. Thứ ba không nổ.

Thay người bắn. Chỉnh lại súng.

Một cái dây tròng vào cổ. Xác cha tôi được kéo đi từ trường cơ bản xuống Bến Nại. Giữa lối trâu đi. Xác ông Long cũng nằm đó, úp mặt, trong con mương. Ông Long bị bắn vào buổi sáng. Hai người cùng làng Châu Hạ” (truyện số 5, Phan Thị Tứ kể).

Những đoạn như vậy nhiều lắm, đầy nước mắt, bi thương, căm giận. Tất cả những địa chủ ấy đều là nạn nhân của “cuộc cách mạng long trời lở đất”, bị quy đôn thành phần lên cho đủ chỉ tiêu, số lượng địa chủ mà “trên” giao. Dù sau này chính quyền có sửa sai thì thân xác họ cũng bị vùi ba thước đất mất rồi, chỉ còn nỗi uất hận căm hờn trong lòng người còn sống, khó mà sửa được.

Điều đáng mừng là Nhà xuất bản Phụ Nữ đã mạnh dạn chịu trách nhiệm ra cuốn sách như thế này. Cũng có thể do thời thế đã đổi thay, tuy nhiên sự sợ sệt, e dè, ngại ngần về tai họa giáng xuống đầu, dù vô hình vẫn còn mạnh lắm. Suốt mấy chục năm, muốn tìm hiểu về CCRĐ, người ta phải lén lút, giấu diếm tìm đọc sử của Hoàng Văn Chí, vào những tư liệu lưu truyền không chính thống của Hữu Loan, Trần Dần, Vũ Thư Hiên, Trần Đĩnh... Sau nữa, may nhờ có cái gọi là công cuộc đổi mới, có thêm những “Ba người khác” của Tô Hoài, Cuồng phong” (Nguyễn Phan Hách), “Chuyện làng Cuội” (Lê Lựu), “Thời của thánh thần” (Hoàng Minh Tường), gần đây “Kiến, chuột và ruồi” (Nguyễn Quang Lập)… Tôi không dám so “Gia đình” và Phan Thúy Hà với những danh thư và những cây đa cây đề kia, chỉ rụt rè mà rằng sự khác hẳn trong cuốn sách của Hà là sự thật lịch sử so với những điều được hư cấu, tiểu thuyết hóa, hình tượng văn chương.

Thế hệ sinh nửa cuối thập niên 50 chúng tôi vẫn còn quá nhỏ khi diễn ra CCRĐ, nhưng chuyện về trận cuồng phong điên loạn ấy thì nghe đầy tai, từ nhân chứng, từ người tai nghe mắt thấy. Nào chuyện cụ Nguyễn Khắc Niêm quan đại thần triều Nguyễn (bố ông Nguyễn Khắc Viện), tham gia kháng chiến, bị đấu tố, bị đánh chết trên đường giải giam. Chuyện cụ Phan Võ (cha giáo sư Phan Ngọc) nhân sĩ yêu nước nổi tiếng, bị quy tội trong CCRĐ, sắp bị lôi ra bắn thì may có cái thư của cụ Hồ chuyển về kịp thời cứu thoát. Chuyện bà Nguyễn Thị Năm công lao hãn mã với kháng chiến, được người cộng sản ưu tiên lôi ra bắn đầu tiên (từ năm 1953). Chuyện nhà nước sửa sai, cụ Hồ ‘lau nước mắt” hối hận, ông Võ Nguyên Giáp ra sân vận động đứng xin lỗi đồng bào (có lẽ đây là lần duy nhất chế độ này nhận lỗi về CCRĐ), ông Trường Chinh mất chức tổng bí thư để hạ nhiệt căm hận của dân… Thực ra, chế độ này còn nợ rất nhiều về CCRĐ, trong đó có lý do quan trọng là họ không muốn trả.

Nói đâu xa, ông anh rể tôi là nạn nhân CCRĐ. Bố anh là lý dịch hương thôn, chức phó lý nhưng làm cho kháng chiến. Tới khi phát động cải cách, họ lơ hết công lao, quy thành địa chủ và quốc dân đảng, bắn ngay sau khi đấu tố. Ông giời đội xử cụ chính là người từng được cụ cưu mang. Nhà cửa ruộng vườn bị tịch thu, vợ con bị đuổi ra ngoài, con cái sau này bị cấm không cho những quyền lợi như người bình thường ngoài quyền lao động khổ sai, làm công nhân cầu đường. Có những lúc, anh em ngồi trầm ngâm thế sự, tôi hỏi anh nghĩ thế nào về CCRĐ, anh chỉ gọn “thù muôn đời muôn kiếp”.

Làng Trà Phương (xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) quê tôi từng chứng kiến cuồng phong CCRĐ. Cụ chánh Ninh (họ Ngô Duy) là người biết chăm lo cho làng xã, không gây điều tiếng gì, con cụ là ông phán Cơ sống ngoài phố giàu có, cha con xây ở làng dinh cơ tòa ngang dãy dọc hoành tráng cho gia đình. CCRĐ, gia đình bị quy địa chủ, đội cải cách và bần cố nông vào dinh cơ ấy bậy từng hòn gạch, mấy gia đình bần cố vào chia nhau ở, khi tôi còn bé vẫn vào khu đó chơi và được nghe kể lại câu chuyện tang thương mới chỉ xảy ra vài năm trước.

Đồng môn với tôi có anh Lê Văn Sơn người Triệu Sơn, xứ Thanh. Sau khi tôi có bài viết về cải cách ruộng đất, anh điện bảo, chú viết cái ấy mà không hỏi anh, anh chính là nạn nhân của nó đây, bố anh suýt chết, mấy anh em anh suốt bao nhiêu năm phải tự cải tạo bằng cách đi lao động XHCN, đi bộ đội, TNXP rồi mới thay đổi được lý lịch để người ta xét cho đi học. Anh bảo CCRĐ là cái vết nhơ trong lịch sử hiện đại xứ này.

Nhớ những chuyện ấy, để nói với nhau rằng sách “Gia đình” của Phan Thúy Hà là tiếng nói chân thực nhất về CCRĐ, là bản án hùng hồn về trận cuồng phong được gọi mỹ miều bằng “cách mạng cho người cày có ruộng”.

Biên thêm tí chút, như để cảm ơn sự dũng cảm và công phu của tác giả: Ai muốn mua sách, chỉ cần nhắn tin địa chỉ và số điện thoại của mình cho cô Hà, điện thoại số 0904289439. Chuyển khoản: Phan Thị Thúy Hà, số tài khoản 26810000211539- BIDV Thái Hà, Hà Nội.

Nguyễn Thông





‘HÒA’ THẾ NÀO KHI KHÔNG MUỐN GIẢI! (Trân Văn)




Trân Văn  -   Thiên Hạ Luận
01/05/2020

Cho dù cả giọng điệu lẫn âm lượng của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền và hệ thống truyền thông chính thức về sự kiện “Giải phóng miền Nam” đã giảm đáng kể nhưng mạng xã hội và các diễn đàn điện tử về ngày 30 tháng 4 vẫn rất nóng, thậm chí còn nóng hơn nhiều năm trước...

Số người nhận thức lại về cuộc chiến “Giải phóng miền Nam”, đặc biệt là những người có liên quan chặt chẽ với “bên thắng cuộc”, càng lúc càng đông. Thời điểm sự kiện “Giải phóng miền Nam” tròn 45 năm, nhiều ngàn người chia sẻ và bày tỏ sự tán thành ý kiến của Abraham Lincoln được dịch ra tiếng Việt kèm chân dung của ông (1):

Khi viên đạn găm vào môt người lính thuộc về bất kỳ bên nào thì nó cũng xuyên vào trái tim một người mẹ…

Tại sao lại ăn mừng chiến thắng? Những kẻ bại trận chẳng phải là đồng bào của chúng ta hay sao?

                                                       ***

Tháng trước, Tho Nguyen, sau tháng 4 năm 1975 được biệt phái vào Nam tiếp quản Đài Truyền hình Huế, từng bày tỏ: Đại dịch COVID-19 đang tạo cơ hội để ngày 30 tháng 4 năm nay, 45 năm kết thúc chuyện huynh đệ tương tàn, sẽ không phải là ngày trống giong cờ mở, pháo hoa sáng trời của bên này đồng thời là ngày nuốt nước mắt của bên kia…

Tuần này, Tho Nguyen, vừa mới viết tiếp về những suy nghĩ của ông đối với cuộc chiến ấy: Trong khi cả thế giới chìm trong chiến tranh lạnh thì Việt Nam trở thành chiến trường thi thố sức mạnh của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội. Nếu chúng ta coi nhau như anh em một nhà, quyết không bắn giết nhau thì không đế quốc nào có thể nhảy vào Việt Nam. Cuộc chiến khốc liệt đã nổ ra chính vì số người Việt thích bạo lực, coi trọng đấu tranh ý thức hệ nhiều hơn số người nghĩ đến quyền lợi dân tộc. Cuộc chiến đó đã khiến chúng ta mất Hoàng Sa, một phần Trường Sa và nếu tiếp tục chia rẽ, thù ghét nhau, sẽ mất thêm nhiều thứ khác (2)…

Trong status mới nhất, Tho Nguyen kể chuyện tướng Wojciech Jaruzelski (Ba Lan) và trung tá Harald Järger (sĩ quan an ninh Đông Đức) như những dẫn chứng.

Khi Công đoàn Đoàn kết (CĐĐK) trở thành lực lượng đe dọa sự nghiệp của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan và chính quyền cộng sản Ba Lan, tướng Jaruzelski – lúc ấy là Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch Nhà nước đã chọn con đường đàm phán với Lech Walesa – Thủ lĩnh CĐDK, chứ không cậy đến Liên Xô – luôn muốn kềm giữ Ba Lan trong nanh vuốt của mình. Nhờ vậy, Jaruzelski và Walesa vốn từng không đội chung Trời nhưng không vì thế mà “đốt cháy Ba Lan” đã trở thành bạn của nhau.

Tương tự, Järger đã cấm thuộc cấp nổ súng vào dân Đông Đức ùn ùn đổ tới Bức tường Berlin. Đã vậy còn tự tay nâng thanh chắn cho dân Đông Đức chạy sang Tây Đức vào đêm 9/11/1989, dù điều đó, đồng nghĩa với sự nghiệp của Jäger cũng như hàng ngàn sỹ quan an ninh Đông Đức khác sẽ tiêu tan.

Tho Nguyen tin rằng, những kết thúc có hậu như thế chính là nhờ dân Ba Lan không sùng bái bạo lực, không để khuynh hướng bạo lực thắng thế, cũng như nhờ dân trí lành mạnh mà những sĩ quan an ninh Đông Đức giữ được tính người, lý trí. Đó cũng là lý do khi nước Đức còn bị phân chia, tuy khác biệt về thể chế chính trị nhưng dân Đông Đức vẫn dán mắt vào những trấn đấu của đội tuyển bóng đá Tây Đức và vẫn thường hét vang: Nước Đức, nước Đức… Tho Nguyen kể thêm, ngày thống nhất nước Đức, Thủ tướng Đức Willy Brand tuyên bố: Giờ đây những gì thuộc về nhau, lại gắn kết với nhau. Liệu càng ngày càng nhiều người Việt sẽ nghĩ như vậy (3)?

                                                    ***
Tham gia cuộc thảo luận sôi nổi về sự kiện “Giải phóng miền Nam” trên mạng xã hội và các diễn đàn điện tử từ cuối tháng ba đến nay, ông Nguyễn Khắc Mai, cựu Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu của Ban Dân vận thuộc BCH TƯ đảng CSVN, nhận định: 30/4/1975 là thời điểm khởi đầu của tiến trình “phi cộng” mà những người CSVN không cưỡng lại được.

Ông Mai cho rằng: Sự tồn tại của Việt Nam Cộng Hòa trong một phần tư thế kỷ đã để lại nhiều dấu ấn, nhiều giá trị của một nền kinh tế thị trường thật chứ không nửa dơi nửa chuột, một xã hội dân trị tuy chưa đạt đến đỉnh cao nhưng là hiện thực, một nền văn hóa, giáo dục khá trưởng thành với nhiều giá trị và kinh nghiệm lành mạnh…

Theo ông: Đó chính là những nhân tố thúc đẩy tiến trình “phi cộng”. Khi tiến nhanh, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội thất bại, phải từng bước xóa bỏ kinh tế kế hoạch hóa, tập thể hóa nền kinh tế… Tuy nhiên không vứt bỏ cái vòng kim cô giáo điều Mác – Lênin, cái ốp che mắt ngựa thì không thể có tư duy tử tế, lành mạnh để suy nghĩ.

Khi kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam là kinh tế tư bản hoang dã có màu đỏ nhưng không đỏ như son mà là đỏ máu dân, ông Mai dẫn lại thắc mắc mà Triết gia Nguyễn Mạnh Tường từng nêu: Chủ nghĩa anh hùng của các ông có giúp các ông dám hy sinh đảng trên bàn thờ của Tổ quốc và Nhân dân? - kèm cảnh báo: Nếu tiếp tục bảo thủ, tiếp tục để các nhóm lợi ích thao túng, nhân dân sẽ “tỉnh dậy, thấy mình là nô lệ, là con rối, con mồi của những tham vọng mới” và họ sẽ hành động (4)…

                                                    ***

30 tháng 4 là dịp mà Lưu Trọng Văn, một nhà báo nghỉ hưu, viết vài mẩu chuyện nhỏ về những cuộc trò chuyện với người của phía bên kia. Những mẩu chuyện tiếp tục khắc họa thêm diện mạo của phía bại trận, về một hệ thống được xây trên nền tảng giáo dục theo tiêu chí “nhân bản – dân tộc – khai phóng”, khác hẳn tuyên truyền của “bên thắng cuộc”. Trong những mẩu chuyện ấy, có cuộc đối thoại với một đại tá của Việt Nam Cộng hòa, từng bị “cải tạo” mười năm, còn vợ con thì mất tích khi vượt biên bị chết, rằng: Làm thế nào để thống nhất lòng người? Vị đại tá ấy đáp rất gọn: Chính quyền cứ thật sự tử tế vì dân thì lòng dân tự khắc thống nhất (5).

“Hòa hợp, hòa giải dân tộc” đã trở thành khẩu hiệu suốt hàng chục năm nhưng chỉ trong vài tháng gần đây, tiếp tục có thêm hàng chục người bị bắt, bị kết án chỉ vì nói khác kiểu, kháng giọng với những người lớn tiếng gọi “hòa”. “Hòa” như thế là hòa… thật hay hòa… giả. “Hòa” như thế thì làm sao “giải” hết cả oán hận lẫn bất đồng?

------------------------------------

Chú thích










SỰ TÍCH ĐƯỜNG BOLSA (Vũ Quí Hạo Nhiên)




28/04/2020

Trường học Bolsa School xây năm 1888, toạ lạc ở chỗ hiện nay là góc Bolsa và Brookhurst, không rõ năm chụp. Hình courtesy Orange County Archives.

Một toà nhà mang tên Bolsa, gồm tiệm bán thực phẩm và một tiệm hớt tóc, tại góc Bolsa và Brookhurst hiện nay, không rõ năm chụp. Photo courtesy of Orange County Archives

Ở Westminster có đường tên Bolsa. Từ lâu tên gọi “Bolsa” trở thành đại diện cho cả khu Little Saigon ở Quận Cam. Nó được hiểu với cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp.

Thí dụ, nếu hỏi ai đó đang đi đâu và người ta trả lời “đi Bolsa” thì mình hiểu là người ta đi về khu Việt Nam nói chung mặc dù có thể người ta chỉ đi tới một góc nào đó của khu Việt Nam và không hề băng qua đường Bolsa.

Nhưng ngược lại, thí dụ có ai đó hỏi đường đi tới đâu đó và mình trả lời, “vầy nha, nếu đi từ Bolsa thì tới Newland quẹo trái ...” mình hiểu là người ta đang chỉ đường đi từ khu thương mại Phước Lộc Thọ chứ không phải từ bất kỳ điểm nào khác trên đường Bolsa. Cụ thể là đường Bolsa nằm ở cả hai bên đường Newland; xuất phát lầm chỗ thì sẽ quẹo lầm hướng!

Đường Bolsa năm 1952, đi về hướng Tây nhìn về đường Magnolia. Miếng đất bên trái tấm hình sẽ trở thành vùng Little Saigon tấp nập với Phước Lộc Thọ và các khu thương mại khác của Việt Nam. Hình courtesy Orange County Archives.

Đoạn đường Bolsa nơi có Phước Lộc Thọ, trước đây hầu hết là ruộng, chỉ có lác đác vài căn phố. Phải tới thập niên 1980 với sự đầu tư địa ốc của một số thương gia gốc Việt qua công ty Bridgecreek, đường Bolsa mới trở nên sầm uất như hiện nay.

Tuy nhiên điều đó không có nghĩa Bolsa là đường mới. Tên đường Bolsa là một trong những tên đường cổ nhất của Quận Cam. Tên đường còn xưa hơn cả Quận Cam. Năm 1889, khi Quận Cam tức County of Orange được thành lập, tách ra khỏi County of Los Angeles, tên đường Bolsa đã có trên bản đồ.

Chi tiết trong bản đồ treo tường Quận Cam năm 1889 do công ty S.H. Finley (San Francisco) xuất bản ghi tên đường Bolsa. Nguồn: Library of Congress, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.

Bolsa tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là cái túi. Túi áo, túi xách tay của phụ nữ, hay túi đựng tiền, đều là bolsa. Thị trường chứng khoán cũng gọi là “bolsa” (tương tự như tiếng Pháp gọi là “bourse”).

Vùng Bolsa hiện nay, thời xưa nằm trong một khu trang trại mang tên “Rancho Las Bolsas,” bao gồm từ khoảng thành phố Garden Grove xuống tới bờ biển Huntington Beach. Ngày xưa, khi chưa xây đập trên con sông Santa Ana, nguyên vùng đất này thường xuyên lầy lội, chỉ có lỗ chỗ vài khu đất khô, nên được gọi là las bolsas - như những cái túi.

Thời thế kỷ 18, California thuộc về Mexico, lúc còn là thuộc địa Tây Ban Nha. Năm 1769, Phó vương Mexico sai đại úy Gaspar de Portolá dẫn đầu một đoàn quân đi thám hiểm vùng bờ biển phía Tây của Mexico, cùng với một nhà truyền giáo dòng Phanxicô là Junípero Serra. Tới nay có rất nhiều tên đường, tên quảng trường, thậm chí tên các công ty, ở California mang tên Portola. Linh mục Serra được phong thánh năm 2015.

Đoàn thám hiểm này đi từ đỉnh cực nam của bán đảo California (nay thuộc Baja California Sur của Mexico) lên tới vùng vịnh San Francisco. Portolá được xem như là người sáng lập hai thành phố San Diego và Monterey. Linh mục Serra lập nhiều nhà thờ truyền giáo, trong đó có nhà thờ truyền giáo tại San Juan Capistrano, nổi tiếng với bài truyền thuyết đàn én bay về mỗi mùa Xuân và bài hát When the Swallows Come Back to Capistrano.

Thế thì trong đoàn thám hiểm ấy có một anh lính tên là Jose Manuel Nieto Perez. Đoàn thám hiểm được vua Tây Ban Nha ban đất để khẩn hoang. Anh thượng sĩ này được cho một mảng đất lớn năm 1784, từ bờ sông Santa Ana tới bờ sông Los Angeles, và từ ranh giới đất của nhà thờ truyền giáo San Gabriel xuống tới biển. Miếng đất này rộng 167,000 acres (680 km vuông) và bao gồm gần như một nửa Quận Cam và một phẩn của quận Los Angeles hiện nay. Ông đặt tên cho vùng đất này là Rancho Los Nietos.

Ông mất năm 1804, và tới năm 1833 thì các con cháu ông xin chính quyền chia đất ra cho đỡ tranh cãi. Thống đốc José Figueroa (hiện nay một con đường huyết mạch chính ở Los Angeles mang tên Figueroa) đồng ý và cắt Rancho Los Nietos làm 6 miếng. Người vợ goá của con trai thứ ông Nieto được chia miếng đất Rancho Las Bolsas rộng 27,054 acres (135 km vuông).

Bản đồ treo tường Quận Cam năm 1889 do công ty S.H. Finley (San Francisco) xuất bản với các “ranchos” thời Mexico. Rancho Las Bolsas màu hồng nhạt phía bên trái của Rancho Santiago de Santa Ana màu xanh lá cây, với sông Santa Ana ở giữa. Nguồn: Library of Congress.

Năm 1848 chiến tranh Mỹ - Mexico kết thúc với hoà ước Guadalupe Hildalgo. Mexico nhượng cho Mỹ hầu hết vùng đất miền Tây Hoa Kỳ hiện nay, từ Texas tới California. Theo hoà ước này, Hoa Kỳ tôn trọng quyền tư hữu của các chủ nhân đã từng được cấp đất.

Tuy nhiên, năm 1851 Quốc Hội thành lập một ủy ban để xem xét quyền sở hữu đất ở California, và chủ đất phải chứng minh được chủ quyền của mình, nếu không đất sẽ bị sung công. Tuy nhiều chủ đất chứng minh được quyền của mình, nhưng trên thực tế ngay cả khi chứng minh được trước ủy ban đất, nhiều vụ bị phía nhà nước kháng án lên toà trên. Toàn bộ hồ sơ tranh chấp đất được thu thập trong bộ hồ sơ Land Case Files của toà án liên bang tại California, hiện lưu trữ trong thư viện Bankcroft đại học California.

Bộ hồ sơ này cho thấy một vụ chứng minh chủ quyền ở California kéo dài trung bình tới 17 năm. Với chi phí luật sư, thông dịch viên, đo đạc địa lý, lên cao, ngay cả khi chứng minh xong, nhiều chủ đất đã phải gán nhà để có tiền theo đuổi vụ kiện, với kết quả là hầu hết chủ đất của thời Mexico đều bị mất đất vào các ngân hàng hay chính luật sư của mình. Tới năm 1860, hầu hết các chủ đất của vùng Quận Cam hiện nay đã bán hết cho một nhà đầu tư và chính trị gia Los Angeles tên là Abel Stearns.

Năm 1870, một mục sư Tin Lành Trưởng Lão (Presbyterian) tới lập ra vùng Westminster cho đạo hữu trong hội thánh của ông. Tên Westminster được đặt theo Cam kết Westminster (Westminster Assembly of Divines) năm 1643 thiết lập các giáo lý chính yếu của giáo hội Anh Quốc Giáo. Hội thánh Tin lành Trưởng lão là một nhánh Anh Quốc Giáo. Theo giáo lý, vùng đất này cấm uống rượu, nên trong khi Los Angeles và một số vùng khác ở Quận Cam trồng nho, các nhà nông ở Westminster thì không.

Trường học Bolsa School xây năm 1888, toạ lạc ở chỗ hiện nay là góc Bolsa và Brookhurst, không rõ năm chụp. Hình courtesy Orange County Archives.

Bên trong một lớp học ở Bolsa School, năm 1947. Hình courtesy Orange County Archives

Đường Bolsa chạy theo hướng Đông - Tây đi từ Santa Ana, thủ phủ Quận Cam, ra biển. Hai bên đường hầu hết là đất ruộng. Khu này đã từng có một học khu riêng mang tên Bolsa School District, thành lập năm 1894 cho tới năm 1929 thì sáp nhập vào với học khu Garden Grove Elementary School District.

Một trường học mang tên Bolsa School được xây năm 1888, tọa lạc tại phía đông bắc góc đường Bolsa và Brookhurst hiện nay. Miếng đất đó sau này được học khu bán lại cho tư nhân và hiện nay là khu nhà ở, không còn dấu vết của Bolsa School.

Nửa đường từ Santa Ana tới biển là khoảng đường Newland, đường Beach hiện nay. Vì xấp xỉ nửa đường từ thủ phủ ra biển, nên khi các nhà đầu tư phát triển vùng này, họ đặt tên là Midway City. Cố nhạc sĩ Phạm Duy từng dịch là “Thị trấn giữa đàng,” vừa thi vị vừa chính xác. Đến năm 1957, khi Westminster lập thành thành phố, Midway City không tham gia, nên tới giờ vẫn còn một mảng đất giáp ranh đường Bolsa trực thuộc chính quyền Quận Cam.

Vì vậy nên có thể nói, dùng tên mỗi con đường Bolsa để gọi cho cả một khu đất không phải là quá hẹp hòi, vì chính tên con đường đó, cũng đến từ tên mảnh đất lớn rộng. Ngày nay cũng như ngày xưa, tên gọi Bolsa vừa hẹp mà cũng vừa rộng.