Friday, May 1, 2020

30/4 NHỚ NHỮNG LỜI CA (Bùi Văn Phú)




Bùi Văn Phú
30/04/2020

Vào bậc tiểu học tôi học lớp Năm tại trường công lập Nghĩa Hoà với thày Nguyễn Văn Cường, khi đó có thày Nguyễn Ngọc Tích làm hiệu trưởng. Học sinh đi học mặc quần soọc xanh, áo sơ mi trắng, đội mũ ca nô xanh.

Mỗi buổi chào cờ, thày Cường hô: “Học sinh chú ý đứng. Nghiêm. Chào cờ. Chào.” Các em cất tiếng hát, hướng mắt nhìn lên lá cờ vàng được một bạn kéo lên chầm chậm, khi tới đỉnh thì bài quốc ca cũng vừa dứt:

“Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống
Vì tương lai quốc dân cùng xông pha khói tên
Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền…”

Mới đi học những buổi đầu tiên, tôi và các bạn cùng lớp chỉ biết đứng nghiêm nghe các bạn lớn hơn hát. Thày cô không dậy đám học trò nhỏ nhất trường ở tuổi lên sáu, lên bẩy những lời ca đó. Nghe nhiều lần cũng thấm vào lòng chúng tôi rồi cùng cất tiếng hát.

Lớp Ba của thày giáo Thành chúng tôi được học hát, vừa hát vừa vỗ tay theo nhịp:

“Cái nhà là nhà của ta
Công khó ông, cha lập ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà.”

Tết Trung Thu chúng tôi hát về chú Cuội, chị Hằng để tối cùng trẻ con trong xóm rước đèn đi chơi:

“Tết Trung thu rước đèn đi chơi
Em rước đèn đi khắp phố phường
Lòng vui sướng với đèn trong tay
Em múa ca dười ánh trăng rằm…”

“Bóng trăng trắng ngà có cây đa to
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ…”
“Chú Cuội yêu chị Hằng Nga
Nói dối ông bà lên viếng mặt trăng
Ôi tang tình tang ôi tang tình tình…”

Trẻ con đi rước với đèn xếp, lồng đèn các loại: con cá, con thỏ, ông sao, tàu bay, tàu thủy bằng giấy bóng kiếng.

Tôi có ông chú mỗi năm đều làm đèn trung thu bán. Chú rất thương tôi nên có năm đã làm riêng cho tôi một chiếc lồng đèn con cá chép to rất đẹp, nhiều mầu sắc mà khi đi rước đèn nổi hẳn lên trong ánh nến làm tôi nhớ mãi.

Những năm sau có đèn con bướm bằng sắt, có đèn bằng lon côca côla với que đẩy chạy trên mặt đất kêu lách tách.

Chúng tôi cũng biết bài “Kìa con bướm vàng” nhưng thường hát cho học trò con gái múa:

“Kìa con bướm vàng, kìa con bướm vàng
Xoè đôi cánh, xoè đôi cánh…”

Lời ca quen thuộc có khi đổi thành: “Giờ chơi đến rồi, giờ chơi đến rồi…” hay “Giờ cơm đến rồi, giờ cơm đến rồi, mời anh xơi mời anh xơi…”

Năm lớp Nhất, trong dịp học sinh được đưa lên Tân Phú đón Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ đến khánh thành một xã dân sinh mới thành lập, chúng tôi được dạy lời ca biến cải để cùng hát với cả nghìn học sinh từ các trường khác tụ họp ở nơi tổ chức lễ:

“Xã Tân Phú này, xã Tân Phú này
Đẹp xinh ghê, đẹp xinh ghê
Dân chúng nay sống yên bình
Dân chúng nay sống yên bình
Tang tình tang, tang tình tang…”

Và rồi có cả những ca từ không đẹp gì mấy.

Lên trung học đệ nhất cấp, tôi học trường Thánh Tâm ở Ngã ba Ông Tạ. Mỗi tuần có giờ sinh hoạt hiệu đoàn với thày Nguyễn Văn Khải. Thày nói giọng nam, trông mặt thày khó tính, ít khi cười và hay nhéo tai khi học sinh phạm kỷ luật.

Các bạn lớp 12-A1 Nguyễn Bá Tòng Gia Định trong một buổi đi chơi ở Búng, Lái Thiêu năm 1973. Tác giả ở bìa phải. Lê Minh Châu, bìa trái, là chuẩn úy đã mất tích trong chiến tranh (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Thích sinh hoạt, hát hò nên tôi thuộc nhiều bài ca cộng đồng và thường xướng lên cho các bạn cùng hát. Tôi thuộc típ người “hát hay không bằng hay hát”.

Giờ sinh hoạt, thày chia đội, ra một đề tài cho học sinh thảo luận. Tuần sau, mỗi toán cử một đại diện lên thuyết trình, một đại diện lên hát. Đề tài xoay quanh đức dục như lễ phép, vâng lời, trách nhiệm, tự trọng, tự tin, trung thành hay nhân nghĩa lễ trí tín.

Tôi thường được các bạn cử làm đại diện đội ra trước lớp thuyết trình. Hát thì có Trần Bá Nam, Lê Quang Phúc với những ca khúc như “Cánh hoa thời loạn”, “Những đóm mắt hoả châu”, “Lòng mẹ”. Bạn Nghĩa cận thị, giọng người Nam, hát một bài có lời ca rất ý nghĩa được thày khen. Đến nay tôi còn nhớ, nhưng không rõ tác giả hay tên bài hát:

“Tôi yêu mến cõi bờ Việt Nam
Một giang sơn từ nam chí bắc
Bốn ngàn năm dẫy đầy liệt oanh sử xanh
Tây giáp nước Ai Lao và biên thuỳ Cao Miên
Bắc giáp đất người Tầu tức là nước Trung Hoa
Đông thì liền với biển tên gọi Thái Bình Dương…”

Một đội khác có bạn Nguyễn Đức Bảo, hát hay mà còn biết đàn ghi-ta nữa. Nghe bạn vừa đàn vừa hát “Diễm xưa” tôi rất cảm phục.

Năm học giảng văn với thày Nguyên Xuân Sinh và thày đã dành ít thời giờ mỗi tuần để dạy học sinh chút kiến thức âm nhạc không chính thức có trong chương trình. Chúng tôi được học sơ về nhạc lý với các nốt đồ rê mi fa son la, về cách cầm que đánh nhịp. Thày dạy nhiều bài, nhưng hai bài tôi còn nhớ mãi vì bị khảo bài là “Vầng trăng mờ” và “Không phải là lúc”.

“Vầng trăng mờ một trời thơ
Xa xa tiếng ca êm đềm đưa
Chân mây thưa ánh sao úa
Sương buông mờ đường về làng xưa…”

Bài hát không được biết đến nhiều ngoài công chúng, nhưng tôi phải đứng trước lớp hát một cách êm ả, chậm rãi, xuống giọng ở chữ “mờ” rồi vút lên sau đó ở chữ “xưa”. Hát xong thày phê bình tôi xuống giọng chưa đủ thấp ở chỗ phải xuống nên chỉ được 7 điểm. Đó là điểm thấp làm tôi nhớ mãi vì là học sinh giỏi, thường đạt điểm 9 hay 10 trong các bài tập cũng như bài thi.

Bài thứ hai, quen hơn. Thày dạy phải ngắt đúng ngay sau những chữ vần “úc” hay “ua”. Vì thích hát cộng đồng trong sinh hoạt nên khi trả bài tôi hát to, hát mạnh, ngắt đúng nơi nên được điểm tối đa.

“Không phải là lúc cứ ngồi mà đặt vấn đề nữa rồi
Phải dùng bàn tay mà làm cho tươi mới
Hàng chục năm qua ta ngồi ngó nhau, nghi ngờ nhau
Khích bác nhau cho cay cho sâu cho thật đau
Không phải là lúc cứ ngồi mà cãi suông…”

Lớn lên tôi biết mình chỉ hát được nhạc cộng đồng, còn đơn ca hay song ca thì không có giọng.

Khi thày Trần Văn Thuận dạy văn, học sinh rất thích vì thày rất văn nghệ, thích nhạc Trịnh Công Sơn và đã đem đàn vào lớp hát cho học trò nghe.

Đó cũng là năm học sau Tổng Công kích Tết Mậu Thân. Chiến tranh đã vào thành phố với súng nổ, bom rơi, trực thăng bắn rốc-kết. Tiếng súng ngưng, anh hàng xóm lấy xe Honda chở tôi chạy lên hướng Bảy Hiền, Bà Quẹo thấy hai bên đường còn xác dân, xác Việt Cộng nằm la liệt.

Khi cuộc tấn công đợt hai xảy ra, trường Thánh Tâm đã được dùng làm trạm tiếp cư cho người tị nạn tạm trú.

Sau Mậu Thân, Việt Cộng pháo kích vào thành phố. Nhiều đêm nghe tiếng hoả tiễn 122 ly rít trong không gian rồi nổ đâu đó trong khu dân cư, thân người chết văng tung toé.

Một chiều nghe tiếng nổ lớn, chạy ra đường Nguyễn Văn Thoại, nơi có nhiều quán bar xem chuyện gì, thấy xác lính Mỹ xác dân cháy đen, cụt chân tay trên mặt đường. Nghe nói do chất nổ TNT gài trong xe đạp.

Năm đó tôi biết đến nhạc Trịnh nhiều hơn, không chỉ là tình ca mà còn những ca khúc về quê hương đã được nghe thày Thuận và bạn Bảo đàn hát trong lớp.

“Ghế đá công viên rời ra đường phố
Người già co ro em bé loã lồ
Từng hạt cơm khô trong miếng hững hờ
Đạn về đêm đêm đốt cháy quê hương…”

Năm lớp 9, tôi và vài bạn được chọn làm đại diện trường lên thành phố tham gia Chương trình Sinh hoạt Học đường (CPS), ở chỗ gần Nhà thờ Đức Bà.

Đến đó chúng tôi được học hát, nhảy múa, sinh hoạt chung với các bạn từ nhiều trường khác, dưới sự hướng dẫn của các anh chị lớn:

“Anh em ta cùng mẹ cha
Như chuyện cũ trong tích xưa
Khi thế gian còn mù mờ…”

“Từ Nam Quan Cà Mau
Từ non cao rừng sâu
Gặp nhau cho non nước ta xây cầu…”

“Chiêng trống cồng mừng anh trên rẫy
Xuống đồi xuống nương đi cày
Ôi rừng ơi núi ơi sông ơi
Ôi thác suối ơi, rừng ơi núi ơi
Tang tính tình đàn tre dây nứa…”

Thời gian đó, nhiều nhà đã có ra-đi-ô nên trong xóm vang vang nhiều bài hát qua sóng phát thanh. Tôi nhớ nhất “Thương về miền Trung” qua giọng hát Phương Dung và “Anh đi chiến dịch” với Hoàng Oanh.

Tuy chẳng có liên hệ gì đến quê hương miền Trung, nhưng tôi cứ nhớ mãi câu ca:

“Mời anh dừng lại nơi đây nghỉ chân
Nhà em tuy nhỏ đơn sơ nghèo nàn
Nhà em có cơm rau với cà
Và có em thơ mẹ già
Mẹ thương em lắm anh ơi…”

Có lẽ vì tả tình cảnh nghèo, như nhà tôi lúc đó thường cũng chỉ cơm canh với cà mỗi bữa nên nghe cũng tủi lòng.

Rồi nhìn những anh lớn trong xóm lên đường tòng quân, khi nghe một điệp khúc hùng tráng tôi hay gõ nhịp bằng tay trên phản gỗ:

“Không quên lời xưa đã ước thề
Dâng cả đời trai với sa trường
Nam nhi cổ lai chinh chiến hề
Nào ai ngại gì vì gió sương…”

Thẻ đoàn viên Lực lượng Sinh viên Học sinh Phòng vệ Hậu phương (Ảnh: Bùi Văn Phú

Năm lớp 10 tôi vào trường Nguyễn Bá Tòng trên đường Bùi Thị Xuân. Năm đó không phải thi cử gì, thỉnh thoảng tôi trốn học đi ăn đậu đỏ bánh lọc trên đường Kỳ Đồng, vào toà soạn Tuổi Hoa bên cạnh nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế đọc báo. Tôi cũng bắt đầu sưu tầm tem thư nên hay đạp xe ngang bưu điện xem có biểu ngữ thông báo phát hành tem thư để còn dành dụm tiền mua phong bì phát hành ngày đầu tiên.

Không chăm học mà tôi lại thích đàn ghi ta nên tự học để nghêu ngao những ca khúc nhạc Trịnh mình thích hay những bản tình ca mơ mộng.

Mua cây đàn ghi-ta cũ, mua sách tự học, lần mò gảy nốt, đệm gam nghêu ngao “Diễm xưa”, “Hạ trắng”, “Tình sầu”, “Những ngày xưa thân ái”, “Lòng mẹ”, “Nỗi buồn hoa phượng”, “Một chuyến bay đêm” hay hát to những bài đồng ca “Nối vòng tay lớn”, “Gia tài của mẹ”, “Tôi sẽ đi thăm”, “Huế Sài Gòn Hà Nội”, “Việt Nam Việt Nam”, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”.

Ở trung học đệ nhất cấp tôi được bảng danh dự mỗi tháng và cuối năm thường đứng nhất nhì trong lớp. Lên lớp 10 ham chơi nên xuống tầm giữa lớp trong số 60 học sinh.

Hai năm cuối bậc trung học, tôi chuyển qua trường Nguyễn Bá Tòng, số 4 Hoàng Hoa Thám, Gia Định.

Ở đó có hát hò sinh hoạt với các bạn. Tôi và bạn Phước đen, vì mầu da con lai, thường hay xướng lên nhạc cộng đồng hay những bài dân ca “Chiêng trống cồng”, “Trống cơm”, “Qua cầu gió bay”.

“Đoàn người tưng bừng về trong sương gió
Hồn như đám mây trắng lững lờ
Giang hồ không bờ không bến
Đẹp như chí trai anh hùng…”

“Hy vọng đã vươn lên, trong màn đêm bao ưu phiền
Hy vọng đã vươn lên, trong lo sợ mùa chinh chiến
Hy vọng đã vươn lên, trong nhục nhằn tràn nước mắt
Hy vọng đã vươn dậy như làn tên, đang rực lên trong màn đêm
Hy vọng đã vươn lên trong trong lòng tôi, trong lòng anh, trong lòng em…”

Bạn cùng lớp 12 là Duy Nam, học trò của Duy Khánh nên có giọng hát giống như sự phụ. Nam hát nhạc của Duy Khánh, Trúc Phương, Trịnh Lâm Ngân rất mùi.

“Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên hiên…”

Năm cuối bậc trung học có văn nghệ mừng xuân lần đầu tiên tại trường. Năm đó tôi còn làm bích báo cho lớp 12-A1, dưới sự hướng dẫn của thày Trần Bằng Phong dạy văn, hay đấm cho học sinh nam một quả vào bắp tay nếu không thuộc bài.

Ở ngưỡng cửa của tuổi động viên, chiến tranh còn kéo dài, chúng tôi lo lắng vì thi trượt là phải lên đường. Các kỳ thi Tú tài 1 và Tú tài 2 rất khó và quan trọng đối với nam sinh, vì kết quả định đoạt tương lai còn được ở lại trường hay phải vào quân trường.

Năm 1972 với tổng tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa và chính phủ có lệnh đôn quân. Nam sinh lớp 11 thi rớt thì vào trường hạ sĩ quan Đồng Đế ở Nha Trang, thi đậu nếu quá tuổi hoãn dịch vẫn phải nhập ngũ, đi sĩ quan trừ bị Thủ Đức.

Tương lai bản thân, tương lai đất nước, bao giờ chiến tranh chấm dứt là những suy tư nóng bỏng của tuổi trẻ. Cuối tuần gặp nhau đàn hát, có khi là những ca vang vang tính đấu tranh, có khi nặng trĩu nỗi buồn:

“Tuổi trẻ chúng tôi đã bao nhiêu năm
Lần lượt đi trên giàn lửa thiêu…
Sao chúng tôi không có quyền lên tiếng nói
Tìm về nguồn nguồn yêu thương bao nghìn năm anh dũng…”

“Thà như giọt mưa
Rớt trên tượng đá
Thà như giọt mưa
Khô trên tượng đá…

Ta hỏng tú tài
Ta hụt tình yêu
Thi hỏng mất rồi
Ta đợi ngày đi
Đau lòng ta muốn khóc…”

Buồn và nhớ nhất là khi cất tiếng ca cho những đứa bạn đã vĩnh viễn ra đi từ chiến trường: Duy Nam, Lê Minh Châu, Nguyễn Đức Tuyển, Trần Văn Doanh, Phạm Văn Thông.

Càng lớn lên, nghe nhạc Trịnh càng thấy thấm vào lòng người. Thanh niên trong xóm ngõ, người thân của gia đình trở về trong quan tài phủ lá quốc kỳ: chú Viêm, chú Thuận, chú An, anh Trịnh Xuân Tác. Không tìm được xác như chú Nguyễn Văn Tuynh, anh Đinh Văn Vũ, bạn thời tiểu học Nguyễn Văn Nam, bạn thời trung học Lê Minh Châu.

“Anh nằm xuống sau một lần đã đến đây
Đã vui chơi trong cuộc đời này…”

“Anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn mầu tang trắng…”

Giọng Khánh Ly hát tình ca đầy mê hoặc, nhưng hát tình ca cho quê hương của Trịnh Công Sơn nghe như những lời thở than. Chậm. Buồn cho thân phận con người, cho quê hương chiến tranh, chia cắt, cho mơ ước hoà bình:

“Đêm mẹ ngồi cầu kinh
Tường trắng im lìm
Đêm con nằm không ngủ
Bom rung từng liếp cửa…”

“Quê hương ta còn đau nặng
Anh em ta nhận vũ khí…”
“Dù hôm nay tôi chưa nhìn Hà Nội
Dù hôm nay em chưa thấy Sài Gòn
Nhưng trong lòng tôi vẫn chưa mất niềm tin
Vì quê hương sẽ có ngày hoà bình
Cố nuôi vững bền những tình thương lớn…”

Chúng tôi hát cho nhau nghe cũng là cách để nói lên những ước mơ của mình.
Tôi tham gia sinh hoạt chính trị, đi vận động cho ứng cử viên hội đồng tỉnh Gia Định là giáo sư Nguyễn Duy Bảo, dấu hiệu ba bông lúa. Ông tốt nghiệp cử nhân văn chương, cao học xã hội, được sự ủng hộ của Phong trào Quốc gia Cấp tiến và trong ban vận động có mấy anh học Quốc gia Hành chánh. Chúng tôi đi đến nhiều nhà dân ở vùng Bà Quẹo, Bà Điểm gõ cửa xin phiếu. Giáo sư Bảo thắng cử và sau đó làm Chủ tịch Hội đồng Tỉnh.

Trong xóm tôi có anh Tiến, anh Quang dấn thân ra ứng cử trưởng ấp, ứng cử hội đồng xã. Năm 18 tuổi, tôi có thẻ cử tri và đã tham gia bầu cử hội đồng xã Tân Sơn Hoà.

Khi các bên ký kết Hiệp định Ba Lê ngày 27/1/1973 trong lòng tôi vui, vì nghĩ hoà bình đã đến trên quê hương.

Sáng hôm đó, một bạn thân chở chạy vòng quanh những khu phố của Sài Gòn xem có gì lạ, nhưng chẳng thấy có chút không khí mừng vui. Chúng tôi ghé qua nhà sách Khai Trí tìm xem có sách truyện gì mới, rồi qua trước cửa bưu điện nhâm nhi bò bía trong một ngày trời hơi se lạnh.

Thời sinh viên tôi biết thêm những bài hát mới, với lời ca làm nhức nhối con tim:

“Năm chục đồng ai mua tôi bán
Năm chục đồng một thằng thanh niên
Đôi chân còn lành, đôi tay còn mạnh
Ai mua tôi bán, ai mua tôi bán
Thêm một triệu đồng bán cả lương tâm
Thêm một triệu đồng bán cả dân tôi…”

Những bài ca được truyền cho nhau hát mà không biết tác giả là ai, có những ca khúc được thu vào băng cát-sét:

“Tôi trót sinh ra làm dân nhược tiểu
Vú mẹ gầy cơm chẳng nuôi thân
Chút tình này ôi máu mẹ nuôi con
Tôi trót sinh ra vào nước chia cắt…”

“Kính thưa thày đây bài chính tả của con
Bài chính tả viết về nước Mỹ
Con viết hai lần sai chữ America
Con viết hai lần sai chữ Communist
Con viết hai lần sai chữ Liberty
Làm sao thuộc bài con học
Bởi anh con vừa chết…
Con không đậu tú tài để đi sĩ quan Đà Lạt
Con không đậu tú tài để thành bác sĩ, kỹ sư…”

Lời ca xoáy xoay vào tim chúng tôi, những người trẻ sống trong một đất nước nhiễu nhương. Hiệp định Ba Lê đã ký mà súng vẫn nổ, bom còn rơi, những người lính vẫn phải hy sinh ngoài chiến trường. Quê hương rồi sẽ ra sao, đất nước sẽ đi về đâu?

Lên đại học tôi học luật, tham gia phong trào chống tham nhũng của Linh mục Trần Hữu Thanh. Dự định ứng cử vào ban đại diện sinh viên. Tôi cũng tìm hiểu sinh hoạt đảng phái và đang xin gia nhập Đảng Quốc tiến của cựu Nghị sĩ Trương Vĩnh Lễ.

Một số cựu học sinh Thánh Tâm, trong đó có Phạm Văn Sơn, là anh của Phạm Đăng Lâm học cùng lớp 9 với tôi. Anh Sơn là sinh viên lớp lớn hơn và năng động. Với Lâm, kỷ niệm tôi còn nhớ mãi là trong Việt văn với thày Trương Quang Gia, khi làm luận văn Lâm viết về “thuyết trung dung” của Khổng Tử, thày bảo nếu bạn giải thích được thuyết này ra sao thì cho điểm cao. Lâm không có lời giải nên nhận zêrô cho bài luận.

Anh Sơn đứng ra tổ chức gặp gỡ những cựu học sinh Thánh Tâm nay đã tốt nghiệp trung học, có bạn là sinh viên, có bạn đã nhập ngũ, có bạn làm công chức. Chúng tôi bàn thảo tìm đường hướng tham gia vào các sinh hoạt, các phong trào lúc bấy giờ.

Chúng tôi hăng say bàn luận, có ý kiến ủng hộ những chính sách của chính phủ. Có ý kiến chống đối, trong đó có tôi, vì chính quyền tham nhũng. Có bạn mạt sát, muốn đuổi người Mỹ ra khỏi quê hương. Dù quan điểm, lập trường khác nhau tuổi trẻ chúng tôi đều muốn làm điều gì đó cho đất nước.

Tôi có niềm mơ ước hoà bình như bao thanh niên Việt, thể hiện qua chiếc cổng sắt trước nhà với mẫu thiết kết tôi vẽ, đưa cho tiệm hàn xì làm, với hai dấu hiệu hoà bình ở giữa mỗi cánh cửa.

Ông trưởng ấp trông thấy, bảo bố tôi gỡ đi, tôi không chịu. Bố nói không muốn thấy cảnh sát đến nhà làm khó dễ. Tôi chỉ đồng ý che hai dấu hiệu hoà bình bằng hai miếng nhôm, che từ phiá ngoài đường để người ngoài không thấy dấu hiệu, còn trong nhà nhìn ra vẫn thấy.

Không lâu sau, một đêm có kẻ cắp tháo cổng, mới gỡ được một bên, nghe động nên bỏ chạy. Hàng xóm đồn rằng vì đó là dấu hiệu phản chiến nên cảnh sát tìm cách dẹp nó đi.

Tình hình thủ đô lúc đó rất căng thẳng với biểu tình liên miên. Trong xóm đạo từ Tân Sa Châu, Tân Chí Linh xuống đến An Lạc, Lộc Hưng thường có biểu tình và đụng độ với cảnh sát dã chiến. Cảnh sát ném đá trước, gây đổ máu cho dân. Chúng tôi nhặt đá ném lại.

Một hôm có nhóm thanh niên theo cộng sản chiếm đóng trường Thánh Tâm. Ban đêm gắn loa lên nóc toà nhà cao giữa sân trường phát thanh tuyên truyền cho cách mạng. Sau nhiều đợt cảnh sát của xã tiến vào giải toả không thành công, vì bị bàn ghế từ trên cao ném xuống, chính chỉ huy trưởng cảnh sát Đô Thành là Chuẩn tướng Trang Sĩ Tấn phải đích thân xuống dẹp, bắt giam mấy thanh niên thiếu nữ.

Biến cố 30/4/1975 xảy ra, tôi rời Việt Nam trên một con tàu không máy mang tên Saigon II, được kéo đi từ Kho 5.

Sau ba tháng qua các trại tị nạn, đến Mỹ được định cư ở thành phố đại học Berkeley.
Thời gian đầu trong cuộc sống mới, dành dụm được ít tiền tôi mua cây ghi-ta thùng để đàn hát cho đỡ nhớ nhà. Vừa đi học ESL vừa học thêm dân ca (folk song) của Mỹ.

Được nhận vào Đại học Berkeley, gặp gỡ sinh viên gốc Việt rồi thành lập hội. Các bạn chọn tôi lo việc báo chí văn nghệ nên lại có cơ hội ôm đàn hát hò cùng sinh viên.

Từ ký túc xá réo rắt những lời tình ca của Phạm Duy như “Nghìn trùng xa cách”, “Biển nhớ” của Trịnh Công Sơn như “Như cánh vạc bay” hay ca từ của Lê Uyên Phương:

“Theo em xuống phố trưa nay
Đang còn ngất ngất cơn say
Theo em bước xuống cơn đau
Bên ngoài nắng đã lên mau…”

Tôi thích nhất:

Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống…

Khuôn viên đại học cây lá xanh rì, với những con giốc leo lên giảng đường sao mà thơ mộng, tình tứ quá. Nơi đây cũng gợi lại nhiều nỗi nhớ về “con đường Duy Tân cây dài bóng mát”.

Nhạc cộng đồng lại vang vang trên miền đất mới trong những buổi pic-nic, họp mặt, trong dịp quây quần bên nhau đón tết hay qua đêm không ngủ: “Nối vòng tay lớn”, “Việt Nam Việt Nam”, “Đến với quê hương tôi”, “Đường Việt Nam”, “Việt Nam quê hương ngạo nghễ”, “Huế Sài Gòn Hà Nội”, “Xin chọn nơi này làm quê hương”.

“Rừng núi giang tay nối lại biển xa
Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
Mặt đất bao la anh em ta về
Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng…”

“Từ Nam Quan Cà Mau, từ non cao rừng sâu
Gặp nhau do non nước xây cầu
Người thanh niên Việt Nam, quay về với xóm làng
Tiếng reo vui rộn trong lòng…”

Sinh viên Đại học Berkeley hát cho thuyền nhân tháng 2/1982. Tác giả với đàn ghi-ta (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Từ khuôn viên đại học chúng tôi cất tiếng hát những lời ca mới, gọi là “Ngục ca” do nhạc sĩ Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Chí Thiện, để nhớ về những người đang bị cầm tù ở quê nhà:

“Một tay em trổ đời xua đuồi
Một tay em trổ hận vô bờ
Thê giới ơi ai có thể ngờ
Đó là một tù nhân tám tuổi…”

“Bao giờ tôi gặp lại em
Sẽ kể nghe chuyện khoai sắn
Chuyện thương tâm
Vì là chuyện cùm chuyện bắn
Chuyện nhục nhằn vì là phản phúc gian manh…”

“Bà kia tuổi sáu mươi rồi
Mà sao không được phép ngồi bán khoai
Cụ kia tuổi bảy mươi hai
Mà sao hội họp mệt nhoài chẳng tha
Tự do tôi quí thiết tha
Mà sao tù ngục hết ra lại vào…”

Du ca San Jose tham gia biểu tình tuần hành ở ĐH Berkeley tháng 7/1981. Anh Ngô Thanh Lập cầm đàn đi đầu (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Đầu thập niên 1980, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ dần được thành hình. Hai miền nam bắc California nở rộ những sinh hoạt xã hội, văn hoá, đấu tranh.

Năm 1980 ở San Jose có Toán Du ca Hạc Trắng, rồi có Đoàn Du ca San Jose.

Toán Du ca Hạc Trắng trong một buổi hát cộng đồng ở San Jose, California tháng 12/1980 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Thỉnh thoảng tôi xuống sinh hoạt cùng Du ca San Jose với các anh Trần Mạnh Hoà, Ngô Thanh Lập, Hoàng Đoàn, Trần Anh Kiệt.

Đây là một tập thể văn nghệ mang tính cộng đồng lớn nhất trong vùng Vịnh San Francisco, với hơn 50 đoàn viên. Các bạn mặc đồng phục áo bà ba nâu và thường góp lời ca, tiếng hát trong các sinh hoạt từ biểu tình đến văn nghệ đấu tranh, từ San Jose lên San Francisco, Berkeley.

Một lần có văn nghệ đấu tranh tại San Jose Center for Performing Arts, hơn 100 ca viên của hai đoàn du ca San Jose và Pomona – anh Lưu Văn Lễ làm đoàn trưởng Pomona – hợp lại đã hát vang những ca khúc đấu tranh trước ba nghìn khán giả.

Anh Nguyễn Đức Quang, con chim đầu đàn của du ca Việt Nam cũng đã nhiều lần đến San Jose hát trong thập niên 1980.

Hải ngoại lúc đó có cặp song ca Việt Dzũng và Nguyệt Ánh với nhạc đấu tranh mới, với những lời ca cho thuyền nhân tị nạn, cho quê hương tù đày.

“Gửi về cho chị dăm ba sấp vải
Chị may áo cưới hay chị may áo tang…
Con gửi về cho cha một manh áo trắng
Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây…”

“Em vẫn mơ một ngày nào
Quê dấu yêu không còn cộng thù…
Bên mái hiên ta ngồi chuyện trò
Khoai nướng thơm hương tình ruộng đồng
Con thơ ngoan hiền ê a đánh vần
Vê en nờ là Việt Nam kiêu hùng…”

Những năm làm việc trong các trại tị nạn, tôi lại được cùng các bạn trẻ cất tiếng hát vang nhiều ca khúc quen thuộc xưa nơi vùng trời Đông Á, bên ngoài nước Việt Nam.

Mùa xuân năm 2012, đi chơi Hội Tết Fairgrounds. Ghé lều du ca, gặp lại một số người quen như anh Trương Xuân Mẫn, Lại Đức Hùng, luật sư Tâm Nguyễn, chị Mây Lan và nhiều khuôn mặt mới đang đồng ca, tôi lại cất tiếng hoà chung với các bạn:

“Tuổi trẻ chúng tôi đã nghe trong tim
Lời gọi âm vang từ nghìn xưa
Tuổi trẻ chúng tôi đã nghe trong tim
Tiếng réo sôi trong đêm giao mùa

Này vùng lên này vùng lên
Tạo nên kiếp sống mới sống mới
Đưa quê hương thoát vòng ngục tù
Thoát xích xiềng gông cùm nhục ô…”

Anh đoàn trưởng Trương Xuân Mẫn và Nguyên Nhu là hai người tôi đã có dịp gặp trước đây, đã nghe họ đàn hát trong chương trình văn nghệ chủ đề “Nhớ về thời sinh viên” do IRCC tổ chức ở Foothill College vào mùa xuân 2008.

Hôm đó trên sân khấu có người anh cả Nguyễn Đức Quang cùng Trương Xuân Mẫn, Đồng Thảo, Nguyên Nhu, Trần Anh Kiệt.

“Nắng nóng cháy da đã về rồi
Trên thân người đẹp tôi
Bão tố buốt xương cũng về rồi
Cho thêm tàn phai
Nàng nằm đớn đau
Tháng năm dài buồn thiu
Nàng cầu cứu tôi
Giữa cơn bệnh đầy vơi…
Giờ còn có nhau
Giúp nhau cho thật nhiều
Ngày nào mất nhau
Sớt chia chẳng được đâu.”

“Người đẹp tôi” đây, theo anh Nguyễn Đức Quang là quê hương và tinh thần của giới trẻ Việt Nam đã biểu hiện trong những câu ca một thời vang vang trên quê hương:

“Ai từng đi trên đường Việt Nam
Bước âm thầm và tim nát tan
Bao lòng tham chất chứa đầy
Những mưu đồ bạo tàn đang ngăn lối
Nhưng càng mưa giông càng vươn tới
Bước chân hùng còn đi rất hăng
Đi dựng lấy quê hương nhà
Giống da vàng nầy là vua đấu tranh…”

Một nửa thế kỷ đã qua, tên tuổi của các anh khai sinh phong trào du ca đã thổi vào tâm hồn người trẻ tinh thần dấn thân cộng đồng qua những lời ca mà nay vẫn còn nhiều người thuộc.

Những tên tuổi luôn gắn liền với phong trào là Nguyễn Đức Quang, Hoàng Ngọc Tuệ, Bùi Công Thuấn, Trầm Tử Thiêng, Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Thiện Cơ, Trần Đình Quân, Giang Châu v.v… Nhiều người đã từ bỏ cuộc chơi, nhưng tinh thần du ca vẫn còn âm vang và sôi sục trong lòng thế hệ mai sau:

“Ta như nước dâng, dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng khua nhịp xích kêu loang xoang…

Máu ta từ thành Văn Lang dồn lại
Xương da thịt này cha ông miệt mài
Từng ngày qua, cười ngạo nghễ đi trong đau nhức không nguôi
Chúng ta thành một đoàn người hiên ngang
Trên bàn chông hát cười đùa vang vang
Còn Việt Nam, triệu con tim này còn triệu khối kiêu hùng.”




NẾU PHÂN LY LÀ ĐỊNH MỆNH DÂN TỘC (Đặng Đình Mạnh)





Tôi không nghĩ đã có dân tộc nào trên thế giới mở đầu trang sử của mình bằng một cuộc phân ly. Nhưng rủi thay, dân tộc ta đã có một trang sử khởi đầu như vậy. Đọc sử, chúng ta hãnh diện tự tôn về dòng giống con rồng cháu tiên. Điều đó, làm chúng ta quên bẵng đi ý nghĩa câu chuyện mẹ Âu Cơ đem 50 con lên núi, cha Lạc Long Quân đem 50 con xuống biển để bắt đầu một phân ly tiên khởi như định mệnh dân tộc.

Ngẫm xem, dân tộc này đã trải qua bao nhiêu cuộc phân ly kể từ ngày ấy? Ngày nay, lúc này, xứ sở thống nhất về lãnh thổ, nhưng cuộc phân ly từ lòng người vẫn cứ còn nguyên đó với nhiều sắc màu, vượt trội nhất với đỏ và vàng.

Cũng lạ, như một định mệnh trớ trêu, trong lá cờ đỏ lại có ánh vàng, trong lá cờ vàng lại có sắc đỏ, trong mình có ta, trong ta có mình, ta với mình đều là người Việt, mình với ta đều là đồng bào, ta với mình đều vỗ ngực yêu nước, nhưng mình với ta không đứng chung trong một sắc cờ! Và nếu cần phải chiến đấu với ngoại xâm, liệu ta với mình có đứng chung trong một chiến hào?

Tôi mơ hồ về câu trả lời, nhưng tôi sẽ chắc chắn hơn với câu trả lời “Có”, chỉ khi mà “ta” với “mình” đã có sự hòa hợp, hòa giải với nhau!

Vâng, sự hòa giải đấy là nan đề xứ sở, là giấc mơ 45 năm chưa trọn!

Đối diện với mỗi vấn đề, tôi vẫn thường hướng sự suy nghĩ của mình bắt đầu từ quá khứ để biết các bài học của lịch sử… Nhưng với vấn đề hòa giải, tôi muốn chúng ta bắt đầu câu chuyện từ nước Đức.

Không phải về một nước Đức phát xít của Hitler đã từng làm nhân loại kinh sợ, mà về một nước Đức thống nhất đã từng làm nhân loại phải ngã mũ kính phục từ sau sự kiện bức tường Berlin bị phá bỏ năm 1989. Chính là nước Đức mà khiến chúng ta, đã không thể đặt vô số câu hỏi tại sao khi đối chiếu với những vấn đề của đất nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao họ không đặt ra vấn đề buộc những người cộng tác với chính quyền Đông Đức cũ phải đi học tập cải tạo như đất nước ta? Nhưng chúng ta phải nhận thấy rằng, nhờ đó, nước Đức đã không mất đi nguồn nhân lực chất xám cực lớn và quý báu từ một nửa quốc gia còn lại, xã hội không bị xáo trộn và cũng không phải đau đáu về việc phải hòa giải với các cựu thù hàng mấy thế hệ, mà nay tất cả đang là những đồng nghiệp với nhau, cùng kề vai sát cánh phụng sự trong chính quyền nước Đức, vì quyền lợi dân tộc Đức.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không hiểu tại sao người dân Đông Đức cũ đã không chọn con đường đào thoát, tỵ nạn ra nước ngoài như người dân đất nước ta! Và chúng ta cũng nhận thấy rằng, nhờ đó, hàng triệu người dân nước Đức đã không phải phiêu lưu đánh đố số phận của mình trên những chiếc ghe nhỏ giữa đại dương, với vô vàn bất trắc: bão tố, sóng biển, cá mập, hải tặc, tù đày và kể cả điều xấu nhất là cái chết trước khi đến được bến bờ mong muốn. Hơn cả thế, người dân Đức không phải đối diện với sự mất mát và nước Đức cũng không phải đối diện với sự ly tán hiện hữu dai dẳng trong lòng người dân nước mình.

Nước Đức, sau ngày thống nhất, chúng ta không rõ tại sao và như thế nào mà họ lại có thể chấp nhận một người vốn xuất thân từ một đoàn viên Đoàn thanh niên Cộng sản Đức thuộc Đông Đức cũ, nhưng chỉ 15 năm sau khi thống nhất, thì người này đã có thể trở thành người phụ nữ đầu tiên và trẻ nhất đắc cử vào chức vụ Thủ tướng đầy quyền lực của nước Đức thống nhất? Bà Angela Merkel! Bạn có nghĩ rằng, nếu người phụ nữ tài trí kiệt xuất này sống ở đất nước chúng ta, Bà có thể đã có một tương lai rất khác, khi mà đất nước chúng ta sau ngày thống nhất vẫn còn nguyên đó sự dè dặt trước những người có lý lịch không tương thích với chính quyền và trong quá khứ đã từng có chính kiến rất khác biệt với chính quyền.

Không chỉ câu chuyện từ nước Đức, mà những câu chuyện về sự hòa giải, hòa hợp từ Nam Phi, Miến Điện, thậm chí từ quốc gia Cao Miên láng giềng cũng đều là bài học hữu dụng.

Tại sao và tại sao? Trả lời được những thắc mắc đó, chúng ta có thể trả lời cho con cháu đời sau biết lý do tại sao ông cha của chúng hiện nay phải kêu gọi hòa giải mối bất hòa có từ những thập kỷ năm mươi và một lần nữa vào thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước, giữa những người Việt có chung giòng máu Lạc Hồng, sinh từ cùng một bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ?

Giữa thập kỷ năm mươi, năm 1954, không phải là một quốc gia bại trận như nước Đức. Trái lại, xứ sở chúng ta vừa mới bước ra khỏi cuộc chiến với tư cách là một quốc gia chiến thắng. Nhưng phần thưởng cho người chiến thắng không vinh quang như chúng ta thường nghĩ, thường thấy, mà cũng lại là sự phân ly như nước Đức bại trận!?

Giữa thập kỷ bảy mươi, năm 1975, sau cuộc chiến khốc liệt dai dẳng kéo dài hằng hai thập kỷ, trả giá bằng sinh mệnh của nhiều triệu đồng bào, cuối cùng xứ sở của chúng ta cũng có được thống nhất dưới bánh xích xe tăng nghiến trên đường phố Sài Gòn. Nhưng kể từ ngày ấy cho đến nay đã là 45 năm, xứ sở thống nhất, nhưng lòng người dân nước ta chưa bao giờ thống nhất! Vẫn vẹn nguyên sự phân ly như những ngày nội chiến tương tàn!

Sự phân ly lòng người đau đớn lắm, nó làm thân thể người mẹ Việt xanh xao yếu ớt, như vết thương mãi rỉ máu, chẳng bao giờ biết liền sẹo…

Ngẫm lại, quả là chúng ta đã từng có một Diên Hồng chói lọi trong lịch sử đoàn kết dân tộc vào thời Trần, nhưng suốt bốn ngàn năm lịch sử cho đến nay, hình như chúng ta cũng chỉ có mỗi trang sử lẻ loi ấy?! Thỉnh thoảng, tinh thần Diên Hồng ấy lại chớp lóe trong những thời khắc vận nước lâm vào cơn nguy khốn cùng cực, khi cơn nguy khốn đã qua, thì tinh thần Diên Hồng cũng chóng tan như làn sương sớm mai!

Chúng ta phải tự hỏi: Đã có thể chìa bàn tay hòa giải với các cựu thù ngoại nhân như Pháp, Nhật, Mỹ! Nhưng chìa bàn tay hòa giải với chính đồng bào mình sao lại khó quá?

Hòa giải, giấc mơ 45 năm chưa trọn. Có thể, sau 100 năm kể từ thời điểm 1975, khi những con người đã từng là đạo diễn, diễn viên và khán giả của câu chuyện phân ly lòng người khuất bóng, thì có thể con cháu của họ sẽ ngồi lại với nhau để viết nên trang sử mới của dân tộc, trang sử không còn bóng dáng của sự phân ly trong lòng người Việt! Trang sử không còn sự phân ly như định mệnh dân tộc của tiền nhân để lại.

Như cô Tấm mong có ông Bụt, tôi mong dân tộc tôi có một phép mầu.

Tháng 04/2020
Manh Dang









CÁI BÓNG CUỘC CHIẾN & MÓN NỢ 45 NĂM (Phạm Tín An Ninh)




Phạm Tín An Ninh
01/05/2020

Đã kết thúc đúng 45 năm, nhưng cái bóng của cuộc chiến ấy dường như vẫn luôn bám theo đằng sau, nhiều lúc muốn chụp phủ lấy tôi như bóng ma, một thứ “bóng đè”, làm tôi muốn ngộp thở.

Từ giã học đường, tôi vào lính khi còn rất trẻ. Cũng không hẳn vì thích đời binh nghiệp, nhưng ý thức trách nhiệm làm trai trong lúc đất nước đang trong khói lửa chiến tranh, nhìn quanh bạn bè thân quen đều lần lượt nhập ngũ, và gần như con đường nào rồi cuối cùng cũng dẫn tới một quân trường, nên đúng như lời một bài hát cũ, “năm 21 tuổi tôi đi vào quân đội mà lòng chưa hề yêu ai”.

Ra trường, được bổ nhậm về một đơn vị tác chiến lưu động. Trải qua nhiều chức vụ, tôi cũng chẳng phải là một cấp chỉ huy tài ba đảm lược, những chiến công hầu hết là nhờ vào máu xương của anh em binh sĩ. Không biết tôi đã hướng dẫn họ được những gì, nhưng chắc chắn tôi đã học được ở họ sự trung thành, lòng can đảm và nhiều kinh nghiệm chiến trường. Trong hơn mười năm chiến trận, tôi từng được thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận và nhận một số huy chuơng tưởng thưởng. Nhiều lúc trầm tư, tôi phân vân không hiểu đó có phải thực sự là công trạng của mình, khi hình dung đến khá nhiều khuôn mặt đồng đội dưới quyền đã hy sinh, trong lúc mình vẫn đang còn sống? Tôi không bao giờ quên được những ánh mắt của họ đã nhìn tôi trước khi trút hơi thở cuối cùng. Không biết họ muốn trăng trối, gởi gấm hay oán trách điều gì. Tôi thường giành phần để được vuốt mắt họ khi tình hình có thể, như muốn thay một lời tạ lỗi, ít nhất là đã không bảo vệ được họ. Lời người xưa bao giờ cũng đúng “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Tôi không hề dám mơ tưởng đến chuyện làm tướng bao giờ, nhưng dù chỉ là một sĩ quan cấp nhỏ, tôi cũng đã mắc nợ khá nhiều xương máu của đồng đội anh em, mà chắc chắn sẽ không bao giờ còn trả được.

Phục vụ trong một đơn vị Bộ Binh bình thường, nhưng chúng tôi chưa hề một lần bại trận. Ngay cả những trận chiến gay go, đẫm máu nhất, với lực lượng địch đông gấp nhiều lần và vũ khí tối tân hơn, chúng tôi vẫn chiến thắng vẻ vang, như trận phản phục kích trên QL-20 gần Di Linh (Lâm Đồng), trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Phan Thiết, trận phản công tiêu diệt một lực lượng biển người của địch tại Pu-Brang (Quảng Đức) và đặc biệt nhất là trận chiến Kontum mùa Hè 1972. Vậy mà cuối cùng chúng tôi bỗng dưng trở thành những người bại trận. Bi thảm và tủi nhục hơn là dù có gãy súng, buông súng hay không, chúng tôi cũng thuộc về phía “đầu hàng” theo lệnh của ông tướng mới lên làm tổng thống ba ngày, nhân danh Tổng Tư Lệnh. Sau này, có người bảo ông làm đến đại tướng mà ngây thơ, nghe theo lời dụ dỗ, móc nối của ai đó và một người em ở phía bên kia, tin Cộng sản sẽ thành lập “chính phủ ba thành phần”. Có người lại bảo ông giành chức tổng thống chỉ để làm một điều duy nhất – đầu hàng. Cũng có người bênh vực, bảo nhờ ông đầu hàng nên tránh được một cuộc tắm máu, và có đủ thời gian cho một số người kịp chạy đến Subic Bay hay đảo Guam, sang Mỹ sớm. Là một thằng lính năm tháng ở trong rừng núi, ngộp thở với bao nhiêu thứ lệnh lạc trên chiến trường, tôi không biết gì về chính trị, nhất là các biến cố dồn dập, hỗn độn trong những ngày cuối cùng tại thủ đô Sài gòn, nhưng tôi cảm thấy “nhục!”

Trong chiến tranh, thắng bại dù sao cũng là lẽ thường tình. Cuộc nội chiến Mỹ 1861-1865, Nam quân đã đầu hàng Bắc quân, và trong Đệ Nhị Thế Chiến, nước Nhật hùng mạnh đã phải đầu hàng quân đội Đồng Minh, sau khi hai quả bom nguyên tử do Mỹ thả xuống thành phố Hiroshima và Nagasaki. Kẻ chiến thắng đã hành xử văn minh, nhân bản như thế nào, cho dù các cuộc chiến ấy cũng vô cùng tàn khốc, cướp đi rất nhiều sinh mệnh của hai bên – cả dân lẫn lính. Nhưng cuộc bại trận của chúng tôi sao mà phẫn uất và đau đớn quá. Bị đồng minh phản bội, bỏ rơi trong đành đoạn, tức tưởi. Thua một kẻ địch không đáng để thua. Và một chế độ tự do nhân bản, văn minh, phồn thịnh lại phải đầu hàng một chế độ man rợ, nghèo nàn, lạc hậu. (Có lẽ trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa từng có những người lính nào ở phe thắng trận lại ngồi khóc ở vệ đường trên phần đất vừa mới chiếm được – như trường hợp nhà văn bộ đội Dương Thu Hương và có thể còn nhiều người khác nữa– bởi nhận ra mình bị lừa dối, uổng phí cả một thời trai trẻ để đi “giải phóng” một đất nước tự do, văn minh, giàu có, hạnh phúc gấp vạn lần xứ sở của mình.)

Điều đau lòng và đáng tủi nhục hơn là thua quá nhanh. Hai cuộc triệt thoái sai lầm tệ hại, từ Pleiku theo Tỉnh Lộ 7B của Quân Đoàn II và từ bờ biển Thuận An của Quân Đoàn I, dự trù theo đường biển, đã thất bại quá nặng nề bi thảm, không những làm mất hai quân đoàn ở những tuyến đầu cùng cả một sư đoàn tổng trừ bị tinh nhuệ, mà quan trọng hơn, làm mất tinh thần và niềm tin chiến đấu cho quân, dân cả nước. Điều đau đớn và tội nghiệp nhất của người lính chiến là khi họ không còn niềm tin vào cấp chỉ huy, lãnh đạo của mình. Đánh giặc mà không có hậu phương, không còn được tiếp tế, không có viện binh, có nơi không có cả cấp chỉ huy, và nhất là không biết cắt bỏ đất đến đâu, thì trận đánh đó trở thành bi thảm, niềm tin chiến thắng trở nên rất mong manh, vô vọng, người lính nếu còn chiến đấu chỉ vì tình đồng đội và tự vệ cho sự sống còn của chính cá nhân mình.

Mặc dù ghi được hai điểm son cuối cùng trong quân sử (– Tại Ban Mê Thuột, chỉ một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung Đoàn 53 được tăng cường hai Trung Đội PB 105 ly và một Đại Đội Trinh Sát, dưới sự chỉ huy của Trung Tá Võ Ân, quyết tử thủ tại căn cứ B50 bên phi trường Phụng Dực, đã dũng cảm chống trả một lực lượng hùng hậu của địch, với quân số gấp 5, 7 lần cùng nhiều chiến xa T-54, bao vây đúng một tuần sau khi cả thành phố Ban Mê Thuột đã thất thủ, tiêu diệt nhiều đơn vị, chiến xa địch, cho đến khi cạn đạn dược, phải mở đường máu thoát ra – và tuyến thép Long Khánh của Tướng Lê Minh Đảo đã cầm chân cả hơn một quân đoàn Cộng sản gần hai tuần lễ, gây tổn thất nặng nề cho địch, làm ngỡ ngàng cả thế giới, nhất là Tòa Bạch Ốc); nhưng cũng chỉ đúng 50 ngày, kể từ khi mất Ban Mê Thuột, một quân lực hùng mạnh gần như tan rã,  và cả miền Nam mất vào tay giặc!

Ngoại trừ phần lớn lực lượng Hải Quân và Lữ Đoàn I Nhảy Dù có phương tiện ra đi theo kế hoạch, một số thuộc các đơn vị Không Quân, và từng nhóm hoặc cá nhân mang theo gia đình tự vượt thoát bằng các loại phi cơ, ghe tàu kiếm được, hầu hết còn lại phải vào tù, từ những tướng lãnh đến sĩ quan mới ra trường, có cả một số hạ sĩ quan giữ những chức vụ liên quan tới an ninh, tình báo. Một số không nhỏ đã bị “bên thắng cuộc” tàn sát dã man tại địa phương, ngay sau khi cướp lấy chính quyền. Đặc biệt đáng kính phục, một số tướng lãnh cùng nhiều cấp chỉ huy và binh sĩ khí phách đã tự sát vào giờ thứ 25 để giữ tròn tiết tháo. Cả một miền Nam thua trận đã nhanh chóng trở thành một vùng đất chết, khốn cùng, bi thảm. Tiền bạc (có được từ mồ hôi nước mắt và có khi bằng xương máu) bỗng chốc không còn giá trị, nhà cửa, tài sản bị cướp sạch dưới danh nghĩa tịch thu, rất nhiều gia đình từ ông bà già đến những đứa con nít sơ sinh bị xua đuổi, cưỡng bách đi đến những nơi rừng thiêng nước độc. Người dân có cảm giác như bị lưu đày ngay trên chính quê hương mình. Tương lai chỉ còn là những cơn ác mộng. Thời ấy, mọi người chỉ còn biết nhìn ra biển khơi mênh mông để ước mơ một sự đổi thay nào đó ở phía bên kia chân trời mịt mờ vô định. Và còn gì đau đớn hơn khi con người nghĩ tới chuyện phải bỏ quê hương ra đi lại là một niềm khát vọng!

Hơn tám năm bị đày ải qua nhiều trại tù Nam-Bắc, ngày trở về tôi không còn được nhìn lại mặt cha mình. Ông đã chết sau gần một năm bị bắt vào một trại tù khác trong Nam khi tuổi sắp 70. May mắn là tôi còn người vợ chung tình cùng tôi qua bao cuộc biển dâu, bươn chải nuôi đàn con dại, cho dù bữa no bữa đói.

Nhìn thấy vợ con đói khổ, tả tơi, mình chẳng có thể giúp được điều gì, mà còn tạo thêm gánh nặng, cuối cùng, chỉ còn cách duy nhất – đem hết sinh mạng cả nhà để đánh một canh bạc cuối cùng – vượt biển.

                                                           ***

Tôi đến trại tị nạn khi phong trào kháng chiến, phục quốc đang trong thời kỳ đỉnh điểm. Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam do vị tướng Hải Quân Hoàng Cơ Minh lãnh đạo, nghe nói có căn cứ, chiến khu ở đâu đó trên đất Thái Lan gần biên giới Lào-Việt. Có cả tờ báo và đài phát thanh Kháng Chiến. Tôi cùng rất nhiều anh em nức lòng hăng hái tuyên thệ để được trở thành đoàn viên. Đứng trước bàn thờ tổ quốc, đưa tay lên chào lá quốc kỳ, hô mấy lời thề mà trong trái tim bừng lên khí thế và nước mắt rưng rưng cảm động. Nhiều người sẵn sàng trở về chiến đấu. Riêng tôi còn tin tưởng và phấn chấn hơn khi được xem cuốn phim quay trong “chiến khu quốc nội”, nhận ra người bạn học đồng hương thân thiết, một sĩ quan TQLC, là kháng chiến quân cầm súng đứng bên cạnh Trung Tá Lê Hồng (bấy giờ được gọi là Thiếu Tướng Đặng Quốc Hiền), dưới lá cờ vàng phất phới tung bay giữa núi rừng biên giới.

Tr/Tá Lê Hồng trong chiến khu

(Trung Tá Lê Hồng là một cấp chỉ huy nổi tiếng trong binh chủng Nhảy Dù, mà tôi từng biết danh và kính phục. Ông xuất thân từ người lính binh nhì và hầu hết những cấp bậc đều được vinh thăng tại mặt trận. Sau trận chiến Long Khánh lẫy lừng, cùng sát cánh với SĐ 18 của Tướng Đảo, ngăn chặn hằng cả quân đoàn Bắc Việt có nhiều chiến xa, trên đường tiến chiếm Sài gòn, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù di chuyển về Gò Công, tìm đường để về Vùng 4 chiến đấu cùng Tướng Nguyễn Khoa Nam, nhưng đã quá muộn, không còn thời gian và cơ hội nữa. Với chức vụ Lữ Đoàn Phó LĐ1/ND, Trung Tá Lê Hồng đã thừa lệnh vị Lữ Đoàn Trưởng tìm mua ghe thuyền đưa toàn quân ra biển. Và đó là đơn vị Lục quân tác chiến duy nhất đã di tản toàn bộ đến Hoa Kỳ.)

Nhưng chỉ vài tuần, sau ngày “Đại Hội Chính Nghĩa” của Mặt Trận tổ chức rầm rộ tại Washington DC-Hoa Kỳ thì chúng tôi dồn dập nhận được bao nhiêu tin tức không vui. Một số lớn cán bộ chủ chốt và đoàn viên tách ra, chia làm hai ba nhóm, lên án tố cáo lẫn nhau, lộ ra nhiều điều không thật. Chúng tôi ở tít mù xa nên chỉ biết tạm thời “án binh bất động.” để giữ tình anh em, chiến hữu. Chưa kịp phản ứng gì thì nghe tin vị Tướng lãnh đạo cùng nhiều cán bộ, kháng chiến quân đã hy sinh tại Nam Lào. Hình ảnh và tin tức có đầy trên báo chí, truyền hình Cộng sản. Lực lượng “quốc nội” xem như tan rã. Thằng bạn tôi có tên trong danh sách “bị giết”, Trung Tá Lê Hồng cũng không còn (sau này nghe nói ông chết trong chiến khu vì trọng bệnh). Như một quả bóng căng đầy bị xì hơi, chúng tôi chẳng còn gì để hy vọng. Tôi đau đớn rời khỏi tổ chức mà mình đã hết lòng góp công gầy dựng. Nỗi buồn lại tăng lên gấp bội, khi những người chết, dù gì họ cũng đã hy sinh vì Tổ quốc, lại không hề được chính thức công bố, truy điệu, vinh danh. Tôi ra phía sau nhà, đứng một mình trong bóng đêm, đốt ba nén hương hướng về phương Đông để tưởng nhớ thằng bạn cũ mà trong lòng ngậm ngùi đau đớn. Sau này tôi có dịp liên lạc được với vợ con nó, sống rất nghèo khổ ở Việt nam, ngay quê vợ tôi. Ông bà nhạc tôi từng cưu mang đứa con trai lớn của nó một thời gian, lo cho việc ăn ở, học hành.

Những năm đầu định cư, sống trên vùng Bắc Âu băng giá, tôi càng lạnh lẽo hơn khi biết tin người anh hùng Trần Văn Bá, Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở Pháp cùng các ông Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh và một số thành viên trong Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Giải phóng Việt Nam bị bắt khi xâm nhập vào bờ biển Cà Mau. Sau đó anh Bá đã bị CS xử bắn cùng nhiều người khác. Trên bàn thờ nhà tôi, có thêm tấm di ảnh của anh. Anh rất xứng đáng để được vinh danh như một vị anh hùng.

Anh hùng Trần Văn Bá

Một tổ chức khác, Liên Minh Quang Phục Việt Nam của ông Võ Đại Tôn, một cựu sĩ quan cao cấp, từ Úc Châu, gạt lệ từ giã vợ trẻ con thơ tìm đường về phục quốc. Tôi hoàn toàn không biết gì về sách lược hay kế hoạch của ông cho đến khi nghe tin ông bị bắt. (Sau này bất ngờ được xem cuốn phim quay cảnh ông bị cộng sản đưa ra một cuộc họp báo quốc tế tại Hà Nội ngày 13.7.1982. Cuốn phim do phóng viên Neil Davis của NBC News cùng ký giả Mori của đài truyền hình NHK/ Nhật Bản, thực hiện và may mắn được mang ra khỏi Việt Nam để trình chiếu trên đài truyền hình Tokyo, Nhật Bản. Chắc chắn bọn cầm quyền Hà Nội đã áp lực để bắt ông phải nói theo sự dàn dựng của chúng, nhưng ông đã khôn khéo lừa dụ địch, tương kế tựu kế, nhằm đưa được tiếng nói của mình ra bên ngoài thế giới. Trước nhiều phóng viên của các nước cộng sản và thế giới tự do, với nét mặt đanh thép và giọng nói dõng dạc, hùng hồn ông tuyên bố (nguyên văn): “Tổ chức của tôi có cơ sở tại Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Úc. Trong một mục đích của tổ chức, chúng tôi có kế hoạch dự trù xâm nhập trở về Việt Nam để tìm hiểu tình hình và từ đó sẽ đặt kế hoạch cho tương lai. Vì lẽ đó, tôi sẽ không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ, ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục lập trường chính trị của tôi để tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi đã sẵn sàng nhận bất cứ bản án nào mà chế độ Công sản dành cho tôi”

Cả hội trường im bặt, các phóng viên quốc tế sửng sốt, đám cán bộ cộng sản nhìn nhau ngơ ngác. Cuộc họp báo buộc phải dừng lại bởi xem như bất thành với ý đồ của đám người tổ chức (thuộc Bộ Thông Tin Văn Hóa CS).

Niềm hạnh phúc vỡ òa trong trái tim tôi, hãnh diện về một vị đàn anh khí phách, nhưng sau đó lo lắng cho số phận của ông.

Ông Võ Đại Tôn trong buổi họp báo của CS tại Hà Nội

Sau mười năm bị hành hạ kiên giam trong ngục tối, nhờ sự can thiệp của chính giới quốc tế và Úc Châu, ngày 11.12.1991, ông được trở về Úc với thân xác gầy gò còn hằn những vết đòn thù. Nhiều báo chí trên thế giới và hầu hết cộng đồng người Việt khắp nơi ca ngợi ông như một anh hùng, nhưng rồi cũng có ít người chê trách, kể cả miệt thị ông. Một lần nữa, tôi có cảm giác cay đắng, ngậm ngùi. Dù gì, lòng can đảm, tính khí khái và sư hy sinh lớn lao của ông cũng đã quá đủ để làm tôi kính phục. Xưa nay mấy ai đem chuyện thành bại mà luận anh hùng. Và với tôi, ông xứng đáng là một anh hùng.

Rồi tất cả cũng từ từ đi vào quên lãng. Chuyện kháng chiến, phục quốc lắng xuống, nhưng mầm móng chia rẽ, nghi kỵ bắt đầu. Niềm tin mất dần, và dường như lòng một số đông người Việt tị nạn cũng dần dà chán chường, nguội lạnh.

                                                               ***

Vừa bỏ lại đằng sau gần mười năm khốn cùng tăm tối, lại vừa thoát chết trên biển Đông, giờ mới bước lên bến bờ tự do thì gặp bao nhiêu điều hụt hẫng đau lòng, tôi không còn muốn nhìn lại vùng bóng tối phía sau lưng bằng cách dồn hết nỗ lực hòa nhập vào quê hương mới.

Đời sống ở vùng Bắc Âu thật an bình, dân tình hiền hòa, đất nước thơ mộng với rừng núi, sông hồ quanh năm tĩnh mịch, như là những liều thuốc nhiệm mầu tưởng chừng có thể chữa lành được những vết thương còn lại trong lòng mình.

Tám năm sau, nhân dịp đưa ba cô gái sang Mỹ học, tôi có dịp gặp lại một số đồng đội và bạn cùng tù cũ. Thời gian này, đã có nhiều đợt cựu tù “cải tạo” đến Mỹ theo diện HO. Rất vui và cảm động qua bao cuộc trùng phùng. Một chiều cuối tuần, chúng tôi theo anh bạn, trước kia là tiểu đoàn trưởng, đến tham dự buổi họp mặt binh chủng của anh, một binh chủng từng vang tiếng một thời, được tổ chức tại một nhà hàng lớn trong khu Little Saigon. Rất đông đảo người tham dự. Sau gần hai mươi năm tôi mới thấy lại nhiều anh em mặc quân phục, có vài người mang cả cấp bậc, và lần đầu tiên ở hải ngoại, chứng kiến một nghi lễ rước quốc, quân kỳ và chào cờ, với đầy đủ súng ống, có cả tiếng kèn đồng thổi bài truy điệu, tôi đã xúc động, nước mắt tuôn trào. Sau khi vị trưởng ban tổ chức giới thiệu thành phần ban chấp hành và đọc qua tiểu sử cùng những chiến công hào hùng của binh chủng, một vị tướng đại diện cho binh chủng được trịnh trọng mời lên sân khấu để “có đôi lời” cùng anh em đồng đội. Mái đầu đã bạc, nhưng phong cách của ông vẫn uy nghi, lời nói dõng dạc, lẫn chút xúc động khi nhắc đến những “thằng em” còn nằm lại ở chiến trường, hay đã chết trong tù ngục. Không khí như trầm xuống. Nước mắt tôi lại trào ra. Sau đó, tiếng nhạc nổi lên và cả chương trình dài còn lại dành cho văn nghệ, dạ vũ. Sự đổi “tông” ấy đã làm tôi hụt hẫng, tiếc nuối. Như một giấc mơ đẹp đẽ bỗng biến mất bởi những hình ảnh và âm vang đưa tôi trở về thực tế. Giá mà tôi rời khỏi hội trường sớm, sau phần nói chuyện của ông tướng thì hay biết bao nhiêu. Chắc tôi còn giữ được trong lòng nhiều hơi ấm cùng chút niềm kiêu hãnh hiếm hoi.

Thời gian sau này, sau khi về hưu, tôi sang Mỹ sống nhiều hơn, đã làm quen với các sinh hoạt ở đây, dần dà rồi cũng thấy bình thường trước bao điều nhân tình thế thái. Nhưng tôi vẫn thấy nao lòng, khi chứng kiến những đồng đội của mình ngày một già thêm và bộ quân phục trên người không còn tạo cho họ cái oai phong, đẹp đẽ của ngày xưa, cái thời mà hầu như bản nhạc nào của miền Nam cũng nhắc đến và ca ngợi họ như những người hùng lý tưởng của các cô nữ sinh Gia Long, Trưng Vương, Bùi Thị Xuân, Đồng Khánh, các cô sinh viên Văn Khoa, Luật Khoa trên những con đường tình có lá me bay, cây dài bóng mát…, hay hình ảnh đẹp đẽ oai phong trong các cuộc diễn binh vào những Ngày Quân Lực năm nào, giờ thỉnh thoảng vẫn còn được nhìn thấy lại trên các video.

Một hôm, tôi lặng người khi thấy trong cuộc diễn hành Tết trên đường phố Bolsa, có mấy ông bà mặc quân phục mang cả lon tướng, tá của nhiều quân chủng, mà tôi chưa hề nghe danh, biết mặt, bởi trông họ quê mùa, kệch cỡm, mang phù hiệu, giây biểu chương còn không đúng cách. Thì ra một đám tướng tá phường tuồng của một nhóm bệnh hoạn tự phong nào đó. Tôi giận đến phải buông ra mấy tiếng chửi thề và trách cứ ban tổ chức sao có thể để cho họ mạo nhận, diễn trò lố lăng như thế? Chẳng lẽ cái quân đội của chúng tôi từng có biết bao máu đào của hàng hàng lớp lớp chiến binh đổ xuống tô thắm màu cờ, giờ bị “xuống cấp” đến mức này sao? Từ đó, tôi không còn muốn có mặt trong các buổi họp mặt, diễn hành khi có những người mặc quân phục, mang lon lá một cách ô hợp, lố lăng như thế. Tôi không muốn phải đau lòng. Chính những hình ảnh tệ hại này đã nhắc nhớ, ám ảnh để tôi nhận ra mình là người lính trong đội quân thất trận, điều mà lúc nào tôi cũng muốn quên đi.

Cũng ở Mỹ, đặc biệt Tiểu Bang California, nơi từng được mệnh danh “thủ đô người Việt tị nạn” và “thành trì chống Cộng”, tôi đã phải chứng kiến bao điều thị phi, chia rẽ, nghe những lời miệt thị giữa những người từng một thời là huynh đệ, đồng môn, đồng đội, đã từng quỳ xuống trên cùng một vũ đình trường đưa tay lên “xin thề” trong ngày lễ ra trường, và cùng sống chết bên nhau trên những chiến trường ngập đầy lửa đạn. Gần như cộng đồng, tập thể nào cũng chia ba xẻ bảy. Còn sức mạnh nào để đối phó với kẻ thù xảo quyệt, gian trá, bạo tàn, khi thế hệ chúng tôi tuổi đã già, sức đã kiệt, và sẽ để lại được những hoài  bão gì cho con cháu mai sau?

Mảnh đất xấu là nơi cơ hội cho cỏ dại, thường là loại cỏ đuôi chó. Tôi thật sự buồn nôn khi nhìn thấy vài bộ mặt, nhận mình từng là người hùng của binh chủng này binh chủng nọ, nhưng chạy về khóc lóc, bợ đỡ kẻ thù. Nghe những lời xu nịnh của họ, mà tôi thấy lợm giọng.

Bạn bè chiến đấu cùng tôi ngày xưa, hay cả những đồng môn, huynh đệ xuất thân từ một quân trường, từng cùng quỳ xuống vũ đình trường đưa tay lên thề trong ngày lễ ra trường, giờ cũng bị những biến cố của dòng đời “lưu vong” này mà chia năm xẻ bảy. Tệ hơn có một số còn xem nhau như kẻ thù. Từ những bất đồng trong “kháng chiến”, “phục quốc” đến việc hội hè, đoàn thể, xây dựng tượng đài, tu sửa Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa, thậm chí đến cả việc ủng hộ hay chống TT Trump, và mới đây là chuyện “Recall” hay “No Recall” trong Hội Đồng Thành Phố Westminster- đã giết chết biết bao tình chiến hữu, đồng đội, đồng môn, huynh đệ một thời.

Tôi thực tình không hiểu nổi, chỉ cảm thấy đau lòng, xót xa, và nuối tiếc. Cái bóng ma cuộc chiến của hơn 45 năm trước mà tôi luôn muốn quên đi, giờ càng đè nặng lên tấm thân còm cõi, bóp nghẹt trái tim già nua của tôi, từng khát khao bao niềm hy vọng. Vết thương cũ trong lòng, tưởng có thể lành, giờ nhói đau trở lại. Và món nợ máu xương của bao đồng đội, đã hơn 45 năm rồi, biết đến khi nào mới trả được cho anh em!

Cầu xin hồn thiêng sông núi, anh linh tiên tổ và liệt vị anh hùng, tử sĩ phù trợ cho cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt những huynh đệ từng mặc áo lính của tôi, sớm dẹp bỏ mọi chia rẽ, tị hiềm, đưa tất cả quy về một mối, cùng một lòng hổ trợ đồng bào trong nước, để họ có đủ can đảm bước qua nỗi sợ hãi, cùng đứng lên làm ngọn sóng thần nhận chìm chế độ Cộng sản man rợ, độc tài, tham nhũng, bán nước cầu vinh, để con cháu đời sau không còn bị nợ nần, ô nhục, xích xiềng, vươn lên sánh vai ngẩng mặt tự hào cùng năm châu bốn bể.

Một chế độ đi ngược lại lòng dân và xu thế phát triển của nhân loại, tất yếu phải bị đào thải. Vấn đề còn lại chỉ là thời gian – và sẽ biến thiên tùy theo những trái tim có cùng nhịp đập.

Tháng 4/ 2020
Phạm Tín An Ninh