Sunday, February 1, 2026

VỀ CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC UKRAINE CỦA PUTLER – NGÀY 31/1/2026  (Phúc Lai GB / Facebook)

 



VỀ CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC UKRAINE CỦA PUTLER –. NGÀY 31/1/2026    

Phúc Lai GB 

30 tháng 1, 2026  lúc 23:25 

https://www.facebook.com/phuc.lai.07/posts/pfbid02YnjptDwC9f1zSdfMCtXMQT241gMx4r3YQjKZixMKRAT3h6LPCu1GWjFLSmNRvFPDl

 

VỀ CUỘC CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC UKRAINE CỦA PUTLER – NGÀY 31/1/2026

 

1. Về một vài động thái chính trị – kinh tế – ngoại giao của Kazakhstan

Xin xem ảnh đính kèm, từ bài của Linh mít.

 

Dưới nhãn quan địa chính trị, việc Tổng thống Tokayev công khai con số 14 tỷ USD rửa tiền và siết chặt hệ thống ngân hàng không đơn thuần là tuân thủ kỹ thuật, mà là một thông điệp chính trị. Kazakhstan đang thực hiện một chiến thuật thoát Ng@ lặng lẽ nhưng khá dứt khoát về kinh tế nhưng vẫn giữ quan hệ ngoại giao.

 

Họ không tuyên bố rời CSTO (để tránh bị Ng@ can thiệp quân sự như năm 2022), nhưng lại cắt đứt mạch máu tài chính của Ng@. Việc siết chặt số định danh và sinh trắc học với người Ng@ cho thấy Kazakhstan đang xây dựng một hàng rào số hóa để ngăn chặn làn sóng người Ng@ tràn sang gây bất ổn xã hội và lũng đoạn kinh tế.

 

Hành động của Tokayev có thể bị đánh giá là nguy hiểm nhưng cần nhìn rõ về tính thời điểm. Ông ấy lợi dụng lúc Ng@ đang kiệt quệ tại Ukraine để thoát dần khỏi sự khống chế của Mục-tư-khoa. Tuyên bố của Putler về “thế giới đa cực” thực chất chỉ là một khẩu hiệu trống rỗng khi Ngay cả đồng minh sát sườn cũng không muốn dùng chung hệ thống ngân hàng. Việc Kazakhstan siết chặt sinh trắc học với người Ng@ cho thấy họ coi “người anh em” cũ là một nguy cơ an ninh hơn là một đối tác.

 

Hãy nhìn lại hồi đầu năm 2022 khi quân đội Ng@ (dưới danh nghĩa CSTO) tràn vào Almaty để giúp Tokayev ổn định tình hình. Putler tưởng rằng việc đưa quân sang cứu ghế của Tokayev sẽ biến Kazakhstan thành một “Belarus thứ hai” – một chư hầu phục tùng tuyệt đối, nhưng hóa ra Tokayev không đơn giản như vậy. Ông ta mượn quân Ng@ để dẹp loạn và thanh trừng phe cánh của cựu Tổng thống Nazarbayev, sau khi xong việc, ông tiễn quân Ng@ về nước ngay lập tức và bắt đầu quá trình “phi Ng@ hóa” âm thầm nhưng quyết liệt.

Tokayev không chỉ dừng lại ở kinh tế, mà nó mang tính chất của một chiến dịch phòng thủ quốc gia trước một thảm họa đang được dự báo từ trước. Bởi vì Tokayev là một nhà ngoại giao kỳ cựu đã từng làm việc tại Liên Hợp Quốc, nên tôi tin khả năng nắm được diễn biến của ông rất nhạy bén.

 

Đến đây, chúng ta phần nào hiểu được tình thế của Kazakhstan và Ukraine giống và khác nhau như thế nào. Giống ở chỗ, Ng@ thường xuyên thao túng, lũng đoạn, xây dựng nhiều vây cánh thân Ng@, tài trợ cho các hoạt động chống xu hướng thoát Ng@ cũng như các hoạt động gián điệp chống xu hướng thân phương Tây của Chính phủ. Một điểm khác với Ukraine là Kazakhstan gần Trung Quốc, và ảnh hưởng của Trung Quốc càng ngày càng mạnh. Động thái này của Tokayev cũng nhằm đúng lúc Trung Quốc đang có khó khăn về kinh tế, xã hội và rối ren về chính trị thượng tầng.

 

Việc Tokayev xây dựng “hàng rào số hóa” chính là để đối phó với ba kịch bản hỗn loạn của nước Ng@ mà ngay cả chúng ta cũng đã nhìn thấy. Tokayev nhận ra rằng nếu Putler thất bại hoặc nước Ng@ rơi vào nội chiến/đảo chính, sẽ có một làn sóng di cư khổng lồ không kiểm soát đổ vào Kazakhstan. Trong dòng người đó không chỉ có dân thường trốn lính, mà còn có cả tội phạm, các phần tử cực hữu Ng@, và thậm chí là các đơn vị quân đội rệu rã mang theo vũ khí. Việc siết chặt định danh và sinh trắc học từ bây giờ là cách để Kazakhstan lọc người ngay từ cửa khẩu. Khi đó người Kazakh sẽ biết chính xác ai đang định đi vào nhà mình để ngăn chặn các kịch bản “người xanh” hay các nhóm bán quân sự gây loạn như đã từng xảy ra ở Donbas.

 

Động thái của Tokayev còn một mục đích nữa là ngăn chặn sự “ký sinh” kinh tế: nước Ng@ đang như một con tàu đắm, và những người giàu có hoặc các doanh nghiệp Ng@ đang tìm cách bám vào các nền kinh tế lân cận để tồn tại. Nếu không được kiểm soát, dòng tiền Ng@ sẽ lũng đoạn toàn bộ hệ thống tài chính Kazakhstan, biến nước này thành một “sân sau” rửa tiền và khiến họ chịu chung số phận bị cấm vận với Ng@.

 

Tokayev ứng xử theo cách: vẫn gặp Putler, vẫn tươi cười, vẫn dự họp CSTO nhưng tay thì đang dựng hàng rào.

 

Tokayev đang tự mình xây dựng một học thuyết mới cho các nước nhỏ hơn trong thế giới đa cực đầy biến động của năm 2026. Họ không nhất thiết phải chọn một ông chủ, mà phải chọn một thể chế, như Tổng bí thư Tô Lâm của chúng ta đã nói, nôm na là thứ cần đầu tiên là một “hệ điều hành” minh bạch hơn. Trung Quốc rất có thể sắp “ốm nặng” và Ng@ Putler thì chắc chắn sẽ đạt tới “điểm gãy” đẩy một nước đặc thù như Kazakhstan thoát khỏi vòng kiềm tỏa của các đế chế cũ, mà ở đây là hai đế chế hai bên và họ thì bị kẹp ở giữa, khó khăn hơn những nước như Việt Nam ta nhiều.

 

2. Những diễn biến chiến tranh Ng@ Ukraine vừa qua cho thấy, đúng như chúng ta dự đoán, Ng@ tuyệt đối bế tắc trên chiến trường, các nỗ lực huy động nhân lực chỉ đủ để trám vào thiệt hại trên chiến trường, không giải quyết được vấn đề gì cả về chiến thuật lẫn chiến lược.

Để bù đắp, Putler chọn phương án tấn công vào hạ tầng năng lượng khủng bố dân thường. Tình hình đã rất khó khăn cho cư dân Kyiv và cả một số thành phố khác. Khi một quân đội không còn khả năng đột phá về chiến thuật, chúng quay sang tấn công vào ý chí của dân thường. Đó không phải là biểu hiện của sức mạnh, mà là sự tuyệt vọng của kẻ sắp cạn vốn.

Putler đang đánh cược vào một “điểm gãy tâm lý”. Đối với dân chúng Ukraine, hắn muốn gây sức ép nội bộ, hi vọng sự khắc nghiệt của mùa đông sẽ khiến người dân Ukraine phẫn nộ với chính quyền #Zelenskyy, buộc Kyiv phải đàm phán dựa trên các điều kiện của Ng@ để có điện và có sưởi ấm trở lại. Đối với phương Tây, chiến thuật này được giải thích là “tiếp tục gây mệt mỏi”. Hắn muốn chứng minh rằng việc hỗ trợ Ukraine là một “cái hố không đáy” và hậu quả là làn sóng tị nạn năng lượng sẽ tràn vào châu Âu.

 

Vừa rồi một người bạn ở Kyiv cho biết, tình trạng mất điện liên miên cũng đã được cải thiện phần nào nhưng vẫn còn rất khó khăn. Tháng Giêng là tháng lạnh nhất, nhưng tháng Hai cũng vẫn sẽ rất khắc nghiệt… Nếu người dân Ukraine cầm cự được qua giữa tháng Hai, khi thời gian ban ngày bắt đầu dài hơn và nhiệt độ bắt đầu nhích lên, “nguyên soái mùa đông” của Putler chính thức thất bại. Hắn đã phí phạm hàng tỷ USD tên lửa chỉ để nhận lại sự căm thù sâu sắc hơn của người Ukraine.

 

Câu hỏi đặt ra là, khi đó hắn sẽ phải chọn phương án hành động gì tiếp theo, vì sức ép “điểm gãy” sẽ lại càng cận kề. Hiện tại theo thông tin của những “bà hàng nước”, trên chiến trường ngoài những khu vực hắn cho xua quân tấn công, phần lớn chiều dài mặt trận quân đội của hắn được lệnh chuyển sang phòng thủ chiến lược. Các biện pháp được áp dụng là đào hào, rải mìn dày đặc trên tất cả các vùng đang chiếm đóng để biến chúng thành những chiến lũy không thể vượt qua, đặt tất cả, nhất là người Ukraine phải chấp nhận một cuộc chiến đóng băng kéo dài nhiều thập kỷ. Đó là hành động ĐÃ DIỄN RA RỒI của Putler.

Nhưng sau khi “nguyên soái mùa đông” thất bại, cũng gần như chắc chắn hắn sẽ tiếp tục kích động “mặt trận thứ hai”. Vừa rồi trò mèo “đòi chiếm Greenland” của Trump đã bắt đầu phá sản, thế giới có vẻ chẳng sợ và Mỹ của Trump cũng gần như chắc chắn chẳng dám có hành động gì, đồng thời chỉ vài ngày nữa là tròn 1 tháng sự biến bắt cóc Tổng thống Venezuela, rõ ràng là chẳng giúp gì được cho nền dân chủ của nước này, độc tài còn nguyên. Tôi nghĩ những tuyên bố của Trump về Greenland cũng chỉ nhằm giúp Putler phân tán chú ý của châu Âu chứ cũng vô nghĩa trên thực tế.

 

Thực tế, Venezuela cách đây gần một tháng đã là sự thất bại của kịch bản “đánh bùn sang ao” của Trump. Sự biến bắt cóc Tổng thống Venezuela sau gần một tháng đã chứng minh đó là một nước đi vụng về, hoặc tệ hơn, là một sự thỏa hiệp ngầm. Ngay sau sự kiện đó, tôi đã viết là sẽ chẳng có gì thay đổi cho nước này, nền dân chủ chẳng được hưởng cái gì hết. Y như rằng, chế độ độc tài ở nước này còn nguyên. Chế độ Maduro (được Ng@ và Trung Quốc chống lưng) đã xây dựng một mạng lưới an ninh dựa trên sự sợ hãi và quyền lợi sát sườn của tầng lớp tướng lĩnh. Một vụ bắt cóc không kèm theo một cuộc tổng khởi nghĩa hay sự can thiệp quân sự quy mô lớn chỉ làm cho phe độc tài có cớ để siết chặt kỷ luật và thanh trừng phe đối lập. Hành động “như phim Hollywood” của đặc nhiệm Hoa Kỳ, đã tạo ra một ảo giác về hành động cho cộng đồng quốc tế, nhưng kết quả thực tế bằng không. Nó khiến người dân mất niềm tin vào các giải pháp bên ngoài, giúp độc tài tiếp tục Ng@ng nhiên tồn tại giữa vòng vây.

 

Ngộ nghĩnh nhất là sau cú bắt cóc, rât nhiều bác viết status trên mạng xã hội: “… (tôi, mình…) đi từ ghét Trump sang có cảm tình với ông ta…” và bây giờ, chúng ta nên lục lại những status đó để hỏi: “Chuyện tình cảm của bác với Trump ấy, sao rồi?”

 

Sau đó một thời gian không dài, Trump tiếp tục diễn trò, và lần này với Greenland. Mục tiêu của trò này là nhằm giúp Putler phân tán sự chú ý của châu Âu, và nó đúng với tính cách của Trump, loại người thích phá phách và “gọi việc sửa chữa hậu quả của những phá phách đó là xây dựng”. Khi Trump tung ra một yêu cầu phi lý hoặc gây tranh cãi với một đồng minh châu Âu (như Đan Mạch về Greenland), ông ta ngay lập tức buộc các lãnh đạo EU phải tốn thời gian, công sức và giấy mực để phản hồi, tranh luận và lo ngại về sự rạn nứt trong liên minh. Như tôi đã nhận xét, vấn đề Greenland của Trump thực tế là vô nghĩa, Hoa Kỳ của Trump sẽ không tự dưng mà đi chiếm hòn đảo, cũng như châu Âu cũng chẳng để cho việc này xảy ra. Đơn giản là, khi Putler đang tiến gần đến “điểm gãy” có thể xảy ra trong khoảng từ giữa tháng Hai đến cuối tháng Tư như tôi đã dự báo, hắn cần bất cứ thứ gì – từ một vụ lộn xộn ở Nam Mỹ đến một đòi hỏi kỳ quặc ở Bắc Cực. Vì vậy, tôi hoàn toàn tỉnh táo khi nhìn sự kiện Venezuela – có thể Ng@ mất thế chiến lược địa chính trị ở đây, nhưng nó là cần thiết.

 

Thế nhưng, những gì đang diễn ra trong những ngày cuối tháng Giêng năm 2026 này cho thấy châu Âu không hề “mắc bẫy” phân tâm của cặp tình nhân Trump – Putler. Ngược lại, họ đang chuyển từ trạng thái phòng ngự sang tấn công trực diện vào mạch máu tài chính cuối cùng của Putler.

 

#Thứ_nhất. Ngay hôm qua (29/01/2026), Pháp và các nước vùng Baltic đã thúc đẩy mạnh mẽ gói trừng phạt thứ 20. Khác với những gói trước vốn chỉ mang tính biểu tượng, gói này tập trung toàn lực vào việc vô hiệu hóa hoàn toàn đội tàu bóng tối. Hải quân Pháp vừa bắt giữ tàu chở dầu Grinch ở Địa Trung Hải. Đây là một thông điệp, hừm, “đanh thép”: châu Âu sẽ không chỉ ra văn bản cấm, mà sẽ dùng lực lượng thực thi pháp luật để chặn tàu trên biển (dùng từ “đanh thép” vốn chỉ có trên báo chí xứ Tây Luật Tân thường dùng mô tả cái hàm chó vó ngựa của bọn Lavrov thật thấy ngượng mồm). 14 quốc gia EU đã ra tuyên bố chung: bất kỳ con tàu nào dùng chiêu trò giả tín hiệu vị trí hoặc không có bảo hiểm minh bạch sẽ bị coi là “vô quốc tịch. Khi bị coi là vô quốc tịch, các quốc gia có quyền bắt giữ vô điều kiện.

 

#Thứ_hai. Đoạn tuyệt triệt để dòng năng lượng từ Ng@ – lộ trình 2026 – 2027, nghĩa là thực hiện ngay bây giờ. Ngày 26/01 vừa qua, Hội đồng Châu Âu đã phê duyệt một lộ trình cực kỳ quyết liệt, là cấm hoàn toàn khí đốt và LNG từ Ng@. Quyết định sẽ được áp dụng trong vòng 6 tuần tới. Đến năm 2027, Ng@ sẽ chính thức bị xóa sổ khỏi thị trường năng lượng châu Âu. Thôi xong phim. Lệnh này sẽ có tác dụng lên Ng@ ngay từ thời điểm một tháng rưỡi nữa, tức là giữa tháng Ba.

 

#Thứ_ba những hành động âm thầm nhưng quyết liệt trong hình thành cục diện quân sự mới để bảo vệ châu Âu

 

Trong đó, Pháp dần dần trở thành đầu tàu của mặt trận vừa hỗ trợ Ukraine, vừa đồng thời bảo vệ an ninh châu Âu. Hiện tại, hai phần ba (2/3) lượng thông tin tình báo cung cấp cho Ukraine hiện nay đến từ Pháp. Tổng thống Macron đã ký thỏa thuận vệ tinh với Kyiv từ tháng 2/2025, dự báo chính xác sự gián đoạn hỗ trợ từ Washington, coi như đã đi trước một bước, nhưng vẫn không kịp để tránh những hậu quả nghiêm trọng cho chiến trường Kursk… thật tiếc. Ukraine hiện đang vận hành một nền tảng chuyên biệt để phân tích hình ảnh từ hệ thống vệ tinh CSO-3 của Pháp, cho phép quét mục tiêu với độ phân giải cực cao (đến 18cm/pixel) và truyền tin chỉ trong vài phút. Đây chính là ‘con mắt thần’ giúp Ukraine thực hiện các đòn đánh tầm xa chính xác mà không cần dữ liệu từ Mỹ. Cần nhắc lại “câu chuyện Nhật Bản”, Tokyo cung cấp hình ảnh vệ tinh SAR (radar xuyên mây/đêm) từ công ty iQPS, giúp Ukraine theo dõi di chuyển của quân Ng@ bất kể thời tiết. Điều này cho thấy mạng lưới ủng hộ Ukraine đã vươn tầm toàn cầu, không còn bó hẹp trong khối NATO. Cuối cùng là dự án không gian đa quốc gia lớn nhất của NATO đang huy động dữ liệu từ vệ tinh của 18 quốc gia thành viên. Mục tiêu của nó là xây dựng một “khung xương” tình báo tự chủ. Một giáo sư người Đức đã nhận định rất thực tế: châu Âu không cần phải mạnh như Mỹ, họ chỉ cần vượt qua năng lực tình báo của Ng@. Và mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được trong 3 – 4 năm tới nhờ sự tích hợp công nghệ thương mại và quân sự.

 

Còn nữa. Việc Ba Lan sản xuất tên lửa cho Na Uy chính là mảnh ghép quan trọng tiếp theo sự lên ngôi của “Trục vũ khí Đông Á – Đông Âu” để thay thế dần tầm ảnh hưởng của Mỹ. Sự kiện Na Uy chọn hệ thống Chunmoo (K239) của Hàn Quốc và được Ba Lan sản xuất, thay vì HIMARS của Mỹ là một cú sốc địa chính trị thực sự đối với Trump và công nghiệp quốc phòng Hoa Kỳ. Ba Lan không chỉ mua hệ thống này của Hàn Quốc mà họ còn ký thỏa thuận với Hanwha Aerospace để lắp ráp dây chuyền sản xuất tên lửa dẫn đường ngay tại thành phố Gorzów Wielkopolski. Ba Lan sẽ sản xuất hơn 10.000 tên lửa dẫn đường chính xác (CGR-080). Điều này biến Ba Lan thành một trung tâm cung ứng cho toàn bộ các nước châu Âu đang dùng hệ thống này, bao gồm cả Na Uy và Estonia. Việc Na Uy chi 2 tỷ USD (19 tỷ kroner) để mua 16 bệ phóng Chunmoo cho thấy họ không còn tin vào nước Mỹ của Trump. Không nghi ngờ, động thái này chính là chiến lược đề phòng Ng@, trong kịch bản nước này trở nên nguy hiểm hơn.

 

Chúng ta cũng không nên quên, loại vũ khí này mang tiếng là tên lửa, nhưng thực chất nó được sử dụng như pháo binh (tốc độ triển khai tấn công nhanh chẳng hạn) và phần nào nó có cùng cách tiếp cận với pháo phản lực phóng loạt (MLRS), nhưng độ chính xác và tầm bắn xa hơn nhiều. Với tầm bắn 500km, loại vũ khí này đặt các căn cứ quan trọng của Ng@ tại Murmansk vào phạm vi hủy diệt của mình. Nếu trung tâm cung ứng đặt ở Ba Lan, coi như thế trận chiến tranh mặt đất (quy ước) đã là an bài với cặp bài trùng Putler – Lukashenko.

 

3. #nhận_xét#kết_luận

 

Nếu coi tháng Hai là “điểm gãy về quân sự và nhân lực” do sự bế tắc trên chiến trường và sự kiệt quệ của kho dự trữ, thì tháng Ba sẽ là “điểm gãy về kinh tế và địa chính trị” khi các đòn siết cuối cùng của châu Âu bắt đầu phát tác. Dầu khí là oxy của chế độ Putler. Khi EU xóa sổ LNG và khí đốt Ng@ khỏi thị trường, cộng với việc bắt giữ các tàu bóng tối trên biển, dòng tiền đổ về cho hầu bao của Putler sẽ không phải là “giảm sút” mà sẽ đột ngột bị cắt đứt. Khi thời điểm này đến, việc Ng@ không thể chi trả những hợp đồng mua hàng lưỡng dụng của Trung Quốc về để chế tạo UAV, sẽ bắt buộc Trung Quốc phải tìm cách siết chặt, việc hưởng tín dụng của các hợp đồng này coi như chấm dứt, cứ tiền tươi thóc thật là bán, không tiền, không bán… rồi dần dần, với những khoản nợ cũ, chủ hàng Trung Quốc sẽ tìm cách siết nợ cũ. Đánh nhau sứt đầu mẻ trán để giành tài sản của khách hàng Ng@ sẽ diễn ra trong năm 2026 này.

 

Vậy Putler sẽ hành động như thế nào? Trên đây chúng ta đã điểm qua chiến lược đầu tiên của Putler: chuyển sang phòng ngự cho kế hoạch kéo dài chiến tranh. Nhưng điều đó chưa đủ tạo ra điểm gãy đối với kế hoạch hỗ trợ Ukraine từ các nước châu Âu, hắn sẽ cần những cú sốc mạnh mẽ hơn.

 

Trong tuần qua, Ng@ đã liên tiếp sử dụng các loại tên lửa mới nhất như Oreshnik (tên lửa đạn đạo tầm trung) và Zircon được sản xuất Ngay trong năm 2026 để tấn công Ukraine. Đây chính là đòn “dằn mặt” hạt nhân nhưng bằng đầu đạn thông thường. Putler muốn chứng minh rằng hắn có những phương tiện vận chuyển mà hệ thống phòng thủ phương Tây không thể ngăn chặn. Việc sử dụng các vũ khí này ngay trước thềm tháng Hai cho thấy Putler đang rất vội, muốn tạo ra những cú sốc lớn mang tính đột ngột cao, để buộc Ukraine và phương Tây phải lùi bước trước khi “điểm gãy” của hắn đến.

 

Những hành động này cho phép chúng ta đưa ra nhận định gần như chắc chắn sẽ có những kịch bản, như một sự cố hạt nhân ở nhà máy điện tại Zaporizhzhia. Putler có thể không trực tiếp bấm nút, mà chỉ cần gây ra một “sự cố kỹ thuật” (ví dụ cắt hoàn toàn nguồn điện làm mát cuối cùng) để tạo ra một thảm họa phóng xạ. Đây là cách hắn tấn công mà vẫn có thể đổ lỗi cho “pháo kích của Ukraine.”

 

Mới nhất, vừa hôm qua (30/01), Ng@ tuyên bố không loại trừ khả năng tập trận vũ khí hạt nhân phi chiến lược với Belarus Ngay tại biên giới. Trò mèo này chính là nhắm vào châu Âu, cố tình gây căng thẳng. Điều đáng nói là, châu Âu nhẽ ra đang bị phân tán bởi trò mèo khác: Greenland của Trump, thì Putler như sợ bị lãng quên, lại quậy, và người ta lại cảnh giác hắn ta. Đúng là lúc thua bạc, càng cố thì càng gỡ vào chứ không có gỡ ra.

 

Vì vậy, theo tôi người Ukraine phải vượt qua được tháng Hai, có thể không lạnh bằng tháng Giêng nhưng thời điểm tuyết tan đã cận kề, nền nhiệt độ thì cao hơn nhưng độ buốt thì kinh khủng, nó giống mùa xuân nồm của ta còn cảm thấy lạnh hơn tiết rét hanh đại hàn. Về chiến trường, chắc chắn chẳng có gì thay đổi, quân Ng@ cứ xua quân lên, là ch.ết nhiều, xua lên, là thất bại. Những trò vè về hạt nhân thì là dao hai lưỡi, manh động quá thì chính nội bộ bọn chúng cũng phải xử Putler thôi. Trò khiêu khích hạt nhân chiến thuật hoặc phá hoại cơ sở hạt nhân Zaporizhzhia để ép thế giới phải dừng cuộc chơi theo ý mình, là cách “lật bàn cờ” khi biết mình chắc chắn thua thì cũng có thể dính sức ép trở lại và Putler tự đặt mình vào tình thế không có lối thoát cả về sinh mạng cơ thể vật lý. Khi đó, có thể kịch bản boong-ke sẽ diễn ra: hắn sẽ cố thủ trong một căn hầm bê-tông nào đó, cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài và ra lệnh thanh trừng bất cứ ai có ý định bàn hòa. Đây là lúc nước Ng@ của hắn rơi vào tình trạng “vô chính phủ cục bộ” làm tiền đề cho những sự kiện, phần lớn là hỗn loạn tiếp theo.

 

#Nga_xâm_lược_Ukraine #chiến_dịch_spiderweb #binh_chủng_lừa_chiến_nga

#bưng_bô_cho_hòa_bình #Battle_of_Kursk_2024 #Battle_of_Pokrovsk #battle_of_Bakhmut #Bình_loạn_của_Phúc_Lai

#ĐÉO_ĐẦU_HÀNG! #Russian_warship_go_fuck_yourself

#tên_lửa_hồng_hạc #flamingo_missile #peace_for_Ukraine #Mar_a_Lago_December_2025 #Kế_hoạch_hòa_bình_20_điểm #Zelenskyy #Xứng_danh_anh_hùng #Slava_Ukraine #SlavaUkraini

 

.

16 BÌNH LUẬN   

 

 




LỜI GIẢI CHO VẤN ĐỀ UKRAINE CÓ THỂ NẰM Ở KOSOVO (Paul Hockenos  -  Foreign Policy)

 



Lời giải cho vấn đề Ukraine có thể nằm ở Kosovo

Paul Hockenos  -  Foreign Policy

Viên Đăng Huy, biên dịch

30/01/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/01/30/loi-giai-cho-van-de-ukraine-co-the-nam-o-kosovo/

 

Sau gần một năm thực hiện các nỗ lực đầy hỗn loạn và ngắt quãng nhằm làm trung gian cho một lệnh ngừng bắn tại Ukraine, chính quyền Trump vẫn đang can dự sâu sắc vào các cuộc đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Không ngạc nhiên khi chủ đề gây tranh cãi nhất vẫn là vấn đề nhượng bộ lãnh thổ — mà theo cách gọi của Trump là “trao đổi đất đai”. Và cho đến nay, các nhà ngoại giao vẫn chưa đưa ra được giải pháp nào khả dĩ để giải quyết vấn đề này.

 

Sự khác biệt rõ rệt giữa bản kế hoạch 28 điểm có lợi cho Nga xuất hiện hồi tháng 11 năm 2025 và phiên bản sửa đổi của liên minh Ukraine – Mỹ – Châu Âu đã phơi bày khoảng cách mênh mông vẫn đang tồn tại giữa hai phía. Bản kế hoạch 28 điểm sự công nhận quốc tế đối với mọi vùng đất Nga đang chiếm đóng, đồng thời mặc định toàn bộ hai tỉnh Luhansk và Donetsk thuộc về Nga. Đề xuất này không khác gì một tối hậu thư buộc quân đội Ukraine phải đầu hàng, đồng thời tạo bàn đạp lý tưởng để Nga có thể tái khởi động chiến dịch quân sự trong một vị thế thuận lợi hơn về sau.

 

Bản phản đề 20 điểm kêu gọi đình chỉ giao tranh ngay tại tiền tuyến hiện tại, và lấy đó làm ranh giới tiếp giáp giữa hai bên. Đề xuất này kiên quyết bác bỏ tính hợp pháp của mọi vùng lãnh thổ mà Nga đã chiếm giữ ở miền Đông Ukraine hay Crimea. Phía Ukraine cho biết họ có thể chấp nhận các khu phi quân sự và đặc khu kinh tế tự do tại phần lãnh thổ Donetsk mà họ đang kiểm soát theo đề xuất của Washington, nhưng với điều kiện các vùng đất có diện tích tương đương do Nga nắm giữ cũng phải được áp dụng quy chế tương tự.

 

Chính khoảng cách lớn giữa hai đề xuất này là nơi Edward P. Joseph, chuyên gia phân tích chính sách đối ngoại Mỹ kiêm cựu đàm phán viên tại Balkan, đưa ra ý tưởng của mình

 

Trong một bài báo gần đây, Joseph đề xuất áp dụng khuôn mẫu từ Nghị quyết 1244 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UNSC), văn bản được thông qua vào tháng 6 năm 1999 nhằm khẳng định chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang Cộng hòa Yugoslavia (Serbia và Montenegro), nhưng đồng thời kêu gọi thiết lập một quy chế “sâu rộng và cơ chế tự quản thực chất cho Kosovo”. Sau cuộc bỏ phiếu nhất trí tại Hội đồng Bảo an, mọi lực lượng quân sự của cả Serbia và người gốc Albania tại Kosovo đều phải rút đi, nhường chỗ cho một chính quyền quản trị lâm thời của Liên Hợp Quốc cùng lực lượng an ninh quốc tế giám sát.

 

Gần 27 năm trôi qua, Kosovo vẫn duy trì vị thế là một vùng bảo hộ của Liên Hợp Quốc — dù trên thực tế, các quan chức Kosovo do dân bầu đang nắm quyền điều hành trên diện rộng và tự quản lý lực lượng cảnh sát của mình. Joseph lập luận rằng logic của Nghị quyết 1244 nằm ở việc trì hoãn câu hỏi pháp lý về chủ quyền — cụ thể là Kosovo thuộc về ai — và đây chính là chìa khóa cho nền hòa bình tương đối tại đây kéo dài kể từ năm 1999. Người Kosovo gốc Albania tự quản lý trong một hệ thống mà họ tuyên bố là một quốc gia độc lập, dù cả Serbia, Nga (cùng 5 thành viên EU và nhiều quốc gia khác) đều không công nhận điều đó. Về phần mình, Serbia vẫn coi Kosovo là một phần thuộc liên bang của mình theo đúng quy định của Nghị quyết 1244. Đáng chú ý, Nga với tư cách là thành viên thường trực Hội đồng Bảo an luôn ủng hộ Nghị quyết 1244 và kiên quyết yêu cầu văn bản này phải được tôn trọng một cách tuyệt đối.

 

Khi áp dụng vào Ukraine, thỏa thuận này có thể bao gồm việc một lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế  do Liên Hợp Quốc hoặc Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu dẫn đầu  sẽ thay thế Quân đội Ukraine tại các khu vực thuộc phía Tây Donbas vốn nằm trong tỉnh Donetsk nhưng hiện không bị Nga chiếm đóng. Trong khi đó, quân đội Nga vẫn sẽ đồn trú tại những vị trí mà họ đang chiếm giữ. Mọi tranh chấp về chủ quyền sẽ được gác lại cho đến khi các cuộc trưng cầu dân ý tại toàn bộ miền Đông Ukraine và Crimea cuối cùng định đoạt được chủ quyền của các vùng đất này.

 

Chắc chắn, đây sẽ là một viên thuốc đắng đối với Ukraine. Kyiv thậm chí sẽ đánh mất cả chủ quyền mang tính biểu tượng đối với vùng Donbas và các khu vực phụ cận. Tuy nhiên, bước ngoặt này sẽ cho phép Tổng thống Ukraine chấm dứt một cuộc chiến vốn đã gây ra những hệ lụy thảm khốc cho người dân — và mọi chuyện có thể còn tồi tệ hơn nếu Mỹ rút lui. Bất chấp những điều kiện hiện đang rất khó chấp nhận đối với đa số người dân Ukraine, Tổng thống Volodymyr Zelensky vẫn có thể thuyết phục được công chúng, bởi lẽ toàn bộ Donbas — hay thực tế là toàn bộ Ukraine trong đường biên giới năm 1991 — sẽ không ngay lập tức rơi vào tay Nga. Sau cùng, chính người dân tại cả năm tỉnh miền Đông Ukraine mà Nga đang cố chiếm lấy sẽ là những người đưa ra phán quyết cuối cùng về việc quốc gia nào có quyền cai trị họ. Nhờ đó, các cuộc trưng cầu dân ý giả tạo của Nga vào các năm 2014 và 2022 sẽ trở nên vô giá trị.

 

Về mặt có lợi cho Ukraine, sự hiện diện của lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế dọc theo các đường tiếp giáp sẽ hiện thực hóa một phần những cam kết đảm bảo an ninh mà ông Zelensky hằng tìm kiếm và mở đường cho những bước tiến xa hơn. Ukraine sẽ có một vùng đệm được hình thành bởi các lực lượng quốc tế án ngữ giữa mình và Nga. Ngoài ra, một thỏa thuận như vậy sẽ cho phép người dân Ukraine hiện đang sống ở phía Tây Donbas — khoảng 200.000 người sinh sống tại khu vực còn bám trụ bao gồm các thành phố Kostiantynivka, Slovyansk và Kramatorsk — được tiếp tục ở lại, đồng thời tạo điều kiện cho những người đã sơ tán có thể trở về trong một môi trường an toàn. Có thể sẽ có thêm các lực lượng quân sự khác — dù không phải của NATO — đóng vai trò là bên bảo đảm an ninh tại các vùng khác trên cả nước. Phương án này không quá khác biệt so với các đặc khu kinh tế tự do phi quân sự mà ông Zelensky từng tuyên bố Ukraine sẽ cân nhắc.

 

Bên khó thuyết phục hơn trong kế hoạch này chính là Nga, mặc dù họ cũng sẽ được hưởng lợi theo nhiều cách. Trước hết, thỏa thuận này sẽ chấm dứt một cuộc chiến đang bào mòn cả xương máu lẫn ngân khố quốc gia. Thêm vào đó, quân đội và các biểu tượng quốc gia của Ukraine sẽ không còn hiện diện tại những khu vực mà Nga đang khao khát. Dù kết quả này khiêm tốn hơn nhiều so với tham vọng thôn tính toàn bộ Ukraine, nhưng đây lại là một lối thoát giữ thể diện để Tổng thống Vladimir Putin thuyết phục người dân nước mình rằng những tổn thất khổng lồ của đất nước là không hề uổng phí. Ngoài ra, nếu việc nới lỏng trừng phạt được đưa vào gói thỏa thuận, Nga thực sự có thể sẽ cắn câu. Joseph lập luận rằng việc Nga từng tham gia vào Nghị quyết 1244 tại Kosovo sẽ làm tăng khả năng họ chấp nhận một kịch bản tương tự tại Ukraine, bởi Moscow đã quá hiểu cách thức vận hành của một quy trình chính trị như vậy.

 

Về phần mình, nhiều người Ukraine có lẽ sẽ phản ứng giống như cách nhà văn Oksana Zabuzhko trả lời câu hỏi của tờ Foreign Policy về đề xuất của Joseph: “Tôi không nghĩ rằng ‘kế hoạch hòa bình’ này — cũng như bất kỳ kế hoạch nào khác nhằm duy trì nhà nước Nga trong trạng thái hiện tại, thay vì làm nó sụp đổ vì lợi ích an ninh toàn cầu — là đáng để đưa ra thảo luận một cách nghiêm túc.”

 

Hơn nữa, người Ukraine có xu hướng bác bỏ ngay lập tức mọi sự so sánh với kịch bản Balkan.

 

“Tiền lệ Kosovo,” ông Volodymyr Horbach, Giám đốc Viện Chuyển đổi Bắc Á-Âu, một thinktank của Ukraine, đã viết trong email gửi tới tờ Foreign Policy, “không thể giải quyết được bài toán về sự xâm lược và chiếm đóng của Nga đối với Ukraine. Cuộc xung đột ở Kosovo là một cuộc xung đột sắc tộc, chứ không phải là một cuộc xâm lược từ thế lực bên ngoài với mưu đồ sáp nhập lãnh thổ”.

 

Hơn nữa, ông Horbach tiếp tục lập luận: “Những nỗ lực được gọi là kiến tạo hòa bình của Trump cũng không khả thi, bởi ông ta xuất phát từ việc đánh giá sai lệch các mục tiêu của người Nga trong cuộc chiến này. Chính những nỗ lực sai lầm đó đã khiến các quan sát viên lầm tưởng rằng trở ngại chính để chấm dứt chiến tranh nằm ở vấn đề lãnh thổ”.

 

Tất nhiên, Horbach hoàn toàn có lý khi cho rằng ý đồ của Putin không chỉ đơn thuần là xẻ từng mảnh đất ở miền Đông Ukraine, mà là nhằm khuất phục hoàn toàn quốc gia này và xóa sổ tư cách dân tộc của nó. Dẫu vậy, việc tham gia vào tiến trình đàm phán hiện nay vẫn mang lại những giá trị nhất định, nhất là khi các cuộc thảo luận đang diễn ra và Ukraine cũng đang chủ động dự phần.

 

Có lẽ sự phối hợp giữa Mỹ và Châu Âu có thể giúp đạt được một lệnh ngừng bắn, mang lại cho người dân Ukraine một quãng nghỉ quý giá — hy vọng là dài hơn thay vì ngắn ngủi — khỏi cuộc chiến tàn bạo này. Đây rõ ràng là điều ông Zelensky mong đợi. Và có lẽ chính Putin cũng đang dần phải chấp nhận thực tế rằng Nga sẽ không thể khuất phục hoàn toàn Ukraine, cũng như không thể chiếm thêm được phần lãnh thổ nào đáng kể so với những gì họ đang nắm giữ.

 

Ulf Brunnbauer, Giám đốc Viện Nghiên cứu Đông và Đông Nam Âu Leibniz tại Regensburg, Đức, chia sẻ với Foreign Policy qua email rằng những tư duy đột phá luôn được hoan nghênh và việc thiết lập các lối thoát danh dự cho cả hai bên là điều hoàn toàn hợp lý: “Vì vậy, một giải pháp thỏa hiệp có phần mập mờ ở thời điểm hiện tại dường như vẫn tốt hơn là một cuộc chiến không hồi kết. Ngay cả khi các khó khăn kinh tế của Nga đang chồng chất, họ có vẻ vẫn chưa cạn kiệt đạn pháo, tên lửa và quân lực — ít nhất là không nhanh bằng Ukraine. Sự thỏa hiệp [theo đề xuất của Joseph] ít nhất sẽ ngăn Nga chiếm thêm những vùng lãnh thổ mà sớm muộn gì Ukraine cũng buộc phải rời bỏ. Do đó, phương án này có lẽ vẫn có khả năng thuyết phục được phía Ukraine”.

 

Tuy nhiên, Brunnbauer cũng chỉ ra rằng Serbia từng bị buộc phải chấp nhận Nghị quyết 1244. Ông lập luận: “Họ đã không còn đủ nguồn lực quân sự để chống lại việc mất quyền kiểm soát thực tế đối với Kosovo”. Ngược lại, Nga hiện không chịu bất kỳ áp lực tương đương nào như vậy. “Sở dĩ UNMIK [Phái đoàn Hành chính Lâm thời của Liên Hợp Quốc tại Kosovo] được người Kosovo chấp nhận”, ông nói, “là bởi họ cảm thấy rằng, sớm muộn gì, chính họ cũng sẽ là người nắm quyền điều hành cuộc chơi”.

 

Và Nga, ông nhấn mạnh — cũng giống như bất kỳ người Ukraine nào — cho đến nay chưa bao giờ đàm phán một cách thiện chí, liên tục phá đổ hết thỏa thuận này đến thỏa thuận khác. “Do đó, tính khả thi của đề xuất này sẽ phụ thuộc vào sự hiện diện của một lực lượng quân sự đáng tin cậy để răn đe Nga”, Brunnbauer nói. “Tôi thực sự không thấy điều đó”.

Giống như nhiều người ủng hộ chính nghĩa của Ukraine, Brunnbauer đề xuất việc gia tăng áp lực lên Nga và chuyển giao thêm vũ khí để phía Ukraine cố gắng đóng băng tiền tuyến tại vị trí hiện tại — qua đó không buộc phải từ bỏ miền Tây Donbas hay các vùng lãnh thổ khác.

 

Peter Harris, một chuyên gia khoa học chính trị tại Đại học Colorado, lập luận rằng các cuộc trưng cầu dân ý được đề xuất chính là điểm bất khả thi. Ông cho rằng không bên nào muốn vấn đề lãnh thổ được định đoạt bằng một cuộc trưng cầu dân ý: “Đối với Ukraine, đó sẽ là một sự nhượng bộ khi thừa nhận rằng đây là những vùng lãnh thổ đang tranh chấp — và Nga có yêu sách [chính đáng] đối với chúng.” Về cơ bản, nếu Ukraine đồng ý với điều này, họ sẽ chấp thuận một quy trình pháp lý mà qua đó, những hành vi đánh chiếm bất hợp pháp tại các lãnh thổ miền Đông có thể trở thành hợp pháp. Ông nói thêm, theo quan điểm của Ukraine, không có bất kỳ nghi vấn nào về chủ quyền cả: “Một câu hỏi bị trì hoãn vẫn là một câu hỏi — và Ukraine không muốn thừa nhận rằng ở đây tồn tại một câu hỏi cần phải trả lời.”

 

Thêm vào đó, Peter Harris lập luận rằng những điều kiện thực tế tại hiện trường sẽ khiến bất kỳ hình thức trưng cầu dân ý nào cũng trở nên vô giá trị. “Ukraine sẽ không tin tưởng vào một quy trình như vậy bởi vì quá nhiều công dân của họ đã phải chạy nạn hoặc bị trục xuất, vậy thì làm sao họ có thể bỏ phiếu?” Nga đã đưa những người định cư thân Moscow vào, càng làm xói mòn tính chính danh của một cuộc bỏ phiếu phổ thông về chủ quyền, ông Harris viết. Ông cũng lưu ý một điểm quan trọng: Nga là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, vì vậy bất kỳ quy trình nào được thực hiện dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc cũng sẽ mang lại lợi thế cho Nga.

 

John Feffer thuộc Viện Nghiên cứu Chính sách, một thinktank của Mỹ, trong thư trao đổi với Foreign Policy, cũng nhận thấy một kế hoạch hòa bình như vậy có sức hấp dẫn lớn hơn đối với Ukraine vì nước này đang ở thế yếu. “Ông Zelensky từng đề cập đến việc tái sáp nhập Donbas thông qua các biện pháp phi quân sự. Nhưng tôi không thấy mô hình Kosovo có gì hấp dẫn đối với Putin vào lúc này”, ông viết. “Nga đã sáp nhập bốn khu vực vào lãnh thổ của mình — bao gồm Donbas cùng với Kherson và Zaporizhzhia. Nói cách khác, về phía Nga, họ coi như đã định đoạt xong xuôi vấn đề chủ quyền rồi”.

 

Bất kỳ quan sát viên tỉnh táo nào cũng sẽ phải thừa nhận rằng một thỏa thuận như vậy sẽ mang lại cho Nga một sự chính danh làm xói mòn luật pháp quốc tế và những khái niệm cơ bản về công lý. Tuy nhiên, đối với Ukraine, sau cuộc chiến đầy dũng cảm chống lại nước Nga của Putin, họ chỉ có cơ hội sống sót nếu Mỹ tiếp tục đứng về phía mình, hỗ trợ tình báo, cung cấp vũ khí và duy trì các lệnh trừng phạt.

 

Lựa chọn tốt nhất của Ukraine có lẽ là theo đuổi chính xác một thỏa thuận như vậy — để rồi sau đó chứng kiến nó sụp đổ dưới bàn tay của Nga. Ít nhất, điều đó sẽ chứng minh cho chính quyền Trump thấy một sự thật mà hầu hết các quan sát viên khác đều đã biết: Nga tham gia cuộc chiến này là để thôn tính toàn bộ Ukraine, bởi Moscow không thể chấp nhận một hệ thống chính trị hấp dẫn hơn chính mình tồn tại ngay sát biên giới. Có được một sự khẳng định chắc chắn như vậy có thể là một lựa chọn mà Ukraine không thể phép loại trừ.

 

----------------------------------------------------------

Paul Hockenos là một nhà báo đang làm việc tại Berlin.

 

Nguồn: Paul Hockenos, “Ukraine’s Answer Might Be Kosovo”, Foreign Policy, 26/01/2026

 

 

 

 

 


PHÁ MÌN DƯỚI ĐÁY BIỂN : LÍNH UKRAINE ĐI TRÊN LẰN RANH SINH TỬ (Laura Gozzi, Odesa / BBC News Tiếng Việt)

 



 

Phá mìn dưới đáy biển: Lính Ukraine đi trên lằn ranh sinh tử

Laura Gozzi, Odesa

BBC News Tiếng Việt

31 tháng 1 2026, 16:46 +07

https://www.bbc.com/vietnamese/articles/c62rqn2vg04o

 

Dưới Biển Đen đầy rẫy các vũ khí chết người, nhưng không ai biết số lượng bao nhiêu hay ở chỗ nào.

 

"Khi tiếp cận, chúng tôi phải thật yên lặng, thật chậm rãi – và thao tác cực kỳ chính xác," ông Vitalii vừa nói vừa uốn bàn tay như con rắn để mô tả cảnh bơi trong làn nước tối om, tiến về phía các thiết bị nổ nằm dưới đáy biển.

 

Người thợ lặn Hải quân Ukraine 31 tuổi, thân hình cao lớn nhưng nói năng nhỏ nhẹ này, thuộc đội 20 người được giao nhiệm vụ rà phá mìn ở những khu vực ở Biển Đen vẫn do Ukraine kiểm soát.

 

Mìn là một trong những tàn dư nguy hiểm và dai dẳng nhất của chiến tranh. Loại vũ khí này vẫn hoạt động và gây chết người trong nhiều thập kỷ; còn mìn trên biển lại tiềm ẩn thêm rủi ro, vì có thể trôi theo dòng chảy và bão tố.

 

Những quả thủy lôi do Moscow rải xuống vào đầu cuộc tiến công toàn diện – khi tàu Nga áp sát Odesa – cũng không phải ngoại lệ. Và mối nguy này không chỉ là lý thuyết: mùa hè năm ngoái, ba người đã thiệt mạng vì mìn khi bơi ở ngoài khơi bờ biển Odesa.

 

VIDEO :

Video thợ lặn ghi hình cảnh kích nổ các tên lửa thời Liên Xô dưới nước ở Ukraine

 

Chỉ huy nhóm tác chiến rà phá mìn của hải quân – một sĩ quan trẻ, ánh mắt sắc sảo, dùng mật danh Fox – ước tính số thủy lôi trên Biển Đen lên tới hàng ngàn quả.

 

Nhưng đó chưa phải là mối đe dọa duy nhất ẩn dưới mặt nước. Tên lửa, đạn pháo, bom và mìn trên bộ đã bị cuốn trôi ra biển khi đập Kakhovka bị phá hủy năm 2022. Những vật này cũng có thể phát nổ bất cứ lúc nào.

 

"Nếu nói chung về các loại đạn dược chưa nổ – tên lửa, đạn pháo, bom từ trên không – thì tổng số còn lớn hơn rất nhiều so với vài ngàn," sĩ quan Fox nói.

 

XEM TIẾP >>>>>  

 

 

 



CUBA TRÊN BỜ VỰC SỤP ĐỔ (Michael J. Bustamante – Foreign Affairs)

 



Cuba trên bờ vực sụp đổ

Michael J. Bustamante   -  Foreign Affairs  

Viên Đăng Huy, biên dịch  -   Nghiên Cứu Quốc Tế  

05/01/2026

https://nghiencuuquocte.org/2026/01/05/cuba-tren-bo-vuc-sup-do/

 

Vào năm 2014, sau khi chính quyền Obama và chính phủ Cuba công bố thỏa thuận khôi phục quan hệ ngoại giao, cả thế giới đã đổ dồn sự chú ý về Havana. Từ ban nhạc Rolling Stones cho đến các nhà đầu tư tiềm năng, tất cả đều vội vã tìm kiếm một vị thế tại hòn đảo này trong tương lai. Raúl Castro, người giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng lâu năm, đã tiếp quản quyền lực từ người anh trai đang lâm bệnh Fidel vài năm trước đó và triển khai những cải cách kinh tế vừa phải: cho phép nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ hoạt động hơn, nới lỏng các quy định về đầu tư nước ngoài và cắt giảm biên chế nhà nước. Sự kết hợp giữa việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ và quá trình actualización (hay “hiện đại hóa” – một uyển ngữ ưa thích của Đảng Cộng sản Cuba) dường như đã sẵn sàng để đưa hòn đảo này bước vào thế kỷ 21.

 

Đáng tiếc thay, Cuba đã không đạt được những kỳ vọng đó. Trong 5 năm qua, hơn một triệu người, chiếm hơn 1/10 dân số Cuba, đã rời bỏ đất nước, phần lớn là đến Mỹ. Ngày nay, dưới thời Chủ tịch Miguel Díaz-Canel, hòn đảo này đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất kể từ khi Liên Xô sụp đổ. GDP đã giảm 11% kể từ năm 2020. Mạng lưới điện đang dần sụp đổ. Lực lượng an ninh trấn áp gay gắt các cuộc biểu tình chống chính phủ. Vào tháng 10, cơn bão Melissa đã tàn phá miền Đông hòn đảo, làm hư hại hoặc phá hủy khoảng 90.000 ngôi nhà và 101.171 hecta đất canh tác. Hiện nay, đợt bùng phát dịch sốt xuất huyết và các loại virus do muỗi truyền khác đã đạt đến mức độ đại dịch.

 

Thảm kịch đang diễn ra tại Cuba một phần là kết quả của những cú sốc từ bên ngoài, chẳng hạn như cuộc bầu cử năm 2016 của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Sau khi nhậm chức, Trump đã khôi phục nhiều lệnh trừng phạt mà người tiền nhiệm đã dỡ bỏ. Ví dụ, từ năm 2019 đến năm 2020, ông đã hạn chế gắt gao các chuyến bay, kiều hối và hoạt động du lịch đến hòn đảo này. Đến năm 2021, ông đưa Cuba vào lại danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố, chủ yếu vì chứa chấp một số đối tượng lẩn trốn tòa án Mỹ. Tổng thống Joe Biden chỉ nới lỏng một phần các hạn chế này, và Trump đã khôi phục một số trong số đó trong nhiệm kỳ thứ hai của mình. Trong khi đó, đại dịch COVID-19 đã phát nát ngành du lịch của hòn đảo. Và khi chính quyền Trump thứ hai tăng cường chiến dịch gây sức ép ngày càng gay gắt nhằm lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro, sự sụt giảm vốn đã mạnh mẽ trong viện trợ dầu mỏ từ Caracas đến Havana trong những năm gần đây có nguy cơ trở nên tồi tệ hơn, khiến Cuba đối mặt với rủi ro mất đi đối tác kinh tế và địa chính trị quan trọng nhất.

 

Nhưng tình trạng khẩn cấp hiện tại cũng là một mớ hỗn độn do chính phủ Cuba tạo ra. Bất chấp những cải cách của Raúl, chính quyền vẫn không sẵn lòng đoạn tuyệt dứt khoát với mô hình kế hoạch hóa tập trung cứng nhắc của đất nước. Việc mở rộng khu vực tư nhân diễn ra không liên tục, và chính sách tiền tệ sai lầm đã góp phần gây ra lạm phát nghiêm trọng. Chính phủ cũng có ác cảm với bất kỳ thay đổi có ý nghĩa nào đối với hệ thống độc đảng. Kết quả là nền kinh tế hòn đảo vẫn mong manh và cứng nhắc, và sự hào hứng trước đây của Washington đối với việc can dự sâu hơn với Havana đã được thay thế bằng sự hoài nghi, thù địch hoặc thờ ơ.

 

Thật khó để hy vọng vào tương lai của Cuba. Raúl, người đã 94 tuổi và vẫn đóng vai trò là vị cố vấn quyền lực, sẽ sớm qua đời, cùng với những người cuối cùng của thế hệ đã tạo nên Cách mạng Cuba năm 1959. Nhưng để thoát khỏi vũng lầy hiện tại, một thế hệ lãnh đạo mới sẽ phải cam kết nghiêm túc, ở mức tối thiểu, đối với việc tự do hóa kinh tế sâu rộng hơn – dù điều đó có thể khó chấp nhận trong ngắn hạn. Để đưa đất nước đi đúng hướng, họ cũng cần phải dân chủ hóa. Thật đáng buồn, sau một thập kỷ sửa đổi chính sách, ban lãnh đạo hiện tại của Cuba đã đưa ra rất ít dấu hiệu cho thấy họ sẵn sàng đối mặt trực diện với các thách thức hoặc nhượng lại quyền kiểm soát cho những người có khả năng.

 

Cải cách quá ít và quá muộn

 

“Chúng ta cải cách hoặc là chìm”, Raúl tuyên bố vào năm 2010, bốn năm sau khi tiếp quản quyền lực. Hệ thống xã hội chủ nghĩa của Cuba đã tồn tại qua giai đoạn ngay sau thời kỳ hậu Liên Xô, khi viện trợ cho hòn đảo giảm mạnh và GDP thu hẹp mất một phần ba. Nhưng Cuba chỉ phục hồi được một phần từ sự suy giảm đó. Để đặt nền kinh tế lên một bệ đỡ vững chắc hơn, Raúl đã vạch ra một kế hoạch đơn giản: thu hẹp bộ máy nhà nước cồng kềnh bằng cách sa thải nửa triệu công chức, đồng thời mở rộng khu vực tư nhân nhỏ bé gồm những người “tự kinh doanh” điều hành các nhà hàng, nhà cho khách du lịch thuê và các doanh nghiệp nhỏ khác. Nhà chức trách cho phép các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần đa số trong các liên doanh, và nhà nước sẽ chuyển giao những vùng đất công bỏ hoang cho những nông dân tư nhân để giải quyết sự phụ thuộc của đất nước vào hàng nhập khẩu vốn chiếm 70% lương thực cả nước.

 

Các nhà kinh tế giỏi nhất của Cuba đã nhanh chóng chỉ ra những khiếm khuyết trong kế hoạch này. Danh sách hơn 200 hoạt động được phép tự kinh doanh bị quản lý một cách tỉ mỉ đến mức nực cười. Chẳng hạn, canh tác một mảnh đất công và bán phần lớn thu hoạch trong hệ thống định mức kiểm soát giá không giống với việc sở hữu tài sản và bán nông sản theo giá thị trường. Và các công ty nhà nước vẫn duy trì được lợi thế không công bằng khi cho phép cào bằng giá trị giữa đồng peso và USD, cơ chế đã giúp họ thổi phồng giá trị tài sản một cách giả tạo và hưởng lợi từ nguồn hàng nhập khẩu giá rẻ. Ngược lại, người dân phải bán peso cho các ngân hàng nhà nước Cuba để đổi lấy USD với tỷ giá 24:1. Tuy nhiên, nhiều người vẫn lạc quan. Đến thăm Cuba trong những năm này là để cảm nhận luồng gió thay đổi khi các doanh nghiệp nhỏ mở cửa, khách du lịch từ Canada và Châu Âu nườm nượp kéo đến, và không gian cho báo chí độc lập, phân tích học thuật và tranh luận dân sự được mở rộng.

 

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã chú ý đến điều này. Ngay cả trước khi có bước đột phá bình thường hóa vào cuối năm 2014, chính quyền của ông đã cho phép người Mỹ đi du lịch theo nhóm đến hòn đảo nếu họ mong muốn “hỗ trợ người dân Cuba”. Các thành viên của cộng đồng người Cuba ở hải ngoại đã về thăm gia đình và mang về hàng triệu USD kiều hối, cung cấp vốn mồi cho các doanh nghiệp nhỏ. Sau khi hai nước chính thức khôi phục quan hệ, các hãng hàng không đã thiết lập các chuyến bay thương mại trực tiếp. Các chuyến du thuyền, các chuyến thăm tự túc và các ngoại lệ đầu tư nước ngoài mới đối với lệnh cấm vận thương mại Mỹ-Cuba kéo dài đã xuất hiện. Năm 2016, hơn 580.000 người mang hộ chiếu Mỹ và Cuba (nói cách khác là người Mỹ gốc Cuba) đã lên các chuyến bay hướng tới hòn đảo này chỉ tính riêng từ Sân bay Quốc tế Miami.

 

Tuy nhiên, bất chấp tất cả sự hồ hởi, rõ ràng là Havana đã không chuẩn bị sẵn sàng để nắm bắt thời cơ. Các nhà đầu tư Mỹ thấy rằng chính quyền Cuba vẫn bám chặt vào các dự án đã được phê duyệt từ trước, dẫn đến rất ít các giao dịch thương mại có tầm quan trọng. Những người theo đường lối cứng rắn trong chính phủ Cuba bất bình trước những lời lẽ đầy hy vọng của Obama, coi đó là một “con ngựa thành Troy” sẽ mang lại những thay đổi chính trị không mong muốn. Những lời kêu gọi cải cách thị trường sâu rộng hơn đã không được lắng nghe vì các lãnh đạo đảng lo sợ việc giải phóng các lực lượng kinh tế mà họ không thể kiểm soát.

 

Đã tệ nay còn tệ hơn

 

Do sự thiển cận của Cuba, sau cuộc bầu cử năm 2016 tại Mỹ, không có lý do nào ngăn cản chính quyền Trump đảo ngược tiến trình. Và quả thật, sáu tháng sau nhiệm kỳ đầu tiên, Trump tuyên bố rằng ông sẽ “hủy bỏ” thỏa thuận “Cuba một chiều” của Obama. Các con tàu du lịch chở các nhóm du khách Mỹ vẫn tiếp tục cập các bến tàu Cuba, nhưng chính quyền Trump đã cấm người Mỹ thực hiện các chuyến đi tự túc hoặc lưu trú tại nhiều khách sạn do quân đội sở hữu ở Cuba. Ngay sau đó, các hãng thông tấn bắt đầu đưa tin về những sự cố sức khỏe bí ẩn ảnh hưởng đến các nhà ngoại giao Mỹ trên hòn đảo, được gọi là “hội chứng Havana”. Đáp lại, Washington đã đóng cửa lãnh sự quán Mỹ và đình chỉ hoạt động di cư hợp pháp của người Cuba sang Mỹ.

 

Năm 2019, chính sách của Mỹ đã chuyển sang một hướng trừng phạt thậm chí còn gay gắt hơn. Năm đó, Trump đã xóa bỏ giấy phép chung cho các chuyến du lịch nhóm “giao lưu nhân dân” (people-to-people) vốn là động lực cho các chuyến thăm còn lại của người Mỹ đến hòn đảo và giới hạn kiều hối của người Mỹ gốc Cuba ở mức 1.000 USD mỗi quý. Chính quyền của ông cũng kích hoạt Điều 3 vốn đã bị đình chỉ từ lâu của Đạo luật Helms-Burton năm 1996, cho phép công dân Mỹ kiện các công ty trong và ngoài nước Mỹ với cáo buộc hành vi “trục lợi” trên những tài sản mà chính phủ Cuba đã tịch thu từ đầu thập niên 1960, điều này có tác dụng làm giảm ngay lập tức dòng vốn đầu tư nước ngoài vào hòn đảo. Đầu năm 2020, Nhà Trắng đã cấm các chuyến bay đến hoặc đi từ các thành phố Cuba ngoài Havana, và ngăn chặn công ty dịch vụ tài chính Western Union của Mỹ hợp tác với một thực thể tài chính thuộc sở hữu của quân đội Cuba để chuyển tiền kiều hối. Bất chấp những hậu quả nhân đạo, các quan chức đã gọi những biện pháp này là một phần của chiến dịch “áp lực tối đa” đối với cả Cuba và Venezuela. Chiến dịch đó bao gồm cả các lệnh trừng phạt đối với hoạt động vận chuyển dầu của Venezuela – khiến nguồn cung năng lượng quan trọng cho hòn đảo bị siết chặt.

 

Sau đó đại dịch ập đến. Ngành du lịch gần như xóa sổ, kéo theo GDP của Cuba lao dốc tới 10%. Đây là “bài thử lửa” thực sự đối với Díaz-Canel, nhà lãnh đạo đầu tiên không thuộc dòng họ Castro, người được Raúl chọn mặt gửi vàng làm người kế vị vào năm 2018. Thế nhưng, thay vì nới lỏng, Díaz-Canel lại phản ứng trước những khó khăn bủa vây bằng cách thắt chặt hơn nữa quyền kiểm soát kinh tế của nhà nước, điển hình là việc đình chỉ cấp phép tự do kinh doanh mới trong hơn một năm trời. Khi nguồn thu ngoại tệ mạnh dần cạn kiệt, chính phủ của ông tìm cách thu gom kiều hối bằng cách mở hệ thống cửa hàng quốc doanh bán hàng nhập khẩu thông qua một loại tiền kỹ thuật số mới — gọi là đồng “Ngoại tệ chuyển đổi tự do” (MLC) — được neo theo giá trị đồng đô la Mỹ. Nhưng trên thực tế, loại tiền này chẳng có chút khả năng chuyển đổi tự do nào. Những đồng đô la một khi đã nộp vào tài khoản MLC thì không thể rút ra được, điều này càng khiến thị trường tiền tệ của Cuba phân mảnh trầm trọng.

 

Díaz-Canel và những người thân cận cuối cùng đã nhận ra rằng cách tiếp cận này không hiệu quả. Và vào mùa hè năm 2020, họ đã công bố một chiến lược mới để xử lý tình trạng khẩn cấp kinh tế đang leo thang. Thay vì áp dụng một danh sách hẹp các hoạt động khu vực tư nhân được phép làm, chính quyền đã chuyển sang một danh sách các hoạt động bị cấm, các hoạt động ngoài danh sách cấm đều được phép làm. Chính phủ cũng cam kết hợp pháp hóa các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, vượt ra ngoài khuôn khổ “tự kinh doanh”. Cuối cùng, nhà chức trách đã đồng ý thống nhất nhiều loại tiền tệ và tỷ giá hối đoái của hòn đảo. Các tỷ giá hối đoái riêng biệt cho người dân thuộc khối tư nhân và các công ty nhà nước đã giúp bảo vệ nhà nước khỏi cú sốc của cuộc khủng hoảng hậu Liên Xô, nhưng chúng cũng gây ra những méo mó nghiêm trọng trong hạch toán của các công ty công, làm trầm trọng thêm sự phụ thuộc vào nhập khẩu theo thời gian.

 

Tuy nhiên, cách thức triển khai và trình tự thực hiện các cải cách này đã dẫn đến một kết cục thảm hại. Thay vì mở rộng khu vực tư nhân làm đòn bẩy trước, chính quyền lại đơn phương tung ra kế hoạch “tái cơ cấu tiền tệ”, áp mức tỷ giá thống nhất cho toàn bộ nền kinh tế là 24 peso đổi 1 USD vào đầu năm 2021. Với các doanh nghiệp nhà nước vốn đang quen hoạt động ở tỷ giá ưu đãi 1 đổi 1, đợt phá giá này đã đẩy chi phí hàng nhập khẩu tăng vọt. Việc đồng thời tăng lương trong khu vực công càng đổ thêm dầu vào lửa lạm phát, tạo ra tình trạng thừa tiền nhưng dư hàng. Mọi chuyện còn tồi tệ hơn khi nhà nước cho in tiền vô tội vạ để bù đắp thâm hụt ngân sách đang leo thang. Song song đó, chính phủ vẫn tiếp tục bán hàng nhập khẩu bằng loại tiền kỹ thuật số neo theo đồng đô la, điều không chỉ tự phủ nhận logic của việc thống nhất tiền tệ mà còn khiến cơn khát đồng đô la trở nên trầm trọng trong khi kho dự trữ đã cạn kiệt. Hệ quả là thị trường đen bùng nổ, đến cuối năm 2021, giá trị đồng peso đã bốc hơi 75%, chạm mức 100 peso đổi 1 USD, dù tỷ giá chính thức vẫn đóng băng ở mức 24:1.

 

Kết quả là một cuộc khủng hoảng về tính chính danh chính trị của nhà nước ngày càng gia tăng. Điều này thể hiện rõ nhất khi vận may của Cuba trước COVID-19 kết thúc vào mùa hè năm 2021, và biến thể Delta của virus đã quét sạch đất nước. Những hình ảnh về các bệnh viện sụp đổ và các thi thể tràn lan trên mạng xã hội. Được thúc đẩy bởi bài hát phản kháng gây bão “Patria y Vida” (“Tổ quốc và Sự sống”) của các nghệ sĩ hip-hop và reggaetón nổi tiếng cùng sức mạnh của livestream, người dân Cuba ở hơn 50 thành phố và thị trấn đã xuống đường vào ngày 11 tháng 7 năm 2021, yêu cầu lương thực, thuốc men và tự do. Chính phủ đã phản ứng ngay trong ngày hôm đó bằng sự trấn áp, tống những người biểu tình vào tù hoặc buộc họ trở về nhà. Hơn một nghìn người cuối cùng đã bị bắt giữ, và hàng trăm người bị kết án tù dài hạn vì các tội danh như phá hoại, gây rối trật tự công cộng và nổi loạn.

 

Một bước tiến, hai bước lùi

 

Trong 7 tháng đầu nhiệm kỳ, chính quyền Biden đã phớt lờ Cuba, vẫn giữ nguyên các lệnh trừng phạt của Trump. Nhưng các cuộc biểu tình và hậu quả của chúng đã buộc Washington phải chú ý. Ba tháng sau các cuộc biểu tình, Cuba đã dỡ bỏ các hạn chế đi lại cuối cùng do COVID để tái khởi động du lịch. Sau đó, Nicaragua, một đồng minh thân cận của Havana, đã cho phép người dân Cuba nhập cảnh miễn thị thực, cung cấp một con đường ngắn hơn, dù vẫn nguy hiểm, đến biên giới Mỹ-Mexico. Các chuyến bay đến Managua sớm vượt quá 2.000 USD, nhưng điều đó không thể ngăn cản người dân Cuba tháo chạy sang Mỹ. Cuba dường như đang cố tình xuất khẩu sự bất mãn, từ đó gây ra những cơn đau đầu chính trị cho Washington. Chính quyền Biden đã phản ứng bằng cách khôi phục việc xử lý kiều hối, nối lại các chuyến bay đến các thành phố tỉnh lỵ của Cuba (vốn chủ yếu được cộng đồng hải ngoại sử dụng), và mở lại các con đường di cư hợp pháp đã có sẵn cũng như tạo ra những con đường mới – tất cả nhằm nỗ lực khôi phục một phần ổn định kinh tế và làm chậm làn sóng di cư. Nhưng những nỗ lực này đã thất bại. Tính đến mùa thu năm 2024, hơn 850.000 người Cuba đã nhập cảnh vào Mỹ, bao gồm cả thông qua một chương trình “giấy phép tạm thông hành” mới mà chính quyền Biden đã tạo ra.

 

Đồng thời, chính phủ Cuba cũng đang thực hiện một nỗ lực mới để cứu vãn nền kinh tế. Vào cuối năm 2021, nhà chức trách cuối cùng đã hợp pháp hóa các doanh nghiệp tư nhân có tới 100 nhân viên. Trong ba năm, hơn 10.000 doanh nghiệp như vậy đã được phê duyệt. Và lần đầu tiên kể từ những năm đầu của Cách mạng Cuba, họ nhận được sự cho phép nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài, mặc dù phải thông qua các trung gian nhà nước. Các doanh nhân đã xây dựng được các mối quan hệ quốc tế và cộng đồng hải ngoại trong thời kỳ Obama đã mở các cửa hàng thực phẩm tư nhân. Những người khác nhập khẩu bán buôn từ Mexico, Panama hoặc thậm chí là Mỹ. Các công ty chuỗi cung ứng như Supermarket23 đã cung cấp cho người dân Cuba ở nước ngoài một nền tảng trực tuyến giống như Amazon để mua hàng hóa cho gia đình họ từ những nhà nhập khẩu địa phương, cũng như kho bãi và hậu cần tại chỗ, tạo điều kiện cho việc giao hàng tận nhà. Tất cả những điều này từng là không thể tưởng tượng được. Đến cuối năm 2024, khu vực tư nhân chiếm 23% biên lai thuế, 31% lực lượng lao động và hơn một nửa doanh số bán lẻ, vượt xa các doanh nghiệp nhà nước.

 

Nhưng nhiều vấn đề đang bủa vây lĩnh vực này. Một là sự thiếu hụt một thị trường hối đoái ổn định hoặc bất kỳ cách thức hợp pháp nào khác để chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Điều này buộc các công ty tư nhân phải tham gia thị trường tiền tệ phi chính thức, đẩy đồng peso xuống mức thấp mới: hơn 400 peso đổi một USD ở thời điểm hiện tại. Tỷ giá hối đoái này đã khiến nhiều mặt hàng vượt quá tầm với của nhiều người dân Cuba, những người vẫn phụ thuộc vào lương hưu hoặc tiền lương nhà nước và ít có cơ hội tiếp cận kiều hối. Kết quả là, mặc dù các doanh nghiệp tư nhân mới đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các nhu yếu phẩm cơ bản cho các gia đình Cuba trong vài năm qua, họ lại trở thành gương mặt công khai của tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng – một thách thức chính trị đối với một nhà nước vẫn tự nhận là xã hội chủ nghĩa.

 

Và ngay cả việc tư nhân hóa hạn chế này cũng đối mặt với những bước lùi. Trong hai năm qua, chính phủ đã áp đặt các hạn chế giao dịch ngân hàng mới, xóa bỏ các ưu đãi thuế cho các công ty mới và tạm thời hạn chế các hoạt động bán buôn. Chủ sở hữu công ty hoặc đối tác hiện phải cư trú tại Cuba hầu hết thời gian trong năm, hạn chế sự tham gia hợp pháp của cộng đồng người Cuba ở hải ngoại, vốn là nguồn vốn mồi, bí quyết kỹ thuật và khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính không bị trừng phạt chủ yếu từ trước đến nay. Các nhà quan sát diễn giải những động thái này là một nỗ lực của tập đoàn kinh doanh của quân đội, Grupo de Administración Empresarial S.A. (GAESA), nhằm giành lại thị phần trong việc bán các mặt hàng ngoại nhập được nâng giá, vốn là lĩnh vực mà họ đã thống trị trước đại dịch. Nhà chức trách vẫn khẳng định rằng các công ty tư nhân nên là “các tác nhân bổ sung” cho nền kinh tế, không phải là động lực, ngay cả khi hàng chục công ty nhà nước đang hoạt động thua lỗ.

 

Sự suy tàn cuối cùng?

 

Các vấn đề dồn dập của Cuba hiện nghiêm trọng đến mức ngay cả một khu vực tư nhân năng động hơn cũng sẽ không đủ để khắc phục chúng. Tình trạng mất điện toàn quốc vào tháng 9 là lần thứ năm trong một năm. Việc đại tu mạng lưới điện lạc hậu, phụ thuộc vào dầu mỏ sẽ tiêu tốn hàng tỷ USD mà chính phủ không có và không quốc gia nào sẵn lòng cho vay. Những tác động đến năng suất rất thảm khốc. Cuba gần đây đã thừa nhận rằng sản lượng trong nông nghiệp, chăn nuôi và khai thác mỏ đã giảm 53% kể từ năm 2019. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, ngân sách đầu tư của nhà nước đã đổ vào các khách sạn và cơ sở du lịch (cũng do GAESA thống trị) nhiều hơn bất kỳ lĩnh vực nào khác, bất chấp thực tế là lượng du khách chỉ bằng một nửa so với mức đỉnh điểm trước đại dịch. Các loại khách du lịch đang lựa chọn các điểm đến khác ở Caribe ít bị mất điện hơn. Khách du lịch Châu Âu đang chọn những nơi không làm nguy hại đến chương trình miễn thị thực 90 ngày thông thường của họ vào Mỹ (một rủi ro bắt nguồn từ việc Cuba nằm trong danh sách các quốc gia tài trợ khủng bố).

 

Chính sách tiền tệ cũng vẫn là một điểm gây đau đớn. Vào giữa tháng 12, ngân hàng trung ương Cuba đã tung ra một tỷ giá hối đoái thả nổi mới cho công chúng và khu vực tư nhân ở mức 1 USD đổi 410 peso Cuba, chỉ thấp hơn một chút so với tỷ giá không chính thức, nhằm cố gắng đưa nhiều giao dịch hơn trở lại hệ thống tài chính chính thức, làm suy yếu thị trường phi chính thức và khôi phục dự trữ USD. Nhưng không rõ liệu kế hoạch này có hiệu quả hay không, vì niềm tin của người dân vào các tổ chức ngân hàng đã sụp đổ. Hơn nữa, hệ thống tỷ giá vẫn được phân tầng: một số công ty nhà nước nhất định, chẳng hạn như những công ty trong ngành du lịch, vẫn nhận được tỷ giá ưu đãi là 120 peso cho một USD, trong khi các doanh nghiệp nhà nước cung cấp dịch vụ thiết yếu cho người dân nhận được tỷ giá 24 peso cho một USD. Nhà chức trách đã bắt đầu đô la hóa hoàn toàn nhiều cửa hàng bán lẻ của nhà nước, khôi phục một thực tế từ những năm 1990. Nói cách khác, những cuộc điều động mới nhất này càng làm trầm trọng thêm sự phân mảnh hiện có của thị trường tiền tệ, Những biện pháp này không hề giải quyết được các sai lệch mang tính hệ thống mà cơ chế đó đã gây ra cho nền kinh tế Cuba.

 

Để khắc phục – hoặc né tránh – những vấn đề này, một số quan chức Cuba có thể đang trông chờ vào các mối quan hệ quốc tế tốt đẹp hơn. Họ có khả năng sẽ phải thất vọng. Chờ đợi Washington thay đổi hướng đi là một việc làm vô ích: một Cuba kiệt quệ, không giống như Venezuela giàu dầu mỏ, mang lại rất ít lợi ích chiến lược cho một nước Mỹ ngày càng thực dụng. Nhưng ngay cả Moscow và Bắc Kinh cũng sẽ chỉ giúp ích được một phần hạn chế. Các quan chức và phái đoàn doanh nghiệp Nga đã hứa đầu tư 1 tỷ USD vào Cuba cho đến năm 2030, và người Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng vài chục trang trại điện mặt trời. Nhưng Havana chỉ có thể nhận được bấy nhiêu sự hỗ trợ từ hai quốc gia này. Việc những cam kết này được thực hiện nhanh chóng đến mức nào vẫn chưa rõ ràng, và cả Moscow lẫn Bắc Kinh đều thúc giục Cuba cắt giảm trợ cấp cho các công ty nhà nước không có lãi và giảm các hạn chế đối với đầu tư nước ngoài và khu vực tư nhân. Trong khi đó, Cuba tiếp tục thâm hụt thương mại khổng lồ với cả hai quốc gia này và thường xuyên yêu cầu tái cơ cấu các khoản nợ, vốn được cho là lên tới hàng tỷ USD trong trường hợp của Trung Quốc. (Nga đã xóa hầu hết các khoản nợ từ thời Liên Xô của hòn đảo vào năm 2014, nhưng Cuba được cho là đã tích lũy thêm hàng trăm triệu tiền nợ kể từ đó). Các động cơ địa chính trị và mối liên kết an ninh có nghĩa là Moscow và Bắc Kinh sẵn sàng cung cấp viện trợ định kỳ và giúp chính phủ Cuba tồn tại, nhưng cả hai đều không muốn tài trợ hoàn toàn cho một mô hình kinh tế mà họ coi là đã thất bại.

 

Mối quan hệ của Havana với Caracas thậm chí còn dễ bị tổn thương hơn. Chính quyền Trump đã triển khai các khí tài quân sự đáng kể ngoài khơi bờ biển Venezuela, thực hiện các cuộc tấn công gây tranh cãi vào các tàu bị cáo buộc buôn lậu ma túy và ít nhất một cơ sở cảng, đồng thời ra lệnh phong tỏa hải quân đối với các chuyến hàng dầu bị trừng phạt, bao gồm cả những chuyến hàng hướng về Cuba. Nếu chính quyền Maduro sụp đổ — dù khả năng này vẫn còn bỏ ngỏ — Cuba sẽ mất sạch những gì còn sót lại từ mối quan hệ bảo trợ kéo dài suốt 25 năm qua.

 

Vì vậy, Cuba chỉ có một lựa chọn duy nhất: tự do hóa nền kinh tế. Điều này bao gồm việc cho phép các doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong nhiều ngành công nghiệp hơn, mở cửa khu vực tư nhân cho đầu tư nước ngoài và để các công ty này giao dịch tự do mà không cần trung gian nhà nước. Điều đó cũng có nghĩa là cắt giảm thâm hụt tài khóa và thực sự thống nhất tỷ giá hối đoái cho các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân ở mức phản ánh các điều kiện kinh tế thực tế. Quan trọng không kém, nhà nước phải tăng cường các đảm bảo pháp lý và ưu đãi thuế cho các công ty trong và ngoài nước có khả năng xây dựng năng lực sản xuất. Ngay cả với các lệnh trừng phạt của Mỹ, những bước đi như vậy ít nhất sẽ mang lại cho Cuba cơ hội bắt đầu xây dựng lại nền kinh tế và thu hút đầu tư nước ngoài lớn hơn.

 

Thế nhưng khả năng bộ máy lãnh đạo Cuba có đủ năng lực để thực thi hay tạo ra được một sự đồng thuận chung quanh kế hoạch như vậy vẫn còn là một dấu hỏi lớn. Nhiều quan chức dường như đang sống tách rời khỏi thực tế. Điển hình như vào mùa hè năm ngoái, Bộ trưởng Lao động đã phủ nhận tình trạng vô gia cư và ăn xin gia tăng trên đảo quốc. (Sau khi dư luận trên mạng xã hội phẫn nộ, bà đã buộc phải từ chức, một trường hợp hiếm hoi về trách nhiệm giải trình trước công chúng). Các nhà hoạch định chính sách cũng liên tục đưa ra những tín hiệu mâu thuẫn. Cuối tháng 11, chính quyền ban hành các quy định mới nhằm tháo gỡ cho đầu tư nước ngoài khi cho phép trả lương trực tiếp cho nhân viên mà không qua trung gian nhà nước. Nhưng đồng thời, họ lại cấm các doanh nghiệp nước ngoài chuyển lợi nhuận tại các ngân hàng Cuba về nước. Tương tự, khuôn khổ chính phủ mới nhằm “sửa chữa các sai lệch và nạp năng lượng cho nền kinh tế” chỉ tràn ngập những chỉ tiêu sản xuất khô khan mà thiếu vắng các ý tưởng đột phá để tạo động lực sản xuất thực sự. Cuba do đó dường như đang trượt dài hơn nữa vào hố sâu suy thoái, với một nền kinh tế bị bủa vây bởi các doanh nghiệp quân đội thiếu minh bạch, khối tư nhân bị kìm kẹp và một lực lượng lao động đang dần cạn kiệt nhân tài do làn sóng di cư.

 

Liệu những thách thức này có thể dẫn đến sự sụp đổ của chính phủ hay không vẫn là điều chưa chắc chắn. Sự thay đổi chế độ khó có khả năng xảy ra nếu thiếu một lực lượng đối lập thống nhất hơn, và những nhân vật hàng đầu của phe đối lập phần lớn đã bị lưu đày hoặc bỏ tù. Không có sự chia rẽ công khai nào giữa bộ máy an ninh và các lĩnh vực khác của nhà nước. Nhưng các vấn đề xã hội đang trở nên tồi tệ hơn – tội phạm, bất bình đẳng, tiêu thụ ma túy và tham nhũng – có thể đẩy nhanh các rạn nứt trong nội bộ chế độ, sự thâm nhập của tội phạm xuyên quốc gia hoặc sự can thiệp trực tiếp từ bên ngoài, chính là những điều mà những người trung thành với hệ thống Cuba từ lâu đã tìm cách né tránh. Các cuộc biểu tình tự phát, không có người lãnh đạo giờ đây đã trở thành căn bệnh kinh niên.

 

Ngày nay, hòn đảo dường như đang chìm xuống, đúng như Raúl đã cảnh báo 15 năm trước. Điều đó đang xảy ra bởi vì ông và những người khác đã trì hoãn cuộc cải cách thực sự. Thay đổi sẽ đi kèm với cái giá đắt do nhiều năm chính sách kinh tế do dự và việc nhà nước từ chối cho người dân Cuba một tiếng nói chính trị có ý nghĩa trong việc định hình tương lai của họ. Nhưng thay đổi là cần thiết. Mỗi ngày trì hoãn thêm là một ngày kéo dài sự đau khổ của người dân Cuba.

 

--------------------------------

Michael J. Bustamante hiện là Giáo sư Emilio Bacardí Moreau về nghiên cứu Cuba và người Mỹ gốc Cuba tại Đại học Miami. Ông là tác giả của cuốn “Cuban Memory Wars: Retrospective Politics in Revolution and Exile” (tạm dịch: Cuộc chiến ký ức tại Cuba: Chính trị hồi tưởng trong Cách mạng và Lưu vong).