LẠI
BÀN THÊM VỀ TÌNH HÌNH TRUNG QUỐC (28/1/2026)
PHẦN
MỘT. NHÌN LẠI LỊCH SỬ
Một
anh bạn đề nghị tôi liên hệ với vụ xử lý Lâm Bưu 55 năm trước, năm 1971. Hồi đó
có 2 thuyết về hình thức xử lý Lâm Bưu, đầu tiên chúng ta đọc “Bóng đêm trên Quảng
trường Thiên An Môn” kể là Lâm Bưu và vợ là Diệt Quần bị bắn bằng súng chống
tăng, ch.ết trong xe bọc thép thành 2 đống thịt. Thuyết thứ hai, khoảng những
năm 2000 trên báo Việt Nam bảo là rơi máy bay ở Nội Mông. Đại khái thế, với tôi
không quan trọng.
Cả
hai vụ có những điểm rất tương đồng. Nếu Lâm Bưu là người kế thừa được ghi vào
điều lệ Đảng, là người nắm giữ linh hồn của quân đội sau Cách mạng Văn hóa; thì
Trương Hựu Hiệp là thế hệ “Thái tử đảng”, bạn tâm giao và là người bảo kê quyền
lực quân sự giúp ông Tập củng cố ghế Chủ tịch Quân ủy Trung ương suốt hơn một
thập kỷ. Khi quyền lực của lãnh đạo tối cao (Mao/Tập) đạt đến mức tuyệt đối, họ
bắt đầu nhìn những “công thần” có uy tín quá cao trong quân đội như một mối họa
tiềm tàng. Mao xử Lâm Bưu vì cảm thấy Lâm Bưu đang xây dựng một “vương quốc
riêng” trong quân đội, đe dọa trực tiếp đến uy tín của mình. Việc xử lý Hiệp hiện
nay chính là cách ông Tập xóa bỏ cái bóng quá lớn của một vị tướng có thực quyền,
giống y như cách Mao đã làm với Lâm.
Hồi
đó, cái chết của Lâm Bưu trong vụ rơi máy bay ở Nội Mông Cổ (còn gọi là “Vụ 13
tháng Chín”) được giữ kín một thời gian trước khi công bố là “kẻ phản bội” đã
là một cú sốc kinh hoàng cho dân chúng Trung Quốc thời bấy giờ. Lần này vụ
Trương Hựu Hiệp và Lưu Chấn Lập với việc ông Tập công bố lệnh điều tra ngay trước
Tết Nguyên đán 2026, sau một thời gian dài hai vị này vắng mặt trên truyền
thông, cũng mang màu sắc của một chiến dịch thanh trừng chớp nhoáng. Nếu Lâm
Bưu bị gán tội “âm mưu ám sát Mao Chủ tịch”, thì Trương Hựu Hiệp hiện nay đang
bị gán tội “tham nhũng và vi phạm kỷ luật chính trị” bản chất cả hai đều là
quét sạch phe cánh quân sự để tái lập sự phục tùng tuyệt đối.
Về
hậu quả, thời Mao, sau khi mất Lâm Bưu, quân đội Trung Quốc rơi vào tình trạng
mất phương hướng, các tướng lĩnh lo sợ và chỉ biết phục tùng một cách máy móc.
Điều này gián tiếp dẫn đến sự kết thúc của Cách mạng Văn hóa khi Mao qua đời. Đến
năm 1979, Đặng Tiểu Bình xua quân tấn công Việt Nam ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc,
đã bộc lộ một quân đội “khố rách áo ôm” đúng nghĩa, vốn đã thê thảm dưới thời
Lâm Bưu, lại qua 8 năm lộn xộn xử lý “tứ nhân bang” rồi các xáo trộn với Hoa Quốc
Phong, Đặng Tiểu Bình… quân đội Bát Nhất lại càng tệ hại.
Hiện
tại, việc thanh trừng Lưu Chấn Lập (Tham mưu trưởng tác chiến) cùng Trương Hựu
Hiệp tạo ra một khoảng chân không ở cấp điều hành cao nhất, cùng với sự tồn tại
của “thị trường sao và vạch” mấy thập kỷ, chắc chắn tình trạng các tướng lĩnh
không có năng lực tác chiến chiếm các ghế chủ chốt trong Bộ quốc phòng, càng ảnh
hưởng đến sức chiến đấu của quân đội, dù có thể ngoan ngoãn hơn với chủ tịch Tập.
Tạm
#kết_luận
Trong các hệ thống độc tài, người kế vị luôn là người dễ gặp nguy hiểm nhất. Vụ
Lâm Bưu cho thấy Mao sẵn sàng đập nát cái cột trụ lớn nhất của mình để đảm bảo
sự độc tôn, thì vụ Trương Hựu Hiệp cho thấy Tập sẵn sàng hy sinh cả tình bạn
lâu năm và sự ổn định của quân đội để ngăn chặn một cuộc đảo chính hoặc xu hướng
li khai như trong bài trước tôi đã dự báo. Sự khác biệt lớn nhất là Mao xử Lâm
Bưu khi Trung Quốc đang nghèo đói và đóng cửa; còn Tập xử Hiệp khi Trung Quốc
đang là “công xưởng thế giới” đang gặp bế tắc về dân số và công nghệ. Một sai lầm
trong việc điều hành quân đội lúc này có thể dẫn đến sự sụp đổ của toàn bộ hệ
thống nhanh hơn nhiều so với thời Mao.
Một
điểm khác biệt nữa, là ông Tập hiện nay không có người đóng vai trò “cánh tay
phải” ổn định tình hình nội bộ. Thời Mao đã có Chu Ân Lai như một “người quản
gia” vĩ đại. Ông có uy tín cá nhân cực cao, khéo léo dung hòa các phe phái và
quan trọng nhất là ông giữ cho bộ máy hành chính không bị sụp đổ hoàn toàn
trong cơn điên cuồng của Cách mạng Văn hóa. Hiện tại, ông Tập không muốn và
không cho phép ai có uy tín cá nhân độc lập như vậy. Những người xung quanh ông
hiện nay (như Thái Kỳ hay Lý Cường) đều là những người hoàn toàn dựa vào sự tin
cậy của ông Tập để tồn tại.
Giả
thuyết đặt ra là, nếu những sự kiện hiện nay tạo ra một đống đổ nát như thời
Lâm Bưu và “tứ nhân bang” (thật ra là từ Cách mạng Văn hóa), sẽ không có ai đủ
uy tín để đứng ra dàn xếp theo kiểu Chu Ân Lai. Hệ thống sẽ rơi vào tình trạng
tê liệt cục bộ vì mọi người đều sợ sai và chỉ chờ lệnh từ một người duy nhất. Nếu
phải tìm một nhân vật có vai trò tương đương trong việc duy trì vận hành hệ thống
hiện nay, giới quan sát thường nhắc đến Thái Kỳ (Cai Qi). Đây là người đang nắm
giữ bộ máy văn phòng và an ninh nội chính. Tuy nhiên, Thái Kỳ thiên về một “đao
phủ” thực thi lệnh hơn là một “nhà ngoại giao” dàn xếp như Chu Ân Lai. Khi điểm
gãy xảy ra (kinh tế sụp đổ hoặc li khai biên giới), một người chỉ biết thực thi
mệnh lệnh sẽ không biết cách xử lý các biến số linh hoạt.
Câu
chuyện của Mao khá giống của Putler hiện nay: khi một lãnh đạo độc tài cố thủ cực
đoan như Mao trong những năm cuối đời, họ thường tạo ra một “khoảng chân không
quyền lực” sau lưng mình. Khi Mao chết, “tứ nhân bang” nhanh chóng bị lật đổ vì
chúng không có thực quyền, không nắm được quân đội (đã mất Lâm Bưu). Với ông Tập,
sau khi xử lý cả Trương Hựu Hiệp và Lưu Chấn Lập, ông đã triệt hạ luôn những
người có khả năng bảo vệ di sản của mình.
PHẦN
HAI. NHỮNG SUY TƯ THỰC TẾ
Có
một ý kiến từ một người bạn Trung Quốc (một giáo sư chính trị học) cho rằng, nếu
ông Tập bị phản đối đến mức có âm mưu đảo chính, nguyên nhân chính là những vấn
đề kinh tế - xã hội chúng ta đã bàn rồi, nhưng để dẫn đến tình trạng đó một phần
(chưa đánh giá được nó lớn nhỏ, nhiều ít ra sao) là do chiến tranh Nga Ukraine
kéo dài quá lâu, gây ra tình trạng kinh tế thế giới đình trệ, ảnh hưởng cực kỳ
lớn đến thị trường tiêu thụ của Trung Quốc.
Tôi
cũng hay trao đổi với ông này qua chat, và chúng tôi đồng ý với nhau nhiều góc
độ dưới nhãn quan thực chứng. Từ lâu, chúng tôi đã nhận ra, chiến tranh Nga –
Ukraine chính là chất xúc tác độc hại làm trầm trọng hóa những mâu thuẫn vốn đã
âm ỉ trong lòng Trung Quốc. Sự liên hệ này có 3 điểm mốc rất nghiêm trọng:
#Thứ_nhất.
Cuộc chiến tranh đã giáng đòn chí mạng vào hoạt động xuất khẩu của Trung Quốc,
vốn dựa trên hai thị trường chính là EU và Hoa Kỳ. Khi chiến tranh Ukraine kéo
dài đến năm thứ 5 (2026), châu Âu bị cuốn vào vòng xoáy lạm phát, giá năng lượng
cao và xu hướng ‘phi rủi ro’ bằng lựa chọn bớt mua hàng Trung Quốc, chuyển hướng
sang các thị trường an toàn hơn, thậm chí quay lại đầu tư sản xuất tại chỗ. Thị
trường tiêu thụ bị thu hẹp đột ngột khiến các nhà máy ở Quảng Đông, Chiết Giang
đình trệ.
#Thứ_hai.
Theo ông bạn của tôi, chiến tranh kéo dài làm lộ ra sự tính toán sai lầm của
ông Tập. Ban đầu, ông Tập đặt cược vào một chiến thắng nhanh chóng của Nga để
làm suy yếu phương Tây. Nhưng thực tế là Nga bị sa lầy, còn Trung Quốc bị vạ
lây bởi các lệnh trừng phạt thứ cấp.
#Thứ_ba.
Hóa ra Trung Quốc tưởng là nhiều tiền như vậy, mà cũng rơi vào tình thế “hết tiền”,
với tôi thì đúng là “mấy xiẻng cua” (không nghĩ đến) chuyện này. Chiến tranh
Ukraine khiến giá nguyên liệu đầu vào tăng vọt, trong khi hàng hóa không bán được.
Trung Quốc cũng rơi vào tình trạng thiếu máu tài chính tuy đỡ hơn Nga nhiều. Để
duy trì bộ máy và hỗ trợ ngầm cho Nga, ông Tập phải dồn nguồn lực từ dân sinh
sang an ninh/quốc phòng. Tôi không phải nhà kinh tế, nhưng chúng ta hãy nhìn
vào con số nợ của các chính quyền địa phương Trung Quốc ước tính đã vượt quá
9.000 tỷ USD, không khó để nhận ra khi thương mại với EU sụt giảm do chiến
tranh Ukraine kéo dài, các địa phương mất nguồn thu từ thuế chẳng hạn... để bù
đắp, ông Tập phải cho in tiền hoặc vay mượn nội bộ…
Có
lần tôi đã tính toán trước ý kiến cho rằng: Trung Quốc hưởng lợi từ cuộc chiến
tranh của Putler xâm lược Ukraine nhờ mua dầu khí giá rẻ. Đến khi tính toán chi
ly, phần chênh lệch lợi nhuận so với mua bán trước chiến tranh, chỉ mang lại
cho Trung Quốc thặng dư 0,3% trên GDP. Như vậy, hoàn toàn là không nhiều, thậm
chí có thể nói là rất ít so với việc một thị trường EU trở nên khó khăn hơn, thắt
lưng buộc bụng hơn. Vì vậy, có rất nhiều ý kiến nội bộ Trung Quốc cho rằng ông
Tập có thái độ ủng hộ Putler để kéo dài chiến tranh quá lâu là sai lầm. Cái hại
trong thương chiến với Hoa Kỳ rất nhỏ và mới chỉ thoáng qua, cái hại lớn là
“chiến tranh nóng” của Nga kia.
Ở
đây có một số điểm cần được hiểu rõ, chẳng hạn giá dầu Nga bán cho Trung Quốc rẻ,
nó có nghịch lý của nó. Đúng là Trung Quốc mua được dầu khí Nga với giá chiết
khấu, nhưng khi nhìn vào chi phí vận hành thì có thể vẫn không rẻ, ví dụ dự án
“Sức mạnh Siberia 2” nếu thực hiện, Trung Quốc phải bỏ chi phí khá khổng lồ,
chênh lệch giá nếu có cũng sẽ như muối bỏ biển so với chi phí trên đây. Đồng thời,
để duy trì những dòng hàng hóa đầu vào giá rẻ này, các ngân hàng và công ty vận
tải Trung Quốc luôn đứng trước bờ vực bị Mỹ và EU trừng phạt thứ cấp. Cái giá của
việc bị loại khỏi hệ thống SWIFT hay mất quyền tiếp cận USD lớn hơn gấp nhiều lần
con số 0,3% GDP thặng dư kia.
Thực
chất, cái hại từ thương chiến với Mỹ chỉ là những vết xước ngoài da, nhưng cuộc
chiến Ukraine đã làm gây ra những vết thương chí mạng lên quan hệ thương mại
Trung Quốc – EU. Trước 2022, EU (đặc biệt là Đức) luôn muốn cân bằng giữa an
ninh (Mỹ) và kinh tế (Trung Quốc). Sau khi Putler xua quân tràn qua biên giới
và ông Tập tuyên bố “hợp tác không giới hạn” với Putler, EU nhận ra rằng việc
phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc cũng nguy hiểm chẳng kém gì phụ thuộc khí đốt
vào Nga. Họ bắt đầu thực thi chính sách “giảm rủi ro” tức “de-risking” một cách
quyết liệt.
Đến
bây giờ thì mọi sự đã rõ hơn nhiều. Giới tinh hoa chính trị và kinh tế nhận thấy
ông Tập đang đưa đất nước vào một ngõ cụt: vừa mất thị trường phương Tây, vừa bị
trói chặt vào một nước Nga đang suy tàn. Nếu chiến tranh kết thúc sớm, Trung Quốc
có thể đã kịp điều chỉnh. Nhưng khi nó kéo dài, nó biến thành một bài kiểm tra
sức bền mà nền kinh tế Trung Quốc đang trượt dốc không thể vượt qua. Vì ủng hộ
Nga, Trung Quốc vô tình giúp NATO đoàn kết hơn bao giờ hết và kéo Mỹ trở lại
châu Âu mạnh mẽ hơn – có thể nhìn thấy rất rõ thời kỳ trước khi Trump nhậm chức
Tổng thống lần thứ hai. Sự hoài nghi của phương Tây khiến dòng vốn FDI rút chạy
nhanh hơn. Năm 2025 chúng ta thấy FDI vào Trung Quốc chạm mức thấp kỷ lục, và
tình hình sẽ không sáng sủa hơn trong năm 2026.
Việc ông Tập xử lý Trương Hựu Hiệp ngay lúc này có thể
là để “bịt miệng” phe phản đối vốn đang dùng thất bại của Nga và sự đình trệ
kinh tế để gây áp lực đòi thay đổi học thuyết hoặc thậm chí thay đổi người đứng
đầu. Cái sai của ông Tập, theo ý kiến của vị giáo sư và tính toán của tôi, là
đã đánh giá thấp sức chịu đựng và sự đoàn kết của phương Tây, đồng thời đánh
giá quá cao vai trò của Nga. Họ Tập không phải không biết tính toán kinh tế,
nhưng đối với ông ta, an ninh chế độ phải xếp trên tăng trưởng GDP.
Thật
ra, những tính toán này của ông Tập từ đầu không sai, nếu xét kịch bản Nga sụp
đổ hoặc “đổi màu” chính trị sau thất bại tại Ukraine, Trung Quốc sẽ rơi vào
tình thế kinh khủng nhất, đường biên giới phía Bắc dài hơn 4.000 km trở thành một
mối đe dọa trực tiếp. Hiện tại, ông Tập có thể yên tâm dồn nhân lực vật lực múa
may ở biển Đông và eo biển Đài Loan vì phía Bắc đã có Putler chốt chặn. Nếu Nga
sụp đổ, ông Tập sẽ phải chia đôi nguồn lực để canh giữ biên giới phía Bắc.
Hiện
nay, như chúng ta đã nói: ông Tập đang cô độc ở Trung Nam Hải, vì vậy tình thế
của ông ta cũng là mong manh chứ không vững chắc gì. Về đối ngoại, nếu bây giờ
quay xe, ông Tập sẽ thừa nhận mình sai lầm – một điều tối kỵ với một lãnh đạo độc
tôn, vì đã đầu tư quá nhiều uy tín chính trị vào liên minh “không giới hạn” với
Putler. Vì vậy, ông ấy tiếp tục bơm oxy cho Putler duy trì cuộc chiến Ukraine
không phải để thắng, mà để trì hoãn thất bại. Mỗi ngày cuộc chiến kéo dài là một
ngày ông Tập chưa phải đối mặt với kịch bản nước Nga của Putler sụp đổ.
Một
số điểm chính của kịch bản có thể xảy ra ở Trung Quốc
1. Sự “đình công ngầm” của tầng lớp kỹ
trị và tài phiệt. Lãnh đạo có thể ra lệnh cho tướng lĩnh, nhưng không thể ra lệnh
cho thị trường hoặc nền kinh tế. Nếu các chính sách của ông Tập vẫn giữ như thời
gian qua, giới tinh hoa kinh tế và các quan chức kỹ trị ở địa phương khả năng
cao sẽ thực hiện chiến thuật nằm yên, mặc kệ, lảng tránh trách nhiệm, lẳng lặng
vô hiệu hóa các mệnh lệnh chỉ thị... Họ không chống đối công khai nhưng cũng
không thực hiện hiệu quả các mệnh lệnh kinh tế. Thế là đủ ch.ết rồi.
2. Cú
sốc tỉ giá. Nếu nội bộ Trung Quốc tiếp tục nghi kỵ và ông Tập cứ sa đà vào việc
ủng hộ Nga, niềm tin vào đồng Nhân dân tệ sẽ sụp đổ. Khi giới tài phiệt và ngay
cả tầng lớp trung lưu tìm mọi cách tẩu tán tài sản ra nước ngoài (vượt qua các
hàng rào kiểm soát), đồng tiền mất giá sẽ kéo theo lạm phát phi mã. Kinh tế
Trung Quốc sẽ rơi vào suy thoái hơn nữa.
3. Khi
khó khăn tích tụ đủ: với Trung Quốc là một nền kinh tế lớn nhưng cũng có những
sức nặng của nó, dân số chẳng hạn… thì dù ông Tập có nắm quân đội và an ninh vững
đến mấy, sức ép “hết tiền” hoàn toàn có thể đánh gục hệ thống của ông ta. Khi
quân đội và an ninh không được trả lương hoặc trả bằng tiền giấy sức mua ngày
càng giảm, sẽ có biến cung đình.
Cuối
cùng thì, câu chuyện liên quan gì đến chúng ta?
Nếu
Trung Quốc bất ổn đến mức kịch bản cung đình biến thành hỗn loạn xã hội, chúng
ta sẽ thấy hai dòng vốn đổ sang Việt Nam, thứ nhất là FDI sạch, đây sẽ là điều
có lợi. Nhưng cũng có một dòng vốn “đen”, hay quá trình “tháo chạy của cải” của
giới giàu có Trung Quốc, và đây mới là thứ đáng sợ. Giới giàu có Trung Quốc sẽ
tìm mọi cách đẩy tiền sang các nước láng giềng (trong đó có Việt Nam). Họ sẽ
không đầu tư vào sản xuất mà đổ xô đi mua bất động sản, vàng hoặc ngoại tệ
thông qua các hình thức núp bóng. Nó sẽ đẩy giá tài sản ở Việt Nam (vốn đã ảo)
lên mức không thể kiểm soát, gây khó khăn cho chính người dân và doanh nghiệp nội
địa.
Giá
vàng miếng SJC đã chạm ngưỡng 177 – 178 triệu đồng/lượng, trong khi giá thế giới
cũng lần đầu tiên trong lịch sử vượt mốc 5.000 USD/ounce. Không nghi ngờ, khi
Trung Nam Hải rung chuyển, tâm lý phòng thân của người Việt trỗi dậy mạnh mẽ. Họ
không mua vàng vì thấy rẻ, họ mua vì sợ. Họ sợ đồng tiền mất giá, sợ sự “ốm nặng”
của kinh tế Việt Nam khi Trung Quốc hắt hơi sổ mũi.
Nhưng
tôi thì thấy câu chuyện còn khá lạc quan. Việt Nam ổn hơn Trung Quốc ở chỗ
chúng ta đang có ổn định chính trị tốt hơn, và chúng ta cũng có độ “mở” với
phương Tây tốt hơn. Tuy nhiên nếu Việt Nam không nhanh chóng xây dựng được hệ
miễn dịch – thoát ly sự phụ thuộc nguyên liệu từ Trung Quốc, thì khi Trung Quốc
sụp đổ, Việt Nam sẽ là “quân bài domino” đổ theo ngay sau đó.
Những
gì đang diễn ra cho thấy, thực tiễn đang vận hành đúng theo quy luật. Khi có biến
động lớn ở Bắc Kinh, giá vàng và USD tại Việt Nam sẽ nhảy dựng đứng do tâm lý
đám đông. Trước mắt, Nhà nước Việt Nam sẽ không được phép ngồi yên, có thể áp dụng
các biện pháp hành chính cực đoan (như siết chặt giao dịch vàng miếng, truy
soát nguồn gốc ngoại tệ) để ngăn chặn sự sụp đổ của đồng tiền trong nước… Nhưng
nói chung, Trung Quốc ổn định càng sớm, Việt Nam càng đỡ khó khăn. Tôi tin rằng
nếu ông Tập ổn định được tình hình, ông ta cũng sẽ phải có những chính sách
khác đi, chẳng hạn yêu cầu Putler chấm dứt chiến tranh ở Ukraine sớm… Đây sẽ là
nước cờ “một mũi tên bắn hai mục tiêu” của ông Tập. Ông ta sẽ vừa cứu được kinh
tế Trung Quốc, vừa ghi điểm với cộng đồng quốc tế như một “người kiến tạo hòa
bình”. Nếu như vậy, Trung Quốc đạt được ổn định theo hướng thực dụng hơn, Việt
Nam sẽ dễ thở hơn trong việc cân bằng quan hệ Mỹ – Trung. Việt Nam sẽ không còn
bị đặt vào thế khó khi phải chọn phe trong một cuộc chiến nóng ở Ukraine hay một
cuộc chiến lạnh toàn diện. Giá vàng và ngoại tệ tại Việt Nam có thể sẽ hạ nhiệt
khi tâm lý sợ loạn lạc của người dân được giải tỏa.
Đó
là về ngắn hạn, nhưng về dài hạn, thì máng lợn cũ lại xuất hiện, ví dụ sự phụ
thuộc và nguyên liệu Trung Quốc đối với sản xuất Việt Nam… và các áp lực khác vẫn
tồn tại từ trước đến nay, vẫn y nguyên. Giải tỏa thì có thể, nhưng về lâu về
dài, vẫn phải là bài toán giải tỏa triệt để hơn nữa.
Nhìn
chung, tôi nghĩ kịch bản của Trung Quốc sắp tới sẽ không có một Chu Ân Lai nào
đứng ra dàn xếp êm đẹp đâu. Thay vào đó, Tập Cận Bình với tính cách chặt chẽ, sẽ
rút vào cố thủ: sẽ tiếp tục thắt chặt kiểm soát, khiến Trung Quốc ngày càng giống
một “pháo đài” đóng kín (giống những năm 1970). Nếu chiến tranh Nga – Ukraine
không kết thúc sớm, Trump tiếp tục quậy phá… kinh tế Trung Quốc sẽ đi từ khó
khăn ngoài da thành bệnh kinh niên… các vấn đề xã hội sẽ càng trầm trọng. Như
trước đây tôi đã dự báo về kịch bản li khai, khi không có người dàn xếp đủ tầm,
các vết nứt ở Tân Cương, Tây Tạng sẽ bị xử lý bằng bạo lực cực đoan, dẫn đến những
phản ứng dây chuyền không thể kiểm soát…
Đối
với cuộc chiến tranh xâm lược Ukraine của Putler, ông Tập đã để nó đi quá giới
hạn khi Putler đã móc rỗng hết tất cả các kho dự trữ chiến lược về vũ khí, khí
tài. Nga đã tiêu tốn những khí tài tốt nhất trong 3 năm đầu của chiến tranh và
đến nay, chúng đang phải dùng đến những loại “vũ khí zombie” (như tên lửa huấn
luyện cải hoán RM-48U và gần đây nhất, S-400 bắn mục tiêu mặt đất) để bào mòn
phòng không Ukraine.
…
và sắp tới Nga Putler sẽ đạt tới điểm gãy về huy động nhân lực, cả khó kiếm được
lính lẫn việc dần dần không còn đủ tiền chi trả cho các hợp đồng chiến đấu nữa.
Việc huy động thêm quân hiện nay không chỉ vấp phải sự phản kháng xã hội mà còn
là gánh nặng tài chính. Ngân sách Nga năm 2026 dành tới 80% chi tiêu quốc phòng
chỉ để duy trì chiến trường. Khi tiền thưởng cho hợp đồng chiến đấu không còn đủ
sức hấp dẫn trước cái chết cận kề, cỗ máy chiến tranh của Putler sẽ tự dừng lại
thậm chí vỡ dần từng mảnh.
Vì
vậy ông Tập có muốn cứu Putler cũng không được, và chỉ còn cách duy nhất là hoặc
ngồi xem diễn biến nội bộ điện Kẩm-linh như thế nào, hoặc tìm cách can thiệp ở
một mức độ nào đó, ví dụ ủng hộ một chính quyền li khai thân Trung Quốc ở vùng
Viễn Đông… chứ không có cách nào giúp Putler chuyển bại thành thắng được.
Một
mặt, họ Tập sẽ để mặc cho các phe phái tại Mục-tư-khoa cấu xé lẫn nhau. Ai thắng
cũng được, miễn là người đó phải quỳ gối xin Trung Quốc viện trợ kinh tế để tái
thiết. Khi đó, Nga sẽ chính thức trở thành một “chư hầu” toàn diện. Mặt khác,
giả thuyết của tôi về một (vài) chính quyền li khai thân Trung Quốc ở Siberia
hoặc Viễn Đông hơi liều lĩnh nhưng có cơ sở. Vùng Viễn Đông vốn thưa dân Nga
nhưng lại đầy rẫy tài nguyên và bây giờ thì đầy nhóc lao động Trung Quốc. Nếu nội
bộ Kẩm-linh hỗn loạn, Trung Quốc sẽ không ngần ngại nhảy vào dưới danh nghĩa bảo
vệ lợi ích kinh tế và dòng người di cư, thực chất là biến vùng này thành một
vùng đệm (buffer zone) hoặc một thuộc địa kinh tế kiểu mới.
Một
số số liệu công bố vừa qua cho thấy Trung Quốc đã vượt Nga để trở thành cường
quốc tàu ngầm hạt nhân thứ 2 thế giới. Điều này cho thấy ông Tập đã chuẩn bị
cho một thế giới hậu Putler, nơi Nga không còn là một đối trọng quân sự mà chỉ
còn là một nguồn cung tài nguyên rẻ mạt. Putler đã chơi một ván bài tất tay và
thua sạch vốn liếng của quốc gia. Ông Tập, với bản tính của một người chơi cờ
vây, sẽ không “chết chùm” cùng Putler. Nếu Nga đạt tới “điểm gãy” trong năm
2026, chúng ta sẽ thấy một sự dịch chuyển địa chính trị đáng kể. Trung Quốc sẽ
hướng sang phía Bắc (Viễn Đông) để bù đắp cho những thiệt hại kinh tế ở phía
Đông và phía Nam. Khi đó, Trung Quốc sẽ có một nguồn tài nguyên cực lớn từ Đông
Ural của nước Nga “hậu tan rã”, đồng thời trở thành một cực duy nhất về quân sự
ở khu vực.
#Tập_cận_bình
#Trương_Hựu_Hiệp
#Lưu_Chấn_Lập
#thanh_trừng_nội_bộ
#Nga_xâm_lược_Ukraine
#chiến_dịch_spiderweb
#binh_chủng_lừa_chiến_nga
#bưng_bô_cho_hòa_bình
#Battle_of_Kursk_2024
#Battle_of_Pokrovsk
#battle_of_Bakhmut
#ĐÉO_ĐẦU_HÀNG!
#Russian_warship_go_fuck_yourself
#tên_lửa_hồng_hạc
#flamingo_missile
#peace_for_Ukraine
#Mar_a_Lago_December_2025
#Kế_hoạch_hòa_bình_20_điểm
#Zelenskyy
#Xứng_danh_anh_hùng
#Slava_Ukraine
#SlavaUkraini
No comments:
Post a Comment