Arturo Sarukhan
Akhtar Makoii | Foreign Affairs
Trà
Mi dịch
thuật
Posted
on March 19, 2026
https://dcvonline.net/2026/03/19/mexico-doi-dau-voi-my/
Sheinbaum
có thể đối phó với những đe dọa của Trump như thế nào
Có
một thứ choáng váng rất đặc biệt khi phải chứng kiến, ngay trong thời gian thực,
một kịch bản ngoại giao mà mình đã dành hàng chục năm tìm cách ngăn chặn nay trở
thành hiện thực. Trong hơn hai mươi năm, tôi phục vụ ở tiền tuyến của quan hệ Mỹ–Mexico,
kể cả thời gian làm Đại sứ Mexico tại Mỹ. Cùng với những đồng nghiệp trong
chính quyền, cũng như những tổ chức phi chính phủ và đối tác xã hội dân sự, tôi
đã trải qua nhiều năm thương thuyết phức tạp với những viên chức Mỹ, dưới cả
hai chính quyền Cộng hòa và Dân chủ, về hợp tác chống ma túy và nỗ lực xây dựng
một viễn kiến chung, toàn diện cho an ninh của hai quốc gia.
Tổng
thống Mexico Claudia Sheinbaum tại Dinh Quốc gia, Mexico City, tháng 2 năm
2026. Quetzalli Nicte-Ha / Reuters
Trong
thời gian đó, giới hoạch định chính sách Mỹ chấp nhận mức độ bạo lực cao của những
cartel, vì họ tin rằng phía Mexico đang chiến đấu cùng một trận tuyến. Họ ít
chú trọng đến con số “trùm” bị bắt hay số ma túy bị tịch thu, mà quan tâm nhiều
hơn đến ý chí chính trị và năng lực thể chế của đối tác trong việc giải quyết
những nguyên nhân định chế tạo ra những con số đó. Chúng tôi khi đó đều hiểu rằng
thời điểm nguy hiểm nhất trong quan hệ an ninh Mỹ–Mexico sẽ không đến từ việc bạo
lực gia tăng, mà từ lúc Washington đi đến kết luận rằng Mexico không thể hoặc
không muốn tự giải quyết vấn đề theo cách của mình—tức là khi họ cho rằng
Mexico City đã đạt một thứ “hòa ước riêng” với những cartel, hoặc ngầm dung
túng, hoặc trực tiếp thương lượng với chúng. Một khi nhận định đó trở thành sự
đồng thuận trong cộng đồng tình báo Mỹ, Quốc hội và những cơ quan chủ chốt, thì
logic của quan hệ song phương sẽ chuyển từ hợp tác sang cưỡng ép.
Thời
điểm đó nay đã đến—một cách kịch tính và sau một quá trình tích tụ dài lâu.
Trong sáu năm, bắt đầu từ 2018, cựu Tổng thống Andrés Manuel López Obrador theo
đuổi khẩu hiệu “ôm thay vì bắn”—mà nói đúng hơn là “ôm bọn tội phạm.” Chính
sách này đã tạo ra một thứ pax narca trên thực tế, nay trở
thành gánh nặng cho người kế nhiệm ông, Tổng thống Claudia Sheinbaum. Thiệt hại
mà chính sách đó gây ra cho an ninh Mexico và cho quan hệ với Mỹ là không thể
chấp nhận được và cuối cùng đã dẫn đến kịch bản mà chúng tôi từng lo sợ.
Tháng
11 năm 2025, Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố: “Tôi có ra lệnh không kích
trên đất Mexico để chặn ma túy không? Tôi sẵn sàng—làm bất cứ điều gì cần thiết.”
Ông còn nhiều lần nói rằng những cartel, chứ không phải bà Sheinbaum, mới là kẻ
“điều hành” Mexico và đã tìm đến những biện pháp đơn phương như trừng phạt hay
chính thức xếp những cartel vào danh sách tổ chức khủng bố ngoại quốc để giải
quyết vấn đề.
Chuỗi
biến cố này phần nào giải thích quyết định của bà Sheinbaum cuối cùng đã nhắm
vào giới lãnh đạo của tổ chức tội phạm xuyên quốc gia hùng mạnh và bạo lực nhất
tại Mexico (và có lẽ cả Tây bán cầu). Cuối tháng hai, chính phủ Mexico đã tiến
hành một chiến dịch dẫn đến cái chết của trùm ma túy Nemesio Oseguera
Cervantes, còn gọi là El Mencho. Thành công này là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy
Mexico có thể hành động dứt khoát chống lại những tổ chức tội phạm có tổ chức.
Nhưng hậu quả sau đó cũng cho thấy con đường còn dài: cartel Jalisco New
Generation đã trả đũa dữ dội. Bạo lực bùng phát tại gần một chục tiểu bang—xe bị
đốt, xa lộ bị phong tỏa, nổ súng tại phi trường quốc tế Guadalajara, và 25
thành viên Vệ binh Quốc gia Mexico thiệt mạng trong những cuộc tấn công phối hợp.
Thời
điểm này đặc biệt nguy hiểm, vì một khi Mỹ không còn xem Mexico là một đối tác
đang vật lộn mà là một đối tác thiếu thiện chí, thì không một thành công riêng
rẽ nào đủ để khôi phục giả định thiện chí trước đây. Tuy nhiên, lập luận mạnh
nhất của Mexico chống lại chủ trương hành động đơn phương của Mỹ là: hợp tác
đem lại kết quả tốt hơn so với cưỡng ép. Nói thì dễ; khó là chứng minh điều đó
bằng thực tế—bằng việc giảm bạo lực cartel một cách đo lường được và cải thiện
pháp trị, công lý và dân chủ. Mỗi thất bại trên những phương diện đó không chỉ
làm Mexico mất mặt và suy yếu vị thế ngoại giao với Mỹ, mà còn cung cấp cho
Washington cái cớ để vượt qua những định chế của Mexico trong cuộc chiến chống
tội phạm xuyên quốc gia. Nói cách khác, lập luận đó chỉ mạnh khi có kết quả thực
tế nâng đỡ.
Mexico
phải chứng minh—bằng việc đem lại an ninh và xây dựng những liên minh khu vực lẫn
quốc tế—rằng chủ quyền của mình không phải là trở ngại, mà là điều kiện tiên
quyết để giải quyết bền vững vấn đề cartel. Và tuy việc Mỹ đơn phương sử dụng
vũ lực chưa phải là điều tất yếu, Mexico vẫn phải chuẩn bị cho việc có thể xảy
ra chuyện đó, đồng thời giữ cánh cửa hợp tác an ninh luôn rộng mở.
SỐ
PHẬN ĐAN XEN
Việc
mô tả áp lực của Mỹ lên Mexico như một hành động đế quốc hay xâm phạm chủ quyền
có thể thỏa mãn tâm lý dân tộc nhất thời—đặc biệt với cử tri cánh tả của bà
Sheinbaum—nhưng không thể thay thế cho một chiến lược. Không thể phủ nhận rằng
chính quyền Trump đã làm đảo lộn một nguyên tắc then chốt của quan hệ Mỹ–Mexico—đó
là trách nhiệm chung là cách duy nhất để giải quyết những thách thức xuyên quốc
gia như an ninh biên giới, tội phạm có tổ chức, di dân, hay tài nguyên nước
khan hiếm. Tuy nhiên, trong suốt thập niên qua, cả những chính quyền Dân Chủ lẫn
Cộng Hòa tại Washington đều đã bày tỏ mối quan tâm thực sự đối với an ninh lâu
dài của Mexico.
Những
tiếng nói hiếu chiến ở Washington hiện nay đánh giá thấp hoặc bỏ qua là: một cuộc
can thiệp quân sự đơn phương của Mỹ trên lãnh thổ Mexico sẽ gây ảnh hưởng tiêu
cực một cách thảm khốc đối với chính an ninh quốc gia của Mỹ. Nó sẽ làm sụp đổ
những cơ chế hợp tác tình báo song phương từng giúp phá vỡ hoạt động của
cartel, làm kết tinh dư luận Mexico chống lại hợp tác với Washington, làm rạn nứt
cấu trúc hội nhập Bắc Mỹ, củng cố tâm lý chống Mỹ tại châu Mỹ La-tinh, tạo cơ hội
tuyên truyền cho Trung Hoa và Nga, và có thể khiến những cartel tái cấu trúc
theo hướng phân tán và bền bỉ hơn.
Một
cuộc can thiệp quân sự trên lãnh thổ Mexico sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực một cách
thảm khốc.
Cuộc
đột kích nhằm vào El Mencho thành công chính vì nó dựa trên hợp tác Mỹ–Mexico
mà không làm phương hại đến chủ quyền của Mexico: phía Mexico chỉ huy tác chiến
trên thực địa, dùng tình báo và có thể cả hỗ trợ tác chiến của Mỹ. Chính kiểu hợp
tác này đã bị López Obrador làm suy yếu và né tránh, khi ông thường xuyên công
kích cái mà ông xem là chủ nghĩa can thiệp của Mỹ—kể cả việc tài trợ cho những
tổ chức dân sự chống tham nhũng—và cho rằng Mexico City không thể hợp tác với
Washington vì thiếu lòng tin. Nhưng thực tế, lịch sử quan hệ hai nước cho thấy
chính hợp tác mới là yếu tố xây dựng lòng tin lẫn nhau.
Những
vấn đề nội trị và đối ngoại đan xen chặt chẽ trong quan hệ Mỹ–Mexico, và thứ chủ
nghĩa dân tộc cực đoan mà cả Trump lẫn Sheinbaum dùng trên diễn đàn của mình
càng làm cho mối quan hệ phức tạp đó thêm rối rắm. Để đối phó với thứ luận điệu
không giúp ích này, chính phủ Mexico phải chứng minh với Washington—qua mọi
phương tiện có thể—rằng việc sử dụng vũ lực đơn phương sẽ gây bất ổn chính trị
tại Mexico và là một tai họa đối với Mỹ. Tuy nhiên, để tránh kịch bản chính quyền
Trump thực sự đi đến bước đó, lời nói thôi sẽ không đủ.
Trên
phương diện này, Sheinbaum phải đối diện một vấn đề cơ cấu cấp bách mà người tiền
nhiệm của bà phần lớn đã né tránh: sự cấu kết sâu sắc và ăn mòn giữa tội phạm
có tổ chức và những định chế chính trị của Mexico. Sự bành trướng của cartel suốt
nhiều thập niên không diễn ra trong khoảng trống; nó được nuôi dưỡng, trong nhiều
trường hợp, do sự tiếp tay của những viên chức địa phương, cảnh sát tiểu bang,
công tố viên, thống đốc, và nhiều viên chức chính phủ khác—những người đã dung
dưỡng, làm trung gian, hoặc trực tiếp hợp tác với những tổ chức tội phạm. Nếu hợp
tác chống ma túy Mỹ–Mexico muốn vượt qua mức trao đổi tình báo và dẫn độ mang
tính giao dịch, Sheinbaum phải dám gọi đúng tên mối liên hệ chính trị–tội phạm
này và truy quét nó bằng toàn bộ sức mạnh của công tố liên bang. Nếu không, những
nỗ lực thực thi song phương sẽ chỉ ngừng lại ở bề mặt, làm gián đoạn hoạt động
hậu cần của tội phạm xuyên quốc gia ở mức cục bộ, trong khi vẫn để nguyên bộ
khung chính trị giúp những mạng lưới buôn lậu tái sinh.
Sheinbaum
cũng nên tuyên bố công khai và dứt khoát rằng mối đe dọa lớn nhất đối với chủ
quyền Mexico không phải vì áp lực của Mỹ, mà vì hoạt động phi pháp và bạo lực của
những tổ chức tội phạm hoạt động ở cả hai phía biên giới chung. Một tuyên bố
như vậy không chỉ giúp định hình lại cuộc tranh luận về chủ quyền theo cách có
lợi cho Mexico, mà còn củng cố vị thế của những cơ quan an ninh trong nước muốn
tăng cường hợp tác với Mỹ, đồng thời buộc xã hội phải nhìn nhận thẳng thắn nguồn
gốc thực sự của sự xâm phạm chủ quyền.
Hệ
quả thiết thực của lập trường đó là cam kết khôi phục toàn diện cơ chế hợp tác
an ninh và chia sẻ tình báo mà hai nước đã xây dựng qua Sáng kiến Mérida—khởi đầu
dưới thời Bush năm 2007, mở rộng dưới thời Obama năm 2009, nhưng bị phá vỡ khi
López Obrador đóng lại những băng tần đối thoại và hợp tác then chốt. Điều này
đòi hỏi những chiến dịch chống ma túy song phương do phía Mexico chủ trì, vượt
ra ngoài những điều chỉnh chiến thuật tạm thời hay những vụ dẫn độ đơn lẻ—những
biện pháp không đủ để củng cố thể chế và năng lực quốc gia, và do đó không thể
tạo chuyển biến thực sự cho an ninh của Mexico và toàn Bắc Mỹ.
TOÀN
DIỆN ỨNG PHÓ
Một
phương cách thật sự toàn diện đối với an ninh Bắc Mỹ không thể chỉ ngừng lại ở
việc truy quét những băng đảng ma túy tại Mexico. Hãy xét đến cuộc khủng hoảng
fentanyl xuyên biên giới. Việc buôn bán loại ma túy này mang lại lợi nhuận khổng
lồ cho những tổ chức tội phạm Mexico, đồng thời nuôi dưỡng bạo lực của những
nhóm tội phạm đó. Nhưng sự bành trướng của fentanyl cũng là hệ quả từ việc
ngành dược phẩm Mỹ đã kê toa thuốc opioid một cách vô trách nhiệm vào đầu thập
niên 2000, cùng với tình trạng đầu tư thiếu hụt kéo dài vào việc điều trị nghiện
ngập. Thị trường này hiện hữu nhờ nhu cầu từ Mỹ, chuỗi cung ứng tiền chất
fentanyl phần lớn đi qua Trung Hoa trước khi đến những phòng thí nghiệm tại
Mexico, và dòng vũ khí trang bị cho những cartel— mua bất hợp pháp tại những cửa
tiệm và hội chợ súng ở Mỹ rồi luồn qua biên giới với con số khổng lồ. Bất kỳ
khuôn khổ an ninh Bắc Mỹ nào cũng phải giải quyết toàn bộ những phương diện đó
thì mới có thể chấm dứt khủng hoảng.
Mexico
cũng cần chứng tỏ với những nước láng giềng và chính người dân mình rằng chính
phủ đang có tầm nhìn rộng. Nước này nên đề nghị một định chế an ninh mới, gồm cả
Canada và Mỹ: một ban thư ký an ninh Bắc Mỹ thường trực, với chức chủ tịch luân
phiên, những thủ tục tham vấn và phối hợp có tính ràng buộc, cùng một bộ tham
mưu kỹ thuật gồm nhân sự của cả ba quốc gia. Sự thiếu vắng tính định chế hóa
như vậy chính là điểm yếu lớn nhất của mô hình hợp tác hiện nay. Một ban thư ký
thường trực có thể giám sát một cơ quan biên giới và hải quan chung Mỹ–Mexico,
cũng như một đơn vị tình báo tài chính ba bên chuyên theo dõi hoạt động rửa tiền
của những cartel, tạo điều kiện phối hợp giữa những cơ quan hữu quan của Mỹ,
Mexico và Canada. Một quỹ chung nhằm giảm nhu cầu và điều trị con nghiện cũng
có thể được thành lập, để phát triển những chương trình giảm tiêu thụ ma túy,
giảm tác hại, và đầu tư vào những phương thức điều trị bền vững.
Những
yếu tố quan trọng khác của một khuôn khổ an ninh Bắc Mỹ gồm một đơn vị chuyên
ngăn chặn buôn lậu vũ khí—chính thức hóa việc theo dõi dòng vũ khí chảy xuống
phía nam và ma túy chảy lên phía bắc—cũng như một cơ chế ba bên giám sát tiền
chất hóa học, nhằm chặn những luồng vận chuyển fentanyl và nguyên liệu qua đường
biển và đường bộ trước khi vào Bắc Mỹ. Ba quốc gia cũng cần điều hợp những quy
trình và chính sách an ninh mạng, nhằm bảo vệ hạ tầng thiết yếu phục vụ những
năng lực này. Việc hợp nhất những chương trình “khách du hành đáng tin cậy” hiện
có—Global Entry giữa Mexico và Mỹ, và Nexus giữa Canada và Mỹ—thành một chương
trình thống nhất cho toàn Bắc Mỹ cũng sẽ giúp củng cố kiểm soát biên giới và thủ
tục di trú.
Việc
xây dựng một cấu trúc an ninh Bắc Mỹ sẽ cần thời gian và vốn chính trị đáng kể.
Trước mắt, Mexico có thể tập trung chứng minh năng lực chủ quyền của mình bằng
cách bảo đảm an ninh cho World Cup 2026, sẽ diễn ra mùa hè này tại 16 thành phố
trên khắp Bắc Mỹ. Chính phủ Mexico cần sử dụng hữu hiệu Vệ binh Quốc gia và
quân đội tại ba thành phố tổ chức World Cup (Guadalajara, Mexico City,
Monterrey); đồng thời phối hợp với những viên chức Mỹ và Canada trong khuôn khổ
những chiến dịch do Mexico chỉ huy và làm việc với FIFA để thiết lập những quy
trình an ninh công cộng.
CHUẨN
BỊ TINH THẦN
Mexico
không được giản lược chính sách an ninh thành những cử chỉ tượng trưng—chẳng hạn
như những vụ bắt giữ “đình đám” những tay chân hay trùm cartel nhằm thu hút báo
chí hoặc xoa dịu Washington, nhưng không đi kèm hành động thực chất và lâu dài
đối với những mạng lưới tài chính, những kẻ bảo kê chính trị, hay cơ cấu chỉ
huy duy trì tổ chức tội phạm. Cũng không nên vì lo ngại chính đáng trước những
đe dọa từ Mỹ mà làm suy yếu việc chia sẻ tình báo và hợp tác. Rút vào chủ nghĩa
dân tộc phòng thủ chỉ khiến đóng lại cánh cửa hợp tác mà cả hai nước đều cần để
giải quyết lợi ích an ninh chung.
Đồng
thời, Mexico cũng không thể tự trấn an rằng vì hành động quân sự đơn phương của
Mỹ gây ảnh hưởng ngược nên nó sẽ không xảy ra. Nhiều lần trong quá khứ, nhu cầu
chính trị nội bộ đã lấn át tính toán chiến lược. Mexico phải chuẩn bị cho tình
trạng đó, nếu và khi nó xảy ra.
Việc
chính quyền Trump xếp cartel Jalisco và những nhóm khác vào danh sách tổ chức
khủng bố ngoại quốc, tuyên bố sẵn sàng tấn công lãnh thổ cartel, và đưa máy bay
không người lái vào không phận Mexico—tất cả có thể là bước dọn đường cho một
chiến dịch quân sự quy mô hơn. Nếu Mỹ hành động đơn phương, phản ứng của Mexico
phải chừng mực, hợp pháp và bền bỉ—tránh rơi vào chủ nghĩa dân tộc bột phát làm
tê liệt khả năng hợp tác về sau.
Trong
kịch bản đó, Mexico có thể lập tức yêu cầu triệu tập phiên họp khẩn của Hội đồng
Bảo an Liên Hiệp Quốc, viện dẫn Điều 2(4) của Hiến chương LHQ—cấm những quốc
gia sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực xâm phạm toàn vẹn lãnh thổ nước khác—để
đòi một nghị quyết lên án vi phạm chủ quyền. Ở cấp khu vực, Mexico có thể kích
hoạt những điều khoản không can thiệp của Hiến chương Tổ chức đối với những quốc
gia châu Mỹ, đồng thời vận động sự ủng hộ rộng rãi nhằm củng cố những chuẩn mực
bảo vệ những quốc gia tầm trung trước sức ép của cường quốc.
Mexico
cũng nắm trong tay những đòn bẩy kinh tế đáng kể đối với Mỹ. Trước đây, vào những
năm 2009 và 2019, nước này từng soạn danh sách đánh thuế nhắm vào nông sản Mỹ từ
những tiểu bang “dao động”—thịt heo từ Iowa, táo từ Washington, phô mai từ
Wisconsin—để đáp trả những vi phạm NAFTA và thuế thép của Mỹ. Mexico cũng có thể
đe dọa hạn chế hoặc ngưng xuất cảng những mặt hàng then chốt trong chuỗi cung ứng
liên quan đến an ninh quốc gia Mỹ, như phụ tùng hàng không; gây trở ngại hoặc
trì hoãn quy định thương mại, kiểm tra lao động, hay giấy phép đối với những cơ
sở sản xuất thuộc sở hữu Mỹ từng gắn kết chặt chẽ qua biên giới; giảm hợp tác về
kiểm soát di dân; hoặc ngưng cung cấp nước từ sông Rio Grande. Những công ty Mỹ
đã đầu tư hàng tỷ đô-la vào sản xuất tại Mexico không thể nhanh chóng di dời mà
không chịu tổn thất khủng khiếp. Trong trường hợp xảy ra hành động quân sự đơn
phương, Mexico City cần lập tức tiếp xúc với giới doanh nghiệp Mỹ—không phải để
đe dọa, mà để làm rõ rằng hành động quân sự sẽ gây nguy hại trực tiếp đến đầu
tư của chính họ.
THỬ
LỬA
Tuy
vậy, nhiệm vụ khó khăn nhất mà cả hai nước phải đối phó với một hành động đơn
phương của Mỹ trên đất Mexico chính là duy trì hợp tác chống ma túy. Nếu xảy ra
can thiệp quân sự, Mexico không được—dù phải trả giá chính trị nặng nề—lấy đó
làm cớ để từ bỏ việc chia sẻ tình báo hay hợp tác an ninh song phương. Những tổ
chức tội phạm xuyên quốc gia luôn hưởng lợi từ mọi sự đứt gãy trong phối hợp giữa
những chính phủ; trao cho chúng lợi thế đó sẽ gây tổn hại cho an ninh và đời sống
người dân Mexico nhiều hơn là việc hợp tác làm tổn thương lòng tự ái quốc gia.
Để
đạt thế cân bằng tối ưu, Mexico nên phản đối vi phạm chủ quyền của Mỹ qua mọi
phương tiện pháp lý và ngoại giao, đồng thời duy trì những mối quan hệ công tác
giúp những chiến dịch chống ma túy đạt hiệu quả.
Lập
luận mạnh mẽ nhất của Mexico chống lại hành động đơn phương của Mỹ cũng chính
là lập luận đòi hỏi nhiều nhất từ chính phủ Mexico: chứng minh rằng họ có thể
và sẽ giải quyết hiệu quả mối đe dọa của cartel bằng chính những cơ chế chủ quyền
của mình. Bài học rút ra từ nhiều chục năm điều hợp mối quan hệ này là: Mexico
hiệu quả nhất khi giao tiếp với Mỹ ở vị thế tự tin, chứ không phải lo âu. Và sự
tự tin đó phải được chứng minh bằng hành động, không chỉ bằng lời nói. Chiến dịch
El Mencho—bằng chứng mạnh mẽ nhất từng có về năng lực chủ quyền của quốc gia—phải
được xem là khuôn mẫu, chứ không phải là điểm kết thúc.
Sự
bảo vệ bền vững nhất của Mexico trước chủ trương đơn phương của Mỹ chính là làm
xói mòn lý do biện minh cho nó.
Những
thử thách đối với năng lực an ninh của Mexico vẫn còn phía trước. Diễn biến kế
vị sau khi một “trùm” bị hạ là điều đã được hiểu rõ và không mấy khả quan.
Cartel Jalisco có thể phân rã thành nhiều phe tranh giành, kéo theo một giai đoạn
bạo lực leo thang khi những tay chân cũ tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên. Sau
khi thủ lĩnh cartel Sinaloa là Joaquín “El Chapo” Guzmán bị bắt năm 2017, cũng
đã xảy ra tình trạng tương tự: một cấu trúc cartel phân tán hơn, linh hoạt hơn,
và phải mất nhiều năm mới phần nào tái cấu trúc. Những biến động nội bộ của những
cartel sau khi mất lãnh đạo càng làm cho nhu cầu hợp tác Mỹ–Mexico mang tính định
chế và sâu rộng trở nên cấp thiết hơn, chứ không phải ít đi.
Sheinbaum
phải áp dụng một chiến lược chống ma túy bền vững, có uy tín quốc tế, và được bảo
vệ trước những biến động chính trị. Điều đó đòi hỏi cải tổ bộ máy an ninh
Mexico—giải quyết tham nhũng trong lực số cảnh sát liên bang và cơ quan công tố,
đồng thời đầu tư vào năng lực tư pháp để khi bắt được những mục tiêu quan trọng,
họ sẽ bị truy tố trong điều kiện không thể tiếp tục điều hành mạng lưới tội phạm.
Điều đó cũng có nghĩa là truy tố những chính trị gia cao cấp có liên hệ với
cartel, triệt phá mạng lưới tài chính của chúng, và giảm một cách kiểm chứng được
dòng tiền chất fentanyl. Và điều đó còn đòi hỏi phác thảo một khuôn khổ an ninh
Bắc Mỹ toàn diện, có thể hiện hữu vượt qua mọi chính quyền tại Mexico City,
Washington và Ottawa.
Không
có yếu tố nào đã nêu trên là dễ dàng. Một số nỗ lực sẽ vấp phải sự chống đối
chính trị từ những nhóm trong nước hưởng lợi từ hiện trạng hỗn loạn. Nhưng
logic chiến lược là không thể đảo ngược: sự bảo vệ lâu dài nhất của Mexico trước
chủ trương đơn phương của Mỹ chính là làm suy giảm lý do hiện hữu của nó.
Mối
đe dọa về việc Mỹ đơn phương dùng vũ lực là có thật và nghiêm trọng. Nó đòi hỏi
một đối sách tương xứng—chuẩn bị đầy đủ về pháp lý, tinh vi về ngoại giao, và đặt
nền tảng trên sự thật có thể chứng minh: rằng hợp tác song phương tôn trọng chủ
quyền của Mexico là hữu hiệu. Nhiệm vụ của Mexico là làm cho lập luận đó trở
nên không thể phủ nhận—và phải làm ngay từ bây giờ.
--------------------
Tác
giả: Arturo
Sarukhan là một cố vấn quốc tế và cựu chuyên gia ngoại giao chuyên nghiệp. Ông
từng là đại sứ Mexico tại Mỹ từ 2007 đến 2013.
©
2026 DCVOnline
Nếu
đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”
Nguồn: Can Mexico
Avoid a Confrontation With the United States? | Akhtar Makoii | Foreign
Affairs| March 19, 2026
No comments:
Post a Comment