Nguyễn Quang Dy
Viet Studies - 27/10/2017
“Giáo
dục truyền thống thường dạy học sinh về một thế giới không còn tồn tại…Sau đây
30 năm, khuôn viên các trường đại học lớn sẽ là phế tích”. (Peter Drucker,
1997)
Đổi
mới hệ điều hành
Lời tiên đoán táo bạo của Peter Drucker cách đây 20
năm liệu có trở thành sự thật? Thế giới Internet và IoT (Internet of Things),
cùng với những thành tựu mới về sinh hóa (biochemistry) và vật lý lượng tử
(quantum physics) như đoàn tầu siêu tốc (thế hệ 3.0) đang làm biến đổi diện mạo
thế giới. Tuy nhiên thể chế chính trị và quản trị điều hành của Việt Nam vẫn
theo hệ điều hành 1.0. Người Viêt vẫn đang tranh cãi về “đổi mới vòng hai”
(Reform 2.0).
Tư duy truyền thống và phi truyền thống khác nhau
như mặt trăng và mặt trời. Giao diện giữa hai loại tư duy đó giống như nguyệt thực
và nhật thực. Mặt trăng tuy đẹp nhưng luôn bị mặt trời lấn át. Những người ở
lâu trong hang tối thường dị ứng với mặt trời. Giải phóng con người khỏi hang động
vô minh (như Plato nói) là một quá trình khó khăn và nguy hiểm. Khi phải hội nhập,
thân thể họ phải ra khỏi hang, nhưng tư duy vẫn còn trong hang.
Lấy một ví dụ dễ hiểu. Việt Nam đã ngang nhiên cử mật
vụ sang Berlin bắt cóc Trịnh Xuân Thanh làm Đức phẫn nộ vì hành động vi phạm chủ
quyền và bất chấp luật quốc tế (chỉ thấy trong phim hành động thời chiến tranh
lạnh). Trong khi người Đức hành xử như trong thời hậu chiến tranh lạnh (theo hệ
điều hành 2.0) thì người Việt vẫn hành xử như thời chiến tranh lạnh và du kích
(theo hệ điều hành 1.0). Việt Nam vừa bắt cóc Trịnh Xuân Thanh vừa muốn EVFTA?
Trong bối cảnh đó, hội nghị cấp cao APEC họp tại Đà Nẵng tháng 11/2017 có nhiều
thách thức và bất cập. Việt Nam vừa vi phạm luật quốc tế và tiếp tục chống diễn
biến hòa bình, vừa muốn đón Tổng thống Trump và tầu sân bay Mỹ? Nếu không đổi mới
tư duy và hệ điều hành, thì làm sao Việt Nam có thể hội nhập quốc tế và “làm bạn
với tất cả”?
Nguyên
nhân tụt hậu
Ngày xưa, các chàng cao bồi Mỹ ở “Miền Tây Hoang dã”
có thể cưỡi ngựa đuổi theo các đoàn tàu hơi nước (thế hệ 1.0) vì tốc độ ngang
ngửa. Ngày nay, nếu giới nghiên cứu và quản trị điều hành định dùng xe ngựa
truyền thống đuổi theo đoàn tàu siêu tốc (thế hệ 3.0) để kiểm soát nó thì thật
khôi hài. Nếu định bắt tàu siêu tốc chạy chậm lại như bắt thế giới mạng phải
ngoan ngoãn theo “đúng quy trình”, cũng thật hoang tưởng. Nếu định đón đầu chờ
tại các ga xép để phạt đoàn tầu siêu tốc thì càng hồ đồ, vì nó không dừng tại
các ga xép.
Khi đổi mới “vòng một” (Reform 1.0), Việt Nam bắt đầu
có kinh tế thị trường, nhưng theo “định hướng XHCN” và tư duy “tịnh tiến”
(gradualism), nên chưa phải là kinh tế thị trường đích thực, mà là kinh tế thị
trường què quặt, méo mó. Đó là cuộc hôn phối giữa tư bản hoang dã (như loài
lang sói ăn thịt lẫn nhau) và Chủ nghĩa Xã hội Thân hữu (như loài cá sấu không
có nước mắt), đẻ ra những con quái vật “Tư bản đỏ” (như Frankenstein), là những
nhóm lợi ích thân hữu, tuy khoác áo mũ XHCN nhưng lòng dạ tim gan là tư bản
hoang dã.
Giáo sư Nhật Kenichi Ohno (GRIPS Institute) có lần kể
rằng khi trở lại Việt Nam sau 5 năm, ông thấy các bạn Việt Nam vẫn đang say sưa
tranh luận về những vấn đề của 5 năm trước. Nếu Kenichi Ohno trở lại sau 10 năm
nữa thì chắc vẫn thấy như vậy. Nếu Việt Nam chưa chịu đổi mới thể chế và tư duy
phát triển (theo hệ điều hành 1.0) thì nền kinh tế Việt Nam vẫn luẩn quẩn theo
mô hình “không chịu phát triển” (như bà Chi Lan nhận xét). Việt Nam tụt hậu so
với các nước láng giềng là điều tất yếu, không có gì ngạc nhiên. Muốn vượt ra
khỏi cái vòng luẩn quẩn đó, chính phủ “kiến tạo” phải đột phá bằng đổi mới toàn
diện.
Những
bài học bất cập
Cách đây hơn 20 năm, Chương trình Việt Nam tại
Harvard đã công phu nghiên cứu và soạn thảo cuốn sách (do David Dapice chủ
biên) “Theo hướng Rồng bay” (On the Dragon’s Trail, David Dapice, 1994),
đề xuất kế hoạch đổi mới kinh tế Việt Nam. Nhưng khi cuốn sách hoàn thành (sau
mấy năm) thì thực tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi, nên một số nội dung trong
sách không còn thích hợp nữa. Để cập nhật, Chương trình Việt Nam đã phải nghiên
cứu và soạn thảo một tài liệu mới ngắn gọn hơn (cũng do David Dapice chủ biên)
là “Lựa chọn Thành công: Bài học từ Đông Nam Á và tương lai Việt Nam” (Choosing
Success: The lessons of East and Southeast Asia and Vietnam’s Future,
Harvard University Press, 2008).
Một ví dụ khác là “Báo cáo Việt Nam 2035” do Bộ Kế
hoạch & Đầu tư và Ngân hàng Thế giới chủ trì (Vietnam 2035: Toward
Prosperity, Criativity, Equity, and Democracy, MPI & World Bank,
February 2016). Đó là một báo cáo quan trọng đề xuất đổi mới toàn diện, được
nghiên cứu và soạn thảo công phu, nhiều năm mới xong. Nhưng khi hoàn thành thì
thực tế Việt Nam cũng đã thay đổi nhiều. Nếu không cập nhật và bổ xung kịp thời
thì một số nội dung trong báo cáo quan trọng đó có thể không còn thích hợp với
thực tế mới.
Dù các công trình nghiên cứu có hay đến mấy, nhưng nếu
các nhà quản trị điều hành đất nước và doanh nghiệp không chịu đổi mới tư duy
và thể chế để đáp ứng kịp thời đòi hỏi của thực tế cuộc sống đang “diễn biến”
nhanh đến chóng mặt, thì cũng giống như câu chuyện chiếc xe ngựa truyền thống vẫn
vô vọng đuổi theo đoàn tàu siêu tốc (thế hệ 3.0). Sự bất cập về tư duy và hệ điều
hành, cũng như vận tốc chuyển đổi, có thể làm cho thể chế chính trị và quản trị
điều hành trở nên lỗi thời và vô dụng như “phế tích” (Peter Drucker).
Một
thế giới khác
Hiện tượng Brexitism tại Anh và Trumpism tại Mỹ đang
làm đảo điên thế giới, phản ánh thoái trào của toàn cầu hóa, trước sự trỗi dậy
của xu hướng biệt lập, chủ nghĩa dân tộc và dân túy (Populism). Thắng lợi của
Donald Trump là thất bại của giới chính trị tinh hoa (elite) và giới nghiên cứu
đã bị bất ngờ và hẫng hụt, không dự báo được biến chuyển của thời cuộc. Hệ thống
quyền lực chính thống (mainstream) của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đã thất
bại vì không nắm bắt được biến chuyển và đáp ứng tâm trạng bức xúc của cử
tri.
Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh (lành mạnh) là
quy luật phát triển và đào thải. Lấy một giai thoại vui để minh họa. Hai người
thợ săn vào rừng, bị một con gấu to đuổi, phải chạy mất dép để thoát thân. Chạy
một lúc mệt quá, người thợ săn thứ nhất nói “tôi không thể chạy nhanh hơn con gấu
được nữa”. Người thợ săn thứ hai nói, “tôi không cần chạy nhanh hơn con gấu, mà
chỉ cần chạy nhanh hơn bạn”. Trong cạnh tranh, nếu bạn không khỏe và chạy
nhanh, thì dễ bị kẻ khác “ăn thịt”. Khoảng 200.000 doanh nghiệp Việt (bằng 30%
tổng số cả nước) đã bị phá sản hay “chết lâm sàng”, chắc do chưa hiểu con gấu
kinh tế thị trường. Nhiều doanh nghiệp sống sót là do nhà nước cứu trợ, chỉ có
một số tự thân thoát hiểm. Nếu các doanh nghiệp vẫn ỷ vào nhà nước mà không có
nội lực, họ sẽ chết tiếp khi hội nhập quốc tế.
Trong khi thực tế cuộc sống thay đổi quá nhanh, thì
tư duy nghiên cứu và quản trị điều hành thay đổi quá chậm. Tuy chính phủ cũng bắt
đầu nói đến cách mạng công nghệ 4.0 (nhưng chưa chắc đã hiểu) thì một số xí
nghiệp ở Việt Nam đã bắt đầu dùng người máy thay thế công nhân. Nếu vẫn tư duy
theo hệ điều hành 1.0, thì giới chủ và công đoàn sẽ làm thế nào với đội ngũ
công nhân thế hệ 4.0 với “trí tuệ nhân tạo” (artificial
intelligence).
Nghịch
lý và bi kịch
Nếu chịu khó
quan sát thì người ta sẽ thấy một thực tế đáng buồn là đa số người Việt thường
mắc bệnh cực đoan. Những người cộng sản cực đoan và những người chống cộng cực
đoan tuy đối địch, nhưng lại rất giống nhau. Vì cực đoan nên họ không chịu lắng
nghe ý kiến khác biệt để hiểu và chấp nhận người khác (inclusive) mà chỉ muốn
khẳng định mình và phủ định người khác (exclusive). Vì cực đoan nên họ hay định
kiến và bảo thủ, dẫn đến ngộ nhận và nhầm lẫn. Căn bệnh nguy hiểm đó là một nghịch
lý và bi kịch của dân tộc.
Vì nhiều lý do, những người ôn hòa (và ý kiến ôn
hòa) thường là thiểu số, dễ bị những người cực đoan (của cả hai phía) phê phán
và đả kích (như “ném đá”) vì không giống họ. Những người ủng hộ tự do dân chủ một
cách ôn hòa thường bị những người cộng sản cực đoan quy là “diễn biến hòa bình”
hay “phản động”, trong khi lại bị những người chống cộng cực đoan quy là “tay
sai cộng sản” hay “nằm vùng”. Trong tư duy của những người cực đoan, họ thường
không muốn chấp nhận sự đa dạng và hòa giải, mà chỉ muốn “có tao thì không có
mày”. Đó là hệ quả của đấu tranh giai cấp đầy bạo lực và nội chiến kéo dài đầy
thù hận.
Tôi ngờ rằng căn bệnh nan y này đã lây lan và di căn
đến nhiều bộ phận, kể cả lĩnh vực nghiên cứu và quản trị điều hành. Cần phải
nói ngay rằng nghiên cứu khác với tuyên truyền, nghiên cứu độc lập khác với
nghiên cứu có định hướng, và báo chí chuyên nghiệp khác với tuyên truyền. Nhưng
đáng tiếc là nhiều người thường ngộ nhận và lẫn lộn, thậm chí còn sử dụng “dư
luận viên” để phản biện về nghiên cứu và học thuật. Điều đó không chỉ làm sai lạc
thông tin (như “ông nói gà, bà nói vịt”) mà còn phản tác dụng (như “lấy đá ghè
chân mình”). Lúc này mà vẫn tuyên truyền “chống diễn biến hòa bình” (tư duy
1.0) thì chẳng khác gì tiếp tay cho Trung Quốc, làm phương hại đến lợi ích quốc
gia và công tác đối ngoại.
Vài
lời cuối
Xét cho cùng, muốn đổi mới tư duy và thể chế để quản
trị và điều hành hiệu quả hơn, người ta phải thay đổi hệ quy chiếu và văn hóa
tư tưởng. Bạn muốn cực đoan hay ôn hòa, bảo thủ hay cải cách, thù hận hay hòa
giải, bạo lực hay bất bạo lực, truyền thống hay phi truyền thống, độc tài hay
dân chủ?... Bạn muốn giáo dục nhồi sọ và vâng lời để làm công cụ cho thể chế,
hay khai trí và khai phóng để đổi mới và kiến tạo đất nước? Tư tưởng cách mạng
của cụ Phan Chu Trinh đề xuất (cách đây một thế kỷ) là “khai dân trí - chấn dân
khí - hậu dân sinh” đến nay vẫn chưa đạt được, trong khi đoàn tầu quốc gia vẫn ỳ
ạch, trật bánh, và tụt hậu.
Hệ thống quyền lực quốc gia và trật tự thế giới đang
bị khủng hoảng. Không phải chỉ có nước Anh hay Mỹ, nước Pháp hay Canada, mà cả
thế giới đang phải đối mặt với những thách thức mới khó lường. Đây là một cuộc
khủng hoảng chính trị và thể chế toàn cầu, làm cho cả hai đảng Cộng Hòa và
Dân Chủ thất bại trước Donald Trump (một lái buôn), và các đảng cánh tả và cánh
hữu lớn ở Pháp thất bại trước Emmanual Macron (thiếu kinh nghiệm).
Thế giới thay đổi quá nhanh và quá nhiều, nhưng tư
duy và thể chế thay đổi quá chậm và quá ít. Để hiểu rõ hơn, có lẽ cần đọc kỹ cuốn
“Sự Kết thúc của Quyền lưc” (The End of Power, Moises Naim, Basic Books,
2013). Tuy nhiên, đừng hy vọng là Tập Cận Bình sẽ nhẹ tay tại Biển Đông (sau Đại
hội Đảng 19). Dù “hoàng đế trầm lặng” đã chọn được người kế vị là Chen
Miner (Trần Mẫn Nhĩ) thì cái bóng của ông ta vẫn bao trùm ít nhất mười năm nữa
vì không có đối thủ. (Xi Jinping Has Quietly Chosen His Own Successor,
Andre Lungu, Foreign Policy, October 20, 2017). Tập và “Giấc mộng Trung Hoa” tiếp
tục là nỗi ám ảnh không những của các nước láng giềng mà còn cả thế giới. Nhưng
quyền lực tuyệt đối cũng có thể là “màn kết thúc” (End Game) của “trò chơi quyền
lực” (Game of Thrones) không có hậu.
NQD.
27/10/2017
No comments:
Post a Comment